Chùa Phước Hải

Chùa Phước  Hải Chùa Phước Hải (245 Trưng nữ vương, phường Thủy Phương,Thị xã Hương Thủ

Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn nghĩa là cánh cửa phổ biến, cánh cửa rộng mở cho mọi loài đi vào. Nhưng thâm nghĩa của...
14/03/2025

Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn nghĩa là cánh cửa phổ biến, cánh cửa rộng mở cho mọi loài đi vào. Nhưng thâm nghĩa của Phổ Môn là tất cả mọi người trong thế gian này ai ai cũng đều có Đức Phật Quan Thế Âm ở trong tâm của họ. Vì thế nếu biết lắng nghe tiếng âm thanh huyền diệu đó thì ai ai cũng đều có cả. Quan là xem xét, Thế Âm là âm thanh của cuộc đời cho nên Quan Thế Âm là xem xét âm thanh của thế gian. Nếu hiểu theo nghĩa thông thường của nhân gian thì Đức Quan Thế Âm tu hạnh từ bi cho nên Ngài có thể lắng nghe tiếng kêu than của chúng sinh mà hiện thân để hóa độ. Nhưng mục đích tu học phẩm Phổ Môn là học cách giữ Diệu Âm ở lại trong cõi đất tâm của mình. Vì cõi đất tâm của chúng sinh chất đầy phiền não mê lầm nên nếu biết giữ Diệu Âm, biết lắng nghe tiếng nói thanh tịnh nhiệm mầu thì cõi đất tâm Ta Bà đó sẽ được trang nghiêm, đẹp đẽ, thanh tịnh và tự tại hơn.

1. Duyên khởi Kinh Phổ môn

Tên gọi thông thường của bài kinh này là Phẩm Phổ Môn, Kinh Phổ Môn hay Kinh Quán Thế Âm và gọi đủ là Quan Thế Âm Bồ tát Phổ Môn Phẩm. Đây là bài kinh nói về hạnh nguyện độ sanh của Bồ tát Quan Thế Âm, và thông qua đó, giới thiệu cách “quán chiếu” cuộc đời để đạt được giác ngộ và giải thoát như phương pháp tu tập phổ biến và có hiệu quả trong cõi Ta bà.

Nguyên tác của bản kinh được viết bằng tiếng Phạn. Có ba bản dịch chữ Hán:

(1) Bản của ngài Trúc Pháp Hộ dịch mang tựa đề “Quan Thế Âm Bồ tát” là phẩm thứ 23 trong Chaính Pháp Hoa Kinh,

(2) Bản của ngài Cưu-ma-la-thập dịch mang tựa đề “Quan Thế Âm Bồ tát Phổ Môn Phẩm”, là phẩm thứ 25 trong kinh Hoa Sen Chính Pháp (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh).

(3) Bản của hai ngài Xà-na-quật-đa và Đạt-ma-cấp- đa dịch mang cùng tựa đề với bản Cưu-ma-la-thập, là phẩm thứ 24 trong Thiêm Phẩm Pháp Hoa Kinh.

Trong ba bản Hán dịch, chỉ có bản thứ ba có đủ hai phần văn xuôi và thi hóa phần văn xuôi. Kể từ khi bản dịch thứ ba ra đời, các ấn bản mới của ngài Cưu-ma-la-thập có bổ túc phần thi kệ của bản dịch thứ ba, như nội dung mà chúng ta sử dụng hiện nay. Bản dịch tiếng Việt hiện nay là bản dịch từ bản chữ Hán của ngài Cưu-ma-la-thập và giữ nguyên phần thi hoá văn xuôi. Bởi vì có những điều được trình bày trong phần thi hoá văn xuôi không có trong phần văn và ngược lại.

2. Nội dung Kinh Phổ Môn

Nội dung chính của Kinh bao gồm ba phần: Thần lực trì danh Quan Âm; Cứu thế độ sinh qua 33 ứng thân; Phương pháp ngũ âm và ngũ quán.

Thần lực trì danh Quan Âm

Thần lực độ sinh nhiệm mầu của Bồ Tát Quan Thế Âm được giới thiệu là sự tương giao nhân quả giữa chúng sinh và Bồ Tát. Đức Quan Thế Âm sở dĩ được tôn xưng với danh hiệu này là vì Ngài là vị Bồ Tát luôn luôn ban niềm vui vô úy thí cho tất cả chúng sinh đang chịu nhiều đau khổ trong đời, từ thiên tai, hoả hoạn, lũ lụt, cho đến nạn vua quan và giặc cướp, và thậm chí ngài còn là điểm tựa tinh thần cho quá trình con người phàm phu tu học nuôi dưỡng ngọn đuốc trí tuệ, trở thành bậc Thánh như Ngài.

Kinh Phổ Môn mang ý nghĩa ẩn dụ rất cao, khi đọc Kinh không nên chấp chữ quên ý. Không phải khi tụng Kinh thì cầu gì được nấy, Bồ tát không phải là một vị thần linh ban phúc, cứu nguy, mục tiêu của Kinh không phải là cầu nguyện để van xin. Phương pháp tu tập quán chiếu cuộc đời mới chính là cốt lõi của Kinh. Nhờ quán chiếu cuộc đời theo phương thức duyên khởi và vô ngã, người tu học trì tụng, tự độ thoát chính mình khỏi các đau khổ.

Cứu thế độ sinh qua 33 ứng thân

Kinh Phổ Môn còn nói lên tình thương bao la của một vị Bồ tát qua phương pháp độ sinh với 33 ứng thân khác nhau, phù hợp với căn cơ và đối tượng của người tu tập. Hình ảnh 33 ứng thân gợi cho chúng ta tinh thần nhập thế đa dạng của vị Bồ tát vì sự nghiệp duy nhất là đem lại an lạc và hạnh phúc cho chúng sinh. Muốn độ sinh có hiệu quả, người hành đạo phải hiểu rõ tâm lý và hành vi của đối tượng.

Ở đây không có một vị Bồ Tát Quán Thế Âm thật để cứu độ chúng ta theo phương thức cầu gì được nấy. Bởi vì điều này trái với quy luật nhân quả và nghiệp báo mà đức Phật đã giảng dạy.

Phương pháp ngũ âm và ngũ quán

Kinh Phổ Môn chỉ ra năm loại âm thanh hiện hữu trong cuộc đời, đó là, tiếng nhiệm mầu (Diệu Âm), tiếng quán chiếu cuộc đời (Quán thế Âm), tiếng thanh tịnh (Phạm Âm), tiếng sóng vỗ (Hải triều Âm) và tiếng siêu việt thế gian (Siêu việt thế gian Âm).

Đối lại năm âm thanh này là năm pháp quán chiếu hay thiền định: quán chân thật (Chân quán), quán thanh tịnh (Thanh tịnh quán), quán trí tuệ rộng lớn (Quảng đại trí tuệ quán), quán cứu khổ (Bi quán) và quán ban tình thương (Từ quán). Chính nhờ nương vào năm pháp quán chiếu này, người tu học tự giải thoát chính mình ra khỏi mọi khổ ách của cuộc đời.

Khi tu tập 5 pháp quán đó mỗi chúng ta là một Bồ Tát Quán Thế Âm cứu chính chúng ta và tha nhân ra khỏi nhà lửa của khổ đau và bất hạnh.

3. Cách tụng niệm Kinh Phổ Môn

Từng câu chữ trong Kinh Phổ Môn có nghĩa lý rất thâm sâu và vi diệu, mang tính ẩn dụ rất cao, đọc qua một hai lần không thể nào chúng ta hiểu rõ được. Do đó, khi tụng kinh, chúng ta phải hết lòng thành kính. Phải có tâm tha thiết trân quý từng câu chữ.

Khi gặp khổ nạn, nhất tâm xưng niệm danh hiệu Đức Bồ Tát Quán Thế Âm thì Ngài sẽ hướng theo âm thanh cầu cứu đó mà giải cứu khổ nạn cho.

Khi gặp khổ nạn, nhất tâm xưng niệm danh hiệu Đức Bồ Tát Quán Thế Âm thì Ngài sẽ hướng theo âm thanh cầu cứu đó mà giải cứu khổ nạn cho.

Trước khi tụng Kinh Phổ Môn, chúng ta nên rửa tay, súc miệng cho sạch sẽ và y phục phải trang nghiêm. Khi ngồi, đứng phải giữ thân cho ngay thẳng. Lúc lạy hay quỳ phải giữ thân đoan nghiêm. Miệng tụng đọc âm thanh vừa đủ nghe.

Điều quan trọng khi tụng Kinh Phổ Môn là phải thể nhập được những ý nghĩa trong Kinh và ứng dụng, thực hành trong đời sống. Đọc, tụng Kinh Phổ Môn không chỉ để được Bồ Tát Quan Thế Âm gia hộ, mà quan trọng hơn, chúng ta nên để tâm đến phương pháp “quán chiếu cuộc đời” và phương thức “sống không sợ hãi” của vị Bồ Tát nổi tiếng dung hòa và song hành giữa tình thương và trí tuệ, để sự an lạc của mình và tha nhân được tạo lập ngay từ hiện kiếp.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.🙏🙏🙏

Theo lời dạy của Phật  Thích Ca, Đức Phật A Di  Đà đã thành Phật cách đây mười ức kiếp; hiện là giáo chủ cõi Cực lạc phí...
07/12/2022

Theo lời dạy của Phật Thích Ca, Đức Phật A Di Đà đã thành Phật cách đây mười ức kiếp; hiện là giáo chủ cõi Cực lạc phía Tây thế giới Ta bà. Ngài có hạnh nguyện rộng lớn là tiếp độ tất cả chúng sanh trong mười phương pháp giới, nếu người nào có lòng ưa thích muốn được sanh về thế giới của Ngài.
A Di Đà, tiếng Phạn là Amitaba, theo kinh Phật Thuyết A Di Đà (La Thập dịch) thì: “Đức Phật kia có ánh sáng vô lượng, nên gọi là Phật A Di Đà”. Còn theo kinh A Di Đà và kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Tho thì danh xưng A Di Đà có ba nghĩa là Vô lượng quang, Vô lượng thọ và Vô lượng công đức.

Vô lượng quang nghĩa là Đức Phật A Di Đà có ánh sáng vô lượng, chiếu soi khắp mười phương pháp giới. Ánh sáng vô lượng biểu thị Phật A Di Đà có trí tuệ vô lượng. Vô lượng thọ là Đức Phật A Di Đà có thọ mạng lâu dài không thể tính kể. Thọ mạng lâu dài biểu thị công năng thiền định của Phật A Di Đà là vô tận. Vô lượng công đức là Phật A Di Đà có công đức vô cùng vô tận. Công đức vô lượng biểu thị Phật A Di Đà có giới đức vô biên. Tóm thâu, danh xưng A Di Đà có ý nghĩa vô lượng giới, định và tuệ. Mà giới, định, tuệ là pháp môn tu hành căn bản của đạo Phật. Ba đời chư Phật trong qua khứ do đây mà thành tựu; chư vị Bồ tát cũng nương vào pháp môn này để đắc quả Vô thượng Bồ đề và tất cả chúng sanh nếu ai muốn siêu phàm nhập thánh thì không thể rời bỏ pháp môn này.

Về nhân địa tu hành của Đức Phật A Di Đà, theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tiền kiếp quá khứ Đức Phật A Di Đà là con thứ chín trong mười sáu người con của Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai. Sau khi Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai xả tục xuất gia tu hành thành Phật, mười sáu vị vương tử cũng phát tâm xuất gia làm Sa di trong pháp hội của Phật.

Sau khi Phật Đại Thông Trí Thắng nhập Niết bàn; mười sáu vị Sa di thay Phật tiếp tục giảng kinh Pháp Hoa, nhờ công đức giảng kinh này mà mười sáu vị vương tử đều thành Phật. Trong đó vị vương tử thứ chín thành Phật, hiệu là A Di Đà ở cảnh giới Cực lạc.

Theo kinh Xuất Sanh Bồ Tát, về thưở quá khứ có vị Thái tử tên là Bất Tư Nghì Thắng Công Đức, nhờ nghe kinh Pháp Bổn Đà La Ni của Đức Phật Bảo Công Đức Tinh Tú Kiếp Vương mà xả tục xuất gia, tinh tấn tu hành.

Sau khi xuất gia, Ngài đã hóa độ được mười muôn ức na-do-tha chúng sanh phát tâm bồ đề, trụ bậc bất thối chuyển. Thái tử Thắng Công Đức chính là tiền thân của Đức Phật A Di Đà.

Lại theo kinh Quán Phật Tam Muội Hải, đời quá khứ Ngài làm một vị Tỳ kheo, nhờ công đức siêng năng kính lễ và quán tưởng tướng lông mày trắng của Đức Phật Không Vương, nên được Phật Không Vương thọ ký thành Phật hiệu là A Di Đà.

Theo kinh Bi Hoa, quá khứ hằng hà kiếp về trước, Ngài là vị Chuyển luân thánh vương tên Vô Tránh Niệm. Vị Chuyển luân thánh vương này có một vị đại thần tên Bảo Hải, rất giàu lòng tín ngưỡng Phật pháp. Một hôm vua hay tin Đức Phật Bảo Tạng đến thuyết pháp tại vườn Diêm phù ở gần bên thành, vua cùng đại thần Bảo Hải đến nghe và sanh tâm hoan hỷ. Vua phát tâm thỉnh Phật và đại chúng vào vương cung cúng dường trọn ba tháng để cầu phước báo.

Đức Phật khuyên nhà vua nên phát tâm bồ đề để cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi đó Đức Phật Bảo Tạng liền phóng hào quang sáng ngời, soi khắp cả thế giới của chư Phật mười phương, cho chúng hội đồng thấy. Đại thần Bảo Hải liền thưa với vua Vô Tránh Niệm: “Nay bệ hạ nhờ oai thần của Phật, được thấy các thế giới, vậy bệ hạ muốn cầu thế giới nào”.

Vua đảnh lễ Phật quỳ gối chắp tay phát đại nguyện, cầu xin sau khi tu hành thành Phật, quốc độ và nhân dân của Ngài, đều được trang nghiêm thanh tịnh. Do nhân duyên ấy, sau Ngài thành Phật hiệu là A Di Đà ở cõi Tây phương Cực lạc.

Còn theo kinh Vô Lượng Thọ, đời quá khứ lâu xa cách đây hơn mười kiếp, có một nước tên là Diệu Hỷ, vua cha là Nguyệt Thượng Luân Vương, mẹ là Thù Thắng Diệu Nhan sanh ra được ba người con. Người con trưởng là Nhật Nguyệt Minh, người con thứ hai là Kiều Thi Ca, người con thứ ba là Nhật Đế Chúng.

Khi ấy có Đức Phật ra đời hiệu là Thế Tự Tại Vương Như Lai. Thái tử Kiều Thi Ca bỏ ngôi phú quý theo Phật xuất gia, thọ giới Tỳ kheo, được Phật cho hiệu là Pháp Tạng. Tỳ kheo Pháp Tạng đối trước Phật phát bốn mươi tám đại nguyện rộng lớn, độ khắp mười phương chúng sanh. Ngài nguyện rằng nếu có một nguyện nào không viên mãn, thì thề chẳng thành Chánh giác. Khi ấy chư thiên rải hoa, tán thán, quả đất rung động, giữa hư không có tiếng khen ngợi: “Tỳ kheo Pháp Tạng quyết định sau này sẽ thành Phật hiệu là A Di Đà”.

Về hạnh nguyện độ sanh của Phật A Di Đà, theo kinh Vô Lượng Thọ, trong khi hành Bồ tát đạo làm vị Tỳ kheo Pháp Tạng, Phật A Di Đà đã thỉnh cầu Phật Thế Tự Tại Vương vì mình mà thị hiện hai trăm năm mươi ức Phật độ. Sau khi quán sát quốc độ mười phương chư Phật, Tỳ kheo Pháp Tạng liền chọn lọc những điểm đặc sắc của mỗi quốc độ để kiến lập thế giới Cực lạc. Đồng thời Tỳ kheo Pháp Tạng đem thế giới thù thắng đó thưa với Phật. Phật Thế Tự Tại Vương dạy Pháp Tạng muốn thành tựu được cảnh giới thù thắng đó cần phải phát đại nguyện, rộng độ chúng sanh. Sau khi nghe Phật dạy, Tỳ kheo Pháp Tạng liền đối trước Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai phát bốn mươi tám đại nguyện.

Trên nền tảng của bốn mươi tám đại nguyện, Tỳ kheo Pháp Tạng xây dựng quốc độ của mình bằng ba phương tiện nhiếp pháp hàng đầu, đó là nhiếp pháp thân nguyện, nhiếp tịnh độ nguyện và nhiếp chúng sanh nguyện.

Nhiếp pháp thân nguyện là nguyện xây dựng Phật thân. Bồ tát Pháp Tạng chọn quả Vô thượng Bồ đề, để đem công đức thù thắng, thệ nguyện trang nghiêm thành tựu Pháp thân chư Phật, ánh sáng vô lượng, thọ mạng vô lượng và công đức vô lượng.

Nhiếp tịnh độ nguyện là Bồ tát Pháp Tạng thệ nguyện xây dựng cõi Phật trang nghiêm, tạo thuận duyên cho chúng sanh tu hành. Vì thế sau khi thành Phật, quốc độ của Ngài toàn bằng thất bảo, thanh tịnh thù thắng không có Tịnh độ của Đức Phật nào có thể sánh bằng.

Nhiếp chúng sanh nguyện là Bồ tát Pháp Tạng với lòng từ bi vô lượng, nhận thấy tất cả chúng sanh trong mười phương, tuy siêng năng tu học nhưng khó thành tựu đạo quả. Ngài liền kiến tạo thế giới Cực lạc, nơi hội đủ duyên lành cho chúng sanh tu học, đồng thời phát tâm tiếp độ và giáo hóa tất cả chúng sanh bao gồm cả phàm phu và thánh trí.

Hạnh nguyện tiếp độ chúng sanh của Đức Phật A Di Đà đã thể hiện rõ nét qua thánh tượng của Ngài. Như chúng ta biết thánh tượng của Phật A Di Đà, đứng trên hoa sen trụ giữa hư không, bên dưới là bể cả sóng dậy chập chùng; mắt Ngài nhìn xuống, tay phải đưa lên ngang vai, tay trái duỗi xuống như sẵn sàng chờ đợi tiếp cứu những chúng sanh đang lặn hụp biển cả ba đào.

Phật A Di Đà đứng trên hoa sen trụ giữa hư không, hai mắt nhìn xuống biểu thị Phật luôn luôn hướng về chúng sanh, theo dõi chúng sanh; tâm Phật thương yêu chúng sanh chẳng khác nào mẹ hiền thương con đỏ. Tay phải của Phật đưa lên biểu thị đón tiếp tứ Thánh, tay trái Phật duỗi xuống biểu thị tiếp dẫn lục phàm. Nghĩa là Ngài luôn sẵn sàng đón tiếp tứ Thánh, cứu độ lục phàm, đồng đưa lên bờ giác.
Nam Mô A Di Đà phật.

ĐỨC ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁTTrong mỗi năm, nhiều chùa thường làm lễ kỷ niệm đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát 3 lần, nhằm 3...
15/07/2022

ĐỨC ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

Trong mỗi năm, nhiều chùa thường làm lễ kỷ niệm đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát 3 lần, nhằm 3 ngày âm lịch:

1. 19 tháng 2: lễ giáng sanh

2. 19 tháng 6: lễ thành đạo

3. 19 tháng 9: lễ xuất gia

Vậy xin lần lượt trình bày: ý nghĩa, danh hiệu, sự tích, hạnh nguyện, ảnh hưởng, lý do cảm ứng và lợi ích xưng niệm hồng danh của Ngài để hiểu rõ thêm về tánh đức Đại Bi và công đức thù thắng của Bồ Tát Quán Thế Âm mà chư Phật tử thường thành kính xưng niệm.

I. Ý NGHĨA DANH HIỆU

Cũng như phần nhiều danh hiệu của chư Phật và Bồ Tát, danh hiệu “Đại Bi Quán Thế Âm” là danh hiệu của một vị Bồ Tát hằng cứu khổ, danh hiệu này do nghiệp nhân tu hành và hạnh nguyện độ sanh mà thành tựu.

a. Đại bi: là lòng thương cứu khổ rộng lớn, không bờ bến: thương người như thương mình, cứu người như cứu mình một cách bình đẳng, vô tư, sang suốt, không bị thời gian chi phối, không bị không gian ngăn cách, không phân biệt giống nòi, người hay vật, không phân biệt giàu sang hay nghèo hèn, không phân biệt trí tuệ hay ngu si, không phân biệt người ân hay kẻ oán.

b. Quán: nghĩa là quán sát, xem xét

c. Thế Âm: nghĩa là tiếng tăm trong thế gian. Bồ Tát nói cho đủ là Bồ Đề Tát Đỏa tức là giác hữu tình, nghĩa là bậc hữu tình đã giác ngộ và trở lại giác ngộ các loài hữu tình.

Vậy Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát là vị đại Bồ Tát có lòng thương rộng lớn, thường quán sát tiếng kêu cầu đau khổ của chúng sanh trong thế gian mà thị hiện cứu độ.

Bồ Tát Quán Thế Âm không d**g ruổi theo âm thanh động tịnh bên ngoài như phàm phu, trái lại Ngài dùng trí tuệ thanh tịnh quán sát cái tự tánh bên trong mà chứng được bản thể vũ trụ. Do đó Ngài chứng nhập “Nhĩ căn viên thông” nên nơi nào, lúc nào trong mười phương thế giới có tiếng đau khổ kêu cầu thì Ngài liền ứng hiện cứu giúp một cách mầu nhiệm, tự tại.

Nhờ “nhĩ căn viên thông” mà khắp trong hoàn vũ, không có âm thanh nào mà Ngài không nghe, không có tiếng tăm gì không hiểu, không có tâm niệm nào Ngài không thông.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát🙏🙏🙏

09/02/2022

Hạnh phúc chẳng ở đâu xa!

Hạnh phúc không phải là trời yên biển lặng, mà là trải qua sóng gió nhưng vẫn đủ trầm tĩnh sáng suốt để chèo chống bình an.

Không có sự bình an trong cuộc đời mà chỉ có sự bình an trong tâm hồn. Đừng trách đời, trách người cũng đừng tự trách mình, điều quan trọng là ta vẫn tìm ra được chính mình dù trải qua bao nhiêu gian khó.

Hạnh phúc không đến từ cuộc đời, không đến từ người khác, hạnh phúc chỉ nảy nở từ bên trong khi mình biết sống trọn vẹn với chính mình, với những gì mình đang có.

Cuộc đời là bài toán khó mà đáp số không tìm thấy trong đó, vì nó chỉ có trong lòng mình.
Chúc luôn được hạnh phúc!
———

04/02/2022

LÒNG TỪ

Lòng từ lạ lắm !
Buổi đầu có thể hành giả ban rải lòng từ trên miệng mà lòng thì chưa sẵn sàng, nhưng nếu ta cứ thực tập lâu ngày, lâu mau tuỳ người cộng với sức mạnh của đại chúng chung quanh, cũng đều là những người tu tập Từ Tâm, thì sẽ có một lúc ta cũng có được Từ Tâm thật sự tự đáy lòng như mình bẩm sinh là một Bồ Tát vậy.

Lòng từ thật sự là một thứ tình thương không điều kiện, không trong đợi một mục đích nào.

Thương chỉ là thương, không dính mắc luyến ái, chỉ chân thành mong cho muôn loài được an lành không đau khổ.

Chỉ cần có một chút mục đích tư lợi, dầu là lợi ích hiện tại hay quả báo đời sau thì lòng từ ấy không còn là Vô Lượng Tâm nữa rồi.

Ngay trong tình mẫu tử cũng vậy, có lúc mẹ đối với con bằng từ tâm, có lúc bằng lòng ái luyến.

Từ tâm thì sạch sẽ lắm và rất dễ dàng kết hợp với xả tâm, lo được thì lo, không bực mình lúc bất toại.

Còn lòng ái luyến thì khác nhiều lắm, miệng nói là thương nhưng cứ mong cho người ta hành động như ý mình.
Như vậy từ tâm thì tháo cởi mà ái luyến là trói buộc.

Ngài thiền sư Indaka có một kinh nghiệm thú vị về chuyện tu tập từ tâm.
Ngài kể rằng trong thời gian ở Pakkokku ngài đã đặc biệt có ý trau dồi từ tâm, ngay lúc ở Chùa hay đi đường đều luôn an trú trong tâm từ.

Ngài kể rằng có rất nhiều lần ngài cảm nhận rõ rệt sức ảnh hưởng của từ tâm đối với mọi người chung quanh.

Nhiều lúc đi khất thực trên đường, ngài có cảm giác như mọi người ngài gặp đều cảm nhận được tấm lòng mát mẻ của ngài.

Lần đó ngài được đặt bát một món ăn khoái khẩu là cơm cà ri.
Khi ấy còn trẻ lắm, ngài đột nhiên có ý nghĩ rằng vì cảm được lòng từ của mình nên thí chủ đã cúng dường món ăn vừa ý ấy.
Nhưng suốt nhiều ngày sau đó, hôm nào cũng đi khất thực với từ tâm trong từng bước chân, vậy mà ngài chỉ nhận được những thứ đặt bát nuốt không vô.

Trước hết ngài tự thắc mắc không biết mọi sự là do lòng từ của mình chưa đúng mức hay do người ta không đủ duyên để cảm nhận nó. Nhưng ngay sau đó, ngài đã hiểu ra vấn đề.

Việc ta nhận được thứ gì đó từ cuộc đời, không hẳn là do lòng từ của ta như thế nào, mà vấn đề là một khi lòng từ còn đi đôi với mục đích nào đó, một sự trong đợi nào đó thì nó không còn là lòng từ nữa.

Lòng từ là sự trao ra không trông đợi hồi đáp. Còn trông đợi phản ứng của cuộc đời thì lòng từ của ta chưa thật sự là Vô Lượng Tâm.

( Dịch Giả: Tỳ Kheo Giác Nguyên
Trích : Kinh Nghiệm Tuệ Quán 2 )
Ảnh: Sưu Tầm

Namo Buddhaya 🙏
Namo Dhammaya 🙏
Namo Sanghaya🙏

chúc Mừng Năm Mới... Năm NHÂM DẦNXuân về rực rỡ nắng chan hòa.Rộn rã mừng vui tiếng xuân ca.Lời chúc đầu năm trân trọng ...
01/02/2022

chúc Mừng Năm Mới... Năm NHÂM DẦN

Xuân về rực rỡ nắng chan hòa.
Rộn rã mừng vui tiếng xuân ca.
Lời chúc đầu năm trân trọng nhất.
Gởi đến bạn bè khắp gần xa.
Chúc mừng năm mới tốt nhiều điều.
Gia đình hạnh phúc trọn niềm yêu.
An khang thịnh vượng xuân Như ý.
Vạn sự thành công toại nguyện nhiều.
A Di Đà Phật A Di Đà Phật A Di Đà Phật

Đón mừng sắc xuân
31/01/2022

Đón mừng sắc xuân

Xuân đến Mai vàng trổ khăp nơi.Cầu chúc tất cả cứ tươi cười..Xin mừng tết gặp niềm vui mới.Thịnh Vượng An Khang hết mọi ...
12/02/2021

Xuân đến Mai vàng trổ khăp nơi.
Cầu chúc tất cả cứ tươi cười..
Xin mừng tết gặp niềm vui mới.
Thịnh Vượng An Khang hết mọi người.
Phúc Lộc Tân Niên niềm hạnh phúc.
Chan hòa quyến thuộc Bạn bè ơi.
Tưng bừng rộn rã mừng Xuân tới
Nụ Cười Phơi Phới Xuân Tuyệt Vời...2021

Nhất Tâm Đãnh Lễ  Giác Linh Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Đại Lão Hoà ThượngThích Quảng Đ...
23/02/2020

Nhất Tâm Đãnh Lễ Giác Linh Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Đại Lão Hoà ThượngThích Quảng Độ Tân Viên Tịch.

Hòa thượng Thích Quảng Độ là Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất từ ngày 17 tháng 8 năm 2008 và là một nhân vật bất đồng chính kiến Việt Nam vì các hoạt đồng đấu tranh nhân quyền. Ông là người được trao Giải tưởng niệm Thorolf Rafto năm 2006.

CON VỀ LẠY PHẬT DI ĐÀHỒNG DANH SÁU CHỮ THẬT LÀ DIỆU THAY
12/12/2019

CON VỀ LẠY PHẬT DI ĐÀ
HỒNG DANH SÁU CHỮ THẬT LÀ DIỆU THAY

Address

245 Trưng Nữ Vương
Thanh Thuy Thuong

Opening Hours

Monday 06:00 - 21:00
Tuesday 06:00 - 21:00
Wednesday 06:00 - 21:00
Thursday 06:00 - 21:00
Friday 05:00 - 21:00
Saturday 09:00 - 20:00
Sunday 07:00 - 19:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Phước Hải posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share