08/11/2021
ÔN LẠI TIỂU SỬ NGÀI Y TRƯỞNG NGUYỄN VĂN KHANH NHÂN KỶ NIỆM NGÀY VIÊN TỊCH LẦN THỨ 18
TIỂU SỬ NGÀI Y TRƯỞNG NGUYỄN VĂN KHANH
(1921-2003)
Biên soạn: cư sĩ, y sĩ Nguyễn Văn Đáng
Ông Nguyễn Văn Khanh, tự Khánh Khương, hiệu Đông Phương Quang Tải, sanh năm Tân Dậu 1921 tại xã Vĩnh Mỹ, tổng Long Thuỷ, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, con ông Nguyễn Văn Ngưu và bà Triệu Thị Trước.
Theo lời thân mẫu, ông bẩm sinh yếu đuối, thường hay bệnh hoạn. Khi sanh ra không bú sữa mẹ, lúc đầu tưởng là đau miệng nên rước thầy chạy chữa, song chẳng phát hiện được gì, nghĩ chắc chưa biết bú nên nặn sữa nhỏ thì hài nhi ói ra, khóc thét. Bèn cho uống nước cháo với đường. Ông không bú sữa mẹ, không uống sữa bò, chỉ uống nước cháo với đường mà lớn.
Suốt đời, ông ăn chay trường, lại rất kham khổ đạm bạc, chỉ có bốn món ăn chủ yếu: muối ớt, muối xả, tương hột, nước tương kho quẹt, ngoài ra những món ăn đắt tiền hấp dẫn, ông không thích dùng.
Có điều ông chậm biết nói, phụ mẫu rất lo lắng… Đến khi 5 tuổi mới kêu được một tiếng ba mà cũng không được rõ.
Năm lên 9 tuổi (1930) song thân nhận thấy ở con mình ngoài việc ăn chay, tính tình thanh đạm giản dị, rất thích thú khi nghe chuyện tiên gia tu luyện.
Cha mẹ xin cho làm đệ tử theo hầu cận, thọ nghiệp Phật pháp nơi đức Huấn Sư Như Tuyền, khi đó ở Mỹ Phước (Đồng Tháp Mười) phá hoang làm ruộng. Sáu năm sau, Đức Huấn sư về Vĩnh Mỹ (Bạc Liêu), ông ở lại theo Đức Bà Cô Năm. Cũng từ đó, ông hay được Đức Tông Sư cho đi theo để viết toa thuốc khi Đức Ngài độ bệnh.
Do có túc nhân thâm hậu, nên đối với đạo pháp ông đạt ngộ bằng trực giác, đối với nho học ông thông thấu nghĩa sâu, về y đạo có thiên khiếu đặc biệt.
Từ năm 1949, ông bước vào lãnh vực nghiên cứu thuốc Nam với sự chứng minh của Đức Tông Sư. Năm 1951, ông đã sớm trở thành một y sĩ ưu tú giáo hội.
Năm 1951, ông đảm nhiệm phòng thuốc Hưng Điều Tự, Mỹ Tho.
Từ năm 1953 đến 1956, Ban Trị sự trung ương điều động ông đảm nhiệm nhiều phòng thuốc như: Phòng thuốc Hưng Định Tự Cần Thơ, phòng thuốc Châu Đốc, phòng thuốc Long Xuyên…
Trong thời gian đảm nhiệm các phòng thuốc, ông có 3 ưu điểm vượt trội:
Một là sự điều hành phòng thuốc, củng cố nề nếp sinh hoạt của y sĩ, y sinh đúng theo theo tinh thần điều lệ y tế của giáo hội.
Hai là phát triển phòng thuốc bằng tài năng học thuật cũng như nghiệp vụ.
Ba là, với đạo hạnh của một y sĩ, tu sĩ cũa Tịnh Độ, đã hun đúc tinh thần đạo đức tập thể, đào tạo nhiều y sĩ giỏi phục vụ phòng thuốc giáo hội.
Vào khoảng cuối năm 1956, Phòng thuốc Hưng Nhơn Tự tỉnh hội Long An được nâng cấp thành trường đào tạo Nam y sĩ của giáo hội. Bấy giờ ông đang gác phòng thuốc tỉnh hội Cần Thơ, được lệnh Ban Trị sự trung ương rút về đảm nhận trọng trách quản nhiệm ngôi trường này.
Trước khi nhận nhiệm vụ ở trường Long An, Đức Tông Sư đã kiểm tra khả năng đạo học, bồi dưỡng y lý, giảng dạy trách nhiệm lãnh đạo… Chức vị Y trưởng của giáo hội được Đức Tông Sư cử đặt cho ông cũng vào thởi gian này.
Sau đó theo lời thánh thị của Đức Tông Sư, Ban Trị Sự Trung Ương khắc cho ông một con dấu tròn bằng đồng, để tiện dụng trong nghiệp vụ, đồng thời biểu hiện uy tín, trách nhiệm chuyên môn ngành y tế phước thiện đối với giáo hội.
Trước ngày xuống Long An nhận việc:
Khoảng 10 ngày ở Tân Định (đường Hai Bà Trưng, Sài gòn, nơi Tông Sư ở) được đức Tông Sư chỉ dạy, sau đó nhận nhiệm vụ quản nhiệm trường đào tạo tại Hưng Nhơn Tự, Long An.
Sau khi đảnh lễ Đức Tông Sư, ông mang hành trang ra cửa. Đức Tông Sư đi trước, ông đi kế phía sau (bấy giờ cùng có ông Năm Huế, ông Chín Paul, cô Sáu Phòng), khi vừa đến cửa cổng, ông vượt lên để mở. Đức Tông sư liền kêu: “Mày để tao mở cho mày đi.” Y sĩ Nguyễn Văn Khanh lùi lại, Đức Tông Sư bước tới mở cửa, ông bước ra, Đức Tông Sư cũng bước ra đứng trước cửa, sát mé lộ. Ông xá Tông Sư rồi đi (từ cổng ra lộ cái khoảng 30m).
Được mấy bước, Đức Tông Sư kêu lại dạy bảo mấy câu ngắn gọn. Liên tiếp 2 lần như thế, lời dạy nhớ không chính xác nên không ghi lại. Lần thứ ba, Đức Tông Sư kêu: “Khanh!” ông “Dạ!” rồi quay lại thủ lễ. Đức Tông Sư dạy: “Từ nay chú mày bỏ cái tên thằng Khanh của chú mày đi, để lo cho giáo hội, lo cho phật pháp, chú mày có biết không?” ông Ba Khanh thưa: “Dạ con biết!” Liền lễ Đức Tông Sư 6 lạy, rồi đi thẳng xuống trường Long An.
Phòng thuốc Long An được nâng cấp lên thành trường chánh quy đào tạo y sĩ, y sinh, nhằm phát dương thực lực môn tu phước của giáo hội. Mặc dù cơ sở vật chất hạn chế, mọi nhu cầu tiện nghi theo tiêu chuẩn cần thiết chưa được cải thiện, tuy nhiên, trường Long An bắt đầu hoạt động với sự lãnh đạo của ngài Y trưởng, sớm đã đi vào nề nếp, trở thành ngôi trường mẫu mực trong công tác đào tạo y sĩ phước thiện của giáo hội.
Ngôi trường Long An vừa giảng dạy y lý để học viên trở thành thầy thuốc, vừa rèn luyện đạo đức của người y sĩ là tu sĩ Tịnh Độ, phẩm hạnh ưu mỹ, có căn bản học thuật, từ đó giáo hội có một đội ngũ huấn luyện y tế sau này.
Những năm ở trường Long An, ngài Y trưởng có điều kiện nghiên cứu, khai thông thiên khiếu, khám phá huyền nghĩa y lâm trong các sách Hán học. Ngài dịch thuật, chú giải và diễn ca bằng tiếng Việt cho phù hợp với chương trình giảng huấn y lý của Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam.
Thừa sự chứng minh của Đức Tông Sư, với sự hỗ trợ của Bạch Diện thư sinh, ông thành tựu sở học của mình, nghiên cứu, viết ra tài liệu dược thảo của giáo hội, bổ sung chỗ khuyết, xác định tánh chất, khí vị, giản chất những khuất tạp rườm rà, chỉnh trang văn từ, hệ thống lại cho có mạch lạc. Sau hết, lập thành bộ Nam Y Cải Cách Toàn Tập.
Chương trình giảng dạy của ông được phân làm 3 bậc: I, II và III.
Tài liệu nam y dược thảo của ông gồm những phương châm y lý, dược lý, kiến chứng lập phương thực nghiệm. Nhứt luận, nhứt trị và gia giảm, ông lập Thang danh, Tánh dược, Mạch học, Luận trị, Phản khắc, Kỵ thai, Tương tư tương xử, Tương phản tương ố, mang nét đặc thù về Nam dược của giáo hội.
Ngài Y trưởng Nguyễn Văn Khanh đã sáng tạo hoàn chỉnh hệ thống Nam y dược từ thấp lên cao, mở ra trang sử huy hoàng cho nền học thuật Nam y của Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam.
Tính theo thời gian, trường Long An hoạt động vào cuối năm 1956, phát triển được 6 năm thì dời về Tổ Đình Hưng Minh Tự.
Từ năm 1962 đến năm 1971 do tình hình thời cuộc, ông trụ ở Tân Hưng Long Tự và giảng dạy tiếp cho hết chương trình đối với số học viên của trường Long An về đây.
Năm 1970, ông mở khoá Huấn viên tại Tân Hưng Long Tự. Thời gian này ông còn góp sức trong những công tác phật sự khác như huy động nhân lực y sinh ra lập vườn trồng cây ăn trái, cải tạo phong quang cảnh trí của trung tâm an dưỡng Hưng Thắng Tự Bãi Dâu – Vũng Tàu.
Năm 1972 đến năm 1982, vì có nhân duyên với Hưng Phú Tự, theo lời huấn thị của ông cố Chánh Hội trưởng trung ương Huỳnh Văn Dơn, trong 10 năm liền ông trụ bước ở Hưng Phú Tự huyện hội Bến Lức để chung lo chỉnh trang ngôi Tam bảo, xây cất nhà hậu, củng cố phương châm “Tu Phước – Tu Huệ”.
Năm 1983 ông mở khoá bổ túc y sĩ cấp 2 tại Hưng Mỹ Tự thôn hội Vĩnh Mỹ (Bạc Liêu).
Năm 1985 ông mở khoá y sĩ cấp 1 tại Hưng Ninh Tự thôn hội Hoà An (Cần Thơ).
Năm 1988 ông mở khoá đào tạo y sĩ sơ cấp tại Hưng Thanh Tự tỉnh hội Vị Thanh (Hậu Giang). Cũng trong thời gian này (1988) ông hợp lực cùng Ban Trị sự Vị Thanh, Ban Phước thiện huyện hội Cái Nước, tổ chức lễ cầu siêu ở đầm Bà Tường thuộc tỉnh Cà Mau.
Năm 1989, ông lâm trọng bệnh phải về Tp. HCM điều trị.
Vào khoảng cuối năm 1990 ông thân hành ra Phú Quốc với danh nghĩa giáo hội thu hồi lại phòng thuốc Hưng Quốc Tự huyện hội Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang), điều động y sĩ hợp lệ để khai trương, và bổ nhiệm y sĩ điều hành phòng thuốc hoạt động trở lại bình thường đến nay.
Năm 1991 ông phối hợp với Sở Y tế tỉnh Long An mở khoá y học cổ truyền sơ cấp, thời hạn ba năm địa điểm tại Bến Lức, chương trình giảng dạy do ông chủ động. Từ lớp học này về phía giáo hội, kết quả được 75 vị y sĩ có giấy hành nghề do Sở Y tế tỉnh Long An cấp.
Năm 1993 ông mở khoá Huấn viên Y khoa tại hội quán Rạch Gòi (Cần Thơ).
Năm 1994 vì lý do sức khoẻ, ông về Hưng Gia Tự (Gia Định) để dưỡng bệnh. Nhơn ngày Lễ Phật đản mùng 8 tháng 4 Ất Hợi (1994) ông phối hợp với Ban Phước thiện Tổ Đình và huynh đệ, tổ chức đại hội y sĩ 20 năm, đánh dấu quá trình hoạt động ngành Y tế phước thiện trong thời kỳ bước ngoặc của giáo hội. Cũng trong năm này ông liên tiếp mở khoá bổ túc y sĩ cấp 2 ở Hưng Trung Tự (Sa Đéc), Hưng Vinh Tự (Trà Vinh), Hưng Hoà Tự (Sóc Trăng), tổng cộng là bảy khoá.
Năm 1995, ông có góp ý đề xuất với tập thể bầu Ban Trị Sự Trung Ương vào ngày đại hội thường niên mùng 8 tháng 4 âl năm 1995.
Năm 1997 (76 tuổi) vào ngày 13/11 âl, hay tin cô y sĩ Bông gác phòng thuốc huyện Cầu Kè mãn phần, ông vội đến Trà Mẹt xã Hiếu Thành để chia buồn với gia đình, đến phòng thuốc chi hội Cầu Kè sắp sếp y sĩ trực ở đây, rồi ông đến Hưng Vinh Tự tỉnh hội Trà Vinh, Hưng An Tự tỉnh hội Vĩnh Long. Trở xuống Sóc Trăng cùng ngày, ông dự định hành trình kế tiếp xuống Đầm Cùng, Cái Nước (Cà Mau), nhưng sau ngày 14/11 âl ông phải trở về thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường về ông tạm nghỉ tại Hưng Tuyền Tự Cái Đôi (Vĩnh Long) một đêm. Vì tuổi già sức yếu, hai ngày liền vất vả, đêm ấy ông bị cảm hàn.
Ngày 16/11 âl ông được đưa về Tp.HCM điều trị, bệnh không thuyên giảm.
Bệnh viện An Bình quận 6 chẩn đoán ông bị chứng nhủng não. Tuy bị liệt 50% thân thể, nhưng trí nhớ vẫn hoàn toản minh mẫn.
Mặc dù lâm trọng bịnh, sự sinh hoạt bản thân không được chủ động phải nhờ người trợ giúp, đỡ nâng rất khổ, nhưng không vì thế mà thối thất đạo tâm hay chùng bước trước trách nhiệm và bổn phận Y Trưởng của giáo hội, ông không ngừng nghỉ, liên tiếp trong 2 năm 1998-1999, ông đi đến những chi hội như Tri Tôn, Cái Nước, Cái Keo, Bờ Đập, Đầm Cùng, v.v… để chấn chỉnh những bất ổn trong việc hành thiện của giới y sĩ, và mở lớp đào tạo y sĩ tại chi hội Cái Keo nhiều khóa.
Từ năm 2000, ông không còn đủ sức khoẻ đi đó đi đây như trước, ngoại trừ những trường hợp cần thiết.
Tuy nằm một chỗ, nhưng ông vẫn để tâm quan sát công việc hành thiện theo trực giác của mình mà sắp xếp ổn định y sĩ, y sinh.
Có thể nói ông là mẫu người tiêu biểu về đạo lực và tài hoa y dược của giáo hội, là chỗ y sĩ tin tưởng, nương tựa và mến phục.
VỀ ĐẠO HẠNH VÀ SỰ NGHIỆP PHẬT PHÁP
– Từ năm lên 9 tuổi, ông có quá trình 73 năm theo đạo tu hành, trường trai khổ hạnh. Suốt đời độc thân, cách sống thanh đạm bình dị, tri túc thiểu dục, giới đức tinh nghiêm, trí đức thông sáng.
– Đối với đạo, suốt đời thuỷ chung như nhứt.
– Đối với tôn chỉ Phước Huệ Song Tu, trải dạ qui tâm phụng hành triệt để.
– Với sáng tác học thuật, ông là tác giả Nam Y Dược Thảo trân quý, viết nên tư liệu có một không hai của TĐCSPHVN.
– Ông đem tài năng trí tuệ học thuật y lý, dược lý, truyền dạy, hướng dẫn, đào tạo nhân tài y tế cho giáo hội 52 năm (1950-2002). Đã có hàng trăm huấn viên y sĩ y sinh phước thiện do ông đào tạo đã và đang phục vụ trong các Phòng thuốc nam Phước thiện, trở thành vị thầy của các vị thầy.
– Ngày mùng 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (2002) bịnh ông trở nặng ông được đưa vào bệnh viện An Bình Tp.HCM điều trị 23 ngày không mấy khả quan, nên xuất viện. Theo ý của ông, đưa ông về nhà của ông bà Năm Sáng ở hẻm chùa Phật Ấn đường Trần Hưng Đạo Tp. HCM tiếp tục điều trị.
– Đệ tử nuôi dưỡng chăm sóc tận tình nhưng chứng bịnh nhủng não không thuyên giảm, sức khoẻ của ông càng ngày càng kiệt quệ. Đến 1 giờ kém 5 phút ngày mùng 4 tháng 10 âl Quý Mùi (nhằm ngày 28/10/2003) ông nhẹ nhàng thoát hoá nhục thân, đăng thanh viên tịch./.