22/07/2026
🍂 ĐỨC TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG VỚI ĐƯỜNG LỐI NHÀ DU TĂNG KHẤT SĨ🍂
Phật giáo miền Nam Việt Nam trong những thập niên 30 – 40 thế kỷ XX đã chứng kiến một giai đoạn khởi sắc với sự hình thành và phát triển của các dòng truyền thừa, sự xuất hiện của các bậc cao Tăng đạo hạnh, chơn tu giải thoát, trong đó có nhà Du Tăng Khất Sĩ ở Việt Nam.
Dòng truyền thừa này do Đức Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng với tâm nguyện nối truyền theo chánh giáo của Đức Phật Tổ Thích-ca Mâu-ni.
Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, thế danh Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Huờn, sanh năm 1923, con của cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu và cụ bà Phạm Thị Nhàn, sinh trưởng tại tỉnh Vĩnh Long - miền Nam nước Việt. Thuở thiếu thời, bẩm thụ được nền đạo đức kính Phật trọng Nho. Đến năm 1942 Tổ xuất gia tầm đạo, chu du nhiều nơi, tham vấn rộng khắp.
Trải qua thời gian nghiên cứu và thực nghiệm, Tổ chứng đạt đạo mầu, tỏ thông con đường giải thoát. Ngài đứng ra dung hợp những phần tinh túy đặc sắc giữa hai phái Nam tông và Bắc tông Phật giáo, thực hành theo đường lối Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam.
Trên tinh thần dung hợp đó, Đức Tổ sư phát nguyện hoằng dương chánh pháp trong nước, truyền bá sang các nước lân cận cùng khắp thế giới theo nguyện lực tự giác giác tha của chư Phật.
Đức Tổ sư theo tông chỉ đó mà thực hành giáo lý Y bát chơn truyền, hiện thân Du Tăng Khất Sĩ ở miền Nam Việt Nam. Dấu chân hoằng hóa của Ngài khởi đầu tại làng Phú Mỹ - Định Tường (nay là Tiền Giang), sau đó lên Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, rồi lần lượt các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ.
Tổ sư hoằng hóa đến địa phương nào thì nơi đó đạo tràng, tịnh xá được xây dựng với bóng dáng hiền hòa của những nhà sư Khất sĩ trong chiếc y vàng của truyền thống xa xưa. Nhà Du Tăng Khất Sĩ hoằng hóa đến đâu thì nơi đó mưa Pháp xối chan, người người quy kính, thấm dần đạo lý giải thoát cao siêu, nhân sinh thêm an vui lợi lạc. Lối tu tịnh hạnh giải thoát của Tăng đoàn Khất sĩ được giới Tăng đồ và thiện hữu tri thức kính phục tán thành, quy hướng và hết lòng phụng sự, nâng cao chân tinh thần Phật giáo.
Thôi thúc bởi bổn nguyện độ sanh không bờ bến, bởi tấm lòng từ ái vô biên tế, Tổ sư tận lực hoằng hóa, không một ngày dừng bước, không một phút xao lãng. Khi thì trì bình khất thực thân giáo nêu gương, khi thì dạy đạo cho chư đệ tử Tăng Ni giải thoát, khi thì thuyết pháp khuyến tu cho bá tánh cư gia sống đời hiền thiện. Để ghi đậm nét những lời đạo đức cao quý vào tâm trí đồ chúng, Tổ sư đã tự thân viết tóm gọn lại những bài thuyết giảng rồi cho in ra ấn tống. Nhờ vậy nguồn đạo pháp khai mở, chẳng bao lâu mà bóng y vàng lan tỏa, già lam tịnh xá phủ bóng nhiều nơi.
Ngày mùng 1 tháng 2 năm Giáp Ngọ (PL. 2497 – DL. 1954), một nhóm người ngoại đạo bắt Ngài đem đi biệt tích. Vượt lên trên nỗi đau buồn, đệ tử Tăng Ni Khất sĩ khắc ghi, phụng hành những lời Ngài dạy, nghiêm trì giới luật qui điều, tinh tấn tu tập theo chí hướng đường lối mà Ngài đã khai mở. Nhờ vậy mà giáo lý Y bát Khất sĩ tiếp tục phát huy và lan tỏa nhiều nơi.
✍ HT GIÁC NHIÊN