Sưu Tầm Giáo Pháp

Sưu Tầm Giáo Pháp Sưu tầm, sưu tập những bài kinh và mẩu giáo pháp ngắn mang giá trị lợi ích.

25/06/2022

KINH TỤNG PALI PHẦN 2 (21-36)

KINH TỤNG NAM TÔNGPALI-VIỆT
(PHIÊN ÂM VÀ TỪ VỰNG)
PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
(THERAVADA)
=================***====================
21. Lễ bái chư Phật
22. Phép thọ ngũ giới
23. Phép thọ Bát quan trai giới
24. Từ Bi Nguyện (Rải Tâm Từ) SABBADISASU METTĀPHARANAM
25. Hồi hướng chư thiên ĀKĀSATTHĀ
26. Kinh Hồi hướng chúng sinh TILOKAVIJAYARĀJAPATTIDĀNAGĀTHĀ
27. Kệ hồi hướng đến chư Thiên PAṬIDĀNA-GĀTHĀ
28. Kệ hồi hướng đến thân quyến
29. Nguyện
30. Từ Bi Kinh KARAṆĪYA METTĀ SUTTA
31. Hạnh Phúc Kinh MAṄGALA SUTTA
32. Kệ Điềm Lành Vũ Trụ MAṄGALACAKKAVĀḶA
33. Năm điều quán tưởng ABHIṆHAPACCAVEKKHAPĀTHO
34. Kệ động tâm
35. Kệ tỉnh thức SAṂVEJANĪYAGĀTHĀ
36. Chúc người mới quy y
================***===================

21. LỄ BÁI CHƯ PHẬT
1- Sambuddhe aṭṭhavīsañ ca
dvādasañ ca sahassake
pañcasatasahassāni
namāmi sirasā ahaṃ .
Tesaṃ dhammañca saṅghañca
ādarena namāmihaṃ
namakārānubhāvena
hantvā sabbe upaddave
anekā antarāyāpi
vinassantu asesato.
2- Sambuddhe pañca
paññāsañca
catuvīsa tisahassake
dasasatasahassāni
namāmi sirasā ahaṃ .
Tesaṃ dhammañca saṅghañca
ādarena namāmihaṃ
namakārānubhāvena
hantvā sabbe upaddave
anekā antarāyā pi
vinassantu asesato.
3- Sambuddhe navuttarasate
aṭṭhacattālīsasahassake
vīsatisatasahassāni
namāmi sirasā ahaṃ .
Tesaṃ dhammañca saṅghañca
ādarena namāmihaṃ
namakārānubhāvena
hantvā sabbe upaddave
anekā antarāyā pi
vinassantu asesato.
1- Xăm bút thê, ăt thă qui xanh chă
Đoa đă xanh, chă, xă hách xă kê
Pănh chă xă tă xă hăch xa ní
Ná ma mí, xí ră xa, á hăng.
Tê xăng, thăm manh, chă, xăng khănh chă
A đă rê nă, nă ma mí hăng
Nă mă ca ra nú pha quê nă
Hăn toa, xắp bê, ú bát đă quê
Ă nê ca, ăn tă ra gia bí
Qúi năch xăn tú, ă xê xă tô.
2- Xăm bút thê, pănh chă,
pănh nha xanh, chă
Chă tú qui xă tí xă hach xă kê
Đă xă xă tă xă hach xa ní
Nă ma mí, xí ră xa, ă hăng.
Tê xăng, thăm manh, chă, xăng khănh chă
A đă rê nă, nă ma mí hăng
Nă mă ca ra nú pha quê nă
Hăn toa, xáp bê, ú bát đă quê
Ă nê ca, ăn tă ra gia bí
Qúi nach xăn tú, ă xê xa tô.
3- Xăm bút thê, nă vút tă ră xă tê
Ăt thă chát ta li xă xă hach xă kê
Quí xă tí xă tă xă hach xa ní
Nă ma mí, xí ră xă, ă hăng.
Tê xăng, thăm manh, chă, xăng khănh chă
A đă rê nă, nă ma mí hăng
Nă mă ca ra nú pha quê nă
Hăn toa, xáp bê, ú bát đă quê
Ă nê ca, ăn tă ra gia pí
Quí nach xăn tu, ă xê xa tô.
1- Con đem hết lòng thành kính, làm lễ 28 vị Chánh biến tri, 12 ngàn vị Chánh
biến tri và 500 ngàn vị Chánh biến tri.
Con đem hết lòng thành kính, làm lễ Pháp bảo và Tăng bảo của các vị Chánh biến
tri ấy.
Do sự lễ bái cúng dường, xin nhờ oai lực các bậc Chánh biến tri mà những điều
rủi ro và sự tai hại thảy đều diệt tận.(lạy)
2- Con đem hết lòng thành kính làm lễ 55 vị Chánh biến tri, 24 ngàn vị Chánh
biến tri và 1 triệu vị Chánh biến tri.
Con đem hết lòng thành kính làm lễ Pháp bảo và Tăng bảo của các vị Chánh biến
tri ấy.
Do sự lễ bái cúng dường, xin nhờ oai lực các bậc Chánh biến tri mà những điều
rủi ro và sự tai hại thảy đều diệt tận.(lạy)
3- Con đem hết lòng thành kính làm lễ 109 vị Chánh biến tri, 48 ngàn vị Chánh
biến tri và 2 triệu vị Chánh biến tri.
Con đem hết lòng thành kính làm lễ pháp bảo và Tăng bảo của các vị Chánh biến
tri ấy.
Do sự lễ bái cúng dường, xin nhờ oai lực của bậc Chánh biến tri mà những điều
rủi ro và sự tai hại thảy đều diệt tận.(lạy)
Ngữ vựng:
Vīsaṃ (vīsati): 20
Dvā-dasa: 12
Sahassaka: gồm 1000
Sahassa: 1000
Sata: 100
Ādara: lòng tôn kính
Sira (uttam’aṅga): cái đầu
Sirasā: với cái đầu
Nama-kkhāra: sự kính lễ
Pañca: 5
Anubhāva: oai lực
Hantvā (hanati, hati): sau khi đã đoạn
diệt.
Upaddava: sự thống khổ
Aneka: nhiều, những
Antarāya: chướng ngại, sự nguy hiểm
Vinassati: được tiêu diệt
Asesato: hết thảy
Tesaṃ: của các...ấy
Paññasa: 50
Pañca-paññāsa: 55
Catu: 4
Catu-vīsati: 24
Dasa-sata: 1 000 (10 ×100)
Dasa-sata-sahassa: 1 000 000 (10 ×
100 × 1 000
Nava: 9
Nav’uttara-sata: 109
Cattālīsa: 40
Aṭṭha-cattālīsa-sahassa: 48,000
Vīsati-sata: 2 000(20x100)
Vīsati-sata-sahassa: 2 000 000
Uttara: không
22. PHÉP THỌ TRÌ TAM QUY VÀ NGŨ GIỚI
* Những người thọ phép Tam quy rồi được gọi là Thiện Nam hoặc Tín nữ nếu muốn thọ
Ngũ Giới, phài xin thọ nơi thầy Tỳ khưu hoặc Sa Di. Trước hết phải đọc “Bài lễ bái Tam
Bảo”, tưởng nhớ đến ân đức Phật, Pháp, Tăng rồi mới nên đối trước mặt thầy Tỳ khưu
hoặc Sa Di mà xin thọ Ngũ Giới bằng lời sau đây:
 Ukāsa ahaṃ (mayaṃ) bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya
tisaraṇena saha pañca sīlāni yācāmi (ma).
 Dutiyampi ahaṃ (mayaṃ) bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāyā
tisaraṇena saha pañca sīlāni yācāmi (ma).
 Tatiyampi ahaṃ (mayaṃ) bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya
tisaraṇena saha pañca sīlāni yācāmi (ma).
Phiên âm:
 Ú ca xă, á hăng (mă giăm) phăn tê, quí xum, quí xum, rắc khă năt tha giá,
tí xă ră nê nă, xă hă, păn chă, xi la ní, gia cha mí (mă).
 Đú tí giăm pí, ă hăng (mă giăm) phăn tê, quí xung, quí xung, rắc khă nat
tha giá, tí xă ră nê nă, xă hă, păn chă, xi la ní, gia cha mí (mă).
 Tă tí giăm pí, ă hăng (mă giăm), phăn tê, quí xung, quí xung, rắc khă nat
tha giá, tí xă ră nê nă, xă hă, păn chă, xi la ní, gia cha mí (mă).
 Bạch ngài, Con (Chúng con) xin thọ trì Tam Quy và Ngũ giới nơi Tam Bảo
để dâng giữ và hành theo cho được sự lợi ích.
 Bạch Ngài, Con (Chúng con) xin thọ trì Tam Quy và Ngũ Giới nơi Tam Bảo
để dâng giữ và hành theo cho được sự lợi ích, lần thứ nhì.
 Bạch Ngài, Con (Chúng con) xin thọ trì Tam Quy và Ngũ Giới nơi Tam Bảo
để dâng giữ và hành theo cho được sự lợi ích, lần thứ ba.
* Xong rồi ông Thầy chứng minh nơi ấy, phải đọc bài này ba lần:
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Con xin hết lòng thành kính làm lễ Đức Phá gá voa đó, Ngài là bậc Ă rá hăng
cao thượng được chứng quả Chánh Biến Tri do Ngài tự ngộ không thầy chỉ
dạy. (3 lần 1 lạy)
* Ông Thầy đọc tiếp bài Quy Y Tam Bảo, người thọ giới cũng phải đọc theo:
Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Sanghaṃ saraṇaṃ gachāmi.
Dutiyampi Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi Sanghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi Sanghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Phiên âm:
Bút thăng xá rá năng găch cha mí.
Thăm măng xá rá năng găch cha mí.
Xăng khăng xá rá năng găch cha mí.
Đú tí giăm pí Bút thăng xă ră năng găch cha mí.
Đú tí giăm pí Thăm măng xă rănăng găch cha mí.
Đú tí giăm pí Xăng khăng xă rănăng găch cha mí.
Tá tí giăm pí Bút thăng xă ră năng gă cha mí.
Tá tí giăm pí Thăm măng xă ră năng gă cha mí.
Tá tí giăm pí Xăng khăng xă ră năng gă cha mí.
Nghĩa:
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Pháp.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Tăng.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật, lần thứ nhì.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Pháp, lần thứ nhì.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Tăng lần thứ nhì.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật, lần thứ ba.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Pháp, lần thứ ba.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Tăng lần thứ ba.
* Ông Thầy đọc:
‘‘ Tisaraṇaggahanaṃ paripuṇṇaṃ.’’
 Phép Quy Y Tam Bảo tròn đủ chỉ có bấy nhiêu.
*Người thọ Tam Quy đọc lời sau đây:
‘‘Āma bhante’’
Phiên âm: ‘‘A mă phăn tê’’ : Dạ xin vâng. (lạy)
* Ông Thầy đọc: (Người thọ trì Ngũ Giới phải đọc theo).
1. Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
2. Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
3. Kāmesu micchācārā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
4. Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
5. Surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ
samādiyāmi.
Phiên âm:
1. Pa na tí pa ta, quê ră mă ni, xích kha pă đăng, xă ma đí gia mí.
2. Ă đin na đa na, quê ră mă ni, xích kha pă đăng xă ma đí gia mí.
3. Ca mê xú, mích cha- cha ra, quê ră mă ni, xích kha pă đăng, xă ma đí gia
mí.
4. Mú xa voa đa, quê ră mă ni, xích kha pă đăng, xă ma đí gia mí.
5. Xú ra mê ră giá mách cháp pá ma đat tha na, quê ră mă ni, xích kha pă
đăng, xă ma đi gia mí.
Nghĩa:
1. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự sát sanh.
2. Con xin vâng giữ điều hoc là cố ý tránh xa sự trộm cắp.
3. Con xin vâng giữ điều hoc là cố ý tránh xa sự tà dâm.
4. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự nói dối.
5. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự dễ vui uống rượu và các
chất say.
* Ông thầy đọc:
‘‘Imāni panca sikkhāpadāni sādhukam katvā appamādena
niccakālamsammārakkhitabbam’’.
*Người thọ giới đọc:
‘‘Āma bhante’’ : ‘‘ A mă phăn tê ’’
– Dạ xin vâng. (1 lạy)

*Ông thầy giải về quả báu trong việc trì giới:
Sīlena sugatim
Sīlena bhogasampadā
Sīlena nibbutim
Tasmā sīlam visodhaye.
Nghĩa:
Các chúng sanh được sanh về cõi Trời cũng nhờ giữ giới, các chúng sanh được
giàu sang cũng nhờ giữ giới, các chúng sanh giải thoát, Níp Bàn cũng nhờ giữ
giới. Bởi các cớ ấy, nên Thiện Tín (hoặc chư Thiện Tín) phải ráng thọ trì giới
luật cho được trong sạch đừng để lấm nhơ.
* Người thọ trì trả lời:
‘‘Sādhu !’’: ‘‘ Xa thú ’’: ‘‘ Lành thay !’’
23. PHÉP THỌ BÁT QUAN TRAI GIỚI
Những người Thiện Tín xin thọ giới Bát Quan Trai, trước ngày hạn kỳ thọ giới, phải sắp
đặt cho xong xuôi công việc làm của mình làm trong ngày thường, đặng sáng ra xin thọ
giới cho được trong sạch, khỏi bị việc trần ràng buộc.
* Đến kỳ, sáng phải thức cho sớm, dọn mình cho sạch sẽ rồi mới nên đi thọ giới, nếu đi
được trong lúc rạng đông thì tốt, bằng không có thể đi thọ đựơc, phải đối trước Kim Thân,
mà phát nguyện như sau:
Ajja uposatho imañca rattim imañca divasaṃ uposathiko (uposathikā)
bhavissāmi.
Phiên âm:
Ách chă, ú pô xă thô, í măn chă, rát ting, í măng chă, ú pô xă thí cô ( người nữ
đọc: ú pô xă thí ca), phă vít xa mí.
Nghĩa:
Ngày nay phải thọ trì Bát Quan Trai Giới, con là người thọ trì Bát Quan Trai
Giới, trọn ngày nay và đêm nay.
Nếu không thuộc tiếng Phạn thì phát nguyện bằng tiếng Việt Nam cũng được. Sau khi đã
nguyện phải giữ một lòng không nên phạm điều học mà mình phải đã thọ trì. Nếu tiện thì
phải đi xin thọ giới nơi thầy Tỳ khưu hoặc Sadi, dầu khi mặt trời đã lên cao rồi mà mình
mơí đi thọ giới, thì cũng gọi rằng được thọ trọn một ngày, một đêm, bởi mình đã có phát
nguyện rồi, phước báu cũng bằng nhau. Khi đối trước mặt thầy Tỳ khưu hoặc Sadi, mà xin
thọ giới Bát Quan Trai trước hết phải đọc bài lễ Tam Bảo, sau mới xin thọ giới.
* Xin thọ giới phải đọc như vầy:
Ukāsa ahaṃ (mayaṃ) bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaraṇena
saha aṭṭhaṅgasamannāgataṃ uposathaṃ yācāmi (ma) .
Dutiyampi ahaṃ (mayaṃm) bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya
tisaraṇena saha aṭṭhaṅgasamannāgatam uposathaṃ yācāmi (ma).
Tatiyampi ahaṃ (mayaṃ) bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya
tisaraṇena saha aṭṭhaṅgasamannāgatam uposathaṃ yācāmi (ma).
Phiên âm:
Ú ca xă, ă hăng (mă giăng) bhăn tê, quí xung, quí xung, rắc khá nát tha giá, tí
xă ră nê nă, xă hă, át thăn gă xă măn na gă tăng, gia cha mí (mă).
Đú tí giăm pí, ă hăng (mă giăng) bhăn tê, quí xung, quí xung, rắc khá nát tha
giá, tí xă ră nê nă, xă hă, át thăn gă xă măn na gă tăng, gia cha mí (mă).
Tă tí giăm pí, ă hăng (mă giăng) bhăn tê, quí xung, quí xung, rắc khá nát tha
giá, tí xă ră nê nă, xă hă, át thăn gă xă măn na gă tăng, gia cha mí (mă).
Nghĩa:
Bạch Ngài con (chúng con) xin thọ trì Tam quy và Bát Quan Trai Giới để vâng
giữ hành theo cho được sự lợi ích.
Bạch Ngài con (chúng con) xin thọ trì Tam quy và Bát Quan Trai Giới để vâng
giữ hành theo cho được sự lợi ích , lần thứ nhì.
Bạch Ngài con (chúng con) xin thọ trì Tam quy và Bát Quan Trai Giới đễ vâng
giữ hành theo cho được sự lợi, ích lần thứ ba.
Ngữ vựng:
Ukāsa: kính bạch
Bhante: ngài
Visuṃ: từng phần
Rakkhana: sự giữ gìn
Attha: sự lợi ích
Ti-saraṇa: tam quy
Saha: cùng với
Samannāgata: gồm có
Uposatha: trai giới, bố tát
Yācati: xin
Dutiyam’pi: lần thứ nhì
Tatiyam’pi: lần thứ ba
*(Xong rồi ông thầy truyền giới đọc bài Namo ba lần và Tam quy, mình phải đọc theo y như
trong ‘‘Phép thọ ngũ giới’’ đã có giải).
1. Pānātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
2. Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
3. Abrahmacariyā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
4. Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
5. Surāmerayamajjappamādatthānā veramaṇī sikkhāpadam
samādiyāmi.
6. Vikālabhojanā veramaṇī sikkhāpadam samādiyāmi.
7. Naccagītavāditavisūkadassanamālāgandhavilepanadhāranamand
anavibhūsanatthānā veramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
8. Uccāsayanamahāsayanāveramanī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Phiên âm:
1. Pa na tí pa ta, quê ră mă ni, xích kha pă đăng xă ma đí gia mí.
2. Ă đinh na đa na, quê ră mă ni, xích kha pă đăng xă ma đí gia mí.
3. Ă brá mă chă rí gia, quê ră mă ni, xích kha pă đăng xă ma đí gia mí.
4. Mú xa voă đa, quê ră mă ni, xích kha pă đăng, xă ma đí gia mí.
5. Xú ra mê ră giá mách chắp pă ma đát tha na, quê ră mă ni, xích kha pá
đăng, xă ma đí gia mí.
6. Quí ca lă phô chă na, quê ră mă ni, xích kha pă đăng, xă ma đí gia mí.
7. Năch chă – gi tă – voa đí tă – quí xu cá- đát xă nă, ma la – găn thă – quí lê
pă nă – tha ră nă –
măn đă nă – quí phu xă nát tha na, quê ră mă ni, xích kha pă đăng, xă ma
đí gia mí.
8. Úc cha xă gía ná má ha xá gía na, quê ră mă ni, xích kha pă đăng, xă ma
đí gia mí.
Nghĩa:
1. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự sát sanh.
2. Con xin vâng giữ điều hoc là cố ý tránh xa sự trộm cắp.
3. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự hành dâm.
4. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự nói dối.
5. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự dể vui uống rượu và các
chất say.
6. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự ăn xái giờ.
7. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự múa hát, thổi kèn, đờn, xem
múa hát, nghe đờn, kèn, trang điểm thoa vật thơm, dồi phấn và đeo tràng
hoa.
8. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự nằm ngồi nơi quá cao và
xinh đẹp.
Ngữ vựng:
Pāṇa: mạng sống
Atipāta : sát hại. (ātipāteti):
Veramaṇī: tránh, kiêng
Sikkhā-pada: điều học
Samādiyati: thọ trì
Adinna: không cho
Adāna: lấy. (Ādāti):
A-brahma-cariya: phi phạm hạnh
Musā: dối trá
Vāda: lời nói
Surā: rượu cất
Meraya: rượu men
Majja: chất say
Pamāda: phóng dật
Ṭhāna: điều kiện, nguyên nhân
Vi-kāla: phi thời
Nacca: vũ
Gīta: ca
Vādita: nhạc
Visūka: kịch
Dassana: xem
Mālā: tràng hoa
Gandha: hương liệu
Vilepana: nước hoa
Dhāraṇa: sự đeo mang
Maṇḍana: vật trang điểm
Vibhūsana: sự tô điểm
Ucca: cao
Sayana: chỗ nằm
Paññatta (paññāpeti): đã thi thiết, quy
định, công bố
Ratti: đêm
Divasa: ngày
Sammad’eva: suốt, trọn. (sammā+eva)
Abhirakkhituṃ: giữ gìn. (abhirakkhati)
Samādiyati: thọ nhận, chấp nhận
* Xong rồi người xin thọ giới đọc:
Imaṃ aṭṭhangasamannāgataṃ buddhappaññattaṃ uposathaṃ ima ñca
rattiṃ imañca divasaṃ sammadeva abhirakkhituṃ samādiyāmi.
Phiên âm:
Í măng, át thăn gă xă măn na gă tăng, bút thắp păn nát tăng, í măn chă, rát
ting, í măn chă, đí voa xăng, xăm ma đế voa, ă phí rắc khí tung, xă ma đí gia
mí.
Nghĩa:
Con xin thọ trì Bát Quan Trai Giới trọn đủ tám điều của Đức Phật đã giáo
truyền, hầu vâng giữ hành theo cho được trong sạch trọn ngày nay và đêm nay,
mong cầu gieo được giống lành để thấy rõ Níp Bàn trong ngày vị lai.
*(Xong rồi ông thầy truyền giới đọc bằng lời sau đây để nhắc nhở cho mình ghi nhớ):
Imāni attha sikkhāpadāni uposathas īlavasena imanca rattim emanca
divasam sādhukam katvā appamādena sammā rakkhitabbam.
Thiện tín nên thọ trì Bát Quan Trai Giới cho trong sạch trọn ngày nay và đêm
nay không nên dể duôi.
* Người thọ giới đọc:
‘‘Āma bhante’’
Phiên âm:
‘‘A mă phăn tê’’ – Dạ xin vâng .
* Xong rồi ông thầy giải về quả báo trì giới:
Sīlena sugatim yanti
Sīlena bhogasampadā
Sīlena nibbutim yanti
Tasmā sīlam visodhaye.
(Nghĩa như trước)
* Người thọ giới đọc:
‘‘Sādhu!’’
Phiên âm: ‘‘Xa thú!’’ – Lành thay !
24. SABBADISASU METTĀPHARANAM
Sabbe puratthimāya disāya sattā averā sukhī hontu.
Sabbe puratthimāya anudisāya sattā averā sukhī hontu.
Sabbe dakkhiṇāya disāya sattā averā sukhì hontu.
Sabbe dakkhiṇāya anudisāya sattā averā sukhì hontu.
Sabbe pacchimāya disāya sattāaverā sukhī hontu.
Sabbe pacchimāya anudisāya sattā averā sukhì hontu.
Sabbe uttarāya disāya sattā averā sukhī hontu.
Sabbe uttarāya anudisāya sattā averā sukhī hontu.
Sabbe uparimāya disāya sattā averā sukhī hontu.
Sabbe hetthimāya disāya sattā averā sukhì hontu.
Sabbe sattā averā hontu, sukhita hontu, niddukkhā hontu, abyāpajjhā
hontu, anīghā hontu, dīghāyukā hontu, arogā hontu, sampatthīhi
samijjhantu sukhī attānam pariharantu, dukkhappattā ca niddukkhā,
bhayappattā ca nibbhayā, sokappattā ca nissokā hontu sabbepi pāṇino.
Phiên âm:
Xắp bê – bú rat thí ma giá – đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – bú rat thí ma giá – ă nu đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – đắc khí na giá – đí xa giá – xat ta – á quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – đắc khí na giá – ă nú đí xa giá – xat ta – ă vê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – bách chí ma giá – đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – bách chí ma giá – ă nú đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – ut tă ra giá – đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – ut tă ra giá – ă nú đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tú.
Xắp bê – ú bă rí ma giá – đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tu.
Xắp bê – hêt thí ma giá – đí xa giá – xat ta – ă quê ra – xú khi – hôn tu.
Xắp bê xat ta ă quê ra hôn tu – xú khí ta hôn tú – nít đúc kha hôn tú – ă bi gia bach
cha hôn tú – ă ni gha hôn tú – đí gha giú ca hôn tú – á rô ga hôn tú – xăm bat ti hí –
xă mích chăn tú – xú khi – at ta năng – pă rí hă răn tú – đúc khắp bát ta – chă – nít
đúc kha – phá giắp bát ta – chă – níp phă gia – xô cáp bát ta – chă- nít xô ca – hôn tú
– xắp bê pí – pa ní nô.
KINH TỤNG RẢI TÂM BÁC ÁI ĐẾN TẤT CẢ CÁC HƯỚNG
Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng đông, đừng có oan trái lẫn nhau,
hãy cho được sự yên vui.
Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng đông nam, đừng có oan trái lẫn
nhau, hãy cho được sự yên vui.
Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng nam, đừng có oan trái lẫn nhau,
hãy cho được sự yên vui.
Nguyện cho tất cà chúng sanh trong hướng tây nam, đừng có oan trái lẫn
nhau, hãy cho được sựyên vui.
Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng tây, đừng có oan trái lẫn nhau, hãy
cho được sự yên vui.
Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng tây bắc, đừng có oan trái lẫn nhau,
hãy cho được sự yên vui.
Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng bắc, đừng có oan trái lẫn nhau, hãy
cho được sự yên vui.
Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng đông bắc, đừng có oan tráI lẫn
nhau, hãy cho được sự yên vui.
Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng trên, đừng có oan trái lẫn nhau,
hãy cho được sự yên vui.
Nguyện cho tất cả chúng sanh trong hướng dưới, đừng có oan trái lẫn nhau,
hãy cho được sự yên vui.
Nguyện cho tất cả chúng sanh đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho đưỡc sự yên
vui, đừng có khổ, đừng làm lại lẫn nhau, đừng hẹp lượng, hãy cho được sống
lâu, đừng có bệnh hoạn, hãy cho được thành tựu đầy đủ, hãy giữ mình cho
được sự yên vui. Tất cả chúng sanh đến khổ rồi, xin đừng cho có khổ, đến sự
kinh sợ rồi, xin đừng cho có kinh sợ, đến sự thương tiếc rồi xin đừng cho
thương tiếc.
Ngữ vựng:
Puratthima: Đông
Disā: hướng
Anu-disā: hướng kế
Dakkhiṇa: Nam
Pacchima: Tây
Uttara: Bắc
Uparima: trên
Heṭṭhima: dưới
Avera: không oan trái. (a+vera)
Hoti: là
Hotu: (số ít) hãy là, xin cho, nguyện;
Hontu (số nhiều)
Sukhi: sự an lạc
Satta: chúng sanh
Sukhita: sự an lạc
Niddukkha: thoát khổ, ly khổ. (ni+dukkha)
Abyāpajjhā: không bị nhiễu hại.
(a+vyāpajjha)
Anīgha: không bị xáo trộn. (a+nīgha)
Dīgh’āyuka: sống lâu, trường thọ.
(dīgha+āyuka)
Aroga (a+roga): không bệnh hoạn
Sampatti: thành mãn, viên thành
Samijjhati: đạt thành
Atta: ta, tự mình
Pariharati: bảo vệ
Patta: đạt được. (Pāpuṇāti):
Bhaya: sợ hãi
Soka: ưu phiền

25. ĀKĀSATTHĀ
Ākāsa-ṭṭhā ca bhumma-ṭṭhā
Devā Nāgā mah’iddhikā
Puññaṃ no anumodantu
Ciraṃ rakkhantu sāsanaṃ.
[thay thế sāsanaṃ bằng rājano, ñatayo, pānino, no sadā]
Phiên âm:
A ca xát tha, chă, bum mat tha
Đê voa, na ga, mă hít thí ca
Bun nhăng, nô, ă nú mô đăn tú
Chí răng, rắc khăn tú xa xă năng
[thay thế xa xă năng bằng rát thă kê, nha tă dô, pă ní nô, nô xă đa]
HỒI HƯỚNG CHƯ THIÊN
Chư Thiên ngự trên hư không
Địa cầu thượng ngự rõ thông mọi điều
Long vương thần lực có nhiều
Đồng xin hoan hỷ phước đều chúng con
Hộ trì Phật giáo Tăng bồi
Các Bậc Thầy Tổ an vui lâu dài
Quyến thuộc tránh khỏi nạn tai
Chúng sanh được hưởng phước dài bền lâu
Chúng con vui thú đạo mầu
Tu hành tinh tấn ngõ hầu vô sanh.
Ngữ vựng:
Ākāsa: hư không, bầu trời
Ākāsa-ṭṭhā: ở trên không
Mah’iddhikā: đại thần lực.
(mahā+iddhikā)
Puñña: phước
Anumodati: tuỳ hỷ
Ciraṃ: lâu dài
Rakkhati: hộ trì, bảo vệ
Ciraṃ: lâu dài
Rakkhati: hộ trì, bảo vệ
Sāsana: lời dạy, giáo pháp
Rājā: vua, quốc vương
Ñāti: quyến thuộc
Ṭhā: ở. (tiṭṭhati)
Ṭhāna: chỗ
No: của chúng tôi

26. TILOKAVIJAYARĀJAPATTIDĀNAGĀTHĀ
Yam kiñchi kusalakammam
Kattabbam kiriyam mama
Kāyena vācāmanāsa
Tidase sugatam katam
Ye sattā saññino atthi
Ye ca sattā asannino
Katam puññaphalam mayham
Sabbe bhāgī bhavantute
Ye tam katam suviditam
Dinnam punnaphalam mayā
Ye ca tattha na jānanti
Devā gantvā nivedayum
Sabbe lokamhi ye sattā
Jīvantāhārahetukā
Manuññam bhojanam sabbe
Labhantu mama cetasāti.
Phiên âm:
Giăng, kinh chí, cú xă lă căm măng
Kat tăp păng, kí rí giăm, mă mă
Ca dê nă, voa cha mă na xă
Tí đă xê, xú gă tăng, că tăng
Giê xat ta, xanh nhí nô, at thí
Giê chá xat ta, ă xanh nhí nô
Cá tăng punh nhá phá lăng, mây hăng
Xắp bê, pha gi, phă voan tú tê
Giê tăng, cá tăng, xú quí đí tăng
Đin năng, punh nhá phá lăng, mă gia
Giê chă tat thă, nă cha năn tí
Đê voa, găn toa, ní quê đă dung
Xăp bê, lô căm hí, giê xat ta
Chi voăn ta ha ră hê tú ca
Mă nunh nhăng, bô chá năng, săp bê
Lă phăn tú, mă mă, chê tă xa tí.
KINH HỒI HƯỚNG CHÚNG SINH
Phước căn con đã tạo thành,
Do thân, khẩu, ý tu hành gieo nên.
Đều là phước báo vững bền,
Có thể tiếp chúng độ lên thiên đàng.
Cung trời Đạo Lợi thọ nhàn,
Chúng sanh hữu tưởng nhơn gian Sa bà.
Chư Thiên, Phạm Thiên cùng là,
Bậc trời Vô Tưởng được mà hưởng an.
Phước con hồi hướng dâng ban,
Chúng sanh hay biết hoàn toàn lãnh thâu.
Bằng ai chưa rõ lời cầu,
Xin cùng Thiên chúng đến hầu mách ngay.
Có người làm phước được rày,
Lại đêm hồi hướng hiện nay khắp cùng.
Chúng sanh hoan hỷ lãnh chung,
Hưởng được phước quí ung dung thanh nhàn.
Chúng sanh thế giới các hàng,
Bởi nhờ thọ thực sanh an mạng trường.
Xin thâu phước báu cúng dường,
Hoá thành thực phẩm mùi hương thoả lòng. (lạy)
Con xin hồi hướng quả này,
Thấu đến quyến thuộc nơi đây cho tường;
Cùng là thân thích tha phương,
Hoặc đã quá vãng hoặc thường hiện nay;
Chúng sanh ba giới bốn loài,
Vô tưởng, hữu tưởng chẳng nài đâu đâu;
Nghe lời thành thật thỉnh cầu,
Xin mau tựu hội lãnh thâu quả này;
Bằng ai xa cách chưa hay,
Cầu xin Thiên chúng mách ngay với cùng;
Thảy đều thọ lãnh hưởng chung,
Dứt rồi tội lỗi thoát vòng nạn tai;
Nguyện nhiều Tăng chúng đức tài,
Đạt thành Thánh quả hoằng khai đạo lành;
Nguyện cho Phật Pháp thịnh hành,
Năm ngàn năm chẵn phước lành thế gian.
Dịch nghĩa:
Bất cứ thiện nghiệp nào là hành động đáng được làm với thân, khẩu, ý của tôi đều tác thành đến cõi trời
Đao Lợi. Có chúng sanh hữu tưởng nào, có chúng sanh vô tưởng nào, tất cả các vị là người chia phần phước
quả mà tôi đã làm. Chúng sanh nào đã khéo hay biết những công đức do tôi hồi hướng (xin hãy tùy hỷ);
chúng sanh ở nơi nào không hay biết, xin Chư Thiên sau khi đi, hãy báo truyền cho họ rõ “Tất cả chúng
sanh nào sống trên thế gian do nhân vật thực, xin hãy thoả thích nhận phần phước vật thực do tôi hồi
hướng với tâm hoan hỷ.”
Ngữ vựng:
Yaṃ kiñci: bất cứ cái gì
Kusala: thiện
Kamma: nghiệp
Kattabba: nên làm. (karoti):
Kiriya: hành động
Mama: của tôi
Kāya: thân
Vācā: khẩu
Manasā: ý
Tidasā: 33, cõi trời 33 (Đao lợi)
Sugata: thiện thú
Kata: tác thành
Saññā: hữu tưởng
Asaññā: vô tưởng
Atthi: có
Puñña: phước, công Đức
Phala: quả
Mayhaṃ: của tôi
Bhāgī: người chia phần
Bhavati: là. (hoti)
Su-vidita: khéo biết
Dinna: đã cho
Mayā: bởi tôi
Tattha: ở đó
Na-jānāti: không biết
Gantvā: sau khi đi
Nivedayuṃ: thông báo, cho biết
Jīvanta: sống. (jīvati):
Āhāra: thức ăn
Hetukā: do nhân
Manuñña: thoả thích
Bhojana: vật thực, bữa ăn
Labhati: nhận
Cetasā: với tâm (hoan hỷ)
27. PAṬIDĀNA-GĀTHĀ
1. Yā Devatā santi-vihāra-vāsinī
Thūpe ghare bodhi ghare tahiṃ tahiṃ
Tā Dhamma-dānena bhavantu pūjitā
Sotthiṃ karonte’dha vihāra-maṇḍale.
2. Therā ca majjhā navakā ca bhikkhavo
Sārāmikā dānapatī upāsakā
Gāmā ca desā nigamā ca issarā
Sappāna bhūtā sukhitā bhavantu te
3. Jalābujā ye’pi ca aṇḍa-sambhavā
Saṃsedajā tā atha v’opapātikā
Niyyānikaṃ Dhamma-varaṃ paṭicca te
Sabbe’pi dukkhassa karontu saṅkhayam.
4. Thātu ciraṃ sataṃ Dhammo
Dhamma-d-dharā ca puggalā
Saṅgho hotu samaggo va
Atthāya ca hitāya ca
5. Amhe rakkhantu saddhammo
Sabbe’pi Dhamma-cārino
Vuddhiṃ sampāpuneyyāma
Dhamm’āriya-ppavedite.
KỆ HỒI HƯỚNG ĐẾN CHƯ THIÊN
Ngưỡng cầu các đấng chư thiên
Trong vòng tịnh xá ngự yên hằng ngày
Ngự nơi đền tháp xưa nay
Những nơi biệt thất nơi cây Bồ đề
Chúng con xin hội họp về
Sẽ dùng pháp thí tiện bề cúng dâng
Rồi xin hộ độ chư Tăng
Cửa từ ẩn náu phước hằng hà sa
Tỳ-khưu chẳng luận trẻ, già
Cao hạ, trung hạ hoặc là mới tu
Thiện nam, tín nữ, công phu
Đều là thí chủ đồng phù trợ nhân
Những người trong khắp thôn lân
Kiều cư châu quận được phần an khương
Chúng sanh bốn loại không lường
Noãn, thai, thấp, hóa khi nương pháp lành
Giải thoát, Pháp Bảo nên hành
Đặng mà dứt khổ triền quanh đọa đầy
Cầu cho hưng thạnh lâu dài
Pháp thiện trí thức các Ngài mở mang
Bậc tu xin được bình an,
Cầu cho Tăng chúng các hàng hòa nhau.
Lại thêm phẩm hạnh thanh cao,
Những quả lợi ích kết mau kịp thì.
Cầu xin Pháp Bảo hộ trì
Cho người tu đã qui y Phật rồi.
Xin cho cả thảy chúng con,
Tấn hóa trong Pháp Phật roi giáo truyền.
gữ vựng:
Paṭidāna: sự hồi hướng (cho
lại)
Santi-vihāra: tịnh xá
Thūpa Santi-vihāra: đền
tháp
Vāsinī (vāsī): cư ngụ tại
Bhara: chỗ ở, nhà
Tahiṃ: đó
Tahiṃ tahiṃ: chỗ này chỗ
kia
Dhamma-dāna: Pháp thí
Pūjita (pūjeti): dâng cúng
Sotthiṃ karoti: làm cho an
lạc
Idha: đây
Maṇḍala: vòng, phạm vi
Thera: thượng tọa, cao hạ
Majjha: trung hạ
Navaka: mới tu
Bhikkhu: tỳ khưu
Navaka: mới tu
Bhikkhu: tỳ khưu
Sārāmika: gia chủ. (sāmika)
Dānapati: thí chủ
Upāsaka: thiện nam
Upāsika: tín nữ
Gāma: làng
Desa: miền, xứ, quận
Nigama: thị trấn
Issara: thủ lãnh
Sappāna: có sinh mạng, hữu
tình
Jalābuja: thai sinh
Ye’pi: cũng như những
Aṇḍa: trứng
Aṇḍa-sambhava: noãn sinh
Saṃsedaja: thấp sinh
Atha vā: hoặc
Opapātika: hóa sinh
Niyyānika: dẫn đến, dẫn ra
khỏi
Paṭicca: do bởi, duyên do
Karontu: hãy làm
Saṅkhaya: sự tiêu tan
Thātu (tiṭṭhati): trường tại
Caraṃ: lâu dài
Sataṃ: chú tâm, lưu tâm
Dhammaddhara: người học
pháp
Puggala: cá nhân, người
Samagga: đoàn kết, hòa hợp
Saddhamma: Diệu Pháp
Dhammacārā: người hành
pháp
Vuddhi: tăng trưởng
Sampāpunati: đạt được
Ariya: Thánh
Pavedeti: tuyên thuyết
28. HỒI HƯỚNG PHƯỚC ĐẾN THÂN QUYẾN
Idaṃ no (vo) ñātīnaṃ hontu. Sukhitā hontu ñātayo. (3lần)
Phiên âm: Í đăm nô (vô) nha ti năng hôn tú Xú khí ta hôn tú nha tă giô.
Do sự phước báu mà chúng con đã trong sạch làm đây, xin hồi hướng đến thân
bằng quyến thuộc đã quá vãng, cầu mong cho các vị ấy được tái sinh về nơi
nhàn cảnh. (3 lần 1 lạy)
Do sự phước báu mà chúng con đã trong sạch làm đây, xin hồi hướng đến thân
bằng quyến thuộc trong hiện tại, cầu mong cho các vị ấy được sự hạnh phúc,
yên vui lâu dài. (3 lần 1 lạy)
29. NGUYỆN
Idaṃ vata me puññaṃ āsava-kkhayāv’ahaṃ hotu anāgate.
Í đăng, voă tă, mê (punh nhăng) đa năng, a xă voăc khă gia voă hăng, hô tú, á
na gá tê, ka lê.
Xin cho sự phước báu mà chúng con đã trong sạch làm đây, hãy là món duyên
lành, để dứt khỏi những điều ô nhiễm, ngủ ngầm nơi tâm trong ngày vị lai
30. KARAṆĪYA METTĀ SUTTA
TỪ BI KINH
1. Người hằng mong an tịnh
Nên thể hiện Pháp lành
Có khả năng, chất phác
Ngay thẳng và nhu thuận
Hiền hòa, không kiêu mạn.
2. Sống dễ dàng, tri túc
Thanh đạm, không rộn ràng
Lục căn luôn trong sáng
Trí tuệ càng hiển minh
Chuyên cần, không quyến niệm.
3. Không làm việc ác nhỏ
Mà bậc trí hiền chê
Nguyện thái bình an lạc
Nguyện tất cả sinh linh
Tròn đầy muôn hạnh phúc.
4. Chúng sanh dù yếu, mạnh
Lớn, nhỏ, hoặc trung bình
Thấp, cao, không đồng đẳng
Hết thảy chúng hữu tình
Lòng từ không phân biệt.
5. Hữu hình, hoặc vô hình
Đã sinh, hoặc chưa sinh
Gần, xa không kể xiết
Nguyện tất cả sinh linh
Tròn đầy muôn hạnh phúc.
6. Đừng lừa đảo lẫn nhau
Chớ bất mãn điều gì
Đừng mong ai đau khổ
Vì tâm niệm sân si
Hoặc vì nuôi oán tưởng.
7. Như mẹ giàu tình thương
Suốt đời lo che chở
Đứa con một của mình
Hãy phát tâm vô lượng
Cùng tất cả sinh linh.
8. Từ bi gieo cùng khắp
Cả thế gian khổ hải
Trên dưới và quanh mình
Không hẹp hòi oan trái
Không giận hờn oán thù.
9. Khi đi, đứng, ngồi, nằm
Bao giờ còn thức tỉnh
Giữ niệm từ bi này
Thân tâm thường thanh tịnh
Phạm hạnh chính là đây.
10. Ai xả ly kiến thủ
Giới hạnh được tựu thành
Chánh tri đều viên mãn
Không ái nhiễm dục trần
Thoát ly đường sanh tử.

31. MAṄGALA SUTTA (HẠNH PHÚC KINH)
1. Ở trú xứ thích hợp,
Công đức trước đã làm,
Chân chánh hướng tự tâm,
Là phúc lành cao thượng.
2. Đa văn, nghề nghiệp giỏi,
Thông suốt các luật nghi,
Nói những lời chân thật,
Là phúc lành cao thượng.
3. Hiếu thuận bậc sinh thành,
Dưỡng dục vợ và con,
Sở hành theo nghiệp chánh,
Là phúc lành cao thượng.
4. Bố thí, hành đúng pháp,
Giúp ích hàng quyến thuộc,
Giữ chánh mạng trong đời,
Là phúc lành cao thượng.
5. Xả ly tâm niệm ác,
Chế ngự không say sưa,
Không phóng dật trong pháp,
Là phúc lành cao thượng.
6. Đức cung kinh, khiêm nhường,
Tri túc và Tri ân,
Đúng thời nghe chánh pháp,
Là phúc lành cao thượng.
7. Nhẫn nại, lời nhu hòa,
Yết kiến bậc Sa-môn,
Tùy thời đàm luận pháp,
Là phúc lành cao thượng.
8. Tự chủ, sống Phạm hạnh,
Thấy được lý Thánh đế,
Giác ngộ đại Niêt-bàn,
Là phúc lành cao thượng.
9. Khi xúc chạm việc đời
Tâm không động, không sầu,
Tự tại và vô nhiễm,
Là phúc lành cao thượng.
10. Những sở hành như vậy
Không chỗ nào thối thất
Khắp nơi được an toàn
Là phúc lành cao thượng.

32. MAṄGALACAKKAVĀḶA (KỆ ĐIỀM LÀNH VŨ TRỤ)
Do nhờ đức của chư Phật.
Do nhờ đức của chư Pháp.
Do nhờ đức của Chư Tăng.
Do nhờ đức của Tam-Bảo, Phật-Bảo,
Pháp-Bảo, Tăng-Bảo.
Do nhờ đức của 8 muôn 4 ngàn Pháp
môn.
Do nhờ đức của Tam Tạng.
Do nhờ đức của chư Thinh-Văn đệ tử
Phật.
Tất cả các tật bịnh của người.
Tất cả sự lo sợ của người.
Tất cả sự tai hại của người.
Tất cả sự khó chịu của người.
Tất cả điều mộng mị xấu xa của người.
Tất cả điều chẳng lành của người.
Cầu xin cho được tiêu diệt.
Sự sống lâu. Sự tấn tài.
Sự thạnh lợi. Sự sang cả.
Sự mạnh khỏe. Sự sắc đẹp.
Sự an vui. Cầu xin hằng đến cho người.
Tất cả sự khổ não, tật bịnh, lo sợ hoặc
điều oan kết.
Hoặc tất cả sự uất ức, các cảnh nghịch
hoặc sự khó chịu.
Hoặc nhiều sự tai hại.
Cầu xin cho được tiêu diệt, do nhờ các
đức (nhứt là đức của Chư Phật).
Sự vinh hiển, sự phát tài, sự phát lợi.
Hoặc sự thạnh lợi phong lưu, sự an vui
hoặc sức mạnh.
Sự phước lợi, sự sống lâu, sự sắc đẹp.
Sự tấn tài, sự tấn hóa, sự sang cả.
Hoặc sự sống đến trăm tuổi, hoặc sự thành
tựu trong việc nuôi mạng cho được an vui,
(tất cả sự ấy, cầu xin hằng đến cho người).
Tất cả hạnh phúc hằng có đến người.
Cầu xin Chư Thiên hộ trì đến người.
Do nhờ oai đức của Chư Phật.
Các sự thạnh lợi thường thường đến người.
Các sự hạnh phúc hằng có đến người.
Cầu xin Chư Thiên hộ trì đến người.
Do nhờ oai đức của các Pháp.
Các sự thạnh lợi thường thường đến người.
Các sự hạnh phúc hằng có đến người.
Cầu xin Chư Thiên hộ trì đến người.
Do nhờ oai đức của Chư Tăng.
Các sự thạnh lợi thường thường đến người.
Sự vinh hiển, sự phát tài, sự phát lợi.
Hoặc sự thạnh lợi phong lưu, sự an vui hoặc
sức mạnh.
Sự phước lợi, sự sống lâu, sự sắc đẹp.
Sự tấn tài, sự tấn hóa, sự sang cả.
Hoặc sự sống đến trăm tuổi, hoặc sự thành
tựu trong việc nuôi mạng cho được an vui,
(tất cả sự ấy, cầu xin hằng đến cho người).
Tất cả hạnh phúc hằng có đến người.
Cầu xin Chư Thiên hộ trì đến người.
Do nhờ oai đức của Chư Phật.
Các sự thạnh lợi thường thường đến người.
Các sự hạnh phúc hằng có đến người.
Cầu xin Chư Thiên hộ trì đến người.
Do nhờ oai đức của các Pháp.
Các sự thạnh lợi thường thường đến người.
Các sự hạnh phúc hằng có đến người.
Cầu xin Chư Thiên hộ trì đến người.
Do nhờ oai đức của Chư Tăng.
Các sự thạnh lợi thường thường đến người.

33. ABHIṆHAPACCAVEKKHAPĀTHO
Jarā-dhammomhi jaraṃ anatīto....
Byādhi-dhammomhi byādhiṃ anatīto....
Maraṇa-dhammomhi maraṇaṃ anatīto....
Sabbehi me piyehi manāpehi
nānābhāvo vinābhāvo....
Kammassakomhi
kammadāyādo
kammayoni
kammabandhū
kammapaṭisaraṇo
yaṃ kammaṃ karissāmi
kalyāṇaṃ vā pāpakaṃ vā
tassa dāyādo bhavissāmī.
Evaṃ amhehi abhiṇhaṃ
paccavekkitabbaṃ
NĂM ĐIỀU QUÁN TƯỞNG
Thế Tôn lời dạy tỏ tường
Năm điều quán tưởng phải thường xét ra
Ta đây phải có sự già
Thế nào tránh thoát lúc qua canh tàn.
Ta đây bệnh tật phải mang
Thế nào tránh thoát đặng an mạnh lành
Ta đây sự chết sẵn dành
Thế nào tránh thoát tử sanh đến kỳ.
Ta đây phải chịu phân ly
Nhân vật quý mến ta đi biệt mà
Ta đi với nghiệp của ta
Dầu cho tốt xấu tạo ra tự mình.
Theo ta như bóng theo hình
Ta thọ quả báo phân minh kết thành.

34. KỆ ĐỘNG TÂM
1) Na gāmadhammo nigamassa dhammo,
Na cāpiyaṃ ekakulassa dhammo,
Sabbassa lokassa sadevakassa,
Eseva dhammo yadidaṃ aniccatā
Pháp nào có tên gọi là “Vô thường”, là Pháp có trạng thái thay đổi không
thường, Pháp ấy chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xứ, chẳng
phải chỉ để riêng cho những người trong một xóm, chẳng phải chỉ để riêng cho
những người trong một gia tộc đâu. Pháp ấy để chung cho nhơn loại, súc sanh,
luôn đến Chư Thiên, Ma Vương và Phạm Thiên cả thảy.
2) Na gāmadhammo nigamassa dhammo,
Na cāpiyaṃ ekakulassa dhammo,
Sabbassa lokassa sadevakassa,
Eseva dhammo yadidaṃ ca dukkhatā.
Pháp nào có tên gọi là “Khổ não”, là Pháp có trạng thái đau đớn buồn rầu, Pháp
ấy chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xứ, chẳng phải chỉ để
riêng cho những người trong một xóm, chẳng phải chỉ để riêng cho những
người trong một gia tộc đâu. Pháp ấy để chung cho nhơn loại, súc sanh, luôn
đến Chư Thiên, Ma Vương và Phạm Thiên cả thảy.
3) Na gāmadhammo nigamassa dhammo,
Na cāpiyaṃ ekakulassa dhammo,
Sabbassa lokassa sadevakassa,
Eseva dhammo yadidaṃ anattatā.
Pháp nào có tên gọi là “vô ngã”, là Pháp có trạng thái “không phải là của ta”,
Pháp ấy chẳng phải chỉ để riêng cho những người trong một xứ, chẳng phải chỉ
để riêng cho những người trong một xóm, chẳng phải chỉ để riêng cho những
người trong một gia tộc đâu. Pháp ấy để chung cho nhơn loại, súc sanh, luôn
đến Chư Thiên, Ma Vương và Phạm Thiên cả thảy.
4) Sabbe saṅkhārā aniccāti,
Yadā paññāya passati,
Atha nibbindati dukkhe,
Esa maggo visuddhiyā.
(Nếu người đời) được quán tưởng thấy rõ bằng Trí tuệ rằng: “Tất cả tập hợp
là vật không thường”, như thế trong giờ nào, thì chắc sẽ chán nản, lánh khỏi
khổ trong giờ ấy; đó là con đường của sự trong sạch cao thượng.
5) Sabbe saṅkhārā dukkhāti,
Yadā paññāya passati,
Atha nibbindati dukkhe,
Esa maggo visuddhiyā.
(Nếu người đời) được quán tưởng thấy rõ bằng Trí tuệ rằng: “Tất cả tập hợp
đều là khổ não”, như thế trong giờ nào, thì chắc sẽ chán nản, lánh khỏi khổ
trong giờ ấy; đó là con đường của sự trong sạch cao thượng.
6) Sabbe dhammā anattāti,
Yadā paññāya passati,
Atha nibbindati dukkhe,
Esa maggo visuddhiyā.
(Nếu người đời) được quán tưởng thấy rõ bằng Trí tuệ rằng: “Tất cả các Pháp
chẳng phải là của ta”, như thế trong giờ nào, thì chắc sẽ chán nản, lánh khỏi
khổ trong giờ ấy; đó là con đường của sự trong sạch cao thượng.
7) Sabbe sattā marissanti
Maraṇ’antaṃ hi jīvitaṃ
Yathā kammaṃ gamissanti
Puñña-pāpa-phal’ūpagā
Nirayaṃ pāpa-kammantā
Puñña-kammā ca sugatiṃ
Tasmā kareyya kalyāṇam
Nicayaṃ samparāyikaṃ
Puññāni para-lokasmiṃ
Patiṭṭhā honti pāṇinaṃ.
Tất cả chúng sanh chỉ sẵn dành để chịu chết đều nhau cả, vì sanh mạng (của tất
cả chúng sanh) chỉ có sự chết là nơi cuối cùng. Tất cả chúng sanh, đều phải chịu
quả phước cùng quả tội, vừa theo cái nghiệp; của mình đã tạo rồi (đi thọ sanh
trong kiếp sau, chúng sanh nào làm việc dữ, phải chịu khổ trong cõi địa ngục.
Chúng sanh nào, làm việc lành, được thọ vui trong cõi thiên đàng. Cho nên (người
đời) cần phải hối hả, làm việc phước đức, mà các bậc trí tuệ hằng thân thiết, cho
đặng làm của để dành, dính theo trong đời vị lai (vì) các việc phước đức là nơi
nương nhờ của tất cả chúng sanh trong ngày vị lai.
Ngữ vựng:
Marati: chết
Maraṇa: sự chết
Jīvita: mạng
Gamati: đi, dẫn đi
Upaga: đem đến, gánh chịu
Niraya: địa ngục
Sugati: cõi trời, thiện thú
Tasmā: cho nên
Kalyāṇa: lành
Nicaya: tích lũy
Samparāyika: thuộc kiếp sau
Patiṭṭha: nâng đỡ, hộ trì
8) Sabbe saṅkhārā aniccā’ti
Yadā paññāya passati
Atha nibbindati dukkhe
Esa maggo visuddhiyā.
Sabbe saṅkhārā dukkhā’ti
Yadā paññāya passati
Atha nibbindati dukkhe
Esa maggo visuddhiyā.
Sabbe dhammā anattā’ti
Yadā paññāya passati
Atha nibbindati dukkhe
Esa maggo visuddhiyā.
Tất cả hành vô thường
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh.
Tất cả hành khổ đau
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh.
Tất cả pháp vô ngã,
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh.
Ngữ vựng:
Yadā: khi
Passati: thấy
Atha: thì
Nibbindati: nhàm chán, yểm ly
Visuddhi: thanh tịnh
9) Paṇḍu-palāso va’dāni'si
Yama-purisā pi ca taṃ upaṭṭhitā
Uyyoga-mukhe ca tiṭṭhati
Pātheyyaṃ pi ca te na vijjati
So karoti dīpaṃ attano
Khippaṃ vāyama paṇḍito bhava
Niddhanta-malo anaṅgano
Dibbaṃ ariya-bhūmiṃ ehesi.
Thân như phiến lá vàng
Bên bờ ranh cõi chết
Tử thần đang chờ đợi
Sao chưa có hành trang
Hãy tự mình thắp đuốc
Bậc trí sớm tinh cần
Trong sạch, ly uế nhiễm
Vào Thánh địa nhiệm mầu.
Ngữ vựng:
Paṇḍu: khô héo, vàng úa
Palāsa: ngọn lá
Yama-purisa: Diêm sứ
Upaṭṭhita: chờ đợi (upaṭṭhati)
Uyyoga-mukha: cửa tử
Pātheyya: hành trang
Khippa: nhanh chóng, sớm
Vāyama: tinh cần
Niddhanta: tống khứ, dập tắt (niddhamati)
Mala: ô nhiễm
Anaṅgana: trong sạch
‘si (asi/atthi): là
Dibba: nhiệm mầu
35. SAṂVEJANĪYAGĀTHĀ
Aniccā vata saṅkhārā
Uppāda vaya dhammino
Uppajjitvā nirujjhanti
Tesaṃ vūpasamo sukho.
KỆ TỈNH THỨC
Các Pháp hữu vi thật không bền vững,
Nó có tánh sanh diệt là thường.
Vì nhân sanh rồi diệt, diệt rồi sanh,
nên thường hay có sự khổ não.
Chỉ có Niết-bàn là Pháp tịch diệt,
dứt các Pháp hữu vi ấy được,
mới có sự an vui tuyệt đối.
Ngữ vựng:
Anicca: vô thường
Vata: quả thật
Saṅkhāra: hành, hữu vi
Uppāda: sinh, thành
Vaya: hoại diệt
Uppajjhati: sinh
Nirujjhati: diệt
Vūpasama: tịch diệt, tiêu mất, lắng dịu

36. CHÚC NGƯỜI MỚI QUY Y
Ngưỡng cầu Ðức Phật ban ơn
Ðộ người chánh kiến tầm chơn đạo thiền
Ngưỡng cầu Ðức Pháp vô biên
Ðộ người hữu chí cần chuyên đạo hành.
Ngưỡng cầu hai bậc Tăng lành
Ðộ người mộ đạo tâm thành quy y
Cầu xin Thiên chúng hộ trì
Giúp người giới luật luôn khi giữ tròn
Chúc cho bạn mới lòng son
Tu hành tinh tấn dạ mong Niết bàn
Thiện nam Tín nữ lưỡng ban
Xin cùng đồng đạo bạn vàng nhận thâu
Phước lành đào tạo bấy lâu
Ðồng xin hồi hướng nguyện cầu quả cao
Ðạo mầu gắng chí giồi trau
Thoát đường tội lỗi trần lao dứt lần
Tìm người trí thức xa gần
Gặp người đạo đức ân cần hỏi han
Ngày đêm tụ tập đoan trang
Công phu hành đạo tìm đường siêu sinh
Dọn thân khẩu ý trọn lành
Kịp thời thoát tục thực hành đạo cao
Tìm đường Bát chánh lần vào
Siêu phàm nhập Thánh tiêu dao Niết Bàn.

Namo Buddhaya, Namo Dhammaya, Namo Sanghaya
NAM MÔ PHẬT - NAM MÔ PHÁP - NAM MÔ TĂNG.
-----------------*****-----------------
Nguồn:
www.budsas.org
vomonthientu.org
thayvabiet.com

Address

Tuy Phong
77000

Telephone

+84943318169

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Sưu Tầm Giáo Pháp posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Sưu Tầm Giáo Pháp:

Share