Giáo xứ Micae Chợ Lách

Giáo xứ Micae Chợ Lách => GIỜ LỄ tại NT Micael Chợ Lách

* CHÚA NHẬT
+ Sáng: 5g30
+ Chiều: 16g

* NGÀY THƯỜNG: 5g30 Giáo xứ Chợ Lách

Đức Thánh Cha: Không có cách phòng ngừa ma túy nào tốt hơn một gia đình tốtSáng ngày 27/8, tiếp những người tham dự cuộc...
27/08/2026

Đức Thánh Cha: Không có cách phòng ngừa ma túy nào tốt hơn một gia đình tốt

Sáng ngày 27/8, tiếp những người tham dự cuộc gặp về tình trạng nghiện ngập tại Châu Mỹ Latinh, Đức Thánh Cha nhấn mạnh cần có một đáp ứng toàn diện đối với vấn đề ma túy và việc tuyển mộ người trẻ vào các tổ chức tội phạm, trong đó gia đình giữ một vai trò không thể thay thế. Ngài khẳng định: “Không có sự phòng ngừa ma túy nào tốt hơn một gia đình tốt”.

Cuộc gặp diễn ra tại Vatican từ ngày 25 đến 27/8, với chủ đề “Đáp ứng dựa trên đức tin đối với ma túy và việc tuyển mộ người trẻ vào các tổ chức tội phạm: một cuộc đối thoại từ Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe hướng tới thế giới”.

Trong bài diễn văn, Đức Thánh Cha nhận định rằng các chứng nghiện là “một hiện tượng phức tạp, cho thấy sự thất bại của một thế giới bị phi nhân hóa”. Theo ngài, nỗi đau của người trẻ đòi hỏi những câu trả lời toàn diện, bao gồm “phòng ngừa từ cộng đồng, chăm sóc dựa trên khoa học, công lý có khuôn mặt con người và sự đồng hành mục vụ gần gũi”.

Đức Thánh Cha đặc biệt đề cao bốn “nhịp cầu” cần được xây dựng trong việc đối phó với vấn đề nghiện ngập.

Nhịp cầu thứ nhất là giữa Giáo hội và các tổ chức quốc tế, bởi “không ai có thể một mình đối diện với vấn đề ma túy”. Ngài đánh giá cao sự hợp tác giữa Hội đồng Giám mục Châu Mỹ Latinh và Caribe, và Tổ chức các Quốc gia Châu Mỹ trong việc đào tạo các tổ chức cộng đồng dựa trên đức tin và xây dựng các mạng lưới đồng hành.

Nhịp cầu thứ hai là giữa khoa học và đức tin. Đức Thánh Cha nhấn mạnh Giáo hội không tìm cách thay thế khoa học thần kinh, tâm thần học hay y tế công cộng, nhưng muốn soi sáng vấn đề từ Tin Mừng, với một cái nhìn toàn diện về con người.

Nhịp cầu thứ ba là sự liên kết giữa các Giáo hội ở những châu lục khác nhau. Và nhịp cầu thứ tư là đại kết. Theo Đức Thánh Cha, trong việc thực hành tình yêu cụ thể đối với những người đau khổ, các cộng đoàn Kitô giáo có thể tìm thấy “một ngôn ngữ chung rất hùng hồn xuất phát từ đức tin”.

Tuy nhiên, Đức Thánh Cha dành sự chú ý đặc biệt về gia đình, được Công đồng Vatican II gọi là “Giáo hội tại gia”. Ngài nhắc đến nỗi đau của nhiều gia đình tan vỡ vì ma túy, bạo lực, nghèo đói, thiếu cơ hội hoặc vì con cái bị các tổ chức tội phạm tuyển mộ.

Nhắc lại lời Thánh Gioan Phaolô II về Giáo hội như “ngôi nhà và trường học của sự hiệp thông” và lời Đức Giáo hoàng Phanxicô mời gọi “chạm đến thân xác đau khổ của người khác”, Đức Thánh Cha cho rằng cốt lõi của sứ mạng mục vụ là làm cho Giáo hội trở thành một gia đình, đặc biệt đối với những người đang đau khổ.

Kết thúc, Đức Thánh Cha bày tỏ ước mong: “Xin cho Giáo hội trở thành gia đình của tất cả những người bị bỏ lại bên vệ đường”. Ngài mời gọi noi gương người Samari nhân hậu, xây dựng một Giáo hội “biết dừng lại, đến gần, chạnh lòng thương, xức dầu lên những vết thương, nuôi dưỡng và trở thành một mái nhà”.

Vatican News

CÔ ĐƠN HAY TÌNH CẢM? TẠI SAO MỘT LINH MỤC RỜI BỎ THỪA TÁC VỤ?Chuyển ngữ: Lm. Titô Trần Nguyên LãmWHĐ (27/8/2026) - Bài v...
27/08/2026

CÔ ĐƠN HAY TÌNH CẢM? TẠI SAO MỘT LINH MỤC RỜI BỎ THỪA TÁC VỤ?

Chuyển ngữ: Lm. Titô Trần Nguyên Lãm

WHĐ (27/8/2026) - Bài viết phân tích những nguyên nhân khiến một số linh mục rời bỏ thừa tác vụ, vượt xa vấn đề khủng hoảng đức tin hay tình cảm. Sự cô đơn, kiệt sức, thiếu nâng đỡ, gánh nặng hành chính và nhu cầu tình huynh đệ cho thấy Giáo hội cần quan tâm hơn đến những điều kiện nhân bản và thiêng liêng giúp linh mục sống trọn vẹn ơn gọi.
Khi một linh mục rời bỏ thừa tác vụ, người ta thường quy nguyên nhân về một trong hai khả năng quen thuộc: khủng hoảng đức tin hoặc xuất hiện một mối quan hệ tình cảm. Tuy nhiên, các nghiên cứu về việc các linh mục rời bỏ thừa tác vụ cho thấy một bức tranh phức tạp hơn. Trong nhiều trường hợp, việc rời bỏ thừa tác vụ dường như không phải là kết quả của một quyết định đột ngột duy nhất, nhưng là giai đoạn cuối của một tiến trình kéo dài, trong đó sự cô đơn, kiệt sức, thiếu sự nâng đỡ và gánh nặng công việc quản trị mục vụ dần dần làm suy giảm khả năng của một linh mục trong việc kiên trì sống ơn gọi của mình.

“Sự cô đơn chức năng”

Một trong những vấn đề ít được nhìn thấy là điều mà các nghiên cứu xã hội học gọi là “sự cô đơn chức năng”. Một linh mục có thể dành gần như mỗi ngày ở giữa rất nhiều người – cử hành Thánh lễ, giải tội, thăm viếng các gia đình, tham dự các cuộc họp và điều hành các hoạt động giáo xứ – nhưng lại có rất ít mối quan hệ trong đó ngài có thể thành thật nói về những nỗi sợ hãi, sự mệt mỏi hay những nghi vấn của chính mình.

Nghiên cứu của nhà xã hội học người Mỹ Dean R. Hoge cho thấy 46% các linh mục đã rời bỏ thừa tác vụ trong số người mà ông nghiên cứu đã đề cập đến hình thức cô đơn này. Nghịch lý thật đáng chú ý: một linh mục có thể được bao quanh bởi rất nhiều người về mặt xã hội, nhưng vẫn bị cô lập về mặt cá nhân.

Sự phân biệt này rất quan trọng, bởi vì đời sống linh mục không đơn thuần là một nghề nghiệp đòi hỏi nhiều nỗ lực. Đời sống ấy đặt một người vào vị trí mà những người khác thường xuyên tìm đến với những vấn đề sâu kín nhất của họ, trong khi chính linh mục lại được mong đợi phải luôn là nguồn đem lại sự bình yên, hướng dẫn và sức mạnh thiêng liêng. Nếu không có những mối quan hệ đáng tin cậy, nơi chính linh mục có thể nhận được sự nâng đỡ, thì sự bất cân xứng này có thể dần trở nên bào mòn.

Một mô thức tương tự cũng xuất hiện trong nghiên cứu của Yulius Sunardi, cho thấy tình trạng cô lập kéo dài có thể góp phần dẫn đến một cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn theo thời gian. Điều này cũng làm phức tạp thêm giả định phổ biến cho rằng một mối quan hệ tình cảm nhất thiết là nguyên nhân khiến một linh mục từ bỏ thừa tác vụ.

Trong một số trường hợp, một mối quan hệ tình cảm có thể xuất hiện sau một thời gian dài những nhu cầu nhân bản và tình cảm không được đáp ứng. Mối quan hệ ấy có thể trở thành biểu hiện của một cuộc khủng hoảng vốn đã âm ỉ từ trước, chứ không phải là biến cố ban đầu gây ra cuộc khủng hoảng.

Điều đó không có nghĩa là mối quan hệ ấy không quan trọng, cũng không loại bỏ trách nhiệm cá nhân. Tuy nhiên, nó cho thấy rằng để ngăn ngừa việc các linh mục rời bỏ thừa tác vụ, cần quan tâm đến những điều kiện thực tế mà các linh mục đang sống, thay vì chỉ tập trung vào thời điểm cuộc khủng hoảng trở nên rõ ràng.

Một áp lực khác đến từ sự biến đổi của chính đời sống giáo xứ

Một người bước vào chủng viện với hy vọng trước hết là rao giảng, cử hành các bí tích và đồng hành thiêng liêng với mọi người, có thể nhận ra rằng phần lớn thời gian làm việc trong tuần của mình lại bị chiếm dụng bởi ngân sách, nhân sự, cơ sở vật chất, giấy tờ, các yêu cầu về quy định, việc sắp xếp lịch trình và những quyết định mang tính tổ chức. Các nhà xã hội học đã mô tả chiều kích hành chính ngày càng gia tăng này bằng thuật ngữ “sự quản trị điều thánh” (administration of the sacred).

Vấn đề không phải là việc quản trị không cần thiết. Các giáo xứ cần được điều hành một cách có năng lực, và các linh mục không thể đơn giản bỏ qua những trách nhiệm vật chất gắn liền với cộng đoàn của mình. Nguy hiểm xuất hiện khi những đòi hỏi về quản trị dần dần lấn át công việc mục vụ và đời sống thiêng liêng, vốn là những điều ban đầu đem lại ý nghĩa cho ơn gọi.

Vivencio Ballano còn nhận diện một yếu tố khác: các linh mục có thể không nhận được đầy đủ sự hỗ trợ và hướng dẫn từ các Bề trên trong Giáo hội. Một thừa tác vụ vốn đã đòi hỏi nhiều sẽ trở nên khó khăn hơn đáng kể khi một linh mục cảm thấy rằng những người có trách nhiệm chăm lo cho mình chủ yếu quan tâm đến việc giáo xứ có hoạt động tốt hay không, hơn là quan tâm đến việc chính vị linh mục ấy có đang xoay xở nổi với những gánh nặng của mình hay không.

Điều này đặt ra một câu hỏi về việc đào tạo linh mục. Việc đào tạo tại chủng viện có thể nghiêm túc về mặt học thuật và sâu sắc về mặt thiêng liêng, nhưng vẫn chưa chuẩn bị đầy đủ cho các linh mục tương lai trước những thực tế tâm lý của nhiều thập niên thi hành thừa tác vụ. Những khó khăn ấy có thể chưa xuất hiện trong thời gian đào tạo, thậm chí cũng chưa xuất hiện trong những năm đầu sau khi chịu chức. Chúng có thể xuất hiện mãi về sau, khi nhiệt huyết ban đầu phải đối diện với sức nặng tích tụ của công việc thường nhật, trách nhiệm và sự cô lập.

Tình huynh đệ giữa các linh mục
Chính vì thế, tình huynh đệ giữa các linh mục cần được nhìn nhận không phải như một điều xa xỉ tùy chọn trong mục vụ, nhưng như một phần của nền tảng cần thiết để duy trì một đời sống linh mục bền vững.

Đức Thánh cha Lêô XIV đã đề cập chính xác đến vấn đề này vào tháng 02 năm 2026, khi lưu ý đến nguy cơ các linh mục bị cô lập và khuyến khích các ngài vun đắp tình bạn cũng như những mối tương quan đích thực giữa mình với tha nhân. Điểm nhấn của ngài về tình huynh đệ hướng đến một nguyên tắc tương đối đơn giản nhưng có thể mang lại những hiệu quả sâu sắc: các linh mục cần có người khác để họ có thể được sống đúng tư cách là linh mục, thay vì lúc nào cũng là những người mà mọi người khác tìm đến.

Điều này cũng có ý nghĩa quan trọng đối với các giám mục và các cơ cấu giáo phận. Nếu một linh mục được kỳ vọng phải gần như một mình gánh vác những gánh nặng thiêng liêng, cảm xúc và hành chính của một giáo xứ ngày càng phức tạp, thì cuối cùng sức mạnh và khả năng chịu đựng của cá nhân sẽ không thể thay thế đầy đủ cho sự hỗ trợ của cơ cấu tổ chức.

Giáo hội Công giáo có những lý do chính đáng để bảo vệ luật độc thân linh mục và tính chất đặc thù của chức linh mục. Nhưng bảo vệ một ơn gọi không có nghĩa là bỏ qua những điều kiện nhân bản cần thiết để ơn gọi ấy có thể phát triển tốt đẹp. Đời sống độc thân không phải là sự phủ nhận nhu cầu về tình bạn, tình cảm hay cộng đoàn; trái lại, chính vì bao hàm việc từ bỏ đời sống hôn nhân và gia đình, nên đời sống độc thân càng làm cho những hình thức tình huynh đệ thiêng liêng và nhân bản vững chắc trở nên đặc biệt quan trọng.

Bài học từ các nghiên cứu
Vì thế, bài học từ các nghiên cứu không chỉ liên quan đến câu hỏi tại sao một số linh mục rời bỏ thừa tác vụ. Vấn đề rộng hơn là Giáo hội có thể giúp các linh mục tiếp tục sống ơn gọi của mình với sự tự do, trưởng thành và niềm vui như thế nào.

Câu trả lời hữu hiệu nhất có thể bắt đầu từ rất lâu trước khi một linh mục nghĩ đến việc rời bỏ thừa tác vụ: chuẩn bị tốt hơn cho những thực tế của đời sống mục vụ; sự lãnh đạo tận tâm của các giám mục; những tình bạn có ý nghĩa giữa các giáo sĩ; bảo vệ các linh mục khỏi tình trạng cô lập kéo dài; và phân bổ các công việc hành chính một cách hợp lý hơn.

Một linh mục không cần phải được bao quanh bởi nhiều người chỉ vì ngài làm việc giữa họ. Ngài cần những mối tương quan nơi mà ngài có thể được người khác biết đến, nâng đỡ và góp ý.

Đối với một ơn gọi được xây dựng trên sự hiệp thông, đây có thể là một trong những nhu cầu thiết yếu nhưng dễ bị bỏ quên nhất.

Tác giả: Ban Biên tập Zenit (zenit.org)

27/08/2026

Laudetur Jesus Christus - Ngợi khen Chúa Giêsu KitôRadio Vatican h...

27/08/2026

LỜI CHÚA TRONG THÁNH LỄ

28.8.2026 – Thứ Sáu. Thánh Âu-tinh

BÀI ĐỌC I: 1 Cr 1, 17-25
“Chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm đối với người đời, nhưng là sự khôn ngoan đối với những người Thiên Chúa kêu gọi”.
Bài trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, Đức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Đức Kitô ra hư không. Vì chưng lời rao giảng về thập giá là sự điên rồ đối với những kẻ hư mất; nhưng đối với những người được cứu độ là chúng ta, thì điều đó là sức mạnh của Thiên Chúa. Vì như đã chép rằng: “Ta sẽ phá huỷ sự khôn ngoan của những kẻ khôn ngoan, sẽ chê bỏ sự thông sáng của những người thông sáng”. Người khôn ngoan ở đâu? Người trí thức ở đâu? Người lý sự đời này ở đâu? Nào Thiên Chúa chẳng làm cho sự khôn ngoan của thế gian này trở nên ngu dại sao? Vì khi thế gian tự phụ là khôn, không theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa mà nhận biết Thiên Chúa, thì Thiên Chúa đã muốn dùng sự điên rồ của lời rao giảng để cứu độ những kẻ tin. Vì chưng, các người Do-thái đòi hỏi những dấu lạ, những người Hy-lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm cho người Do-thái, một sự điên rồ đối với các người ngoại giáo, nhưng đối với những người được kêu gọi, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, thì Ngài là Chúa Kitô, quyền năng của Thiên Chúa, và sự khôn ngoan của Thiên Chúa, vì sự điên dại của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự khôn ngoan của loài người, và điều yếu đuối của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự mạnh mẽ của loài người. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 32, 1-2. 4-5. 10ab và 11
Đáp: Địa cầu đầy ân sủng của Chúa (c. 5b).
1) Người hiền đức, hãy hân hoan trong Chúa! Ca ngợi là việc của những kẻ lòng ngay. Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm, với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa.
2) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng của Chúa.
3) Chúa phá tan ý định của các nước, làm cho vô hiệu tư tưởng của chư dân. Ý định của Chúa tồn tại muôn đời, tư tưởng lòng Người còn mãi đời nọ sang đời kia.

ALLELUIA: 1 Tx 2, 13
All. All. – Anh em hãy đón nhận lời Chúa, không phải như lời của loài người, mà là như lời của Thiên Chúa, và đích thực là thế. – All.

PHÚC ÂM: Mt 25, 1-13
“Kìa chàng rể đến, hãy ra đón người”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này: “Nước trời giống như mười trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể. Trong số đó, có năm cô khờ dại và năm cô khôn ngoan. Năm cô khờ dại mang đèn mà không đem dầu theo. Còn những cô khôn ngoan đã mang đèn, lại đem dầu đầy bình. Vì chàng rể đến chậm, nên các cô đều thiếp đi và ngủ cả. “Nửa đêm có tiếng hô to: Kìa, chàng rể đến, hãy ra đón người. Bấy giờ các trinh nữ đều chỗi dậy, sửa soạn đèn của mình. Những cô khờ dại nói với các cô khôn ngoan rằng: “Các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em đã tắt cả”. Các cô khôn ngoan đáp lại rằng: “E không đủ cho chúng em và các chị, các chị ra (nhà) hàng mà mua thì hơn”. Song khi họ đang đi mua, thì chàng rể đến. Những trinh nữ đã sẵn sàng, thì theo chàng rể cùng vào tiệc cưới, và cửa đóng lại. Sau cùng các trinh nữ kia cũng đến và nói: “Thưa ngài, xin mở cửa cho chúng tôi”. Nhưng người đáp lại: “Ta bảo thật các ngươi, ta không biết các ngươi”. Vậy hãy tỉnh thức, vì các con không biết ngày nào, giờ nào”. Đó là lời Chúa.

(Nguồn: UBPV/HĐGMVN, ấn bản 1973)

NGÀY 27 THÁNG 8: THÁNH NỮ MÔNICA.Chuyển ngữ: Maria Hải Châu, SSSWHĐ (26/8/2026) – “Thiên Chúa đã ban cho mẹ còn hơn cả n...
26/08/2026

NGÀY 27 THÁNG 8: THÁNH NỮ MÔNICA.

Chuyển ngữ: Maria Hải Châu, SSS

WHĐ (26/8/2026) – “Thiên Chúa đã ban cho mẹ còn hơn cả những gì mẹ hằng mong ước, mẹ thấy con đã biết coi thường mọi vinh hoa trần thế để trở nên tôi tớ của Người. Vậy thì mẹ còn ở lại đây làm gì nữa?” – Bằng những giọt nước mắt, lời cầu nguyện ròng rã và một tình yêu bền bỉ, Thánh nữ Mônica đã đồng hành cùng con trai mình từ chốn lạc xa chân lý cho đến khi tìm về với đức tin.

PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH

Ngày 27 tháng 8

THÁNH NỮ MÔNICA

Thánh nữ Mônica sinh năm 331 tại Thagaste, xứ Algérie, Bắc Phi, trong một gia đình khá giả thuộc dân tộc Berber, có truyền thống đức tin Kitô giáo vững chắc. Ngài chuyên cần học hỏi giáo huấn của Kinh thánh và nuôi dưỡng đời sống nội tâm sâu sắc bằng cầu nguyện và siêng năng lãnh nhận các bí tích, cùng với việc phục vụ cộng đoàn Giáo hội. Thánh nữ kết hôn với Patriciô, một người ngoại giáo, đầy tham vọng, nóng nảy, khó tính và còn không chung thủy. Với sự dịu dàng, lòng nhân hậu và khả năng biết lựa chọn những lúc thích hợp để đối thoại, cùng với "phương pháp" riêng của mình là chờ đợi, kiên nhẫn và cầu nguyện, như ngài vẫn khuyên những người bạn tìm đến tâm sự về những bất hòa trong đời sống hôn nhân; Thánh nữ Mônica đã cảm hóa được tính khí gay gắt của chồng và đưa ông trở lại với đức tin Kitô giáo.

Người vợ, người mẹ

Năm 22 tuổi, Thánh Mônica sinh người con đầu lòng là Augustinô, sau đó là Navigiô và một người con gái không rõ tên. Thánh nữ giáo dục các con mình theo các giá trị Kitô giáo. Trở thành góa phụ ở tuổi 39, chính ngài phải lo việc quản lý tài sản gia đình, đồng thời hết lòng chăm sóc các con với một tình yêu vô hạn. Là một người mẹ chu đáo, tận tụy, điều khiến ngài bận tâm nhiều nhất chính là Augustinô, "người con của biết bao giọt nước mắt". Augustinô khi ấy là một nhà hùng biện đầy tham vọng mang trong lòng nỗi khắc khoải không yên; trên hành trình tìm kiếm chân lý ngài đã rời xa đức tin Công giáo và lang thang hết trường phái triết học này đến trường phái khác. Thánh nữ Mônica không ngừng cầu nguyện cho con, dõi theo con qua mọi thăng trầm cuộc đời và luôn tìm cách ở gần bên con. Chính vì thế, ngài đã chuyển đến Carthage rồi sang Ý đến sống tại Milan, khi Augustinô, con trai ngài lúc ấy đang ở đỉnh cao sự nghiệp của một giáo sư hùng biện. Tình mẫu tử và lời cầu nguyện của ngài đã đồng hành cùng cuộc trở lại của Augustinô. Sau khi được Đức Giám mục Ambrôsiô ban phép Rửa tội, Augustinô quyết định trở về Thagaste để thành lập một cộng đoàn những người phụng sự Thiên Chúa. Thánh nữ Mônica cũng đi cùng với con. Để trở về châu Phi, hai mẹ con phải xuống tàu tại Ostia, hải cảng của Rôma. Nhưng tại đây, trong lúc chờ tàu, họ buộc phải dừng chân.

Cuộc xuất thần tại Ostia và cái chết

Trong những ngày dừng chân ấy, hai mẹ con đã có những cuộc trò chuyện sâu xa về đời sống thiêng liêng. Chính trong một cuộc trò chuyện như thế đã diễn ra “cuộc xuất thần tại Ostia”, được Thánh Augustinô kể lại trong cuốn Tự thuật (Confessiones, IX, 10,23-27).

“Một lần nọ, chỉ có mẹ và tôi ở bên nhau, cả hai đứng tựa bên cửa sổ. Từ đó, khu vườn phía trong ngôi nhà chúng tôi đang ở hiện ra trước mắt. Đó là tại Ostia, gần cửa sông Tibre, cách xa những ồn ào náo động, sau những mệt mỏi của một chuyến đi dài; tại đây, chúng tôi lấy lại sức để tiếp tục cuộc hành trình. Vì thế, chúng tôi trò chuyện với nhau thật thân tình và dịu dàng. Gác lại quá khứ, hướng về tương lai, chúng tôi cùng hỏi nhau, trước sự hiện diện của Đấng là Chân Lý, về cuộc sống vĩnh cửu của các thánh sẽ như thế nào… Chúng tôi đã vượt qua mọi thực tại hữu hình, và vượt qua cả bầu trời… Rồi hai mẹ con còn tiến sâu hơn vào nội tâm, tập trung tâm trí, lời chuyện trò và lòng thán phục của chúng tôi vào những công trình của Người. Và chúng tôi đi đến tận tâm hồn mình, rồi vượt qua cả đó nữa, để đạt tới miền sung mãn vô tận… nơi sự sống chính là Sự Khôn Ngoan… Và trong khi chúng tôi nói chuyện và khao khát sự sống ấy, thì này đây, chúng tôi vừa chạm tới sự sống ấy bằng một chuyển động nhanh chóng và hoàn toàn của con tim.”

Thánh nữ Mônica cảm nhận rằng mình đã đạt tới mục đích của cả cuộc đời, và ngài tâm sự với con trai: “Về phần mẹ, giờ đây chẳng còn điều gì ở cuộc đời này khiến mẹ lưu luyến nữa. Mẹ còn có thể làm gì ở trần gian này? Tại sao mẹ còn phải ở lại đây? Mẹ cũng không biết nữa; mẹ chẳng còn gì để mong đợi ở đời này nữa. Chỉ có một điều duy nhất khiến mẹ mong được sống thêm ít lâu trên cõi đời này… đó là được thấy con trở thành người Công giáo trước khi mẹ nhắm mắt. Thiên Chúa đã ban cho mẹ còn hơn cả những gì mẹ hằng mong ước: mẹ thấy con đã biết coi thường mọi vinh hoa trần thế để trở nên tôi tớ của Người. Vậy thì mẹ còn ở lại đây làm gì nữa?"

Vài ngày sau, Thánh nữ Mônica ngã bệnh. Ngài qua đời ở tuổi 56 và được an táng tại nơi ngày nay là nhà thờ Thánh Aurea ở Ostia cổ, có lẽ trước đây từng là một vương cung thánh đường thời Kitô giáo sơ khai, bên cạnh một khu nghĩa trang.

Thánh tích của Thánh Mônica

Thi hài thánh Mônica được lưu giữ tại nhà thờ Thánh Aurea trong nhiều thế kỷ. Ngày nay, nơi ấy chỉ còn lại một tấm bia mộ, vì đến thế kỷ XV, Đức Giáo hoàng Martinô V đã muốn đưa thánh tích Thánh Mônica về Rôma, đặt tại nhà thờ Thánh Trifon do các tu sĩ Dòng Thánh Augustinô coi sóc, sau đó nhà thờ này được sáp nhập vào một vương cung thánh đường lớn hơn, tức Vương cung thánh đường Thánh Augustinô. Thánh tích của ngài vẫn còn được lưu giữ tại đó cho đến ngày nay, trong một quan tài bằng đá cẩm thạch màu xanh, đặt trong nhà nguyện được trang trí năm 1885 bằng những bức tranh của họa sĩ Pietro Gagliardi.

Chuyển ngữ từ: vaticannews.va/fr

Cha Ielpo: Cần giữ cho trái tim “không bị nhiễm virus của hận thù và oán hờn”Trong cuộc phỏng vấn với Vatican News tại C...
26/08/2026

Cha Ielpo: Cần giữ cho trái tim “không bị nhiễm virus của hận thù và oán hờn”

Trong cuộc phỏng vấn với Vatican News tại Cuộc gặp gỡ Rimini, cha Francesco Ielpo, Dòng Phanxicô, Giám quản Thánh Địa, nhấn mạnh rằng giữa chiến tranh và chia rẽ, nhiệm vụ đầu tiên của người Kitô hữu là giữ cho trái tim “không bị nhiễm virus của hận thù và oán hờn”. Theo ngài, chỉ từ một trái tim được gìn giữ như thế mới có thể bắt đầu con đường hòa bình, đối thoại và hòa giải.

Cha Ielpo mô tả tình hình hiện nay tại Gaza và Bờ Tây là “bi thảm, đầy khó khăn và đau khổ”. Sau nhiều tháng xung đột và căng thẳng, người dân ngày càng kiệt sức, trong khi khủng hoảng kinh tế và thiếu việc làm tại Bờ Tây đang khiến nhiều gia đình nghiêm túc nghĩ đến việc rời bỏ quê hương.

Nhắc đến lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Lêô XIV về một nền hòa bình “không vũ trang và có khả năng giải trừ vũ khí”, vị Giám quản Thánh Địa khẳng định: “Mọi con đường đi qua vũ khí và chiến tranh sẽ không bao giờ dẫn đến một nền hòa bình đích thực, cũng như không bao giờ dẫn đến một nền an ninh đích thực”. Theo ngài, quyền được an ninh là điều chính đáng đối với tất cả mọi người, nhưng con đường đạt tới hòa bình phải đi qua chính trị, ngoại giao và đặc biệt là đối thoại.

Đối với cha Ielpo, gìn giữ Thánh Địa không chỉ là bảo vệ những nơi thánh bằng đá, nhưng còn là gìn giữ “những viên đá sống động” của cộng đoàn Kitô hữu. Ngài nói: “tôi nghĩ điều đó có nghĩa là gìn giữ các tâm hồn: những tâm hồn vẫn mở ra, rộng mở trước Tin Mừng, trước vẻ đẹp của Tin Mừng và trước con đường của Tin Mừng”.

Theo ngài, con đường Tin Mừng có thể bề ngoài mang dáng vẻ thất bại, nhưng thực ra là con đường đã chiến thắng: “Đó là con đường Thập Giá, con đường không ai muốn đối diện hay mang lấy, nhưng lại là con đường duy nhất đã chiến thắng, như đức tin của chúng ta làm chứng”.

Về đời sống các Kitô hữu tại Bờ Tây, cha Ielpo nhấn mạnh rằng họ đang chia sẻ cùng số phận với toàn thể dân chúng Palestine. Vì thế, sứ mạng của Giáo hội là “ở lại bên cạnh, không để họ cảm thấy cô đơn”, cùng chia sẻ một vận mệnh và một niềm hy vọng.

Cha Ielpo cũng cảnh báo chống lại mọi hình thức khái quát hóa. Những hành vi bạo lực, bất công hay các quyết định chính trị không được phép biến thành tâm thức bài Do Thái. Ngài nhấn mạnh rằng, từ cả phía Israel lẫn Palestine, vẫn có những người và tổ chức đang cố gắng mở ra một con đường khác, một con đường của chung sống và hòa bình.

Đối với những người đang sống xa các chiến trường, cha Ielpo cho rằng việc đầu tiên là không để mình trở nên dửng dưng. Theo ngài, một Kitô hữu không thể chỉ dừng lại ở một bài đăng mạng xã hội hay một tiêu đề báo chí, bởi “không thể yêu điều mình không biết”. Việc tìm hiểu, lắng nghe và giữ mình gần gũi về tinh thần với những người đang đau khổ là một phần của trách nhiệm xây dựng hòa bình.

Cuối cùng, vị Giám quản Thánh Địa nhấn mạnh rằng trong bối cảnh hiện nay, đối thoại trước hết phải là lắng nghe. Ngài nói: “Hôm nay, đối thoại trước hết là lắng nghe. Lắng nghe nỗi đau của bạn, lắng nghe đến tận cùng”, để rồi một ngày nào đó, người kia cũng có thể mở lòng trước nỗi đau của phía đối diện.

Vatican News

Chân phước Gioan Phaolô I: 34 ngày và một di sản còn thời sựNgày 26/8, Giáo hội cử hành lễ nhớ Chân phước Gioan Phaolô I...
26/08/2026

Chân phước Gioan Phaolô I: 34 ngày và một di sản còn thời sự

Ngày 26/8, Giáo hội cử hành lễ nhớ Chân phước Gioan Phaolô I, đúng vào ngày kỷ niệm ngài được bầu lên Ngai tòa Thánh Phêrô năm 1978. Dù triều đại Giáo hoàng chỉ kéo dài 34 ngày, di sản của Đức Gioan Phaolô I vẫn cho thấy một định hướng rõ ràng: tiếp tục thực thi Công đồng Vatican II, đặt loan báo Tin Mừng, đại kết, đối thoại và hòa bình ở trung tâm sứ mạng Giáo hội.

Đức Gioan Phaolô I được bầu sau một Mật nghị kéo dài chỉ 26 giờ, với sự đồng thuận rất rộng trong Hồng y đoàn. Việc ngài chọn kết hợp tên của hai vị tiền nhiệm thành “Gioan Phaolô” cũng được nhìn như dấu chỉ của sự hiệp nhất và tiếp nối di sản chung của Công đồng Vatican II. Ngay từ đầu, ngài xác định căn tính của người phục vụ trong Giáo hội bằng câu: “Những người phục vụ, chứ không phải những người làm chủ Chân lý”.

Trong Sứ điệp phát thanh Urbi et Orbi ngày 27/8/1978, Đức Gioan Phaolô I đã trình bày sáu định hướng lớn của triều đại qua sáu lần “chúng tôi muốn”. Trước hết là “không ngừng tiếp nối di sản của Công đồng Vatican II”; tiếp đến là duy trì kỷ luật Giáo hội, đặt ưu tiên vào việc loan báo Tin Mừng, tiếp tục dấn thân đại kết, đối thoại với thế giới đương đại và cổ võ các sáng kiến vì hòa bình.

Điểm cuối cùng trong sáu định hướng ấy đặc biệt mang tính thời sự hôm nay: “Chúng tôi muốn cổ võ tất cả những sáng kiến tốt đẹp và đáng ca ngợi có thể bảo vệ và gia tăng hòa bình trong thế giới đầy biến động này”. Chủ đề này sẽ được dành cho một hội nghị quốc tế tại Đại học Giáo hoàng Gregoriana vào ngày 13/10/2026.

Trong 34 ngày ngắn ngủi của triều đại Giáo hoàng, hòa bình đã trở thành một sợi chỉ xuyên suốt. Đức Gioan Phaolô I từng nhấn mạnh rằng Đức Giáo hoàng và Tòa Thánh không có “những giải pháp thần kỳ cho các vấn đề lớn của thế giới”, nhưng có thể trao cho nhân loại “một tinh thần” giúp đặt các vấn đề trong chiều kích của đức ái phổ quát, công lý, tình huynh đệ, liên đới và hy vọng.

Ngài cũng có những trao đổi trực tiếp với Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter và duy trì liên hệ với giới ngoại giao quốc tế nhằm góp phần tháo gỡ xung đột Ả Rập-Israel. Trong buổi đọc Kinh Truyền Tin ngày 10/9/1978, ngài mời gọi cùng cầu nguyện cho hòa bình trong lúc các cuộc đàm phán Camp David đang diễn ra.

Những nghiên cứu và tư liệu văn khố được công bố trong những năm gần đây đã góp phần làm sáng tỏ hơn chương trình điều hành Giáo hội của Đức Gioan Phaolô I. Vì thế, sự ngắn ngủi của triều đại Giáo hoàng này không nên được xem như một khoảng gián đoạn của lịch sử, nhưng như một thời điểm giúp lịch sử “trở nên rõ nét hơn”.

Nhìn lại di sản của ngài hôm nay cũng là dịp để nhận ra những câu hỏi vẫn còn nguyên tính thời sự đối với Giáo hội: làm thế nào tiếp tục tinh thần Công đồng Vatican II, sống tinh thần phục vụ thay vì thống trị, loan báo Tin Mừng trong đối thoại với thế giới đương đại và kiên trì xây dựng hòa bình giữa một nhân loại vẫn còn nhiều chia rẽ.

Vatican News

26/08/2026

Sáng thứ Tư, ngày 26/8, Đức Thánh Cha đã có buổi tiếp kiến chung dà...

Address

Ấp 2, Xã Chợ Lách
Tỉnh Vĩnh Long

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Giáo xứ Micae Chợ Lách posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share