Giáo họ An Chính – Quá trình hình thành và phát triển
Họ giáo An Chính hiện nay thuộc giáo xứ Thủ Chính, giáo hạt Nam Tiền Hải, giáo phận Thái Bình, cách thành phố Thái Bình khoảng 30km về phía Đông nam. Chúng ta cùng gạt những lớp bụi thời gian, trở về quá khứ để nhìn lại những sự gian khổ, hi sinh của cha ông chúng ta trong việc gieo mầm đức tin trên quê hương An Chính yêu mến này. Nửa cuối thế kỷ 18, vùng đất này còn là một bãi bồi của Cửa biển Lân rộng lớn mà người xưa gọi theo từ Hán nôm là “Đại hải Lân môn”. Vì dòng chảy sông Hồng phía hạ lưu thì chảy qua hai nhánh sông lớn: phía hữu ngạn là sông Sò hay còn gọi là sông Hà Lạn thuộc tỉnh Nam Định, còn phía tả ngạn chảy ra sông Lân thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay. Còn sông Ba Lạt là một nhánh nhỏ nằm giữa giáo xứ Kẻ Mèn khi xưa. Theo các thư tịch cổ thì năm Đinh Mùi tức năm 1787, những dòng nước lũ từ thượng nguồn sông Hồng cuồn cuộn đổ về mở toang cửa Ba Lạt vốn nhỏ hẹp để chảy thông ra biển, chúng cuốn theo nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả của các làng sống hai bên bờ sông Ba Lạt. Hiện tượng này người xưa gọi là “Ba Lạt phá hội”. Theo dòng thời gian, sông Lân dần nhỏ hẹp lại, bãi phù sa ven biển dần dần được con người từ các nơi đổ về đây sinh sống, họ cải tạo đất, đào ao, lập thổ và sinh sống. Năm 1828, thừa lệnh của vua Minh Mạng, doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đã thành lập huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và huyện Tiền Hải thuộc tỉnh Nam Định. Mảnh đất An Chính thuộc ấp Lý, tổng Tân Cơ, huyện Tiền Hải. Nguyễn Công Trứ đã chiêu mộ dân đinh khắp nơi để thành lập các ấp, trại, lý. Trong đó có một số dân từ Kẻ Mèn và các vùng lân cận tới đây lập ấp và trồng cói (đến năm 1890 mới tách tỉnh Nam Định để thành lập tỉnh Thái Bình). Khoảng nửa cuối thế kỷ 19, mảnh đất này đã có một số gia đình công giáo tới cư ngụ. Khi chưa có nhà nguyện, họ đã tụ tập cầu nguyện tại một tư gia, ngày nay là khu vực nhà ông ……….. để bồi dưỡng đức tin, còn tham dự thánh lễ thì tại nhà thờ Kẻ Mèn, từ năm 1891 Đức cha Wenceslao Onate Thuận, giám mục Đai diện Tông tòa địa phận Trung đặt tên mới là xứ Trung Đồng (xem Sử ký địa phận Trung, trang 171 và 187). Sau thời gian phát triển, cộng đoàn đức tin nơi đây trở thành giáp Bắc, thuộc họ Thủ Chính xứ Trung Đồng, gồm 13 hộ với 66 nhân danh: Cụ cai Phung họ Trần: 3 hộ; Cụ Trai họ Nguyễn: 4 hộ; Cụ Tri họ Đào: 4 hộ; Cụ Cổn họ Bùi: 2 hộ. Năm 1914, dưới thời cha Đaminh Nguyễn Trí Tuệ coi sóc xứ Trung Đồng, ngài đã cho dựng một nhà nguyện tường đất lợp rạ để cộng đoàn sớm tối cùng nhau dâng lời kinh tạ ơn Thiên Chúa. Ngày đó có 18 hộ với 116 nhân danh
Năm 1925, dưới thời cha Phê-rô Nguyễn Cao Nghị, ngài đã đệ đơn lên Đức cha Trung giám mục địa phận Bùi Chu xin giáp Bắc thuộc họ Thủ Chính lên hàng giáo họ, được mang tên mới: Họ giáo An Chính. Cộng đoàn đã nhận thánh An tôn là quan thầy. Ngày đó có 42 hộ, 294 nhân danh. Cộng đoàn đã xây dựng ngôi thánh đường bằng gạch, lợp cói, mặt tiền hướng Nam.
Đây cũng là thánh đường thứ hai của họ giáo An Chính và cụ ………….. là vị trùm tiên khởi. Trong niềm vui tạ ơn Thiên Chúa, mỗi người tín hữu trong họ giáo luôn ý thức được việc trau dồi đức tin cho chính mình và thế hệ mai sau bằng lời kinh cầu nguyện sáng tối, bằng việc tham dự thánh lễ. Mặc dù hệ thống giao thông từ An Chính đến Trung Đồng rất khó khăn, nhất là những tháng mưa rét, đường sá lầy lội, nhưng không ai bỏ lễ Chúa Nhật và lễ trọng bao giờ. Đó chính là gương sáng của tiền nhân để thế hệ con cháu noi theo. Năm 1932, dưới thời cha Đaminh Nguyễn Trí Tuệ coi sóc xứ Trung Đồng lần thứ hai, cha đã khởi công xây dựng thánh đường họ giáo bằng gạch, gác tường bằng những vì kèo sắt, lợp cói mà dân vùng này thường gọi là lợp bổi, mặt tiền thánh đường hướng về phía nam. Đây là thánh đường thứ ba. Tuần bát nhật phục sinh năm 1938, Đức cha Jean Casado Obispo Thuận, Giám mục Đại diện Tông tòa tiên khởi địa phận Thái Bình đã tổ chức Đại lễ Bách chu niên kính á thánh Y và các bạn tử đạo dòng Đaminh tại thánh đường Trung Đồng. Nhân dịp này ngài đã chính thức ban sắc cho họ giáo An Chính nhận thánh An tôn Padua làm bổn mạng. Biến cố năm 1954, nhiều gia đình công giáo họ An Chính đã di cư vào nam, để lại một khoảng trống không dễ gì bù đắp. Và những năm tháng sau đó là những khoảng thời gian dài vô cùng khó khăn trong đời sống đức tin, bị o ép tứ bề. Nhưng nhờ ơn Chúa qua sự bảo trợ của Thánh An tôn hay làm phép lạ, cộng đoàn đã luôn vượt thắng rất nhiều trở ngại của thời cuộc để cây đức tin được tưới bằng mồ hôi, nước mắt… tiếp tục xanh tươi tràn đầy sức sống trong “Vui Mừng và Hi Vọng”. Trải qua hơn 4 thập kỷ, chứng kiến nhiều thăng trầm của lịch sử, chống chọi với mưa bão và chiến tranh, ngôi thánh đường đã xuống cấp trầm trọng, lại gặp thời cuộc vô cùng khó khăn. Năm 1974, cha Giuse Vũ Văn Vân đang coi sóc xứ Trung Đồng đã chỉ đạo cộng đoàn âm thầm sửa chữa thánh đường để có nơi an toàn trong những giờ kinh nguyện. Tuy nhiên, qua thời gian lại xuống cấp và hư hỏng. Năm 1988, khi cha Đaminh Trịnh Đức Tính coi sóc xứ Trung Đồng, xét thấy ngôi thánh đường không còn an toàn, với tài ngoại giao khéo léo, ngài đã làm các thủ tục với chính quyền và động viên cộng đoàn xây dựng thánh đường mới với chiều dài 25m, rộng 11m, 1 tháp chông cao 27m, mặt tiền hướng nam, khánh thành ngày 8/7/……. Năm 2003, cha Vinh sơn Đỗ Cao Thăng đang coi sóc xứ Trung Đồng, đã khởi công xây dựng nhà giáo lý hướng nam. Khi đó có 67 hộ, 520 nhân danh, trong đó có 170 người xa quê. Năm 2008 cha Augustinô Phạm Quang Tường là người con ưu tú của họ Thủ Chính, cha chánh xứ Thanh Minh đã động viên giáo họ mở đường trước cửa nhà thờ. Ngày 26/11/2009, họ giáo Thủ Chính được nâng lên hàng Giáo xứ, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ đã chuyển họ An Chính về giáo xứ Thủ Chính. Năm 2009, cha Giuse Đào Văn Riệp đã cho xây dựng, mở rộng khuôn viên thánh đường và xây đài kính Đức Mẹ và thánh Giuse. Năm 2017, cha Giuse Trần Ngọc Phương về coi sóc giáo xứ Thủ Chính. Ngài đã hướng dẫn giáo họ trùng tu lại ngôi thánh đường và xây Đền kính thánh quan thầy An tôn. Nhìn lại chặng đường lịch sử giáo họ đã có 18 khóa trùm, 18 danh vị cựu trùm. Đến nay, khuôn viên giáo họ có 4968m2 đất, trong đó có 1 thánh đường, 1 nhà giáo lý, 1 đến kính thánh Antôn và 1 hội quán làm bằng tre lợp lá cọ. Theo thống kê năm 2021, họ giáo An Chính có số hộ và nhân danh như sau:
Hộ khẩu tại quê nhà là: 43 hộ với 146 người
Bà con làm ăn xa quê là: 196 hộ với 278 người. Với những người con An Chính đang sinh sống và làm việc trên khắp mọi miền Tổ quốc, luôn ấp ủ những kỷ niệm thân thương, luôn dành tấm lòng quảng đại hướng về quê hương yêu dấu, luôn hướng về với cội nguồn của mình để cộng đoàn An Chính luôn sống mạnh mẽ trong Đức tin, luôn tin tưởng trong Đức Cậy, Đức mến luôn nảy lộc, đâm chồi trong Đức Ki tô – Đấng cứu độ duy nhất hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Dừng lại một chút, nhìn lại quá khứ của Tiền nhân, chúng ta cảm thấy lâng lâng trong lòng và hân hoan tạ ơn Thiên Chúa đã luôn dìu dắt cha ông và con cháu chúng ta trên hành trình sống đạo qua lời bầu cử của Thánh Antôn bổn mạng. Hy vọng, một ngày kia chúng ta sẽ đoàn tụ cùng Tiền nhân trên vương quốc của sự thật và tình yêu, vương quốc của an bình và vĩnh cửu. Trên đây, là sơ lược về giáo họ An Chính, trong quá trình tìm hiểu và viết kỷ yếu còn nhiều thiếu sót, hạn chế, kính mong được sự đóng góp, bổ sung của quý Đấng bậc và quý vị để cuốn Kỷ yếu về Giáo họ An Chính được hoàn thiện hơn. Xin trân trọng cảm ơn! An Chính, ngày 05 tháng 10 năm 2023
Giáo họ An Chính