Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh, còn được gọi là Đền Thánh, là Tổ Đình, là Tòa Thánh Trung Ương của Đạo Cao Đài, hiện nay tọa lạc tại xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành

Tòa Thánh Tây Ninh, còn được gọi là Đền Thánh, là Tổ Đình, là Tòa Thánh Trung Ương của Đạo Cao Đài, hiện nay tọa lạc tại xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, cách Thị Xã Tây Ninh khoảng 5 Km về hướng Đông Nam, thuộc Miền Nam nước Việt Nam.
Đây là một ngôi Đền đồ sộ, nguy nga, đặc sắc, để thờ phượng Đấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, các vị Giáo chủ Tam Giáo và Ngũ Chi Đại Đạo, cùng c

ác Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật. Gọi Tòa Thánh Tây Ninh là Tổ Đình, vì đây là nơi phát xuất của Đạo Cao Đài, là nơi đặt các cơ quan trung ương của Hội Thánh Cao Đài, tức Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, để điều hành toàn bộ các hoạt động truyền giáo và cứu độ nhơn sanh. Tòa Thánh được khởi công xây dựng từ năm 1931 (Tân Mùi), hoàn thành vào năm 1947 (Đinh Hợi), và được khánh thành vào dịp Đại Lễ Vía Đức Chí Tôn ngày mùng 9 tháng Giêng năm Ất Mùi (dl 1-2-1955). Tòa Thánh được cất theo kiểu vở của Thiên đình, quay mặt về hướng Tây, có kích thước theo dự tính ban đầu của Đức Giáo Tông Lý Thái Bạch là :

- Bề dài : 135 mét.
- Bề ngang : 27 mét.
- Bề cao tại Lầu chuông và Lầu trống : 36 mét.
- Bề cao tại Nghinh Phong Đài : 25 mét.
- Bề cao tại Bát Quái Đài : 30 mét. Việc chọn đất Thánh địa làm nơi xây dựng Tòa Thánh và kiểu vở xây cất Tòa Thánh đều do Đức Chí Tôn và Đức Lý Giáo Tông giáng cơ chỉ dạy tỉ mỉ.

Lưu lại kỷ niệm 100 năm ngày Khai Đạo
15/11/2024

Lưu lại kỷ niệm 100 năm ngày Khai Đạo

Hơn 50.000 tín đồ hành hương về tham dự lễ mừng 100 năm ngày Hoằng Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại Nội ô Tòa Thánh Tây Ni...
15/11/2024

Hơn 50.000 tín đồ hành hương về tham dự lễ mừng 100 năm ngày Hoằng Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại Nội ô Tòa Thánh Tây Ninh, chiều ngày 14.10 Giáp Thìn (dl: 14/11/2024).

Tất cả dòng người tham dự đồng thanh hô to: 💥"NƯỚC VINH ĐẠO SÁNG" ☀️ "ĐẠO CAO ĐÀI TRƯỜNG CỬU"☀️

Lưu lại Đại Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung năm 2024, niên đạo 99.
20/09/2024

Lưu lại Đại Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung năm 2024, niên đạo 99.

HỘ PHÁP TRONG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ1/ Thuyết Đạo của Đức HỘ PHÁP đêm Rằm tháng hai năm Kỷ Sửu 1949.“…Có bốn Nguyên linh ...
21/02/2017

HỘ PHÁP TRONG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

1/ Thuyết Đạo của Đức HỘ PHÁP đêm Rằm tháng hai năm Kỷ Sửu 1949.
“…Có bốn Nguyên linh yếu trọng đã giúp Đức Chí Tôn khi Ngài đã đoạt định thành hình.
Mỗi cái Chơn Linh giúp Đức Chí Tôn và Phật Mẫu tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ hửu hình này.
Đứng đầu hơn hết là khối Thái Cực nổ đùng, tiếng ‘Đùng’đầu tiên là Đức Thái Thượng Lão Quân đó vậy.
Khi Thái Thượng đã nguội vật thì xuất hiện Đấng thứ nhì là Đức Thái Thượng Nguyên Thủy, tức nhiên là nước đó vậy.
Khi tượng hình thì có Khí Sanh Quang bao trùm Càn Khôn Vũ Trụ đặng biến sanh vạn vật là Hộ Pháp đó vậy.
Khi đất nguội thì trái địa cầu nãy sinh ra đất là Thông Thiên Giáo Chủ đó vậy…”

2/ Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp đêm mùng Một tháng Giêng năm Mậu Tý 1948 tại Đền Thánh.
“…Trong thi hài của Phạm Công Tắc còn có một vị làm chủ nó nữa là Hộ Pháp.
Quyền của Hộ Pháp mạnh mẻ hơn quyền của Phạm Công Tắc.
Phạm Công Tắc là con ngựa cưởi mà thôi, còn Hộ Pháp là người cưởi. Nên con ngựa không thể không tuân mạng lịnh của chủ nó được.
Hộ Pháp có một phần mà Phạm Công Tắc có một phần.
Phạm Công Tắc là tôi, còn Hộ Pháp là quyền năng của Chí Tôn…”

3/ Thánh Giáo Đức Chí Tôn dạy sắp cuộc Thiên Phong và hành pháp Hộ Pháp giáng linh, ngày 11,12-3-Bính Dần 1926, tại nhà Ông Lê Văn Trung- Chợ lớn.
“…Con lại để thêm một cái bàn giữa bên cửa sổ, đằng trước ngó vô.
Cư, nghe dặn: Con biểu Tắc tắm rửa sạch sẻ (xông hương cho nó). Biểu nó lựa một bộ quần áo tây cho sạch sẻ, ăn mặc như thường, đội nón…cười…
Đáng lẻ nó phải sắm khôi, giáp như hát bội, mà mắc nó nghèo, Thầy không biểu.
Bắt nó lên đứng trên, ngó mặt vô ngôi Giáo Tông, lấy chín tấc vải điều đắp mặt nó lại.
Lich, con viết một lá phù( Giáng Ma Xử) đưa cho nó cầm.
Các con, phải cho thanh tịnh kể từ ngày nay, diệt tận phàm tâm, chớ nhơ một điểm, thì ngày ấy thề mới đặng.

Cả thảy môn đệ phân làm ba ban, đều quì xuống.
Biểu Tắc leo lên bàn.
Con (CƯ) chấp bút bằng nhang, đến bàn Ngũ Lôi đặng Thầy triệu nó đến, rồi mới tới trước mặt Tắc, đặng Thầy trục xuất Chơn Thần nó ra, nhớ biểu Hậu, Đức xông hương tay của chúng nó, như em có giựt mình té thì đỡ…” (TNHT QI).

4/Thánh Giáo Đức Lý Đại Tiên dạy lập bàn thờ HỘ PHÁP
Thái Bạch
Hỉ chư Đạo hửu, chư Đạo muội, chư Nhu, chư Thiện Nam Tín Nữ!
Thánh Thất đã an, chư hiền hửu phải chỉnh nghi cho tinh tấn.
Thầy dạy Thượng Trung Nhựt hiền hửu lo sắp đặt cho ra nghi tiết; thì sắp đặt sau lưng bàn Hộ Pháp phải để một miếng nĩ dài một thước rưỡi, cao ba thước, thêu chử bùa Lão vẻ đây (chử Khí).
Làm một cái bàn ba nấc, giữa cao hai bên bằng cho Thượng Phẩm và Thượng Sanh đứng”…
(Thánh Giáo ngày 9-11-Bính Dần 1926-trích trong Đạo Sử Hương Hiếu).

5/Quyền Năng của Hộ Pháp được các Đấng tiết lộ qua đôi liễng;
HỘ CHẤP THIÊN CƠ QUẢN SUẤT CÀN KHÔN AN THẾ GIỚI
PHÁP QUYỀN XỬ ĐỊNH HÒA BÌNH THIÊN HẠ TỔNG HOÀN CẦU.
tạm dịch:
Nắm giử máy Trời coi sóc Càn khôn yên bốn bể.
Trọn quyền định vị điều hòa vạn vật khắp năm châu.

6/ Đức Lý Đại Tiên giáng cơ cho biết nguyên căn và phận sự của Hộ Pháp
HỘ giá Chí Tôn trước đến giờ,
PHÁP luân thường chuyển máy thiên thơ.
CHƯỞNG quyền Cực lạc phân ngôi vị,
QUẢN suất Càn Khôn định cỏi bờ.
NHỊ kiếp Tây Âu cầm máy tạo,
HỬU duyên Đông Á nắm Thiên thơ.
HÌNH hài Thánh thể chừ nên tướng,
ĐÀI trọng hồng ân gắng cậy nhờ.”

7/PHẬN SỰ CỦA HỘ PHÁP
“… Hộ Pháp đến kỳ Long Hoa Hội này, cốt để rước Cửu Nhị ức Nguyên nhân là bạn chí thiết của Người, đã bị đọa lạc nơi hồng trần này không phương giải thoát.
Muốn rước các bạn chí thân của Bần Đạo, Đức Chí Tôn buộc phải lấy Pháp giới tận độ chúng sanh…” ( ĐHP TĐ đêm rằm tháng chạp năm Canh Dần 1950).

8/ HỘ PHÁP định ngôi vị Thiêng Liêng cho cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.
“…Hộ Pháp đến cốt yếu đem Bát phẩm chơn hồn thăng vị; hoặc nhiều hoặc ít. Có thể một đẳng cấp từ Vật Chất, Hộ Pháp đem lên Thảo Mộc, Thảo Mộc đem lên Thú cầm, Thú cầm đem lên Nhơn loại, dĩ chí Phật vị.
Hộ Pháp có thể chỉ định cho họ đặng.
Bởi trong quyền ấy Đức Chí Tôn nói; trọng quyền thì trọng phạt.
Quyền hành nắm chẳng phải nơi mặt thế gian này mà thôi. Hộ Pháp và Thập Nhị Thời quân không phải quyền tại thế gian này, quyền nơi cửa Đạo Cao Đài này, cũng không phải tại đây nữa. Bần Đạo nói đây là quyền Đạo Cao Đài cả Thiêng Liêng Hằng Sống…”
(ĐHP TĐ đêm mùng 1 tháng 9 năm Kỷ Sửu 1949)

9/ HỘ PHÁP hằng ngự nơi ta
“…Ở trên Thượng Nê Hườn thì có Hộ Pháp bắt Ấn giữ cả Ngươn Linh chúng ta cho vững chắc…”
( ĐHP TĐ ngày 12-2-Kỷ Sửu 1949)

10/ Giữ vững niềm tin vì THẦY luôn bên cạnh chúng ta
“Dầu thể xác của Qua là con kỵ vật của Hộ Pháp có thay đổi thế nào, Hộ Pháp vẫn là Hộ Pháp”
( ĐHP TĐ ngày 6-8-Tân Mão 1951)

11/ “ Cửu Nhị Ức Nguyên nhân phần nhiều còn lẫn lộn trong hàng tín đồ”
( ĐHP TĐ ngày 30-5-Quý Tỵ 1953).

12/ “Hội Thánh là gì?
Là Thánh thể của Đức Chí Tôn, tức nhiên là xác thịt của Ngài tại thế”
( ĐHP TĐ ngày 28-6-Mậu Tý 1948).

13/ “Dầu cho còn một mặt tín đồ thì Hội Thánh cũng giữ quyền Hội Thánh”
(Diễn Văn ĐHP in sau quyển TL- PCT in năm 1972).

14/ Thánh Giáo Đức CHÍ TÔN dạy rõ vai trò trọng yếu của HỘ PHÁP trong việc luyện Đạo
“ Thầy nói cái CHƠN THẦN là NHỊ XAC THÂN các con, là KHÍ chất, NÓ bao bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy, nơi trung tim của NÓ là óc, nơi cửa xuất nhập của NÓ là MỎ ÁC, gọi tiếng chử là VI HỘ, nơi ấy HỘ PHÁP hằng đứng mà gìn giử CHƠN LINH các con.
Khi luyện thành Đạo đặng hiệp một với KHÍ, rồi mới đưa thấu đến CHƠN THẦN, hiệp một mà siêu phàm nhập Thánh”
(TNHT-QII_ Ngày 18-1-1927 bài “BẤT ẨM TỬU”)

15/ HỘ PHÁP lập vị cho Đức DI LẠC.
“ Từ thử đến giờ, Bần Đạo chưa hề biết nói đến sứ mạng Thiêng Liêng của Bần Đạo.
Là vì Đức Chí Tôn không đi nên mới có Hộ Pháp của Ngài đến.
Hộ Pháp của Ngài đến cốt yếu thay thế cho Ngài đặng lập vị cho Đức Di Lặc Vương Phật mở Hội Long Hoa.
Tức nhiên sứ mạng của Hộ Pháp là cầm cân Công Bình Thiêng Liêng của Đức Chí Tôn giao phó. Nắm cả tâm lý tinh thần nơi mặt địa cầu này đặng hòa giải hầu sửa đương tâm đức tinh thần của nhơn loại, tức nhiên là Ngài đến trước khi mở hội Long Hoa, tạo Tiên, Phật tâm đức từ trong cửa Thánh của họ đặng họ từ từ bước đến phẩm vị của họ tại mặt thế này.
Ngày giờ nào nhơn sanh đã tiến bước, Bần Đạo chỉ nói một người ma thôi, đoạt được Phật vị thì ngày ấy Hội Long Hoa mới mở, mà Hội Long Hoa chưa mở thì Đức Di Lặc Vương Phật chưa có đến, nghe cho rõ rồi nhớ!...”
(ĐHP TĐ ngày 30-8-Nhâm Thìn 1952)

Thanh Hoang st
5-6 Bính Thân 2016

29/06/2016

MƯỜI MÓN BỬU PHÁP LINH THIÊNG
EM NÀO LÀM ĐƯỢC THÁNH HIỀN CHẲNG SAI .

1. Điều thứ nhất tuân y luật pháp
Đúng chơn truyền của ĐỨC CHÍ TÔN
Mặc ai bày vẽ thiệt hơn
Đạo tâm nhất dạ chẳng sờn lòng son .

2. Điều thứ hai tông đường trọn hiếu
Phụ Mẫu ân trọn đạo làm con
Vợ chồng trọn nghĩa keo son
Phận làm cha mẹ trọn tình cùng con.

3.Điều thứ ba giữ trò trai giới
Dùng tương rau dưa muối hằng ngày
Sớm chiều thanh đạm trường chay
Nhẹ nhàng thân xác chẳng hoài công ta.

4. Điều thứ tư tránh xa đảng phái
Không nao lòng đường phải cứ đi
không nghe xúi giục lôi trì
Đức tin mạnh mẽ TAM KỲ độ sanh.

5. Điều thứ năm thực hành Phước Thiện
Giúp đỡ người đau yếu thế cô
Giúp người tàn tật già nua
Dưỡng nuôi trẻ nhỏ cút côi não nùng

6. Điều thứ sáu: dặn lòng hằng bữa
Chẳng đặng đâu tiền của chúng sanh
Thanh liêm trong sạch trong lành
NGÔN, CÔNG, ĐỨC, HẠNH tập tành cho siêu

7. Điều thứ bảy: thương yêu đồng loại
Như anh em thân ái một nhà
Như cùng một mẹ một cha
Đỡ nâng dìu dắt thuận hòa dưới trên

8. Điều thứ tám: chẳng nên phản bạn
Lòng trung kiên chẳng đặng bội sư
Công bình bác ái nhơn từ
Trung Thầy nghĩa bạn tâm tư sáng lòa

9. Điều thứ chín: hiền hòa chơn thật
Đừng vong công bội đức lộng quyền
Ở như các Đấng Thánh Hiền
Thực hành chử Nhẫn lưu truyền noi gương.

10. Điều thứ mười : yêu thương mạng sống
Trọng mạng người trọng mạng thú cầm
Kính trọng sinh mạng nguyên căn
Vừa theo Thánh Chất Đạo Hằng CHÍ TÔN

(Đức Hộ Pháp - 1946)

27/02/2015

Ý NGHĨA NGÀY LỄ VÍA MÙNG 9 THÁNG 01
(trích Luận Đạo - NLT)

Khởi đầu từ chỗ không, không là con số zero (0).
Bắt đầu cái có là con số một (1).
Biến hóa tăng lên hoài đến số chót là số 9.
+ Số học chỉ có từ 0 đến 9, muốn thêm nữa phải ghép lại.
+ Theo thần học Đông Phương từ số một đến số chín còn tương ứng với các ngôi thứ như sau:
1- Thái cực chỉ về nguyên lý cùng tột của tạo hóa.
2- Lưỡng nghi là âm, dương ; trời và đất.
3- Tam tài : ba ngôi trời, đất và người.
4- Tứ tượng : bốn thứ khí tượng : thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm. Gọi chung là nhựt, nguyệt, tinh, thần.
5- Ngũ hành : năm chất ( Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ ).
6- Lục hợp : sáu cái hợp thành ( trời, đất, đông, tây, nam, bắc ).
7- Thất tinh : chòm sao Đại hùng (chòm sao Bắc đẩu).
8- Bát quái : tám quả (càn, khảm, cấn, chấn, tồn, ly, khôn, đoài).
9- Cửu thiên khai hóa - cửu thiên : chín phương trời (trung ương + tứ phương : đông , tây, nam, bắc + tứ ngung = bốn gốc) . Có thể hiểu là Thượng Đế đã mở mang khai hóa xong chín phương trời.
(Các giải thích trên căn cứ vào "Hán Việt Từ Điển" của Nguyễn văn Khôn - Nhà sách xuất bản năm 1969).
Số 0 tượng trưng Vô Cực, là Hư Vô chi khí.
Số 1 tượng trưng Thái cực là ngôi của Đức Chí Tôn. Vô cực sanh Thái cực. Thái cực biến ra Lưỡng nghi.
Số 2 tượng trưng Lưỡng nghi (Âm Dương), số 3 là số trung gian để qua số 4 tạo ra Tứ Tượng, số 5 tượng trưng Ngũ hành, số 6 và 7 làm trung gian để đến số 8 tạo ra Bát quái, đến số 9 thì Bát quái tạo thành CKVT và vạn vật.
Theo Dịch lý thì Số 9 do ba số dương cộng lại: 9 = 1 + 3 + 5.
Do đó, số 9 là số thành của các số dương nên được gọi là: Thuần dương, Lão dương hay Thái dương.
Đức Chí Tôn là chủ của Dương quang, nên chọn hai số làm ngày và tháng Vía của Đức Chí Tôn phải là phải chọn những con số dương.
Đức Chí Tôn, ngôi là Thái cực nên khởi đầu bằng số 1 nên chọn số 1 làm tháng (chọn tháng trước ngày sau), đến số 9 là số thành hình CKVT nên chọn số 9 làm ngày.
Do đó, ngày Vía Đức Chí Tôn được chọn là ngày mùng 9 tháng 1 để bày tỏ cho biết quan niệm về vũ trụ: cái khởi đầu và cái sau cùng hình thành CKVT và vạn vật, hoàn toàn do quyền năng của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Tóm lại: Ngày Vía Đức Chí Tôn không phải là ngày giáng sanh, mà chỉ là ngày do nhơn loại chọn ra để tượng trưng Đức Chí Tôn và sự hình thành CKVT vạn vật của Đức Chí Tôn. (trích Cao Đài Từ điển – HT NVH)

...BÍ PHÁP LUYỆN ĐẠO....Hộ Pháp hành pháp mỗi khi cúng đànHôm nay Bần Ðạo chẳng phải thuyết đạo, Bần Ðạo chỉ nói chuyện ...
02/04/2014

...BÍ PHÁP LUYỆN ĐẠO....
Hộ Pháp hành pháp mỗi khi cúng đàn

Hôm nay Bần Ðạo chẳng phải thuyết đạo, Bần Ðạo chỉ nói chuyện mà thôi. Nói chuyện Hộ Pháp, mỗi phen vô cúng đàn làm việc chi, theo như lời Bần Ðạo đã hứa.
Bần Ðạo nói đây để cả thảy được biết điều ấy trọng hệ như thế nào, đặng giữ gìn và giúp Bần Ðạo mỗi phen Hành Pháp được dễ dàng một chút. Bần Ðạo nói hôm nay, để đêm mai có nhiều thì giờ giảng những điều thiết yếu hơn, trọng hệ hơn.

Mỗi phen nhập đàn, hễ trống chuông rồi, thì tất cả đi vô, cả thảy đi vô thong thả, chỉ có Bần Ðạo thật bối rối, bước lên ngai rồi, trụ Pháp lại, vẽ bùa niệm chú.

Câu chú mà khi thượng sớ, chúng ta thường nghe đọc :
'TAM CHÂU BÁT BỘ HỘ PHÁP THIÊN TÔN.'

Thật sự thì như vầy :
'TAM THIÊN THẾ GIÁI HỘ PHÁP GIÁNG LÂM.'
Từ trước đến giờ, các bậc tiền bối của chúng ta đã để như nói trên nên không thể sửa cải được, phải để y như vậy.

Khi bái đàn rồi cả thảy quì tụng kinh, còn Bần Ðạo tịnh niệm, mỗi câu kinh mấy em đọc vẫn dễ, vì thuộc mà đọc thôi, riêng Bần Ðạo mỗi câu kinh phải mật niệm, tụ hết cả nghĩa lý của nó dâng lên Chí Tôn và các Ðấng Thiêng Liêng.

Rồi còn điều nầy rắc rối hơn hết, hễ khi nào cả thảy tụng kinh rồi bài kinh Chí Tôn hoặc kinh Tam Giáo, khi Bần Ðạo thấy nín hết, buổi đó đem hết tinh thần trụ lại, dâng lời mặc niệm ấy vào Bát Quái Ðài. Ðến khi tất cả niệm ngũ nguyện cũng vậy, Bần Ðạo định tâm, dồn cả đức tin biến thành một huệ quang chiếu diệu đem vào Bát Quái Ðài, rồi đợi cho Bát Quái Ðài trả lời, khi ấy ở trong đó ánh sáng tủa ra, Bần Ðạo cúi đầu niệm thế cho cả thảy.

Còn dâng Tam Bửu, Bần Ðạo hiểu cả nghĩa lý của nó, đang khi dâng bông, cả thảy hình thể con cái của Chí Tôn tức là Thánh Thể của Ngài, trụ hết xác Thánh đó dâng cho Ngài, đặng Ngài làm phương cứu thế. Ðó là dâng bông.

Tới dâng rượu, cả thảy khi dứt kinh, nín lặng hết, Bần Ðạo vận dụng cả trí não tinh thần, đem đức tin của cả thảy dâng vào Bát Quái Ðài.
Tới dâng trà, là dâng cả linh hồn cho Chí Tôn. Bần Ðạo để cả tinh thần trụ lại, đem linh hồn của con cái Chí Tôn dâng cho Ngài.

Khi các người cầu nguyện, buổi cầu nguyện biết vậy thì nguyện như vậy thôi, còn Bần Ðạo phải trụ hết tinh thần định trở lại, đem cả những lời cầu nguyện ấy dâng cho Chí Tôn và các Ðấng Thiêng Liêng.

Khi Chí Tôn truyền cho Pháp ấy, Bần Ðạo nghĩ rằng : Ðó là chiếu theo cổ pháp của nhà Phật buổi trước, nhứt là Thiền Môn mỗi khi làm chay, thí của, cầu siêu hay tuần tự chi đều rước một vị Hòa Thượng trụ trì đến. Không gì khác hơn là bí pháp của Chí Tôn trụ thần, Bần Ðạo dám chắc rằng không ai biết, họ tụng kinh như hát mà thôi, không ai để hết tinh thần vào câu kinh, nên mấy thầy chùa gõ mõ tụng kinh có ăn thua gì, trọng hệ là vị Hòa Thượng trụ trì ngồi hành pháp, nhưng không hiểu họ có biết mà làm y theo đó hay không ? Cái trọng hệ ấy nếu ai làm cho y, thì là trúng với bí pháp. Tiểu đàn thì vậy.

Còn Ðại Ðàn, lại còn rối cho Hộ Pháp hơn nữa, là có ba ấn : Thượng Nguơn, Trung Nguơn, Hạ Nguơn, ấn ấy có phải do tay Hộ Pháp không ?

19/01/2014

Tiếp nối câu chuyện trong ĐẠO
Từ trước đến nay có nhiều câu chuyện kể lại việc Đức Hộ Pháp truyền thần giải bịnh hay hành pháp giải oan cho rất nhiều người. Sau đây là một câu chuyện do Nhạc Sư Trần Thiện Niệm kể lại khi Đức Hộ Pháp hành pháp trị cho một nhạc viên bị bịnh “Âm”. Chuyện được kể như sau: Hồi còn ở Nam Vang, lúc ông Niệm còn là Đốc Nhạc, Cai quản ban nhạc nơi Miên Quốc. Trong ban nhạc của ông có một nhân viên không biết bịnh gì mà đột nhiên xanh xao, nhợt nhạt,rồi ốm lần coi tiều tụy lắm. Anh em lo đủ thuốc thang Đông Tây mà không thuyên giảm, ngày lại càng kiệt sức hơn. Bác sĩ coi mạch cũng phải lắc đầu, không chẩn đoán ra được bịnh.

Thấy nhơn viên trầm trọng chừng như muốn hấp hối, ông Tư Niệm trình bày lên Đức Hộ Pháp.

Đức Hộ Pháp nghe vậy, liền xuống ban nhạc để thăm vị nhân viên ấy.

Vừa vào tới nơi, Đức Hộ Pháp nói liền: Rồi! Nữa rồi!

Mọi người nghe vậy, không biết Ngài nói vậy là ý gì?

Đức Ngài hỏi: Nó đâu?

Ông Tư Niệm chỉ cái giường nằm cách ngăn giữa nhà trên và nhà dưới, nói: Thưa Thầy, em nó nằm đây.

Đức Ngài nhìn người ấy. Anh em đỡ vị nhạc viên ấy dậy.

Đức Hộ Pháp nói: Thôi để nó nằm êm đi. Mấy con đem nó lên Báo Ân Đường cho Qua trị bịnh.

Vị nhạc viên ấy được Đức Ngài hành pháp giải bịnh tại Báo Ân Đường.

Từ lúc đó trở đi, vị nhân viên từ từ phục nguyên khí sắc, thần sắc.

Sau đó ba ngày, vị nhạc ấy mạnh khỏe như thường. Anh em Ban nhạc và vị ấy cùng dẫn nhau đến Báo Ân Đường lạy tạ ơn.

Đức Hộ Pháp hỏi: Có còn thấy gì nữa không?

Vị nhạc ấy trả lời: Dạ, không còn thấy gì nữa.

Ngài cười rồi bảo ông Tư, ngày mai mời hết anh em ban nhạc đầy đủ tại văn phòng để Đức ngài dạy việc.

Ngày sau, Đức Hộ Pháp đến văn phòng ban nhạc, anh em ban nhạc đã đầy đủ chờ Ngài.

Đức Hộ Pháp hỏi: Qua hỏi thiệt mấy em, chớ tại sao mấy em treo bức ảnh cô gái [1] nầy tại văn phòng (vừa nói Ngài vừa dùng tay chỉ bức tranh có hình cô minh tinh màn bạc nổi tiếng của Miên Quốc). Các em có thường hay nói giỡn, nói đùa với bức ảnh đó hay không?

Mọi người nhìn nhau, rồi nhớ lại.

Vị nhạc viên bị bịnh nói: Thưa Thầy, hôm anh em tụ họp tại văn phòng cũng đông người, ai cũng khen tranh ấy đẹp, trầm trồ ca ngợi, thích thú. Con có nói đùa rằng: “Phải chi mà nàng ấy nhận làm vợ mình thì mình chịu liền”.

Đức Hộ Pháp nói: Cũng bởi câu nói ấy mà mỗi đêm con ngủ với nàng ấy phải hôn? Cả ban nhạc đều nhìn vị nhạc ấy cười.

Đức Hộ Pháp rầy: Qua nói cho mà biết, đừng có nói chơi. Người ta là người vô hình, nói là phải nhận không sai chạy. Người con gái trong tranh là điển hình đó.

Thôi cho giải tấm tranh ấy đốt đi, Qua chứng cho. Đừng có thấy đẹp mà tiếc, không nên đâu.

Anh em đem bức tranh xuống đốt liền.

02/12/2013

THẬP HÌNH CỦA ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG
(1930)
Ngay sau khi ban hành sáu Đạo Nghị Định, Đức Lý Giáo Tông đã giáng lịnh ban hành bản Thập hình như sau :
PHẠM PHÁP
(tức là Pháp Chánh Truyền và Đạo Nghị Định)

Đệ nhứt hình : Trục xuất :
1/- Không tuân PCT và ĐNĐ
2/- Phản loạn Chơn truyền.
3/- Chia phe phái va lập tả đạo bàng môn.

Đệ nhị hình : Giáng cấp tới tín đồ, hay buộc hành đạo ngoại quốc :
1/- Thuyên bổ không đi.
2/- Không tròn phế đời hành đạo.
3/- Bỏ bê phận sự.

Đệ tam hình : Giáng cấp từ đương quyền xuống tới 2 hay 1 cấp :
1/- Làm nhơ danh đạo.
2/- Mượn danh đạo tạo danh đời.
3/- Lợi dụng danh đạo làm điều bất chánh.

Đệ tứ hình : ngưng quyền từ 3 tới 5 năm :
1/- Lấn quyền, giành quyền.
2/- Phạm thượng
3/- Tự chuyên sửa cải chơn truyền.

Đệ ngũ hình : Ngưng quyền từ 1 tới 3 năm vào tịnh thất :
1/- Mê hoặc chúng sinh
2/- Cám dỗ.

PHẠM LUẬT
(tức là Tân Luật và Luật Hội Thánh)
Đệ nhứt hình : Trục xuất :
những ai:
1/- Không tuân TL và luật HT
2/- Công kích Hội Thánh.
3/- Nghịch mạng.

Đệ nhị hình : Giáng cấp tới tín đồ
những ai:
1/- Tư thông
2/- Dấy loạn chúng sanh

Đệ tam hình : Giáng cấp 2 hay 1 cấp :
những ai:
1/- Tham lam tài chánh
2/- Giả mạo văn tự

Đệ tứ hình : Ngưng quyền từ 3 tới 5 năm :
những ai:
1/- Khi thị Hội Thánh
2/- Lập quyền riêng.

Đệ ngũ hình : Ngưng quyền từ 1 tới 3 năm :
những ai:
1/- Phạm ngũ giới cấm

Đệ lục hình : Phạt vào tịnh thất từ 1 tháng tới 1 năm và hành chánh như thường :
những ai:
1/- Cương ngạnh

Đệ thất hình : Tuyên bổ đi nơi khác :
những ai:
1/- Phạm tứ đại điều qui

Đệ bát hình : Phải về Tòa Thánh đặng gần Giáo Tông và Hộ Pháp cầu học đạo :
những ai:
1/- Bê trễ phận sự
2/- Biếng nhác

Đệ cửu hình : Phải ăn năn sám hối, thọ tội cùng chúng sinh :
những ai:
1/- Ganh ghét
2/- Hung bạo
3/- Xu phụ
4/- Đố kỵ

Đệ thập hình : Phải hầu kẻ đức hạnh của Hội Thánh đặng cầu học đạo :
những ai:
1/- Phạm Thế Luật
2/- Bị luật đời trừng trị.

25/08/2013

xin gởi đến quý HTĐM tận tường sự thật về những điều bịa đặt không chính xác của những bài viết trên báo XLPL vừa qua
GIẢI TRÌNH NHỮNG VIỆC ĐĂNG TRÊN BÁO XA LỘ PHÁP LUẬT

Kính thưa quý anh chị em đồng đạo, đáng lý ra tôi không nói để làm gì những việc đã qua nhưng vì báo đã đăng vừa qua, có người đến hỏi tôi việc đó có hay không? Tôi xin trả lời:
Việc này tôi đã biết từ lâu vì tôi được tiếp nhận thông tin từ các cô bác lớn tuổi trong Phạm Môn kể lại, trong thời nào cũng có kẻ mãi quốc cầu vinh, trong tổ chức nào cũng có người tâm phúc và phản phúc. Có một số người được theo đạo làm công quả nhưng do sự cài đặt của quan chức bên ngoài nên họ chỉ là người theo dõi việc làm của ĐHP chứ không phải tu hành chi hết, tôi xin giải trình những khoản cần thiết để nói lên sau đây:
1- Nói về quân đội Cao Đài:
Quân đội Cao Đài không phải do ĐHP thành lập, mà do ông Trần Quang Vinh thành lập khi ĐHP vắng mặt ở Tòa Thánh. Chủ yếu của ông Trần Quang Vinh là muốn bảo vệ Đạo theo kiểu hợp tác quân sự bên ngoài gọi là nắng bề nào che bề nấy, khi ĐHP trở về Tòa thánh đáng lẻ ĐHP giải tán quân đội vì Ngài không hài lòng nhưng Ngài không cho giải tán cũng có lý do, Ngài đã biết trước thủ đoạn của Ngô Đình Diệm không để tính mạng của Ngài tồn sinh nên Ngài giữ quân đội lại để mượn cớ lánh nạn sang Nam Vang.(mời anh em xem khoản nói về ông Trung tướng Nguyễn Thành Phương)
2- Nói về 2 cô đồng nhi Trương Kim Hóa và Nguyễn Thị Lạc,
Cô 9 Hóa là 1 người bệnh tâm thần, người nhà trị không hết mới đem đến nhờ ĐHP làm phép giải oan cho cô ấy, sau khi cô 9 Hóa hết bệnh và xin đi đồng nhi; còn cô 5 Lạc là 1 người phụ nữ chơn chất thật thà ai nói sao nghe vậy nên cô bị những người phản phúc ĐHP gạt; những người phản phúc nói rằng: “chúng tôi có tổ chức một cuộc nói chuyện với ĐHP nhờ 2 cô đến hầu ĐHP để chúng tôi trình bày”, khi 2 cô đến Hộ Pháp đường tưởng ĐHP đồng ý với những số người này nên 2 cô bước gần ĐHP đứng khoanh tay, khi nghe họ đọc án trạng nói xấu ĐHP thì 2 cô ngỡ ngàng và tức lên lúc này mới biết mình đã bị lừa nên 2 cô khóc, cô 9 Hóa bị loạn tâm thần trở lại cho đến khi chết, lúc nào cô cũng đi vất vưỡng ngoài đường miệng luôn nói: “ai đụng đến Thầy tao, tao không tha thứ đứa đó”; còn cô 5 Lạc thì cạo đầu vô sở Sơn Đình trong núi Bà ở rồi ngả 1 trận đau, anh em trong sở nuôi cô, cô nói với anh em rằng: “tôi không còn mặt mũi nào gặp Thầy vì tôi bị kẻ phản phúc gạt tôi để làm nhục Thầy, chắc tôi tự vận tôi chết quá!” Anh em trong sở về thưa lại với ĐHP, Ngài mới dạy rằng: “các con an ủi và bảo bọc nó, nó không có tội chi với Thầy, xem như đây là đại nạn của Thầy với những kẻ phản phúc, mình phải tận độ với những đứa thật tình và ngoan đạo đừng bỏ nó nghe các con.”
3- Nói về ông Trung Tướng Nguyễn Thành Phương:
Bác Phương mất vào lúc 14g30 chiều ngày 26/03/Đinh Mão (23/4/1987 DL), lễ tang của Bác do Ban Bộ nhạc - lễ - đồng nhi của thánh thất Chợ Lớn thực hiện, trước ngày Bác Phương mất, trong thời gian cầu giải bệnh, Bác tâm sự hết những việc làm của Bác đối với ĐHP cho Bác Ba họa đồ nghe vì Bác Ba họa đồ hiện thời điểm đó là tạm cai quản TT Chợ Lớn (Lễ Sanh Ngọc Ba Thanh),
Bác Phương nói: “tôi biết nguyện vọng của tôi anh sẽ làm được để sau con cháu của tôi còn tiếp nối trên con đường Đạo tu hành. Anh Ba! chắc anh cũng hiểu những gì tôi muốn nói, hôm nay tôi kể lại cho anh nghe lần cuối cùng của cuộc đời tôi; Chiều ngày 20/8/Bính Thân (24/9/1956) tôi được lịnh của Ngô Đình Diệm về bắt Thầy trong khẩn cấp, trước đó tôi đã khóc với Thầy và trình bày mọi sự việc, Thầy hỏi tôi: ‘con có quý công danh sự nghiệp và mạng sống của con không?’, tôi trả lời rằng: ‘công danh, sự nghiệp của con do Thầy tạo, mạng sống của con do Thầy bảo bọc, Thầy bảo sao con làm vậy nhưng con không thể phản Thầy để làm theo ý của Ngô Đình Diệm được’, Thầy nói rằng: ‘vậy con nỡ bỏ Thầy sao Phương?’ - tôi ngỡ ngàng nhìn Thầy. Thầy kề tai tôi nói nhỏ: ‘nếu con không vì mạng sống của con thì Thầy cho phép con phản Thầy; vì con phản Thầy, Thầy mới có cách đi ra khỏi nơi đây để lên Nam Vang lánh nạn, nếu con không phản Thầy, Thầy không có cách nào để lên Nam Vang được, không phải Thầy sợ chết mà Thầy muốn cho Đạo không bị mang tiếng do sự sát thủ của tay Ngô Đình Diệm đối với Thầy’.
Tôi tức tốc trở về SG nhận lịnh đi bắt Thầy. Khi tôi nhận lịnh đi bắt Thầy, Ngô Đình Diệm nhìn tôi với dáng vẻ nghi ngờ và cấp cho tôi một số quân lính và thêm 1 người phụ chỉ huy nhưng cũng nhờ sự nghi ngờ đó mà tôi có dịp may để làm tròn trách nhiệm đối với Thầy. Khi tôi về Hộ Pháp đường, tôi bao vây và đặt mìn rất nhiệt tình cho tên phụ chỉ huy của Ngô Đình Diệm thấy; sau đó vào 3 giờ chiều ngày 24/8/Bính Thân tôi cho người đến nhà xe quân đội gỡ bản số xe mượn cớ là đi làm lại, rồi mang về gắn vào xe của tôi; vì ban đêm đi xe quân đội lính mới không xét, còn nếu đi bằng chiếc xe riêng của tôi sẽ bị lính xét, nếu lấy xe quân đội đi sẽ bị vỡ kế hoạch, nên tôi làm như vậy là chở Thầy đi bằng xe riêng của tôi mà mang bản số của quân đội thì mới an toàn khi qua các chốt gác. Vào lúc 12 giờ khuya lợi dụng mọi người đến Đền Thánh cúng thời tý để cầu nguyện cho Thầy được tai qua nạn khỏi, lúc này số người đi cúng rất đông và lộn xộn lắm nhân cơ hội này tôi mới lấy bộ đồ quân phục cho Thầy mặc, còn đồ đạc của Thầy đã chuẩn bị sẵn trong balô bắt đầu Thầy ra vào tự do, nhờ lính của Ngô Đình Diệm không biết mặt Thầy, còn người gác cửa tôi đã có sắp xếp, Thầy đi ra khỏi Hộ Pháp đường và đi đến cửa số 7 nội ô tòa thánh, xe tôi đã bố trí sẵn sàng ở đó, trong chuyến đi có ngài Hồ Bảo Đạo hộ tống, ông thầy giáo Văn xin chui vào cabin để được đi chung nhưng Thầy không cho buộc thầy giáo Văn phải trở lại.
Trước khi đó Thầy có đánh dây thép qua cho vua cha của thái tử Sihanouk để báo rõ sự tình và xin tạm nghỉ nơi Nam Vang để lánh nạn.
Khi tôi đưa Thầy đến cửa khẩu Mộc Bài, lính gác cửa khẩu mở cửa và có xe trực tiếp đón Thầy đi Nam Vang, khi lên xe Thầy thay đồ trả lại bộ quân phục cho tôi. Khi tôi trở về cất xe và đến Hộ Pháp đường là 5 giờ sáng tôi ra lịnh tất cả quân lính tràn vào Hộ Pháp đường bắt ĐHP, khi đến nơi không thấy ĐHP đâu cả bèn cho lính lục xét nhưng vẫn không thấy, cùng với sự chứng kiến của tên phụ chỉ huy mà tôi được an toàn rút quân trở về SG để báo lại với Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Diệm không nói gì để làm phiền tôi mà lại cho người chích cho tôi một mũi thuốc, tôi không biết là loại thuốc gì, khi trên đường về tôi bị giựt người đôi ba lần rồi bất động nữa thân người, chính vì mũi thuốc đó đã hành hạ tôi mấy chục năm nay. Ngày giờ này tôi không còn đủ khả năng để chịu đựng nỗi nữa vậy tôi xin anh thương tôi, lo cho tôi lễ tang được đăng điện cúng tế cầu siêu để cho con của tôi thấy sự đối đãi của Đạo đối với tôi mà tụi nó không bỏ Đạo mà ráng lo tu hành lập công bồi đức - đó là nguyện vọng của tôi cuối đời”. (đây là lời kể của Bác Phương cho bác Ba họa đồ nghe trước khi mất, tôi được may duyên chở Bác Ba họa đồ đến thăm bác Phương vào lúc 4 giờ chiều ngày 24/3/Đinh Mão nên tôi được nghe tường tận sự việc kể trên cũng như được thấy mặt Bác Phương lần cuối, tôi liền ghi lại làm nhật ký và lưu lại đến ngày nay để sau này những anh em muốn tìm hiểu sự thật của sự việc sắp xếp của ĐHP đối với bác Phương)
Khi đưa linh cửu bác Phương về Tòa Thánh để bái lễ, khi vô Đền Thánh, bảo thể nhìn thấy hình và linh vị của bác Phương thì cản lại không cho vào Đền Thánh bái lễ, chị Mai con của bác Phương đành bưng linh vị bác Phương đứng trước Đền Thánh xá 3 xá rồi trở về xe đi ra cửa Hòa Viện hướng thẳng về cầu Vườn Điều, khi đến đường quẹo vô chợ Cư Trú, xe quẹo vô và đi ngang chợ Cư Trú thẳng vào bìa cực lạc thái bình để an táng bác Phương nơi đó.
4- Nói về ĐHP với Phạm Môn:
ĐHP nói theo thường tình của xã hội thì Đức Ngài giống như một nhân vật Khổng Minh, việc chi Ngài cũng biết trước, nên ngày 25/2/Kỷ Tỵ Đức Lý Giáo Tông giao Minh Thiện Đàn cho Ngài để thành lập Phạm Môn là mầm móng tương lai của Hội Thánh, nhân tài được xuất phát từ đó mà ra nhưng lúc này chưa được gọi là Phạm Môn chính thức, sau khi ĐHP thành lập đủ 3 Cung thì Phạm Môn mới được chính thức có tên từ đây. Nói về Hội Thánh Phước Thiện cũng từ Phạm Môn mà ra nhưng Phạm Môn vẫn là Phạm Môn, HT Phước Thiện là HT Phước Thiện chứ không phải HT Phước Thiện là Phạm Môn, hay Phạm Môn là HT Phước Thiện, nhưng nền tảng của Đạo tồn tại đến ngày nay để cho mọi người tiếp nối vào hàng chức sắc của Hội Thánh là công ấy ở Phạm Môn vì ĐHP đã biết trước sự loạn lạc của đạo nên thay đổi hoàn toàn những người Hội Thánh phải do ĐHP điều hành để bảo vệ cho nền Đạo, nếu ĐHP không làm như vậy thì nền Đạo sẽ bị thất chơn truyền ngay từ lúc bị tán loạn nếu phục nghiệp trở lại mà ĐHP không thay đổi cũng có thể trở thành một quyền chức cá nhân, thì chắc chắn không bao giờ tồn tại đến ngày nay.
Lời giải trình này tôi biết bao nhiêu thì nói bấy nhiêu, còn tìm hiểu thêm là nhờ ở nơi anh em.
Đăng Sơn

20/08/2013

thay lời bạn đọc xin được phép đăng lên đây bài viết
CHIA SẺ NIỀM ĐAU ĐẠI ĐẠO

Kính gởi toàn thể anh chị em thanh niên tín đồ của Đạo Cao Đài, vừa qua tôi có xem một loạt báo Xa Lộ Pháp Luật đặc biệt là số 35, 36 ra ngày 14/8 và 17/8/2013 có những bài viết của anh Đăng Lê nói về ‘ngược dòng thời gian của Đạo Cao Đài’ đặc biệt là nhắc chuyện xấu của Đức Hộ Pháp là một vị lãnh đạo tối cao của Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh NHƯNG rất tiếc là nội dung những bài viết này hoàn toàn không chính xác vì anh ta đã tiếp nhận những thông tin sai lệch cộng thêm thiên tưởng mù mờ của anh để làm lem ố đạo Cao Đài mà thôi.
Khi tôi xem xong bài viết của anh Đăng Lê làm tôi nhớ lại lời dạy của ngài Nhạc Sư Trần Thiện Niệm lúc còn lãnh đạo cơ quan bộ nhạc của Tòa Thánh Tây Ninh: “Con nên nhớ rằng mình là người đàng hoàng khi mình tới nhà bất cứ của người nào thì mình nên bước thẳng vào cửa trước để gặp chủ nhà, lúc này chủ nhà sẽ đón tiếp mình, nhưng chưa mời mình ngồi thì khoan ngồi, khi được mời ngồi xuống thì phải biết việc gì nên nói và cần nói lúc đó chủ nhà sẽ mang nước ra mời mình uống và tiếp chuyện với mình đó là người ta trọng mình; còn mình đến nhà người ta không vào cửa trước không ngồi có chỗ có nơi lại đi lãng vãng ra phía sau đó là tính cách của kẻ trộm lại lòn vào nhà vệ sinh, vào phòng tắm, lại còn vào phòng riêng của vợ chồng chủ nhà thì thử hỏi con người đó thế nào??
Đối với kẻ đó nhứt là hai con mắt của nó toàn là thấy những đồ dơ chưa giặt, thấy những sự ố uế trong nhà vệ sinh, việc này gia đình nào chẳng có, người khách đàng hoàng cực chẳng đã phải cần giải quyết mới xin chủ nhà để ra phía sau, vậy mà còn phải ngại khi bước ra phía sau không dám ngó qua ngó lại vì sợ mất lịch sự, sợ chủ nhà phát hiện cặp mắt của mình sẽ đánh giá là con người ‘lưỡng nhãn bất đồng tâm trung bất chánh’” - đây là bài học của tôi được học từ ngài Nhạc sư Trần Thiện Niệm (là học trò học đạo nơi Đức Hộ Pháp) - đây là một con người có đầy đủ phẩm hạnh.
Tôi thiết nghĩ rằng cũng là một con người mà có đầy đủ phẩm hạnh hơn con người và đứng trước số đông của con người để làm gương thì được gọi là Thánh Nhân. Còn Đức Hộ Pháp là một người được Đức Chí Tôn công nhận, mọi người đều tôn thờ tức nhiên phải hơn Thánh Nhân.
Còn làm người sống chung với mọi người không hơn thua gọi là phàm nhân. Còn làm người sống chung với mọi người mà ganh tỵ giành hơn sợ thua gọi là quỷ nhơn, trong kinh sám hối có câu rằng:
“Thấy ai làm phải làm lành
Xiểm dèm cho đặng khoe danh của mình”
Hạng quỷ nhân nếu có tu khi luân hồi trở lại trần gian chỉ lên được phàm nhân, còn không tu hoặc tu giả dối nương vào đạo tìm tòi nói xấu đạo dầu có học thức đến đâu đi nữa cũng chỉ là quỷ nhân.
Vậy mà có một loại người thích vào nhà vệ sinh, phòng tắm kể cả phòng ngủ riêng của chủ nhà để nhìn thấy những việc ô uế cá nhân của gia đình người ta rồi đem ra kể lại cho hàng xóm nghe. Tôi thiết nghĩ rằng người xưa có nói:
“Người ta ba hạng người ta
Người hai tiền rưỡi người ba mươi đồng”
Còn riêng hạng người đã có hành động vào nhà người ta như đã nói trên là không có giá chi hết.
Nói chuyện về Đức Hộ Pháp:
Nói đến Đạo Cao Đài thì Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc là người bình thường thôi Ngài cũng ăn cơm cũng đi bộ cũng hoạt động như bao người khác nhưng một kiếp sanh của Ngài có cơ duyên hơn chúng ta nên khi tham gia vào Hội Thần Linh học được Đức Chí Tôn và các Đấng vô hình tin tưởng và dạy cho Ngài mở đạo Cao Đài, rồi chỉ dẫn Ngài tìm đến một địa phận rừng thiên nước độc để chỉ huy những người làm công quả khai phá mà xây dựng Đền Thánh cùng các trụ sở trong phạm vi nội ô Tòa Thánh như hiện nay ta đã thấy.
Bên cạnh đó Ngài còn xây cất thêm ba trụ sở nữa đó là Trí Giác Cung, Trí Huệ Cung, Vạn Pháp Cung để cho những người tín đồ tu chơn không cầu phong chức vị được tu tại đây gọi là Phạm Môn, lý do như sau: thời gian đang thi công xây dựng Tòa Thánh thì Chánh Phủ Pháp bắt Đức Hộ Pháp đày ra hải đảo Phi Châu Madagasca lúc này Hội Thánh giải tán ai lo về nhà nấy, riêng một số tín đồ thấy ĐHP đã hy sinh hết mình cho Đạo Cao Đài mà bị Pháp tình nghi bắt đi họ lấy làm đau buồn nên lòng trung nghĩa phát khởi, họ tập trung lại hiệp cùng nhau đến một khu rừng cách Tòa Thánh khoảng 3 km (hiện nay là xã Trường Hòa, tây ninh) để khai phá và cất lên một ngôi nhà cột bằng cây rừng nóc nhà lợp bằng tranh để thờ Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu do ông Đinh Công Trứ làm trưởng nhóm. Ngày chính phủ Pháp xét duyệt ĐHP vô tội đưa về nước, khi Đức Ngài về đến Tòa thánh thì hỡi ôi! nhìn quang cảnh của Tòa thánh đã hoang tàn vì Pháp chiếm Tòa Thánh làm chỗ ở cho các quan chức còn Báo Ân Từ thì Pháp chiếm làm câu lạc bộ. Số người tín đồ đang tu hành trong khu rừng nói trên, họ hay tin ĐHP về nước họ đến rước ĐHP và vài vị chức sắc đi theo cùng về nghỉ ngơi nơi ngôi nhà tu chơn của họ; khi ĐHP đến thấy ngôi nhà tuy nhỏ người đạo thì nghèo nhưng thờ phượng rất trang nghiêm ĐHP nói như xúc động: “việc làm của các em tuy nhỏ nhưng đối với Qua, Qua xem như là không nhỏ, đáng lẻ việc làm nầy của Hội Thánh làm mới phải.”. ĐHP nói tiếp: “việc làm này chỉ có đức hạnh Bồ Tát, tâm tánh Phật vị mới làm được chuyện này” kể từ đó ĐHP đặt cho nơi đây là Phạm Môn với ý nghĩa như sau: Phạm là Phật, Môn là cửa chớ không phải là nhà thờ của họ Phạm, ai vào đây tu hành là hạnh của Phật vị. ĐHP mở trường dạy cho quí vị tu chơn học chữ, học đạo, học Pháp Chánh Truyền, giữ chơn truyền của đạo mà tu nên những người nơi đây gọi ĐHP bằng Thầy là vậy (để tôn trọng người dạy mình), ngôi trường này có tên là trường Quy Thiện – Quy là về, Thiện là lành nghĩa là về với việc lành; sau đó giao cho ông Đinh Công Trứ làm Đốc Trường.
Khi thành lập Hội thánh trở lại cũng nhờ số học trò có học chữ và học luật đạo nơi ĐHP mới cầu phong, cầu thăng làm nên việc đạo, chức giáo chủ cũng xuất phát ngay từ đây mà được tôn vinh.
Ở đời không ai ngu hơn ai, mình không giúp được cho người khác nên danh phận thì cũng chẳng ai tôn vinh mình đâu. Chúng ta là người sinh sau đẻ muộn đừng nên so bì với ĐHP vì Ngài đã hy sinh cho toàn cả nhơn loại.
Giáo Chủ là gì? Giáo là dạy cho cả chúng sanh biết điều đạo đức tu hành, Chủ là chủ quyền chơn đạo kể từ đây; vì Hội Thánh trước đã tan nát hết, kẻ thì chia phe lập phái, kẻ thì tham sanh quý tử bỏ của chạy lấy người, sau khi gió lặng mưa hòa họ lại mưu đồ trở lại giành quyền, chiếm đoạt Tòa Thánh; nhưng vì tinh thần đạo mạnh nên chúng sanh quyết giữ quyền cho Hội Thánh không cho hành động ấy vi phạm. Sự tức tối của số người ấy còn dai dẳng đến ngày nay.
Nói về việc làm của Đức Hộ Pháp:
Thử nghĩ rừng thiên nước độc mà ĐHP ra công chỉ huy khai phá để làm con đường Đại Đạo cho chúng sanh có một lộ trình tốt đẹp tu hành để về Thiêng Liêng thì chắc chắn phải đụng chạm các loại thú rừng và các loài vật hoang dã, chúng vì chỗ ở an toàn của chúng, vì mưu sinh lợi nhuận của chúng hằng ngày buộc chúng phải tấn công ĐHP và số người làm công quả phá rừng, nếu như ĐHP và số người làm công quả xử lý không kịp cũng khó mà bảo toàn tánh mạng còn nếu như ra tay thì mang tội sát sanh; cái hay của ĐHP là không đụng chạm đến chúng mà cương quyết mở con đường Đại Đạo cho chúng sanh tu hành bằng cách tập trung tinh thần Đạo, giữ đoàn kết tới lui thường ngày cho có tiếng động, nổi lửa ung khói, chúng chịu không nổi lần hồi rút đi nơi khác; những sự biếm nhẻ, bêu xấu, hăm dọa, công kích, phá hoại được coi như là các loại thú rừng hay những loài vật hoang dã kia vậy.
Vậy mà khi con đường Đại Đạo đã làm xong lại thêm những con thiêu thân, dế nhũi, gián, bồ hống… nó lại khoái ánh sáng, chúng lại ra ngoài bay nhảy để biểu diễn trên con đường Đại Đạo rồi chúng lại chết đi trong ngắn ngũi làm vất vả thêm cho người làm vệ sinh công quả phải tốn công quét dọn để đưa những cái xác chết của chúng vào hố rác, vậy mà riêng chúng, chúng cũng tưởng là việc làm của chúng cho đến cái chết của chúng là đúng.
Như vậy anh em chúng ta khi vào Đạo Cao Đài tu hành với mục đích là để giải thoát nghiệp chướng đã gây ra từ muôn kiếp trước hay là hiện tại cho thiên giảm cảnh luân hồi, chớ mục đích của chúng ta không phải là săn đuổi các loại thú rừng hay các loài vật hoang dã nói trên, chúng ta cùng nhau rão bước trên con đường Đạo để tu hành mà về thiêng liêng chứ không phải như con gián, con dế, con thiêu thân… ra vẻ biểu diễn trước ánh sáng trong đám đông người để rồi chết thảm trong sự ngắn ngũi mà gọi rằng hy sinh vì Đạo, đó là sự sai lầm nhất của một kiếp sinh tu hành.
Những lời nhắn nhủ này xin gởi đến toàn thể quý anh chị em trong đạo Cao Đài để chia sẻ sự mẻ mòn đức tin mà anh Đăng Lê đã làm ảnh hưởng đến danh dự của Đạo trên tờ báo Xa Lộ Pháp Luật vừa qua. Mong rằng toàn thể anh chị em từ đây đoàn kết lại để tập trung cao độ cùng nhau trao dồi đức tin mạnh mẽ hơn đối với Đạo Cao Đài để tận độ chúng sanh.
Đăng Sơn

Address

TÒA THÁNH TÂY NINH
Tây Ninh
700000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share