Giáo Họ Phú Xá - Giáo Phận Thái Bình

Giáo Họ Phú Xá - Giáo Phận Thái Bình ✤ Trang truyền thông chính thức của giáo họ Phú Xá Giáo họ Phú Xá trước kia thuộc làng Phú Cường nay là làng Lái (Nát). Được thành lập năm 1823.

Ban đầu thuộc giáo xứ Tiên Chu (giáo xứ Kẻ Bầu). Đến năm 1913 giáo họ Hà Xá được Đức Cha Phêrô Trung nâng lên hàng giáo xứ, từ đó đến nay, giáo họ Phú Xá trực thuộc giáo xứ Hà Xá. Giáo họ Phú Xá tự hào với truyền thống Đức Tin mà minh chứng là 4 Hiền Phúc tử đạo đã được ghi trong sổ bộ Các Thánh vẫn đang chờ ngày được Giáo Hội nâng lên hàng Hiển Thánh: Hiền phú Đaminh Hòa, Đaminh Thường, Đaminh Vi

ên, Giuse Di. Giáo họ Phú Xá cũng có một người con đã dâng mình cho Chúa là cha Giuse Nguyễn Ngọc Sinh (+)

| 26.04.2026 |CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH NĂM ACHÚA CHIÊN LÀNH✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.1 Khi ấy, Đức Giê...
26/04/2026

| 26.04.2026 |

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH NĂM A
CHÚA CHIÊN LÀNH

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. 2 Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. 3 Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh ; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. 4 Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. 5 Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ.” 6 Đức Giê-su kể cho họ nghe dụ ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ.
7 Vậy, Đức Giê-su lại nói : “Thật, tôi bảo thật các ông : Tôi là cửa cho chiên ra vào. 8 Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp ; nhưng chiên đã không nghe họ. 9 Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. 10 Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào.”

Suy Niệm

Chiên là con vật quen thuộc đối với người Do-thái.
Người ta nuôi chiên thành từng đàn trên những đồng cỏ.
Chiên cho con người nhiều thứ cần dùng như sữa, thịt, len, da…
Người ta thương chiên vì thái độ hiền lành của chúng:
“như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông” (Is 53,7).

Ở Israel, chiên bao giờ cũng phải có người chăn,
Vì luôn có những hiểm nguy do chiên đi lạc đàn hay do dã thú.
Người mục tử ngày đêm lo cho sự an toàn và hạnh phúc của chiên.
Ngày phải đưa chiên đi tìm những đồng cỏ mới (1 Sbn 4,39-40),
Đêm phải thức để canh phòng cho chiên (Lc 2,8).
Tương quan giữa người mục tử và chiên thật thân thiết,
Đến nỗi gần như là tương quan giữa người với người (2 Sm 12,3).

Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta cũng thấy tương quan thân thiết ấy.
Người mục tử đường đường chính chính đi qua cửa mà vào,
chứ không lén lút như kẻ trộm leo rào mà vào (Ga 10,1).
Anh được người giữ cửa mở cửa cho.
Trong ràn chiên có thể có mấy đàn chiên ở chung.
Anh gọi đàn chiên riêng của anh bằng giọng của anh,
gọi chúng bằng tiếng kêu mà chỉ chúng mới hiểu là tiếng của chủ.
Khi cả đàn chiên của anh nhận ra tiếng của người chăn,
chúng sẽ theo sự dẫn dắt của anh để ra khỏi ràn.
Anh đi trước, chúng theo sau.
Tiếng của anh, bóng của anh, là hướng để chúng đi tới.
Chúng an tâm vì biết mình đang đi theo ai.

Như thế đàn chiên trông có vẻ ngây ngô, ngờ nghệch,
nhưng lại có sự bén nhậy trong việc nhận ra mình nên đi theo ai.
Không phải ai gọi cũng theo đâu,
mà phải đúng tiếng gọi quen thuộc của chủ mình, với nét rất đặc biệt.
Người lạ đừng hòng đánh lừa chiên, đừng hòng nhái tiếng gọi của chủ.
Vì chiên chẳng những không theo, lại còn chạy trốn vì sợ (Ga 10,5).
Người lạ hay kẻ trộm kẻ cướp đều mưu tìm ích lợi cho mình,
Bằng cách ăn trộm, giết hại và phá hủy đàn chiên (Ga 10,10).
Đức Giêsu nhận mình là người mục tử nhân hậu.
Ngài phán: “Tôi đến để chiên có sự sống và có dồi dào” (Ga 10,10).
Ngài trao sự sống đó bằng cách hy sinh sự sống của chính mình.
Đức Giêsu cũng nhận mình là Cửa ràn chiên (Ga 10,7.9).
Nếu ai qua Cửa Giêsu mà vào thì sẽ được cứu.
Qua Cửa này mà đi vào thì được bảo đảm an toàn,
qua Cửa này mà đi ra thì sẽ gặp được đồng cỏ xanh non (Ga 10,9).

Thiên Chúa của dân Israel thường được ví như một mục tử,
vừa bổ sức, vừa dẫn dắt, lại vừa bảo vệ đoàn chiên (Tv 23; Is 40,11).
Đức Giêsu nhận mình là Mục tử tốt lành của đàn chiên (Ga 10,11),
và trong lần hiện ra bên bờ hồ Galilê sau phục sinh,
Ngài đã muốn Phêrô chăn dắt đàn chiên của Ngài (Ga 21,15-17).
Trong Chúa nhật thứ tư sau Lễ Phục sinh, Chúa nhật Chúa Chiên Lành,
Giáo Hội mời chúng ta cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục tu sĩ.
Giáo Hội cần mục tử cho cánh đồng thế giới với 7 tỷ rưỡi con người.
Có những chiên ở trong ràn, và chiên ở ngoài ràn.
Cả chiên ở ngoài ràn cũng là chiên của Mục Tử Giêsu (Ga 10,16).
“Tôi phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng Tôi,
và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một người mục tử” (Ga 10,16).
Đó là ước mơ của Chúa Giêsu.
Chỉ mong chúng ta làm cho tròn ước mơ đó.

Cầu Nguyện

Xin hãy gọi tên con, lạy Chúa Giêsu,
xin hãy gọi tên con.

Những khi con tất bật vì bộn bề công việc,
xin hãy gọi tên con để nhắc nhở con,
như Chúa đã gọi tên chị Mác-ta đang dọn bữa.

Những khi con đi lạc đường mà không hay biết,
xin hãy gọi tên con và kêu con trở lại,
như Chúa đã gọi tên anh Sa-un
trên đường đi Đa-mát.

Những khi con khóc lóc và tìm kiếm Chúa,
xin hãy gọi tên con để con thấy Chúa ở ngay bên,
như Chúa đã gọi tên chị Maria đứng bên mộ.

Những khi con sa ngã vì quá tự hào,
xin hãy gọi tên con nhiều lần,
và hỏi con nhiều lần về tình yêu,
như Chúa đã gọi tên anh Simon bên hồ Galilê
trước khi trao cho anh sứ mạng.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy âu yếm gọi tên con,
như một con chiên trong đàn chiên của Chúa.
Và xin viết tên con trong lòng bàn tay.

Lm. Anton Nguyễn Cao Siêu SJ

| 19.04.2026 |CHÚA NHẬT III PHỤC SINHKhi gặp gỡ các bạn trẻ đang yêu, ta có thể nhận ra sự tươi mới và ấm áp trong lòng ...
19/04/2026

| 19.04.2026 |

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH

Khi gặp gỡ các bạn trẻ đang yêu, ta có thể nhận ra sự tươi mới và ấm áp trong lòng họ. Khi sống trong tình yêu, những người ấy tỏa ra một năng lượng sống tích cực, mà người xung quanh có thể cảm nhận được. Niềm vui và hạnh phúc trong lòng họ, chiếu tỏa rạng rỡ trên cả khuôn mặt. Còn với những bạn đang phải đối diện với mối tình tan vỡ, họ thấy cả bầu trời như tối sầm lại. Con tim trở nên chai cứng và đôi mắt chỉ hướng về những điều tiêu cực.
Dẫu biết rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng màu hồng! Nhưng làm thế nào, đừng để cho nỗi buồn che mờ và đánh cắp mất niềm hy vọng trong lòng chúng ta?

Sau cái chết tức tưởi của Thầy Giê-su, các môn đệ đóng kín cửa lòng và sống trong thất vọng. Bao kỳ vọng nơi Thầy kính yêu, nay trở thành nỗi thất vọng cay đắng. Họ thấy mình, như những kẻ bại trận. Lời mời gọi „hãy theo Thầy” ngày nào với bao ước mơ đẹp, nay chỉ còn lại sự thật phũ phàng, đầy bế tắc và hụt hẫng. Họ muốn bỏ cuộc, và trở về với nhịp sống thường ngày trước đây. Nhưng Đức Giê-su Phục Sinh không bao giờ bỏ rơi các môn đệ của mình.

Chúa Nhật thứ ba mùa Phục Sinh, chúng ta đọc câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau. Cuộc hành trình đặc biệt ấy, được thánh sử Lu-ca thuật lại một cách sống động và ẩn chứa nhiều biểu tượng sâu sắc. Độc giả được dẫn vào câu chuyện một cách khéo léo. Con đường từ Giê-ru-sa-lem đến làng Em-mau chừng mười một cây số. Đi bộ mất khoảng hai giờ. Một khoảng thời gian đủ để trò chuyện một cách nghiêm túc. Chúng ta bước vào câu chuyện, theo cái nhìn của Đức Giê-su, như một người „khách lạ” đến đồng hành với hai môn đệ. Trên con đường ấy, chúng ta sẽ nhìn thấy sự biến đổi nội tâm của hai môn đệ: Họ đi từ thất vọng ngậm ngùi, cho đến lòng mừng rỡ hân hoan.

Trước đây, các môn đệ kỳ vọng và hãnh diện vì được đi theo Thầy Giê-su. Một người giảng dạy có uy quyền và làm nhiều phép lạ. Họ nghĩ Ngài là Đấng Mê-si-a sẽ cứu dân Is-ra-el khỏi sự đàn áp của quân La-mã. Nhưng cái chết tức tưởi của Ngài trên thập giá đã đánh tan bao kỳ vọng của họ. Sự ra đi của Đức Giê-su để lại trong lòng các môn đệ một sự trống rỗng mênh mang, và thất vọng ê chề. Biến cố đau thương ấy đẩy họ vào sự hoài nghi và ngờ vực tột cùng. Đến nỗi, những tin đồn về sự phục sinh của Ngài, chỉ khiến họ thêm bối rối. Họ không thể tin, và không muốn bị lừa thêm một lần nữa!

Cho nên, chúng ta có thể hiểu phần nào lý do tại sao những lần hiện ra của Đức Ki-tô Phục Sinh với các môn đệ, hầu hết họ không nhận ra Ngài. Đâu có phải vì thân xác phục sinh của Ngài đã thay đổi hình dạng, khiến họ không nhận ra! Nhưng là do mắt của họ đang bị che khuất, đang bị mờ đi, vì nỗi buồn quá lớn về sự ra đi của Thầy Giê-su. Khi lòng rối bời, họ không nhận ra Đức Giê-su Phục Sinh đang đi bên cạnh!

Đức Giê-su kiên nhẫn giải thích cho họ tất cả những điều trong Kinh Thánh liên quan đến Ngài: Đấng Mê-si-a phải chịu đau khổ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Khi hiểu, con tim họ vui trở lại. Cuối cùng, mắt họ được mở ra khi Ngài bẻ bánh, và họ nhận ra Thầy Giê-su đang ở với mình.

Câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau cho thấy rõ sự kết nối giữa hiểu và tin. Hai môn đệ biết những gì đã xảy ra với Đức Giê-su tại Giê-ru-sa-lem, nghe lời giải thích về các sự kiện ấy, và lòng các ông đã bừng cháy nên, nhưng mãi về sau này, các ông mới nhận ra sự hiện diện của Đức Giê-su. Như thế, hai môn đệ được dẫn đi một hành trình lớn lên trong đức tin và sống làm chứng cho điều mình tin. Sự hiểu biết giúp cho lòng tin thêm vững vàng và việc tham dự vào hồng ân bẻ bánh, mắt họ được mở ra, họ nhận ra sự hiện diện của Đức Ki-tô Phục Sinh; và họ bắt đầu sống cuộc đời chứng nhân.

Có thể tóm kết, câu chuyện Em-mau là „tiên báo” về việc cử hành thánh lễ, cũng như tất cả các nghi thức phụng vụ khác trong Giáo hội. Đời sống đức tin của người ki-tô hữu cần được nuôi dưỡng từ Lời Chúa và các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể. Bên cạnh đó, chúng ta được mời gọi: không ngừng học hỏi những điều liên quan đến đời sống đức tin.

Câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau là câu chuyện hành trình đức tin của mỗi người chúng ta. Trong đời sống đức tin, ai cũng có những bối rối và phải đấu tranh với nghi ngờ trong lòng mình. Kinh nghiệm của hai môn đệ trên đường Em-mau mời gọi mỗi chúng ta: hãy rút ra bài học thiêng liêng cho riêng mình về cách thăng tiến trong đời sống đức tin, và xây dựng mối tương quan cá vị với Thiên Chúa. Hai môn đệ đã suy ngẫm Lời Chúa để hiểu, để tin và được mở mắt. Mỗi người chúng ta cũng cần lặp đi lặp lại hành trình này bằng cách: dành thời gian suy ngẫm Lời Chúa, học lắng nghe tiếng Chúa, và để cho Lời Chúa biến đổi đời sống chúng ta.

Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, Ngài đã hiện ra để củng cố sự hiểu biết và tăng thêm niềm tin cho các môn đệ. Xin giúp chúng con mỗi ngày hiểu biết về Chúa hơn. Nhất là sự hiểu biết về mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh, để hồng ân sự sống mới bừng cháy trong tâm hồn và sinh nhiều hoa trái trong cuộc sống mỗi người chúng con. Amen.

Lm. Giu-se Trần Văn Ngữ, SJ

| 12.04.2026 |Đức Thánh Cha Leo XIV chủ sự giờ Canh thức Cầu nguyện cho Hoà Bình.Vào lúc 6 giờ chiều ngày 11/4/2026, tại...
12/04/2026

| 12.04.2026 |

Đức Thánh Cha Leo XIV chủ sự giờ Canh thức Cầu nguyện cho Hoà Bình.

Vào lúc 6 giờ chiều ngày 11/4/2026, tại Đền thờ Thánh Phê-rô, Đức Thánh Cha Lê-ô XIV đã chủ sự giờ Canh thức Cầu nguyện cho Hòa bình, như ngài đã thông báo và mời gọi trong sứ điệp Phục Sinh. Ngài kêu gọi kêu gọi các nhà lãnh đạo các quốc gia hãy dừng lại và ngồi vào bàn đối thoại và hòa giải, “chứ không phải bàn nơi lên kế hoạch tái vũ trang và quyết định các hành động chết người!”. Ngài cũng khẳng định rằng Giáo hội sẽ tiếp tục kêu gọi hòa bình ngay cả khi có thể bị hiểu lầm và khinh miệt.

“Chúng ta muốn nói với toàn thế giới rằng có thể xây dựng hòa bình”

Lời mời gọi cầu nguyện của Đức Thánh Cha đã được Giáo hội trên toàn thế giới hưởng ứng và hiệp thông. Trước khi bắt đầu giờ cầu nguyện trong Đền thờ, Đức Thánh Cha đã chào khoảng 3.000 tín hữu quy tụ tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Ngài cám ơn sự hiện diện của họ, cám ơn họ đã đáp lại lời kêu gọi của ngài “để hiệp nhất bằng tiếng nói, bằng trái tim, bằng cuộc sống của chúng ta để cầu nguyện cho hòa bình”. Ngài nói: “Tất cả chúng ta đều có bình an trong tâm hồn. Mong sao hòa bình thực sự ngự trị khắp thế giới và mong sao chúng ta là những người mang sứ điệp này”.

Tin tưởng vào sự hiện diện của Chúa Giêsu Phục Sinh giữa chúng ta, hiệp nhất trong lời Kinh Mân Côi, Đức Thánh Cha nói, “chúng ta muốn nói với toàn thế giới rằng có thể xây dựng hòa bình, một nền hòa bình mới; rằng chúng ta có thể sống chung với tất cả mọi người thuộc mọi tôn giáo, mọi chủng tộc; rằng chúng ta muốn trở thành môn đệ của Chúa Giêsu Kitô, hiệp nhất như anh chị em, tất cả cùng hiệp nhất trong một thế giới hòa bình”.

Lửa từ Ngọn đèn Hòa bình ở Assisi

Ngài mời gọi các tín hữu tại Quảng trường cùng theo dõi và cầu nguyện trong giờ Canh thức Cầu nguyện cho hòa bình, cùng lần hạt Mân Côi, suy niệm 5 mầu nhiệm mùa Mừng theo suy tư của các Giáo phụ, trong đó có Thánh Augustino.

Bắt đầu mỗi mầu nhiệm, lần lượt các tín hữu đại diện các châu lục – châu Phi, châu Mỹ, châu Á, châu Âu và châu Đại Dương – đã thắp sáng các ngọn nến bằng ngọn lửa được lấy từ Ngọn đèn Hòa bình ở Assisi, ngọn lửa luôn cháy mãi tại mộ Thánh Phanxicô Assisi.

Sau kinh cầu Đức Mẹ, Đức Thánh Cha đã chia sẻ những suy tư với các tín hữu.

Cầu nguyện là câu trả lời mạnh mẽ nhất cho sự chết

Anh chị em thân mến,

Lời cầu nguyện của anh chị em là biểu hiện của đức tin mà, theo lời Chúa Giêsu, có thể dời núi (x. Mt 17,20). Xin cảm ơn anh chị em đã đón nhận lời mời này, quy tụ nơi đây, bên mộ Thánh Phêrô, và tại nhiều nơi khác trên thế giới để cầu xin hòa bình. Chiến tranh chia rẽ, hy vọng hiệp nhất. Bạo lực chà đạp, tình yêu nâng đỡ. Ngẫu tượng làm mù lòa, Thiên Chúa hằng sống soi sáng. Anh chị em thân mến, chỉ cần một chút đức tin, một mẩu đức tin thôi, để như nhân loại và với nhân loại, cùng nhau đối diện với giờ phút bi thảm này của lịch sử. Thật vậy, cầu nguyện không phải là nơi trú ẩn để trốn tránh trách nhiệm, không phải là thuốc mê để né tránh nỗi đau do bất công gây ra. Trái lại, đó là câu trả lời nhưng không, phổ quát và mạnh mẽ nhất trước sự chết: chúng ta là một dân tộc đã được phục sinh! Trong mỗi chúng ta, trong mọi con người, vị Thầy nội tâm dạy về hòa bình, thúc đẩy gặp gỡ và khơi lên lời khẩn cầu. Vậy chúng ta hãy ngước nhìn lên! Hãy đứng dậy từ đống đổ nát! Không gì có thể giam hãm chúng ta trong một định mệnh đã được viết sẵn, ngay cả trong thế giới này, nơi dường như các nấm mồ vẫn chưa đủ, khi người ta tiếp tục đóng đinh và hủy diệt sự sống, không quyền lợi và không xót thương.

“Đừng bao giờ chiến tranh nữa!”

Thánh Gioan Phaolô II, chứng nhân không mệt mỏi của hòa bình, đã xúc động nói trong bối cảnh cuộc khủng hoảng Iraq năm 2003: “Tôi thuộc về thế hệ đã sống qua Thế chiến thứ hai và đã sống sót. Tôi có bổn phận nói với tất cả những người trẻ, những người trẻ hơn tôi, những người chưa trải qua kinh nghiệm này: ‘Đừng bao giờ chiến tranh nữa!’, như Đức Phaolô VI đã nói trong chuyến viếng thăm đầu tiên của ngài tại Liên Hiệp Quốc. Chúng ta phải làm tất cả những gì có thể! Chúng ta biết rõ rằng hòa bình không thể đạt được bằng mọi giá. Nhưng tất cả chúng ta đều biết trách nhiệm này lớn lao đến nhường nào” (Kinh Truyền Tin, 16 tháng 3 năm 2003). Chiều nay, tôi lặp lại lời kêu gọi ấy của ngài, lời kêu gọi vẫn còn rất phù hợp với thời điểm hiện tại.

Những ai cầu nguyện thì không giết người và không đe dọa bằng cái chết

Cầu nguyện giáo dục chúng ta hành động. Những khả năng hữu hạn của con người được kết hợp trong cầu nguyện với khả năng vô hạn của Thiên Chúa. Khi đó, tư tưởng, lời nói và việc làm phá vỡ chuỗi xích sự dữ của ma quỷ và phục vụ Nước Thiên Chúa: một Vương quốc không có gươm giáo, không có máy bay không người lái, không có trả thù, không coi thường sự dữ, không lợi nhuận bất chính, nhưng chỉ có phẩm giá, sự cảm thông và tha thứ. Ở đây, chúng ta tìm thấy một bức tường thành ngăn chặn ảo tưởng về quyền năng tuyệt đối đang bao quanh chúng ta và ngày càng trở nên khó lường và hung hăng. Sự cân bằng trong gia đình nhân loại đang bị xáo trộn nghiêm trọng. Ngay cả Danh Thánh của Thiên Chúa, Thiên Chúa của sự sống, cũng bị lôi kéo vào những diễn ngôn của sự chết. Một thế giới gồm các anh chị em có chung một Cha trên trời biến mất, và như trong một cơn ác mộng, nhường chỗ cho một thực tại đầy rẫy những kẻ thù. Khắp nơi người ta cảm nhận các mối đe dọa thay vì lời mời gọi lắng nghe và gặp gỡ. Anh chị em thân mến, những ai cầu nguyện đều ý thức được giới hạn của chính mình; họ không giết người và không đe dọa bằng cái chết. Trái lại, kẻ quay lưng lại với Thiên Chúa hằng sống để tôn thờ bản thân và quyền lực của mình như ngẫu tượng câm điếc và đui mù (x. Tv 115,4-8), thì trở nên nô lệ của sự chết, sẵn sàng hy sinh mọi giá trị và buộc cả thế giới phải khuất phục.

“Không có gì mất mát bởi hòa bình. Mọi thứ có thể mất đi do chiến tranh”

Đủ rồi cái kiểu tôn thờ bản thân và tiền bạc! Đủ rồi cái việc phô trương sức mạnh! Chiến tranh đủ rồi! Sức mạnh đích thực được biểu lộ trong việc phục vụ sự sống. Thánh Gioan XXIII, với sự đơn sơ theo tinh thần Tin Mừng, đã viết: “Hòa bình mang lại lợi ích cho tất cả: cá nhân, gia đình, các dân tộc, toàn thể gia đình nhân loại”. Và ngài nói thêm khi lặp lại lời của Đức Piô XII: “Không có gì mất mát bởi hòa bình. Mọi thứ có thể mất đi do chiến tranh” (Thông điệp Pacem in terris, 62).

Vì thế, chúng ta hãy hiệp nhất sức mạnh đạo đức và tinh thần của hàng triệu, hàng tỷ người nam nữ, già trẻ, những người ngày nay tin vào hòa bình, chọn hòa bình, chữa lành vết thương và khắc phục những thiệt hại do sự điên rồ của chiến tranh gây ra. Tôi nhận được nhiều lá thư của trẻ em từ các vùng xung đột: khi đọc chúng, chúng ta cảm nhận, với sự thật của sự ngây thơ, tất cả nỗi kinh hoàng và phi nhân của những hành động mà một số người lớn lại tự hào. Hãy lắng nghe tiếng nói của trẻ em!

Cầu nguyện thúc đẩy chúng ta gạt bỏ những bạo lực còn sót lại trong tâm hồn và trí óc

Anh chị em thân mến, chắc chắn các nhà lãnh đạo quốc gia có những trách nhiệm không thể chối bỏ. Chúng ta kêu gọi họ: hãy dừng lại! Đây là thời điểm của hòa bình! Hãy ngồi vào bàn đối thoại và hòa giải, không phải vào những bàn nơi người ta lên kế hoạch tái vũ trang và quyết định các hành động chết chóc! Tuy nhiên, trách nhiệm không kém phần lớn lao cũng thuộc về tất cả chúng ta, những con người thuộc nhiều quốc gia khác nhau. Chúng ta là một đám đông khổng lồ phản đối chiến tranh không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động. Việc cầu nguyện thúc đẩy chúng ta gạt bỏ những bạo lực còn sót lại trong tâm hồn và trí óc. Chúng ta hãy hướng đến một Vương quốc hòa bình được xây dựng từng ngày, trong gia đình, trường học, khu phố, cộng đoàn dân sự và tôn giáo, thay thế tranh chấp và cam chịu bằng tình bạn và một nền văn hóa gặp gỡ. Chúng ta hãy một lần nữa tin vào tình yêu thương, sự ôn hòa và nền chính trị tốt đẹp. Chúng ta phải đào luyện bản thân và dấn thân, mỗi người theo ơn gọi của mình. Mỗi người đều có vị trí riêng trong bức tranh hòa bình!

Một “nghệ thuật thủ công” của hòa bình bao gồm tất cả chúng ta

Kinh Mân Côi, cũng như nhiều hình thức cầu nguyện cổ xưa khác, đã hiệp nhất chúng ta chiều nay trong nhịp điệu đều đặn của sự lặp lại. Hòa bình cũng được hình thành như thế: từng lời, từng cử chỉ, như tảng đá được mài mòn bởi từng giọt nước, như tấm vải được dệt nên bởi từng mũi kim. Đó là nhịp điệu chậm rãi của đời sống, dấu chỉ sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Chúng ta không được để bản thân bị cuốn theo sự vội vã của một thế giới không biết mình đang chạy theo điều gì. Ngược lại, chúng ta phải trở lại phục vụ nhịp sống, sự hài hòa của thụ tạo và chữa lành những vết thương của nó. Như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã dạy: “Cần có những nghệ nhân của hòa bình, những người nam và nữ sẵn sàng làm việc một cách mạnh dạn và sáng tạo để khởi xướng các quá trình chữa lành và gặp gỡ mới” (Thông điệp Fratelli tutti, 225). Thật vậy, có một “kiến trúc” của hòa bình, nơi các thể chế xã hội tham gia theo chức năng của mình, nhưng cũng có một “nghệ thuật thủ công” của hòa bình bao gồm tất cả chúng ta (x. ibid., 231).

Giáo hội là một dân tộc vĩ đại phục vụ hòa giải và hòa bình

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy trở về nhà với quyết tâm cầu nguyện không ngừng và không mệt mỏi, hoán cải tâm hồn cách sâu xa. Giáo hội là một dân tộc vĩ đại phục vụ hòa giải và hòa bình, tiến bước không chút do dự, ngay cả khi việc từ chối logic chiến tranh có thể khiến Giáo hội bị hiểu lầm và khinh miệt. Giáo hội loan báo Tin Mừng hòa bình và dạy vâng phục Thiên Chúa hơn là loài người, nhất là khi phẩm giá vô hạn của con người bị đe dọa bởi những việc vi phạm liên tục luật pháp quốc tế. “Trên toàn thế giới, ước gì mỗi cộng đoàn trở thành một ‘ngôi nhà của hòa bình’, nơi người ta học cách hóa giải thù địch thông qua đối thoại, thực hành công lý và trân trọng sự tha thứ. Giờ đây hơn bao giờ hết, chúng ta phải chứng tỏ rằng hòa bình không phải là điều không tưởng” (Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 59, ngày 1 tháng 1 năm 2026).

Anh chị em thuộc mọi ngôn ngữ, dân tộc và quốc gia: chúng ta là một gia đình cùng biết khóc, biết hy vọng và biết đứng dậy. “Đừng bao giờ chiến tranh nữa, một cuộc phiêu lưu không lối thoát, đừng bao giờ chiến tranh nữa, vòng xoáy của tang tóc và bạo lực” (Thánh Gioan Phaolô II, Lời cầu nguyện cho hòa bình, 2 tháng 2 năm 1991).

Anh chị em rất thân mến, bình an ở cùng anh chị em! Đó là bình an của Đức Kitô phục sinh, hoa trái của hy lễ tình yêu của Người trên thập giá. Vì thế, chúng ta dâng lên Người lời khẩn cầu:

Lời cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã chiến thắng sự chết không bằng vũ khí hay bạo lực:
Chúa đã phá tan quyền lực của nó bằng sức mạnh của hòa bình.
Xin ban bình an của Chúa cho chúng con,
như Chúa đã ban cho những người phụ nữ đang nghi ngờ trong buổi sáng Phục Sinh,
như cho các môn đệ đang trốn tránh trong sợ hãi.
Xin sai Thánh Thần của Chúa,
hơi thở ban sự sống và hòa giải,
biến những kẻ đối nghịch và thù địch trở thành anh chị em.
Xin khơi dậy trong chúng con niềm tín thác của Đức Maria, Mẹ của Chúa,
Đấng đã đứng dưới chân thập giá với trái tim tan nát,
nhưng vững tin rằng Chúa sẽ sống lại.
Xin cho sự điên rồ của chiến tranh chấm dứt,
và trái đất được chăm sóc và vun trồng bởi những người còn biết sinh sôi, gìn giữ và yêu mến sự sống.
Xin nghe lời cầu nguyện của chúng con, lạy Chúa của sự sống!

Giờ cầu nguyện kết thúc với phép lành Đức Thánh Cha ban, trước khi cộng đoàn cũng hát kinh “Lạy Nữ Vương Thiên Đàng”.

| 12.04.2026 |CHÚA NHẬT II PHỤC SINH MỪNG KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚAhúa nhật sau lễ Phục sinh đánh dấu một ngày lễ đặc bi...
11/04/2026

| 12.04.2026 |

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH
MỪNG KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

húa nhật sau lễ Phục sinh đánh dấu một ngày lễ đặc biệt trong Giáo hội Công Giáo: Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót, với ý nghĩa sùng kính món quà là lòng thương xót của Chúa Giêsu.

Vào thập niên 30, một nữ tu trẻ người Ba Lan, mà ngày nay được biết đến là Thánh Faustina, đã được Chúa Giêsu mặc khải về việc thiết lập ngày đặc biệt dành riêng kính lòng thương xót này. Thánh Faustina được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong hiển thánh vào năm 2000. Vị Giáo hoàng này cũng được biết đến là người có lòng sùng kính đặc biệt đối với Lòng Chúa Thương Xót. Vào ngày tuyên thánh cho chị Faustina, Đức Gioan Phaolô II cũng chính thức công bố Chúa nhật sau lễ Phục sinh là ngày kính Lòng Chúa Thương Xót.

Vào ngày lễ đặc biệt này, các tín hữu Công giáo có thể nhận được ơn toàn xá với điều kiện xưng tội và rước lễ.

Tại Rôma, Đức Thánh Cha Phanxicô thường cử hành ngày lễ này tại nhà thờ Lòng Chúa Thương Xót. Ngài cũng đã cử hành thánh lễ này tại Đền thánh Lòng Chúa Thương Xót ở Ba Lan, tương tự như cách mà ngài đã làm tại đây vào năm 2016.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói rằng: “Chúng ta đừng bao giờ quay lưng lại với Chúa Giêsu, ngay cả khi chúng ta cho rằng tội lỗi và sai lầm của bản thân là tồi tệ nhất. Ngài yêu mến chúng ta như chúng ta là, để từ đó lòng thương xót của Ngài tuôn đổ trên chúng ta.”

Ở rất nhiều nhà thờ trên khắp thế giới, người ta có thể thấy hình ảnh Lòng Chúa Thương Xót được tôn kính và làm phép công khai trong ngày lễ đặc biệt này.

Theo Rome Report
Người dịch: Thy Quyên

THỨ HAI - TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINHLỜI CHỨNG CỦA NHỮNG LÍNH CANH RÔMA“Các bà đang đi thì có mấy người trong đội lính canh ...
06/04/2026

THỨ HAI - TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH
LỜI CHỨNG CỦA NHỮNG LÍNH CANH RÔMA

“Các bà đang đi thì có mấy người trong đội lính canh mồ vào thành báo cho các thượng tế biết mọi việc đã xảy ra. Các thượng tế liền họp với các kỳ mục; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn, và bảo: “Các anh hãy nói như thế này: ‘Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác.’” (Mt 28, 11-13).

Hãy thử đặt mình vào vị trí của một người lính Rôma được giao trọng trách canh giữ bên ngoài mộ Chúa Giêsu. Có lẽ đối với họ, đây chỉ là một cuộc tranh chấp tôn giáo xa lạ giữa Đức Giêsu và giới lãnh đạo Do Thái. Dù có những lời đồn đoán rằng Người sẽ trỗi dậy, hay nỗi lo sợ các môn đệ sẽ trộm xác để ngụy tạo phép lạ, thì với những người lính ấy, đó có lẽ chỉ là một đêm gác bình thường. Dưới sự cho phép của Philatô, họ túc trực bên ngoài mộ, có thể đang chuyện trò lơ đãng, chơi bài hoặc đơn giản là chợp mắt nghỉ ngơi.

Nhưng bối cảnh của bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta đi sâu hơn. Thánh Matthêu trong chương 28, câu 2-7 kể rằng giữa lúc canh khuya, một trận động đất kinh hoàng đã xảy ra: “Thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên.” Diện mạo thiên thần “như ánh chớp và y phục trắng như tuyết”. Các lính canh “khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi”. Đó hẳn là một cảnh tượng kinh ngạc khôn xiết.

Chúng ta nhớ lại rằng trước đó, chính quân lính Rôma đã tàn nhẫn với Chúa Giêsu: họ đánh đòn, nhạo báng, ép Người vác thập giá và đóng đinh Người. Thế nhưng, Tin Mừng cũng ghi dấu sự biến đổi của những tâm hồn sắt đá khi chứng kiến cách Người trút hơi thở cuối cùng. Đất rung, đá lở, mồ mả tuôn trào sức sống. Khi chứng kiến điều này, họ đầy sợ hãi và thốt lên: “Quả thật, ông này là Con Thiên Chúa!” (Mt 27, 54).

Cùng lúc đó, bà Maria Mađalêna và một bà Maria khác cũng vừa kịp đến. Những người lính đã tận mắt thấy, tận tai nghe lời vị sứ thần trấn an các phụ nữ: “Các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà hãy đến mà xem chỗ Người đã nằm…”

Hãy một lần nữa hình dung tâm trạng của những người lính ấy. Khi trở về trình báo, có lẽ họ hy vọng sự thật sẽ được đón nhận. Nhưng không, các thượng tế đã dùng tiền bạc để mua chuộc sự dối trá, ép họ phải nói rằng mình đã ngủ quên – một lỗi lầm có thể phải trả giá bằng mạng sống đối với một quân nhân Rôma. Nỗi sợ hãi và lòng tham mạnh thế hơn. Họ nhận tiền và gieo rắc lời gian dối. Tuy nhiên, luồng sáng từ ngôi mộ trống hẳn đã xuyên thấu tâm can, để lại một dấu ấn lương tâm không thể bôi xóa suốt phần đời còn lại.

Rất có thể trong những năm tháng sau này, chính những người lính ấy đã can đảm kể lại sự thật. Khi chứng kiến ngọn lửa đức tin vào Chúa Phục Sinh bùng cháy khắp nơi, và khi đối diện với sự hối lỗi về sự hèn nhát của chính mình, họ đã tìm thấy sức mạnh để sám hối. Thiên Chúa, trong lòng thương xót vô biên, hẳn đã đón nhận họ, chữa lành những vết sẹo lương tâm và ban cho họ niềm an ủi đích thực. Như Phêrô từng chối Chúa nhưng đã được phục hồi bằng tình yêu, những người lính này cũng có thể đã được biến đổi nhờ ân sủng và thời gian.

Hôm nay, khi chiêm ngưỡng hình ảnh những lính canh, chúng ta hãy nhìn lại chính mình. Có bao giờ vì sự an phận hay sợ hãi, chúng ta đã chọn cách im lặng hoặc xem nhẹ đức tin trước mặt thế gian? Có khi nào áp lực của đám đông khiến chúng ta chối từ những xác tín nội tâm? Nếu có, chúng ta hãy học từ chính sự yếu đuối của những người lính ấy. Dù quá khứ có khiếm khuyết trong việc làm chứng cho Tin Mừng, thì chẳng bao giờ là quá muộn để bắt đầu lại. Trong những ngày Bát nhật Phục sinh hồng phúc này, xin cho chúng ta quyết tâm trở thành những nhân chứng can trường và chân thành. Đừng để nỗi ngần ngại ngăn bước chân ta, nhưng hãy cầu xin ân sủng để loan báo niềm vui Phục Sinh một cách rạng rỡ, vì chúng ta đang mang trong mình đặc ân cao quý: được công khai tuyên xưng niềm tin vào Chúa sống lại hiển vinh!

Lạy Chúa Cứu Thế vinh thắng, sự phục sinh của Ngài có sức chạm đến mọi người. Vào ngày sau hết, tất cả sẽ biết Ngài là ai và những gì Ngài đã làm. Xin ban cho con ân sủng để tuyên xưng đức tin vào chiến thắng vinh hiển của Ngài trên tội lỗi và sự chết, để tha nhân được biết Ngài trước khi quá muộn, và có can đảm bước đi theo Ngài trong đức tin. Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.
—————————————————

Nguồn: My Catholic Life!
Chuyển ngữ: Têrêsa Hồng Yến | CTV JESCOM – Truyền Thông Dòng Tên

SỨ ĐIỆP URBI ET ORBI: Sức mạnh của Đức Kitô phục sinh hoàn toàn phi bạo lực.Vào lúc 12 giờ trưa Chúa Nhật Phục Sinh, sau...
06/04/2026

SỨ ĐIỆP URBI ET ORBI: Sức mạnh của Đức Kitô phục sinh hoàn toàn phi bạo lực.

Vào lúc 12 giờ trưa Chúa Nhật Phục Sinh, sau khi dâng Thánh Lễ tại Quảng trường thánh Phêrô, Đức Thánh Cha đã lên ban công chính của Đền thờ thánh Phêrô để đọc sứ điệp phục sinh và ban phép lành toàn xá Urbi et Orbi, cho Roma và toàn thế giới. Sứ điệp phục sinh của ngài nhấn mạnh đến sự Phục Sinh của Chúa chiến thắng sự dữ và cái chết, để mang lại sự sống và bình an cho nhân loại.

Anh chị em thân mến,

Đức Kitô đã sống lại! Chúc mừng Phục Sinh!

Từ nhiều thế kỷ, Hội Thánh hân hoan hát lên biến cố là nguồn gốc và nền tảng đức tin của mình: “Chúa sự sống đã chết đi / giờ đây hằng sống trị vì oai linh. / Vâng, chúng ta xác tín: / Đức Ki-tô thật đã phục sinh. / Tâu Vua chiến thắng hiển vinh / đoàn con xin Chúa dủ tình xót thương” (Ca tiếp liên Phục Sinh).

Phục Sinh là một chiến thắng: của sự sống trên sự chết, của ánh sáng trên bóng tối, của tình yêu trên hận thù. Một chiến thắng với giá rất đắt: Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống (x. Mt 16,16), đã phải chết, và chết trên thập giá, sau khi chịu một bản án bất công, bị nhạo báng và khổ hình, và đã đổ hết máu mình. Như Chiên Thiên Chúa đích thực chịu sát tế, Người đã mang lấy tội lỗi thế gian (x. Ga 1,29; 1Pr 1,18-19), và như thế đã giải thoát tất cả chúng ta, cùng với toàn thể thụ tạo, khỏi quyền lực của sự dữ.
Nhưng Đức Giêsu đã chiến thắng như thế nào? Sức mạnh nào giúp Người đánh bại Kẻ Thù xưa, Thủ lãnh của thế gian này (x. Ga 12,31) một lần cho mãi mãi? Quyền năng nào đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, không phải trở về sự sống cũ, nhưng bước vào sự sống đời đời và mở ra trong chính thân xác Người con đường từ thế gian này đến với Chúa Cha?

Sức mạnh ấy, quyền năng ấy chính là Thiên Chúa, là Tình Yêu tạo dựng và sinh ra, Tình Yêu trung tín đến cùng, Tình Yêu tha thứ và cứu chuộc.

Đức Kitô, “Vua chiến thắng” của chúng ta, đã chiến đấu và chiến thắng bằng việc phó thác trọn vẹn trong tin tưởng vào thánh ý Chúa Cha, vào kế hoạch cứu độ của Người (x. Mt 26,42). Như thế, Người đã đi trọn con đường đối thoại, không phải bằng lời nói nhưng bằng hành động: để tìm kiếm chúng ta là những kẻ lạc mất, Người đã trở nên xác phàm; để giải thoát chúng ta là những người nô lệ, Người đã trở nên như một người nô lệ; để ban sự sống cho chúng ta là những kẻ phải chết, Người đã để mình bị giết chết trên thập giá.

Sức mạnh làm cho Đức Kitô sống lại hoàn toàn là phi bạo lực. Sức mạnh ấy giống như hạt lúa mì, khi mục nát trong lòng đất thì lớn lên, mở đường qua lớp đất, nảy mầm và kết thành bông lúa trĩu nặng. Sức mạnh ấy còn giống hơn nữa, như một trái tim con người, khi bị tổn thương bởi một xúc phạm, đã từ chối bản năng báo thù và, đầy lòng xót thương, cầu nguyện cho người đã xúc phạm mình.

Anh chị em thân mến, đó là sức mạnh đích thực mang lại hòa bình cho nhân loại, bởi vì nó tạo ra những mối tương quan tôn trọng ở mọi cấp độ: giữa các cá nhân, trong các gia đình, giữa các nhóm xã hội và giữa các quốc gia. Sức mạnh ấy không nhằm lợi ích riêng, nhưng hướng tới công ích; không tìm cách áp đặt kế hoạch của mình, nhưng góp phần cùng người khác xây dựng và thực hiện kế hoạch ấy.

Vâng, sự phục sinh của Đức Kitô là khởi đầu của một nhân loại mới, là bước vào miền đất hứa đích thực, nơi công lý, tự do và hòa bình ngự trị, nơi mọi người nhận ra nhau là anh chị em, là con cái của cùng một Cha, Đấng là Tình Yêu, là Sự Sống, là Ánh Sáng.
Anh chị em thân mến, với sự phục sinh, Chúa đặt chúng ta trước bi kịch của tự do con người một cách mạnh mẽ hơn nữa. Trước ngôi mộ trống, hoặc chúng ta có thể tràn đầy hy vọng và ngỡ ngàng như các môn đệ, hoặc đầy sợ hãi như những lính canh và người Pharisêu, những kẻ buộc phải dùng sự dối trá và mưu kế để không phải thừa nhận rằng Đấng đã bị kết án thực sự đã sống lại (x. Mt 28,11-15)!

Trong ánh sáng Phục Sinh, chúng ta hãy để cho mình được Đức Kitô làm cho kinh ngạc! Hãy để cho trái tim mình được biến đổi bởi tình yêu bao la của Người dành cho chúng ta! Ai đang cầm vũ khí, hãy đặt xuống! Ai có quyền khơi mào chiến tranh, hãy chọn hòa bình! Không phải một nền hòa bình đạt được bằng vũ lực, nhưng bằng đối thoại! Không phải bằng ý muốn thống trị người khác, nhưng bằng việc gặp gỡ họ!

Chúng ta đang quen dần với bạo lực, chấp nhận nó và trở nên dửng dưng. Dửng dưng trước cái chết của hàng ngàn con người. Dửng dưng trước những hệ quả của hận thù và chia rẽ mà các cuộc xung đột gieo rắc. Dửng dưng trước những hậu quả kinh tế và xã hội mà chúng gây ra và chính chúng ta cũng cảm nhận. Chúng ta ngày càng thấy rõ một sự “toàn cầu hóa của sự dửng dưng”. Chúng ta lặp lại cách diễn đạt quen thuộc của Đức Giáo hoàng Phanxicô, người mà cách đây một năm, từ chính ban công này, đã gửi đến thế giới những lời cuối cùng của ngài, khi nhắc nhở chúng ta: “Bao nhiêu ý muốn gây chết chóc mà chúng ta thấy mỗi ngày trong những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới!” (Sứ điệp Urbi et Orbi, 20 tháng 4 năm 2025).

Thập giá của Đức Kitô luôn nhắc chúng ta về đau khổ và nỗi đau bởi cái chết, và về sự tan nát mà nó gây ra. Tất cả chúng ta đều sợ cái chết, và vì sợ hãi, chúng ta quay đi chỗ khác, chúng ta muốn không nhìn vào nó. Chúng ta không thể tiếp tục dửng dưng! Và chúng ta cũng không thể cam chịu sự dữ! Thánh Augustinô dạy rằng: “Nếu con sợ cái chết, hãy yêu mến sự phục sinh!” (Bài giảng 124, 4). Chúng ta cũng hãy yêu mến sự phục sinh, vì nó nhắc chúng ta rằng sự dữ không phải là lời cuối cùng, bởi vì nó đã bị đánh bại bởi Đấng Phục Sinh.

Người đã đi qua sự chết để ban cho chúng ta sự sống và bình an: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian” (Ga 14,27). Bình an mà Đức Giêsu ban không phải là thứ chỉ làm im tiếng vũ khí, nhưng là bình an chạm đến và biến đổi tâm hồn mỗi người chúng ta! Chúng ta hãy hoán cải để đón nhận bình an của Đức Kitô! Hãy để cho tiếng kêu gọi hòa bình phát xuất từ con tim chúng ta được vang lên! Vì thế, tôi mời gọi tất cả cùng hiệp nhất với tôi trong buổi canh thức cầu nguyện cho hòa bình mà chúng ta sẽ cử hành tại Đền thờ Thánh Phêrô vào thứ Bảy tới đây, ngày 11 tháng 4.

Trong ngày lễ này, chúng ta hãy từ bỏ mọi ý muốn tranh chấp, thống trị và quyền lực, và khẩn cầu Chúa ban bình an của Người cho thế giới đang bị tàn phá bởi chiến tranh và bị ghi dấu bởi hận thù và sự dửng dưng khiến chúng ta cảm thấy bất lực trước sự dữ. Chúng ta phó dâng cho Chúa mọi tâm hồn đang đau khổ và chờ đợi nền hòa bình đích thực mà chỉ mình Người có thể ban tặng. Chúng ta hãy tín thác nơi Người và mở lòng mình ra cho Người! Chỉ mình Người làm cho mọi sự trở nên mới (x. Kh 21,5)!

Chúc mừng Phục Sinh!

-------------------------------------





Address

TDP Lái, Thị Trấn Hưng Nhân, Huyện Hưng Hà, Tỉnh Thái Bình
Thai Binh

Opening Hours

Monday 08:00 - 21:00
Tuesday 08:00 - 21:00
Wednesday 08:00 - 21:00
Thursday 08:00 - 21:00
Friday 08:00 - 21:00
Saturday 08:00 - 21:00
Sunday 05:00 - 21:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Giáo Họ Phú Xá - Giáo Phận Thái Bình posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share