Hoa sen nhỏ muốn vươn lên khỏi bùn

Hoa sen nhỏ muốn vươn lên khỏi bùn Mình tạo trang này để lan truyền lời Phật dạy với ước nguyện góp phần để Cháp Pháp mãi trường tồn hầu lợi ích cho hết thảy.

20/01/2026

Tiến trình tu tập cho người cư sĩ

SỢ HÃI VÀ HẬN THÙ (AN 10.92)
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Bình Anson hiệu đính dựa theo bản dịch tiếng Anh của Bhikkhu Bodhi

*
Bấy giờ có Gia chủ Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) đi đến Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với Gia chủ Anāthapiṇḍika:

“Này Gia chủ, khi nào vị thánh đệ tử đã diệt trừ năm sợ hãi hận thù, thành tựu bốn chi phần Dự lưu, khéo thấy và khéo thể nhập thánh lý với trí tuệ; nếu muốn, vị ấy có thể tự tuyên bố rằng: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận bàng sinh; ta đã đoạn tận ngạ quỷ; ta đã đoạn tận các cõi dữ, ác thú, đọa xứ; ta đã chứng Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc tiến đến chứng đạt cứu cánh giác ngộ.’

“Thế nào là năm sợ hãi hận thù đã được diệt trừ? (1) Này Gia chủ, người nào sát sinh, do duyên sát sinh tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người nào từ bỏ sát sinh, người ấy không tạo ra sợ hãi hận thù trong hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong tương lai, tâm không cảm thọ khổ ưu. Do từ bỏ sát sinh, sợ hãi hận thù này được diệt trừ.

(2) “Người nào lấy của không cho, do duyên lấy của không cho tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người nào từ bỏ lấy của không cho, người ấy không tạo ra sợ hãi hận thù trong hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong tương lai, tâm không cảm thọ khổ ưu. Do từ bỏ lấy của không cho, sợ hãi hận thù này được diệt trừ.

(3) “Người nào tà hạnh trong các dục, do duyên tà hạnh trong các dục tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người nào từ bỏ tà hạnh trong các dục, người ấy không tạo ra sợ hãi hận thù trong hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong tương lai, tâm không cảm thọ khổ ưu. Do từ bỏ tà hạnh trong các dục, sợ hãi hận thù này được diệt trừ.

(4) “Người nào nói láo, do duyên nói láo tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người nào từ bỏ nói láo, người ấy không tạo ra sợ hãi hận thù trong hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong tương lai, tâm không cảm thọ khổ ưu. Do từ bỏ nói láo, sợ hãi hận thù này được diệt trừ.

(5) “Người nào đắm say trong rượu men, rượu nấu, do duyên đắm say trong rượu men, rượu nấu tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người nào từ bỏ đắm say trong rượu men, rượu nấu, người ấy không tạo ra sợ hãi hận thù trong hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong tương lai, tâm không cảm thọ khổ ưu. Do từ bỏ đắm say trong rượu men, rượu nấu, sợ hãi hận thù này được diệt trừ.

“Đó là năm sợ hãi hận thù đã được diệt trừ.

“Thế nào là thành tựu bốn chi phần Dự lưu? (1) Ở đây, này Gia chủ, vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật: ‘Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’

(2) “Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.’

(3) “Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với Tăng: ‘Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; chân chính hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.’

(4) “Vị ấy thành tựu với những giới được các bậc thánh ái kính, không bị phá hủy, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến thiền định.

“Ðó là thành tựu bốn chi phần Dự lưu.

“Thế nào là khéo thấy và khéo thể nhập thánh lý với trí tuệ? Ở đây, này Gia chủ, vị thánh đệ tử quán sát như sau: ‘Do cái này có, cái kia có. Do cái này sinh, cái kia sinh. Do cái này không có, cái kia không có. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là do duyên vô minh, có các hành. Do duyên các hành, có thức. Do duyên thức, có danh sắc. Do duyên danh sắc, có sáu nhập. Do duyên sáu nhập, có xúc. Do duyên xúc, có thọ. Do duyên thọ, có ái. Do duyên ái, có thủ. Do duyên thủ, có hữu. Do duyên hữu, có sinh. Do duyên sinh, có già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

“‘Do vô minh diệt không có dư tàn, nên các hành diệt. Do các hành diệt, nên thức diệt. Do thức diệt, nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt, nên sáu nhập diệt. Do sáu nhập diệt, nên xúc diệt. Do xúc diệt, nên thọ diệt. Do thọ diệt, nên ái diệt. Do ái diệt, nên thủ diệt. Do thủ diệt, nên hữu diệt. Do hữu diệt, nên sinh diệt. Do sinh diệt, nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này diệt.’

“Ðó là khéo thấy và khéo thể nhập thánh lý với trí tuệ.

“Này Gia chủ, khi nào với vị thánh đệ tử, năm sợ hãi hận thù này được diệt trừ, bốn Dự lưu phần này được thành tựu, và thánh lý này được khéo thấy và khéo thể nhập với trí tuệ, nếu muốn, vị ấy có thể tự tuyên bố rằng: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận bàng sinh; ta đã đoạn tận ngạ quỷ; ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ; ta đã chứng được Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc tiến đến chứng đạt cứu cánh giác ngộ.’”

Nguồn: Binh Anson

28/07/2025

ÁC THUYẾT & THIỆN THUYẾT??
Trong kinh Tăng Chi, Đức Phật có dạy:

Này các Tỳ-kheo, có năm cách nói là ác thuyết, khi đem ra nói giữa người với người. Đó là:
🌸

Nói về ĐỨC TIN với người không có lòng tin.

Nói về TRÌ GIỚI với người sống buông lung, phạm giới.

Nói về sự HỌC RỘNG với người ít học.

Nói về BỐ THÍ với người xan tham, keo kiệt.

Nói về TRÍ TUỆ với người thiếu sáng suốt, si mê.

🍀

Vì sao đây là ác thuyết? Bởi vì những người ấy khi nghe những điều trái với bản thân mình, họ sinh tâm tức giận, hiềm hận, bất mãn và buồn phiền. Họ không có niềm vui vì thấy mình thiếu thốn, không có hỷ lạc vì không thấy mình đủ đầy. Vì thế, nói như vậy không đem lại lợi ích mà chỉ khơi dậy phiền não, làm tổn thương và gây chia rẽ.

Ngược lại, có năm cách nói là thiện thuyết, khi được nói đúng người, đúng thời. Đó là:

Nói về lòng tin với người có lòng tin.

Nói về trì giới với người giữ giới.

Nói về sự học rộng với người siêng năng học pháp.

Nói về bố thí với người thường bố thí.

Nói về trí tuệ với người trí tuệ.

Vì sao đây là thiện thuyết? Bởi vì những người ấy khi nghe điều thiện hợp với phẩm hạnh của mình, họ hoan hỷ, phấn chấn, vui mừng và cảm thấy an ổn. Nhờ đó, họ càng tinh tấn và vững chắc hơn trên con đường thiện pháp. Lời nói như vậy trở thành lời nuôi dưỡng tâm thiện, là phương tiện đưa người đến chánh đạo.
________
A.N.5
________

🌿

Kinh dạy ta hiểu rõ rằng lời nói không vô hại, và nội dung chân lý chưa hẳn là thiện lành nếu nói sai thời, sai người, sai tâm. Nói điều đúng nhưng khiến người khác sân hận, khổ đau — thì cũng trở thành ác thuyết. Đức Phật không chỉ dạy “nói thật”, mà còn dạy “nói đúng thời”, “nói với tâm từ bi”, và “nói đem lại lợi ích”.

Một hành giả tu học cần biết nhận diện căn cơ người nghe, cần hiểu rằng chân lý không phải để áp đặt, mà là để soi sáng, như mặt trời chiếu khắp nhưng không làm chói lòa người đang bị thương nơi mắt.
❄️
Khi ta nói đúng người, đúng thời, với tâm nhu hòa, từ ái, thì lời nói trở thành diệu ngữ, là pháp thí cao thượng, có thể khơi mở niềm tin, khuyến khích hành trì, giúp người thoát khỏi khổ đau.

Tu tập lời nói chính là tu tập Giới – Định – Tuệ trong hành xử hàng ngày. Một lời nói thiện lành có thể gieo nhân duyên giác ngộ, một lời nói sai lệch có thể đẩy người xa rời con đường giải thoát.

Do vậy, người trí cần hộ khẩu nghiệp một cách tinh tấn, luôn nhớ rằng lời nói chân chánh là con đường dẫn về Niết Bàn, còn lời ác, dù là nói đúng, cũng có thể trói buộc trong luân hồi sinh tử.

🏵️
Nguồn: Sư Vidhura

28/07/2025

28/07/2025

Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU (1918-2012)

Khi còn học trung học, tôi thường đi bộ cùng với má tôi và em gái đến chùa Xá Lợi (Q.3, Sài Gòn) vì nhà chúng tôi ở gần đó. Chùa có hai tầng: tầng trên là chánh điện, tầng dưới là giảng đường. Một đêm rằm nọ, chúng tôi đến chùa, đứng ngoài nhìn vào, tôi thấy có một buổi giảng cho người lớn, diễn giả là một vị tu sĩ quấn y vàng. Không biết là ai, nhưng trong lòng tôi có một niềm kính trọng và hoan hỷ. Đó là hình ảnh đầu tiên của tôi về ngài Hòa thượng Thích Minh Châu.

Về sau, khi vào học đại học, dù khác trường, thỉnh thoảng tôi đến Đại học Vạn Hạnh -- gần cầu Trương Minh Giảng (nay đổi tên là Lê Văn Sĩ) -- để gặp các bạn học cũ, tôi lại thấy vị tu sĩ áo vàng đó, và bạn tôi cho biết đó là ngài Hòa thượng Thích Minh Châu, Viện trưởng Đại học Vạn Hạnh.

Mãi đến khi sang Úc, tôi có cơ duyên gần gủi các bạn Phật tử và Tăng Ni trong truyền thống Theravada, tôi bắt đầu tu học và tìm hiểu kinh điển trong truyền thống nầy. Từ đó, tôi mới biết Hòa thượng là dịch giả các bộ kinh Nikāya sang tiếng Việt.

Đến năm 1992, lần đầu tiên trở về VN sau nhiều năm xa cách, tôi nhờ em gái tôi đưa đến Thiền viện Vạn Hạnh, đường Nguyễn Kiệm, Phú Nhuận. Hôm đó, Hòa thượng đi vắng, nhưng tôi thỉnh được Trường Bộ và Trung Bộ vừa in ra, bìa cứng, đóng hộp, tôi vẫn còn giữ cho đến bây giờ. Trong những năm tiếp theo, bằng cách nầy hay cách khác, tôi tiếp tục thỉnh Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ và Tiểu Bộ. Xem như đầy đủ các bộ Nikāya do Hòa thượng dịch. Từ đó đến nay, tôi thường xuyên tham khảo các bản dịch đó.

Từ năm 2001, tôi về VN mỗi năm, viếng thăm các chùa Nam tông, và nhờ đó, thỉnh được bản Trường Bộ và Trung Bộ in trước năm 1975, song ngữ Pali-Việt với nhiều chú thích rất giá trị. Trong các chuyến đi nầy, tôi đều đến quầy sách ở Thiền viện Vạn Hạnh, và các tiệm sách PG khác ở Sài Gòn, tìm mua các sách của Hòa thượng: Phật pháp, Đường về xứ Phật, Những ngày và những lời dạy cuối cùng của Đức Phật, Đại thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa (dịch), Sách dạy Pali, Chữ Hiếu trong đạo Phật, Hành thiền, Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, Chánh pháp và hạnh phúc, Đức Phật của chúng ta ... và những cuốn song ngữ Anh Việt: Thắng pháp tập yếu luận (Abhidhammattha-sangaha, dịch từ bản tiếng Anh của Hòa thượng Narada), Hsuan T'sang - The Pilgrim and Scholar (Huyền Trang, nhà chiêm bái và học giả), Fa-Hsien - The Unassuming Pilgrim (Pháp Hiển, nhà chiêm bái khiêm tốn), Milinda-panha and Nagasena-bhikhu sutra - A comparative study (Nghiên cứu đối chiếu Kinh Milinda vấn đạo chữ Pali và Kinh Na-tiên Tỷ kheo chữ Hán), The Chinese Madhyam-agama and The Pali Majjhima Nikaya (So sánh kinh Trung A-hàm chữ Hán & kinh Trung bộ chữ Pali - Luận án tiến sĩ).

Năm 2004 tôi đến thăm Hòa thượng, lúc đó đã yếu, ngồi xe lăn, ở tầng trên cùng của Thiền viện Vạn Hạnh. Tôi cúng dường đĩa CD Phật Học, và báo đến ngài rằng toàn bộ bản dịch Nikāya của ngài đã được đưa vào Internet và đĩa CD để phổ biến khắp nơi. Có lẽ ngài nghe hiểu, nên tôi thấy ngài mỉm cười. Đó là lần cuối cùng tôi gặp ngài.

Ngài Hòa thượng cũng được nhiều người trong cộng đồng Phật giáo thế giới biết đến. Một lần nọ, tôi nhận được một email từ ngài Bhikkhu Bodhi -- tăng sĩ người Mỹ, học giả Phật học nổi tiếng và là dịch giả Trung bộ, Tăng chi bộ và Tương ưng bộ sang tiếng Anh. Bhikkhu Bodhi cho biết được tin Hòa thượng Minh Châu lâm bệnh nặng, ngài nhờ tôi chuyển thư của ngài đến vấn an sức khỏe Hòa thượng. Bhikkhu Bodhi còn cho biết khi ngài còn là một sa-di Bắc tông tại Mỹ, ngài có gặp Hòa thượng Minh Châu, và Hòa thượng khuyên ngài nên sang Sri Lanka, học và nghiên cứu kinh điển Pāli. Theo lời khuyên ấy, Bhikkhu Bodhi sang Sri Lanka, thọ giới trong truyền thống Theravada, và tu học, làm việc tại đó trong 30 năm. Vì thế, ngài lúc nào cũng nhớ và ghi ân về lời khuyên của Hòa thượng.

Quyển luận án tiến sĩ của ngài Hòa thượng được in thành sách, tái bản nhiều lần, được nhiều học giả dùng làm tài liệu tham khảo, và ngài Hòa thượng được xem như là người tiên phong, giới thiệu giá trị bộ A-hàm của Hán tạng đến giới học giả phương Tây. Gần đây, Bhikkhu Anālayo, tăng sĩ Đức, là một học giả có nhiều nghiên cứu so sánh các kinh điển nguyên thủy trong Pāli tạng và Hán tạng, đã viết một bài tham luận có tựa đề “The Chinese Madhyam-āgama and The Pāli Majjhima Nikāya - In the Footsteps of Thich Minh Chau” (Trung A-hàm chữ Hán & Trung Bộ chữ Pali - Đi theo bước chân của Thích Minh Châu).

*--------*
Ghi thêm:

Ngài HT Minh Châu có liên hệ họ hàng với Thi hào Nguyễn Du, tóm tắt như sau:

1) Ông Đinh Văn Phác (1790 - 1833), đỗ Tiến sĩ đời vua Minh Mạng, có vợ là bà Nguyễn Thị Tiềm, là con gái Thi hào NGUYỄN DU.

2) Cháu nội của ông Đinh Văn Phác là ông Đinh Văn Chất (1847 -1887), đỗ Tiến sĩ đời vua Tự Đức.

4) Con của ông Đinh Văn Chất là ông Đinh Văn Chấp (1882 - 1953), đỗ Tiến sĩ (Hoàng Giáp) đời vua Duy Tân.

5) Con của ông Đinh Văn Chấp là ông ĐINH VĂN NAM tức Trưởng lão Hòa thượng THÍCH MINH CHÂU (1918 - 2012) đỗ Tiến sĩ Phật học tại Ấn Độ.

* Nguồn: Gia tộc họ Đinh Văn - Giáp La, Nghệ An. http://www.hodinhvietnam.com/threads/3336/
Nguồn: Binh Anson

Ớt chim trồng, chanh tui trồng, không dám nói sạch 100% nhưng dám chắc 80% trở lên.
22/07/2024

Ớt chim trồng, chanh tui trồng, không dám nói sạch 100% nhưng dám chắc 80% trở lên.

Thấy gì từ bức ảnh này
22/06/2024

Thấy gì từ bức ảnh này

10/06/2024

VIỆC THỌ DỤNG TIỀN TRONG GIỚI TU SĨ PHẬT GIÁO

Trong Tương Ưng Kinh, kinh Manicùlam (Châu báu trên đỉnh đầu), Đức Phật có tuyên bố như sau :

Yassa kho gāmaṇi jātarūparajataṃ kappati, pañcapi tassa kāmaguṇā kappanti. Yassa pañcakāmaguṇā kappanti, ekaṃsenetaṃ gāmaṇi dhāreyyāsi: assamaṇadhammo asakkiyaputtiyadhammoti.

“Ðối với ai được dùng vàng bạc, người ấy cũng được phép dùng năm dục công đức. Ðối với ai được phép dùng năm dục công đức, người ấy hoàn toàn thọ trì phi Sa-môn pháp, phi Thích tử pháp.” (HT Thích Minh Châu dịch).

Hơn nữa, Trong Tạng Luật, Chương Nissaggiya , Đức Phật có đề cập :

“Vị tỳ khưu nào nhận lấy hoặc bảo nhận lấy vàng bạc hoặc ưng thuận (vàng bạc hay tiền) đã được mang đến thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị). (Điều học nissaggiya pācittiya 18).

Vị tỳ khưu nào tiến hành việc trao đổi bằng vàng (hay tiền) bạc dưới nhiều hình thức thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” (Điều học nissaggiya pācittiya 19).

Cũng trong Tạng Luật, Bộ Phân tích giới Tỳ Khưu, Điều học thứ 8 , Điều học thứ 9, chương Nissaggiya (ưng Xả) có giải thích :

“Vàng nghĩa là màu da của bậc Đạo Sư được nói đến.” (Bởi màu da của Thế Tôn có ánh vàng như vàng ròng _ ở đây mang ý nghĩa là những vật được làm từ kim loại quí là vàng _PQ).

“Bạc nghĩa là đồng tiền kahāpaṇa, tiền māsaka bằng đồng, tiền māsaka bằng gỗ, tiền māsaka bằng nhựa cánh kiến, những vật nào dùng trong việc buôn bán”.

Như vậy, theo sự giải thích của Tạng Luật, vàng bạc (jātarūparajata) ở đây ngoài việc ám chỉ đến các vật làm từ kim loại quý là vàng hay bạc...mà nó còn mang ý nghĩa là Tiền , vật có mệnh giá mà luật pháp bắt buộc phải công nhận là một phương tiện thanh toán (Trong thời buổi hiện đại, nó bao gồm luôn cả ngân phiếu, thẻ tín dụng, thẻ visa ...).

Vì thế, đối với một vị Tỳ khưu thọ dụng vàng bạc hay tiền, theo lời dạy cuả Đức Phật, điều này cũng có nghĩa là người ấy bị cột buộc với ngũ dục. Với vị Tỳ khưu nào bị cột buộc với ngũ dục, vị ấy hoàn toàn không có thực hành theo hạnh xuất gia ,viễn ly ,để tầm cầu giải thoát của bậc Sa Môn, (việc thọ dụng vàng bạc hay tiền) không phải là sự thực hành của người tỳ khưu đệ tử Phật Thích Ca.

Hơn thế nữa, Đức Phật còn tuyên bố việc thọ dụng vàng bạc hay tiền chính là một trong những uế nhiễm của bậc xuất gia :

"Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn uế nhiễm này của các Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn uống rượu men, uống rượu nấu, không có từ bỏ rượu men, rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ nhất của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn, không có cháy sáng... không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn, hưởng thọ dâm dục, không từ bỏ dâm dục. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ hai... không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn chấp nhận vàng và bạc, không từ bỏ nhận lấy vàng và bạc. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ ba... không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn sinh sống với tà mạng, không từ bỏ tà mạng. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ tư của các Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, có bốn uế nhiễm này của các Sa-môn, Bà-la-môn, do những uế nhiễm này làm ô nhiễm, nên các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.”

Riêng đối với Sadi hay tu nữ, một khi đã thọ trì mười giới, vị ấy không thể thọ dụng vàng bạc hay tiền , bằng không vị ấy tự phá vỡ giới thứ 10 (Jātarūparajatapatiggahan veramanī-sikkhāpadam samādiyām).


VỊ TĂNG ỨNG XỬ NHƯ THẾ NÀO KHI CÓ NGƯỜI MANG TIỀN ĐẾN DÂNG CÚNG THAY CHO TỨ VẬT DỤNG ?

Trong Tạng Luật, Bộ Phân Tích giới Tỳ Khưu I, Chương Nissaggiya, Đức Phật có dạy vị tỳ khưu phải từ chối thọ nhận tiền khi có người đem đến dâng cúng .

“Trường hợp Đức Vua, hoặc quan triều đình, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ phái sứ giả đem số tiền mua y áo dành riêng cho vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Hãy mua y với số tiền mua y này rồi hãy dâng đến vị tỳ khưu tên (như vầy).’ Nếu người sứ giả ấy đi đến gặp vị tỳ khưu ấy và nói như vầy: ‘Thưa Ngài, số tiền mua y này được dành riêng cho đại đức đã được mang lại. Xin Đại Đức hãy nhận lãnh tiền mua y.’

Người sứ giả ấy nên được vị tỳ khưu ấy nói như vầy: ‘Này đạo hữu, chúng tôi không nhận lãnh tiền mua y và chúng tôi chỉ nhận lãnh y đúng phép vào lúc hợp thời mà thôi.’

----------------

Tại tu viện ở Myamar, đặc biệt theo hệ thống rừng Thiền Pa - Auk, Các Chư tăng giữ giới rất nghiêm cẩn. Chư Tăng giữ 227 giới, đúng theo giới luật Đức Phật ban bố.

Về thức ăn, không một Chư Tăng, tu nữ nào được ăn trái giờ ( tức là quá 12 giờ trưa, lịch có thể di chuyển chút ít theo ngày, tháng năm), là không được phép ăn bất cứ thứ gì, kể cả là hoa quả, không được uống sữa...

Nơi ở của Chư Tăng ( chỉ là một cái phòng, hầu như chỉ có 1 cái giường và hiếm khi có vật dụng gì khác), không được phép tích trữ bất cứ thức ăn gì qua đêm, dù chỉ là cái bánh qui .

Tiền ( ngôn ngữ tại đây gọi là tứ vật dụng), đương nhiên là không thể xuất hiện trong kuti của Chư Tăng, HỌ KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC CHẠM ĐẾN TIỀN. NẾU BIẾT CHIẾC TÚI CÓ TIỀN, HỌ CŨNG KHÔNG ĐƯỢC CHẠM ĐẾN CHIẾC TÚI ĐÓ. ( Nếu biết túi có tiền mà chạm vào là Phạm giới).

Address

ấp Mỹ Thạnh, Xã Thanh Mỹ, Huyện Tháp Mười, Tỉnh Đồng Tháp
Thap Muoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hoa sen nhỏ muốn vươn lên khỏi bùn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share