12/07/2026
LỄ TƯỞNG NIỆM HUÝ NHẬT LẦN THỨ 9 CỐ NI TRƯỞNG TÔN SƯ THƯỢNG GIÁC HẠ HUỆ - PHÁP HIỆU NHỰT HUỆ - TÔN SƯ KHẢ KÍNH CỦA CHÚNG CON.
TIỂU SỬ NI TRƯỞNG TÔN SƯ THÍCH NỮ GIÁC HUỆ
Pháp hiệu: Nhựt Huệ (1920 – 2015)
Trong lịch sử hình thành và phát triển của Ni giới Phật giáo tỉnh Trà Vinh, Cố Ni trưởng Thích Nữ Giác Huệ, pháp hiệu Nhựt Huệ, là một trong những bậc Trưởng lão Ni đức cao vọng trọng, suốt đời lấy giới luật làm nền tảng tu tập, lấy hoằng pháp lợi sanh làm chí nguyện và lấy sự kế thừa mạng mạch Phật pháp làm lẽ sống. Cuộc đời gần một thế kỷ của Ni trưởng là tấm gương sáng về phạm hạnh, đức khiêm cung và tinh thần phụng sự không mệt mỏi đối với Đạo pháp và chúng sanh.
Ni trưởng, thế danh Trần Thị Ngọc, sinh năm 1920 tại làng Đa Lộc, quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Bình (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long). Ngay từ thuở thiếu thời, với thiện căn sâu dày, Ni trưởng thường lui tới cửa thiền lễ Phật, nghe kinh, gieo trồng hạt giống Bồ-đề. Tâm xuất trần ngày càng lớn mạnh, trở thành nhân duyên đưa người thiếu nữ năm ấy bước vào con đường phạm hạnh.
Năm 1933, khi vừa tròn mười ba tuổi, Ni trưởng phát tâm xuất gia, tập sự tại chùa Hưng Long (Đa Lộc). Đến năm 1936, Ni trưởng đảnh lễ Hòa thượng thượng Thành hạ Đạo tại chùa Phật Ấn (Sài Gòn) cầu thế phát xuất gia và được ban pháp danh Giác Huệ. Hai năm sau, Ni trưởng thọ giới Thức-xoa-ma-na tại Trường Gia giáo Ni chùa Giác Hoa (Bạc Liêu), chuyên tâm học giới và rèn luyện oai nghi của người xuất gia. Năm 1946, Ni trưởng đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại Giới đàn chùa Tập Thành (Sa Đéc), chính thức trở thành vị Tỳ-kheo-ni trong Giáo đoàn, tiếp nối mạng mạch Ni đoàn do Đức Thế Tôn khai sáng.
Với chí cầu học không ngừng, trong các năm 1952 – 1953, Ni trưởng theo học tại Ni trường Phật học chùa Từ Quang (Sa Đéc), nơi đào tạo nhiều bậc danh Ni của Phật giáo Nam Bộ. Trong thời gian này, Ni trưởng luôn tinh tấn nghiên cứu kinh luật, nghiêm trì giới phẩm và được chư Tôn đức giáo phẩm cùng huynh đệ đồng học quý trọng bởi đức tính khiêm cung, cần mẫn và chí nguyện cầu đạo kiên cố.
Sau khi hoàn mãn chương trình Phật học, Ni trưởng trở về chùa Hưng Long phụng dưỡng Ân sư, tận tâm chăm lo Phật sự, tròn đầy đạo hiếu của người con Phật.
Cuối năm 1953, Ni trưởng đảnh lễ Hòa thượng thượng Thiện hạ Ngôn, trụ trì Tổ đình Phổ Minh, cầu pháp và được Hòa thượng từ bi ban pháp hiệu Nhựt Huệ, chính thức trở thành môn hạ của Tổ đình Phổ Minh, cùng chung dòng truyền thừa với Ni trưởng thượng Nhựt hạ Từ.
Sau khi Ân sư viên tịch, hai huynh đệ là Ni trưởng thượng Nhựt hạ Từ và Ni trưởng thượng Giác hạ Huệ đồng tâm kế thừa tông phong, nương nhau gánh vác Phật sự, chăm lo đạo tràng và giáo dưỡng Ni chúng. Trong tinh thần lục hòa cộng trụ, hai Ni trưởng đã dành trọn tâm lực để kiến thiết già-lam, mở mang đạo nghiệp, hướng dẫn hàng Phật tử tu học và giữ gìn mạng mạch Phật pháp. Từ một ngôi tịnh thất đơn sơ, chùa Phổ Minh từng bước được kiến tạo trở thành một đạo tràng trang nghiêm, là nơi nương tựa tâm linh của đông đảo Tăng Ni và Phật tử trong vùng.
Suốt hơn tám mươi năm sống đời phạm hạnh, Ni trưởng luôn lấy lời dạy "Lấy Giới làm Thầy" làm kim chỉ nam cho mọi hành trì. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Ni trưởng vẫn giữ nếp sống thanh bần, thiểu dục tri túc, khiêm cung và từ hòa. Chính thân giáo của Ni trưởng đã cảm hóa nhiều người phát tâm quy y Tam bảo, xuất gia học đạo và tận tâm hộ trì Chánh pháp.
Đối với môn đồ pháp quyến, Ni trưởng là bậc Ân sư khả kính, nghiêm từ trong giới luật nhưng chan chứa tình thương. Đối với Giáo hội, Ni trưởng là bậc Trưởng lão Ni mẫu mực, trọn đời âm thầm cống hiến cho sự nghiệp đào tạo Ni tài và phát triển Ni giới Phật giáo Trà Vinh.
Ngày 27 tháng 5 năm Ất Mùi (2015), sau chín mươi lăm năm hiện hữu giữa cuộc đời và hơn tám mươi năm phụng sự cửa thiền, Ni trưởng thuận duyên thu thần thị tịch. Sự viên tịch của Ni trưởng là niềm tiếc thương vô hạn đối với môn đồ pháp quyến, Tăng Ni và Phật tử gần xa.
Thân tứ đại tuy đã trở về với đất nước gió lửa, nhưng đạo phong, giới đức và công hạnh của Ni trưởng vẫn mãi là ngọn đèn soi sáng cho các thế hệ hậu học. Cuộc đời của Ni trưởng là minh chứng sinh động cho hạnh nguyện của người con gái Đức Phật: sống vì Chánh pháp, tận hiến cho chúng sanh và để lại cho đời một di sản đạo hạnh bất diệt.
Nam Mô Phổ Minh Đường Thượng từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhứt thế, thượng Giác hạ Huệ, hiệu Nhựt Huệ cố Ni Trưởng Tôn sư chứng minh.