Giữ Đạo Giữa Đời

Giữ Đạo Giữa Đời Nơi lưu giữ và chia sẻ những câu chuyện, ký ức, di sản tinh thần của hàng thế hệ tiền nhân Đạo Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh. Muốn sống phải no, ấm, mạnh.

Trang lập nên để nhắc nhớ đạo nghĩa, vun bồi lòng nhân ái và gieo mầm Phước Thiện trong đời sống hằng ngày. “ Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh, tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát ít oi, hoặc giúp tay cho bên Hành Chánh thi hành luật pháp cho đặng dễ dàng trọn vẹn.” (ĐLMD)

“ Phước Thiện là

cơ quan tận độ, cốt để mở đường Thánh đức cho toàn sanh chúng có đủ phương thế nhập vào Thánh thể, người ngoại giáo có thể nhờ nơi cửa Phước Thiện mà hiệp cùng Hội Thánh. Phước Thiện là phương bảo tồn sanh chúng, tế khổn phò nguy, vì trong đời người không có sự khổ nào bằng sanh, lão, bệnh, tử. Muốn thi hành cơ tận độ, những con cái của Đức Chí Tôn sẵn có tài tình học thức, đã được lập công nơi cơ quan khác, còn sót lại những kẻ dốt, kém, thật thà thì do nơi đâu mà lập công đoạt vị ? Chỉ có CQPT mới có đủ phương thâu nhập toàn thể con cái Chí Tôn qui về cửa Đạo, nên gọi là cơ Bảo tồn. Muốn thật hành chánh nghĩa Phước Thiện, con cái Chí Tôn đói phải nuôi, rách cho mặc, tật nguyền phải bảo dưỡng, cô thế phải chở che, châu cấp người già cả, săn sóc kẻ bịnh hoạn, vv. . . . nói tóm lại là phải gánh mọi sự khổ trên đời nầy. Vả lại, đời là một trường tranh đấu vì miếng ăn chỗ ở. Phước Thiện cứu kẻ khổ, giúp kẻ nguy, dìu dắt cho có phương sanh sống, tuy không giàu mà tự toại, không sang mà thung dung, mới có thể tránh được sự tranh đấu vì lẽ sống, tức là nâng đỡ, bảo sanh cho hạng Tam dân (nông, công, thương) hưởng đủ quyền lợi mà mỗi người được quyền sống hưởng theo luật tự nhiên của Tạo hóa. Phước Thiện là phương pháp làm cho bình đẳng giữa hai hạng người : vô sản và tư sản, hay nói cho đúng là dung hòa quyền lợi chung hưởng chánh đáng, bất phân giai cấp sang hèn, tức là huờn thuốc tự do bình đẳng bác ái. Chơn truyền của Phước Thiện lại còn phải thay thế cho Chí Tôn và Phật Mẫu thật hành cơ cứu khổ bằng phương pháp là : làm cha những kẻ không cha, làm mẹ những kẻ không mẹ, làm anh những kẻ không anh, làm bạn những kẻ thiếu bạn, làm chồng làm vợ những kẻ không chồng không vợ, trong sự thương yêu cao quí và trong sự giúp đỡ chơn thành. Như thế mới có thể thực hành cơ quan cứu khổ để nơi mặt thế. Nếu CQPT bảo đảm được con cái Chí Tôn dường ấy thì ân đức của Đại Đạo có thể sánh cùng Trời Đất, làm cho đời khổ trở nên đời hạnh phúc, đời loạn trở nên đời an cư lạc nghiệp thì sự hòa bình của đại đồng thế giới mới mong thành tựu đặng. “ (Trích Chánh Trị Đạo của Trần Khai Pháp)

“ Phải cho cơm những kẻ thiếu cơm, cho thuốc những kẻ thiếu thuốc, cho hàn những kẻ không hàn chôn, chở che những kẻ bị đàn áp bất công, binh vực những kẻ bị chúng hiếp, an ủi những kẻ buồn rầu, khuyến khích những kẻ toan thối bước, độ những kẻ khổ tâm, lau chùi nước mắt những kẻ cô độc đang khóc trước mặt mình.

“ Tóm lại, là phải tự hiến mảnh thân làm tế vật cho Đức Chí Tôn để làm tôi đòi cho con cái của Người sử dụng trong công việc đem hạnh phúc đến cho họ, để thực hành trọn vẹn cơ quan giải khổ của Đại Từ Phụ.” (TNST-Q2-B 67)

Nhân ngày Kỷ Niệm 89 Năm Nữ Đầu Sư LÂM HƯƠNG THANH ĐĂNG TIÊN, chúng tôi có sưu tầm được một số hình ảnh Tang Lễ của Đức ...
24/05/2026

Nhân ngày Kỷ Niệm 89 Năm Nữ Đầu Sư LÂM HƯƠNG THANH ĐĂNG TIÊN, chúng tôi có sưu tầm được một số hình ảnh Tang Lễ của Đức Bà tại quê nhà làng Trung Tính – Vũng Liêm, xin chia sẻ cùng Quí Huynh Tỷ Đệ Muội đồng đạo để tưởng niệm và ôn lại phần nào dấu tích năm xưa.

🌸 BÀI THƠ BIỀN NGẪU TƯỞNG NIỆM 🌸

Trung Tính quê xưa còn in dấu ngọc;
Vũng Liêm đất cũ mãi vọng hương lành.

Một kiếp nữ lưu mà gánh cơ phổ độ;
Tấm lòng từ mẫu lại vẹn nghĩa chúng sanh.

Nương bóng Đạo vàng, dìu đàn em nữ phái;
Đem lời Thiêng dạy, mở nẻo thiện tu thân.

Đức hạnh sáng như vầng thu nguyệt;
Tinh thần cao tựa áng tường vân.

Ngày đăng Tiên, mây quyện trời Nam cảm động;
Buổi hồi cung, gió sầu nội Đạo bâng khuâng.

Tang lễ đơn sơ mà lòng người thương tiếc;
Di ảnh lưu truyền để hậu thế kính ngưỡng.

Tám chín xuân thu trôi theo dòng thế sự;
Một tấm phương danh vẫn sáng giữa Đạo tâm.

Ngưỡng vọng Đức Bà, hậu lai thêm gìn dạ ngọc;
Noi gương tiền bối, đồng đạo quyết giữ lòng son.

Hương đạo còn đây, còn người gìn chí lớn;
Ơn xưa chẳng mất, chẳng phụ nghĩa Thiêng Liêng.

ĐÀN CƠ RIÊNG ĐỨC CHÍ TÔN DẠY NGÀI QUYỀN ĐẦU SƯ. NGÀY 16–9–GIÁP TUẤT (ĐL 23–10–1934) TẠI SÀI GÒN.THẦYCác con,T, đáng lẽ n...
24/05/2026

ĐÀN CƠ RIÊNG ĐỨC CHÍ TÔN DẠY NGÀI QUYỀN ĐẦU SƯ.
NGÀY 16–9–GIÁP TUẤT (ĐL 23–10–1934) TẠI SÀI GÒN.

THẦY
Các con,
T, đáng lẽ những lời Thầy đã dạy mấy con nơi HTĐ tại Thánh địa đủ cho các con dùng đặng chung trí nhau mà lo chấn chỉnh nền Đạo.

Thầy buồn lòng trông thấy các con rời rã, cũng tranh đấu phân phui, rốt cuộc thì các con vẫn đều nêu trò cười, không đứa nào tránh khỏi, mà chúng sanh phải chơi vơi giữa bến khổ sông mê, không người dìu dắt. Các con đứa tranh quyền, đứa dục lợi, đứa buôn oán, đứa xu hờn, rồi thì bên lo mưu thần, bên bày chước khéo mà đánh đổ lẫn nhau, làm cho nền tín ngưỡng dã un đúc bấy lâu, nay đã từ từ ngã xiêu và sắp đổ nát.
Con ôi! Phải quấy mà làm gì! Thầy đứng giữa, một địa vị của Ông Cha đương dòm ngó lũ con cường ngạnh, xung đột mà giành tiếng vô vị của trò đời. Quấy cũng là con, phải cũng con. Thầy đổ lụy mà khuyên các con một chữ HÒA, quên cả sự cưu hờn riêng mà lo nhau đến cùng Thầy, mà rốt lại Thầy cũng đành tuyệt vọng với những tâm phàm trí tục. Chớ chi trong mấy đứa con, Thầy đã dạy, có một đứa biết lo hòa, thì tôn chỉ của Đạo chẳng ra đến nỗi ấy.

Các con đã tự tung tự tác, Thầy chỉ buồn lòng mà coi Lý Bạch kêu vào nơi Thiên điều, Ngày giờ ấy cũng chẳng xa, nhưng nếu đứa nào khôn, giữ được từ tâm bác ái, và nối được chữ HÒA trước ngày về cùng Thầy thì họa may mới còn trông ngôi cựu vị. Các con chẳng khứng dung chế cho nhau thì nền Đạo phải còn lắm chinh nghiêng, chúng sanh còn lắm huyền đảo.

Công trình của các con đã khởi xướng, nếu may mà được vẻ vô tư trong và ngoài thì có lẽ cũng bổ ích cho nền Đạo, nhưng xin nhớ **nếu mà sái với tôn chỉ hiệp nhứt và tự mình muốn chia rẽ thì Luật Thiên thơ không dung chế được.

Các con mỗi đứa đã tự mở một con đường thì Thầy vẫn không thế vui trong sự phân chia, nên hay là hư, phải hay là quấy, Thầy chỉn để cho tâm các con định lấy, tâm cứng cỏi, Đạo điều hòa, thì cứ bước tới Thầy; tâm trí bất định, đạo hạnh không hoàn toàn thì con đường hám lợi xu danh tới hang sâu vực thẳm đó.

Vì sức các con đã rời rã thì tài nào níu kéo đỡ nâng khuyên nhủ nhau được. Con đường vô tư để cứu khổ cho chúng sanh là con đường đạo đức, ngọn đèn thiêng liêng sẽ chực soi tỏ bước của các con, khác với con đường ấy là con đường của Quỉ vương vậy.

Nên nhớ mấy lời Thầy, chẳng phải đọc sơ qua mà coi làm chơi, cần chiêm nghiệm kỹ lưỡng mà hiểu nghe. Hại thay! đã nhiều lần các con chẳng hiểu ý.

Thầy cũng đau lòng mà thấy các con đi sái bước, nhưng than ôi! Cơ thử thất chỉ dùng với những đứa tâm phàm lẫn chất Thánh.
Mỹ Ngọc, con đọc sái quá!
THẮNG.
——————————————————
☘️ THẤY LỜI THÁNH GIÁO MÀ TỰ RĂN LÒNG

Than ôi!
Đạo quý chữ hòa, hòa tâm mới hiệp chúng;
Người mê lòng chấp, chấp ngã tất phân ly.

Nhìn cuộc thế đảo điên, càng đau lòng Đức Chí Tôn;
Ngó đường Đạo nghiêng ngửa, thêm nhỏ lệ Thiêng Liêng.

Kẻ trọng lợi danh, quên câu bác ái;
Người ham quyền vị, phụ nghĩa thương yêu.
Mượn trí tục mà bày mưu chia rẽ;
Đem lòng phàm mà khuấy động đàn em.

Than chẳng phải vì ai quấy ai phải;
Xót chỉ vì mất nghĩa mất tình.
Phải cũng con mà quấy kia cũng trẻ;
Trước Ngọc Hư nào kẻ thắng người hơn.

Đạo chẳng hoại bởi ngoại tà xâm phạm;
Đạo suy vi bởi nội bộ phân tâm.
Một niệm bất hòa, ngàn mối chinh nghiêng dấy khởi;
Nửa lòng cố chấp, muôn dây oan trái chất chồng.

May thay!
Thầy còn mở nẻo từ bi cứu thế;
Đạo vẫn chừa đường bác ái dung thân.
Biết vô tư thì gần cùng Thiên lý;
Giữ hòa tâm ắt hiệp với Đạo mầu.

Hỡi ai người hậu tấn ngày nay,
Đọc Thánh giáo khá soi tâm sửa tánh;
Nghe lời vàng nên luyện chí trau thân.

Chớ mượn Đạo đặng luận người phẩm thế;
Chớ vin câu Thầy mà trách bạn chê anh.
Người biết tu thì lấy mình làm gốc;
Kẻ học Đạo nên đem đức làm đầu.

Một lời hòa giải nhẹ hơn ngàn tiếng biện phân;
Một tấm lòng vô tư quý hơn muôn điều thắng luận.
Đạo trọng thương yêu, chẳng trọng lời hơn lẽ thiệt;
Thầy mong hiệp chúng, nào mong tiếng phải câu quấy.

Nguyện người sau giữ lòng hòa ái;
Nguyện hàng hậu học bền dạ tu thân.
Lấy Thánh giáo làm đèn soi thế tục;
Lấy từ bi làm gốc dưỡng tâm linh.

Ngày mùng 8/4 Bính Ngọ (2026)
Người Phước Thiện

NGÀY 5–9–GIÁP TUẤT (Dl 12–10–1934) NHỨT NƯƠNG GIẢNG GIẢI VỀ VƯỜN NGẠN UYỂN.Phò loan:Hộ Pháp – Tiếp Thế.NHỨT NƯƠNG DTCEm ...
23/05/2026

NGÀY 5–9–GIÁP TUẤT (Dl 12–10–1934) NHỨT NƯƠNG GIẢNG GIẢI VỀ VƯỜN NGẠN UYỂN.
Phò loan:Hộ Pháp – Tiếp Thế.

NHỨT NƯƠNG DTC
Em khép nép mừng mấy anh và mấy em.

Hèn lâu, Em không đến đặng, khi thì nghe Lục Nương, khi thì nghe Bát Nương nói: Đạo nay thì vầy, mai thì khác, lộn xộn quá chừng.

Em nghe vậy thì hay vậy, chớ phận sự Ngạn Uyển Chưởng Hồn đâu có giờ nào rảnh rang đặng đến trò chuyện cùng mấy anh cho thỏa tình hoài vọng.

Hộ Pháp hỏi:– Em cắt nghĩa Ngạn Uyển Chưởng Hồn là sao cho Qua rõ.

Dạ, Ngạn Uyển Chưởng Hồn là Vườn Ngạn Uyển trồng hoa, mỗi cái hoa là một chơn hồn của cả kẻ Nguyên nhân,thạnh suy, thăng đọa chi cũng do nơi khối sanh hoa khi ấy, định sanh mạng của mỗi người, nên phải chăm nom từ tuổi. Em không rảnh đặng là vì vậy.

Lúc nọ, vào chầu Ngọc Hư, lại nghe có lịnh Chí Tôn hiệp cùng Ngọc Hư đặng giao quyền Chuyển thế một lúc cho Hiệp Thiên Đài.

Từ Mẫu vốn không thuận tình theo điều ấy, nên có hỏi bởi đâu Thiên thơ chuyển pháp như vậy?

Lý Trưởng huynh nói rằng; Lập Thiên thơ do quyền của Cực Lạc Thế Giới của Phật di truyền đến buổi Đạo đã bước vào phương chuyển pháp, nên phải giao hồi lại cho Cực Lạc Thế Giới; Cực Lạc Thế Giới lại là Hiệp Thiên Đài, nên cả chư Phật mới vừa lòng tùng chơn linh Hộ Pháp giáng linh chuyển thế thì Đạo mới thành.

Bởi cớ nên Từ Mẫu chẳng lời chi cãi chối đặng, nên Người có gởi cho Hộ Pháp một bài thơ phân trần điều ấy.

Cười... Ngày nay đã thấy lẽ Thiên cơ kết quả rõ ràng. Em rất vui mừng, ngày nay đến đặng để lời khen tặng.
(Ôi! Mấy người theo rộn quá, nói không hết chuyện.)

Em kiều lỗi đặng nhượng cơ cho họ.
THĂNG.

LỜI BÌNH / CHÚ GIẢI TỪ VĂN BẢN
Qua bài Thánh Ngôn nầy, chúng ta thấy Nhứt Nương DTC xác nhận là Đức Chí Tôn và Ngọc Hư Cung chuyển pháp, giao quyền nền Đạo cho HTĐ (Hiệp Thiên Đài) nắm giữ, bởi vì HTĐ thuộc Cực Lạc Thế Giới, Đức Hộ Pháp “Chưởng quyền Cực Lạc phân ngôi vị” nên cả chư Phật mới vừa lòng tùng lịnh chơn linh Hộ Pháp giáng linh chuyển thế thì Đạo mới thành.

Cho nên sau khi Đức QGT (Quyền Giáo Tông) Lê Văn Trung qui Thiên, Đức Lý Giáo Tông giao quyền Giáo Tông tại thế cho Đức Hộ Pháp là thi hành đúng theo Thiên Thơ, và lúc đó, Đức Hộ Pháp chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng.

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM50 NĂM NGÀY HIẾN ĐẠO CHƠN QUÂN PHẠM VĂN TƯƠI ĐĂNG TIÊNNgày mùng 8/4 Bính Thìn (dl 06/05/1976)Ngày m...
23/05/2026

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM
50 NĂM NGÀY HIẾN ĐẠO CHƠN QUÂN PHẠM VĂN TƯƠI ĐĂNG TIÊN

Ngày mùng 8/4 Bính Thìn (dl 06/05/1976)
Ngày mùng 8/4 Bính Ngọ (dl 24/05/2026)

Nhân ngày tưởng niệm của Ngài Hiến Đạo Chơn Quân Phạm Văn Tươi Đăng Tiên, chúng tôi xin thành kính nhắc lại toàn văn bài HUẤN TỪ của Ngài Hiến Đạo Hiệp Thiên Đài đọc tại Trảng Bàng ngày 03/04/1971 nhân cuộc lễ Khánh Thành Điện Thờ Phật Mẫu.

Kính thưa Hội Thánh Lưỡng Đài Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện,

-Trung Tá Tỉnh Trưởng và Thiếu Tá Quận Trưởng,
-Quý Quan khách, đại diện các Tôn giáo và Thân hào Nhân sĩ,
-Chức sắc, Chức việc và chư Tín hữu nam nữ,

Trong thời buổi khó khăn hiện tại, vật giá leo thang, tình thế nước nhà chưa ổn định, chiến tranh chưa chấm dứt mà quý vị hết sức cố gắng kiến tạo được một ngôi thờ nguy nga, tốt đẹp như vầy, thật là nhờ sự thành tâm thiện chí của quý vị kẻ góp của, người góp công và sự tin tưởng nồng nhiệt ở nơi mối đạo của Đức CHÍ TÔN đã khai sáng tại nước nhà từ bấy lâu nay; còn nói lên sự hòa đồng nhứt trí và công lao nhọc nhằn của quý vị. Thật là một sự vui mừng biết lấy gì cân và một sự hãnh diện chánh đáng của toàn thể đạo hữu trong Tộc Đạo Trảng Bàng.

Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh để lời ban khen nồng hậu công việc làm của quý vị.

Hội Thánh chân thành cảm tạ quý vị Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng, quý Quan khách, quý đại diện Tôn giáo và Thân hào nhân sĩ sẵn lòng đến dự buổi lễ hôm nay.

Thưa quý vị Chức sắc, Chức việc và tín hữu nam nữ,

Có kẻ thắc mắc lại hỏi rằng: ở thế gian này có nhiều Tôn giáo, mỗi Tôn giáo đều có tôn chỉ riêng, có tánh cách đặc biệt, từ hình thức đến giáo lý, không có tôn giáo nào giống tôn giáo nào cả. Thế mà trong đạo CAO ĐÀI, Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ qui tụ các Giáo phái, thành lập một tôn giáo mới, làm sao dung hòa được các tôn giáo?

Xin thưa, tôn giáo nào cũng khuyến khích làm thiện, không xúi dục ai làm ác bao giờ và không bỏ tình thương nhơn loại ra ngoài.

Cũng vì thương chúng sanh sống trong sông mê biển khổ mà Đức Thích Ca chịu khổ hạnh sáu năm để tìm con đường giải thoát cho chúng sanh.

Đời Xuân Thu ở Trung Quốc là đời loạn ly, sanh linh đồ thán, phong hóa suy đồi, kỷ cương đổ nát, Đức Khổng Tử nóng lòng về việc cứu đời vớt dân, nên châu du các nước chư hầu, mong tìm những vị vương giả để mượn quyền chánh trị mở mang tư tưởng, truyền bá đạo lý Thánh Hiền, sửa đổi phong tục, lập chánh sách lợi nước an dân. Đó cũng vì một sự thương người.

Thánh Jésus, thường gọi là Chúa Cứu Thế, cũng vì thương loài người, chuộc tội cho loài người, lập đạo dạy người phải thương yêu nhau và giúp đỡ lẫn nhau. Thảm thay! Ngài bị kẻ nghịch hành tội, chết trên cây thập tự.

Chúng tôi lấy phần chánh yếu là tình thương để dung hòa các tôn giáo.

Những hình thức bên ngoài như sự thờ phượng, lễ bái, cúng dường và những giáo điều bên trong tuy khác, chúng tôi không lấy làm quan trọng lắm. Cho nên đạo Cao Đài là đạo dung hòa các tôn giáo, xem các tôn giáo là bạn, không chống đối một tôn giáo nào cả, xem các Đấng Giáo Chủ, không phân biệt màu da sắc tóc, đều là ân nhân của nhơn loại.

Gần đây các tôn giáo ở nước nhà tiến lên một bước khá dài. Tôi muốn nói việc thành lập “HỘI ĐỒNG TÔN GIÁO”; người đạo Phật, người đạo Thiên Chúa, người đạo Hòa Hảo, người đạo Cao Đài, tất cả đều xem nhau như anh em một nhà, kết tình tương thân tương ái. Dưới vòm trời Nam, người đạo Cao Đài sống chung với người đạo Thiên Chúa hay người đạo Phật, người đạo Hòa Hảo, nhìn nhau bằng đôi mắt hiền hòa, không còn chỗ nghi kỵ. Đó là điềm may mắn cho dân tộc ta còn biết nhớ đến cội nguồn, không vì riêng đạo mà chia rẽ giống nòi. Quý vị Chức sắc, Chức việc ân cần nhắc nhở chư thiện nam tín nữ hiểu rõ điều ấy.

Quý vị không nên quá ư chú trọng về phẩm tước, phải đặt nặng về phần trách nhiệm mà chăm nom chư tín hữu. Khi hữu sự việc thì phải có vẻ thân mật đậm đà. Các dạy dỗ khuyên răn phải hết lòng hết dạ, khiêm cung vui vẻ, đừng làm mất niềm hòa ái. Phải xem chừng hành vi của mỗi người mà tùy cơ sửa chữa, chỉ bảo nhau những chỗ sai lầm, un đúc niềm tin tưởng cho vững chắc, đừng để họ sa ngã làm càn mà lỗi đạo.

Thảng như có hai người vì một lý do nào đó đến đổi sanh ra xích mích nhau, bổn phận đàn anh phải tìm hiểu cho đích xác, dùng lời phải trái mà khuyên can, dàn xếp cho được êm thỏa, đừng để nảy sanh mối hiềm riêng mà anh em gặp nhau bỡ ngỡ.

Thánh Thất hay là Điện thờ Phật Mẫu đều là của chung trong Đạo; người Hành chánh hay người Phước thiện cũng là người Đạo, phải cùng chung với nhau mà lo nghiệp cả của Đức Chí Tôn; không vì lẽ gì mà xem khinh, xem trọng; phải nhân nhượng thuận hòa cùng nhau, trách nhiệm ai nấy lo, phổ thông chánh đạo, khuyên khích chư đạo hữu trên bước đường tu học.

Chư quý vị nên nhớ Thánh ngôn của Thầy đã dạy:
“Các con hãy thuận hòa cùng nhau, ấy là lễ hiến rất quí báu cho Thầy đó.”

Hai chữ Phước thiện có nghĩa là làm phước bằng những việc từ thiện như cứu trợ người lâm nạn, giúp đỡ người cô độc, nuôi dưỡng người ốm đau, già nua tật nguyền, bảo vệ cô nhi quả phụ.

Phải có một nền tài chánh dồi dào mới đủ phương tiện làm những việc từ thiện kể trên. Nên lập thêm nhiều cơ sở lương điền, công nghệ, thương mãi, hoạt động thường xuyên, tăng gia sản xuất cho có huê lợi khá nhiều mới đạt mục đích Phước thiện.

Tôi khuyên tất cả chư Tín hữu hãy cố gắng lên lập nhiều công quả làm lợi ích cho nhơn quần xã hội. Ấy là quý vị vun trồng cội phước, xây đắp nền nhân, gieo hột giống lành khắp nơi khắp chốn; nhà nhà đều có cây lành mai sau trổ bông đơm trái, người người đều được hưởng hoa thơm trái ngọt.

Tôi thành tâm cầu nguyện Đức CHÍ TÔN và Đức PHẬT MẪU ban ơn lành cho toàn thể đạo hữu nam nữ và cầu cho quốc thới dân an, thiên hạ thái bình./.
Nay kính
—————————————-
Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Ngài Hiến Đạo Chơn Quân Phạm Văn Tươi Đăng Tiên, nhưng lời đạo huấn của Ngài về tinh thần thương yêu, hòa ái, dung hòa tôn giáo và trách nhiệm đối với nhơn sanh vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay.

Trong thời buổi xã hội nhiều biến động, đọc lại bài Huấn Từ năm xưa càng thấy rõ tấm lòng ưu thời mẫn thế và đức độ vị tha của một vị Chức sắc lãnh đạo Hiệp Thiên Đài luôn lấy chữ “THƯƠNG” làm cốt lõi hành đạo.

Toàn thể đạo hữu hậu tấn hôm nay xin thành kính tưởng niệm công đức của Ngài, nguyện noi theo tinh thần thuận hòa, tương thân tương ái và tận tâm phụng sự Đạo pháp – Dân tộc theo lời giáo huấn thiêng liêng mà Ngài đã để lại.
NAM MÔ HIẾN ĐẠO CHƠN QUÂN PHẠM VĂN TƯƠI 🙏

🕊️ TƯ LIỆU XƯA VỀ LỄ TRIỀU THIÊNĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC trên đặc san THẾ ĐẠO - 1970.Những trang đặc san Thế Đạo năm 19...
22/05/2026

🕊️ TƯ LIỆU XƯA VỀ LỄ TRIỀU THIÊN
ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC trên đặc san THẾ ĐẠO - 1970.

Những trang đặc san Thế Đạo năm 1970 còn lưu lại nhiều hình ảnh và tư liệu quý giá về Lễ Triều Thiên của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc ngày 17/5/1959 (nhằm ngày 10/4 năm Kỷ Hợi) tại Nam Vang (Phnôm Pênh, Campuchia) một dấu mốc thiêng liêng trong lịch sử Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Qua từng trang báo xưa là hình ảnh đoàn đạo hữu mặc tang phục trắng trang nghiêm, các nghi lễ cung nghinh Liên Đài, lễ an vị và những buổi tưởng niệm được tổ chức trọng thể tại tại Nam Vang (Phnôm Pênh, Campuchia) . Xen lẫn đó là những câu đạo ngôn mang đậm tinh thần bác ái và công bình mà Đức Ngài đã để lại:

“Luật yêu thương – quyền công chánh”

Hay lời di chúc đầy tâm huyết của Đức Hộ Pháp:

“Ngày nào đất nước Việt Nam được hòa bình thống nhất, chừng đó toàn Đạo mới di Liên Đài của Đức Ngài về Tổ Đình an vị.”

Đặc biệt, bài báo còn ghi lại nhiều hình ảnh quý hiếm trong thời gian Đức Hộ Pháp lưu vong tại Miên Quốc, các buổi diễn thuyết về tinh thần hòa bình – tự do dân tộc, cùng giây phút Đăng Tiên và tang lễ được cử hành theo nghi thức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Đây không chỉ là những trang báo cũ, mà còn là chứng tích lịch sử lưu giữ tinh thần, đạo nghiệp và tư tưởng của một vị tiền khai Đại Đạo đã dành trọn đời cho Đạo pháp và nhơn sanh.
Chúng tôi Xin giới thiệu lại bộ tư liệu xưa quý hiếm này đến những HTĐM chưa biết cũng như mới vào Đạo coi như đó một cách lưu giữ ký ức lịch sử và giá trị văn hóa của nền Đại Đạo.







THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM  200 NĂM NGÀY QUAN ĐẠI THẦN HUỲNH CÔNG THẮNG TỬ TIẾT  (06/4 Mậu Tý 1826 – 06/4 Bính Ngọ 2026)Trong...
22/05/2026

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM
200 NĂM NGÀY QUAN ĐẠI THẦN HUỲNH CÔNG THẮNG TỬ TIẾT
(06/4 Mậu Tý 1826 – 06/4 Bính Ngọ 2026)

Trong dòng chảy lịch sử mở đất phương Nam, Tây Ninh là vùng đất mang vị trí chiến lược đặc biệt nơi biên viễn. Vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, vùng Cẩm Giang – Trà Vong khi ấy còn hoang vu, rừng rậm trải dài, dân cư thưa thớt, thường xuyên bị đe dọa bởi thổ phỉ và những cuộc quấy phá từ biên giới Chân Lạp.

Trước tình hình ấy, vào năm 1749, triều đình chúa Nguyễn đã cử ba anh em họ Huỳnh gồm: Huỳnh Công Giản, Huỳnh Công Thắng và Huỳnh Công Nghệ từ vùng Nhựt Tảo vào trấn nhậm vùng đất Tây Ninh, mang theo binh mã cùng lưu dân để khai hoang lập ấp, giữ gìn an ninh vùng biên cương.

Trong công cuộc mở cõi ấy, Quan đại thần Huỳnh Công Thắng được giao trấn giữ vùng Cẩm Giang — khu vực có vị trí đặc biệt quan trọng, nằm gần tuyến giao thông thủy của sông Vàm Cỏ Đông và giữ vai trò hậu cứ cho tuyến phòng thủ Trà Vong. Theo nhiều tư liệu dân gian còn lưu truyền, ông đã cho lập đồn lũy, đào hào, đắp thành và tổ chức lực lượng nghĩa binh để bảo vệ dân cư trước những cuộc xâm nhập nơi biên giới.

Dưới sự dẫn dắt của ông, vùng đất Cẩm Giang dần trở nên ổn định. Người dân được vận động khai khẩn ruộng đất, mở rộng xóm làng, phát triển sản xuất. Từ đây, cư dân lan rộng sang các vùng Trà Vong, Bến Thứ, Sóc Om… đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhiều địa phương thuộc Tây Ninh ngày nay.

Không chỉ là vị võ quan giữ đất, Quan đại thần Huỳnh Công Thắng còn được người dân xem như một bậc tiền hiền khai cơ lập nghiệp. Trong ký ức dân gian, ông là người gần gũi với nhân dân, sống trọng nghĩa khí, luôn che chở và giúp dân an cư lạc nghiệp giữa buổi đầu gian khó nơi miền biên viễn.

Theo các tư liệu địa phương còn ghi lại, năm 1826, Quan đại thần Huỳnh Công Thắng đã tử tiết hy sinh. Người dân trong vùng đã an táng ông ngay trên chính vùng đất mà ông từng dày công bảo vệ và khai mở. Từ đó đến nay, đền thờ và lăng mộ của ông vẫn được nhân dân gìn giữ như một biểu tượng thiêng liêng của lòng trung nghĩa và công lao mở đất.

Đền thờ Quan đại thần Huỳnh Công Thắng hiện tọa lạc tại xã Thạnh Đức, tỉnh Tây Ninh. Theo Ban hội đền, ngôi đền đã tồn tại hơn trăm năm, ban đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ do người dân dựng lên để tưởng nhớ công đức của ông, về sau nhiều lần được trùng tu và xây dựng khang trang hơn như hiện nay.

Hằng năm, vào ngày mùng 06 tháng 4 Âm lịch, nhân dân địa phương cùng khách thập phương lại hội tụ về đây để tổ chức lễ giỗ Quan đại thần Huỳnh Công Thắng một cách trang trọng. Không chỉ là hoạt động tín ngưỡng dân gian, đây còn là dịp để hậu thế tưởng nhớ công lao của những bậc tiền nhân đã hy sinh vì quê hương, đồng thời giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần giữ đất mở cõi cho thế hệ trẻ hôm nay.

Trải qua gần hai thế kỷ, tên tuổi Quan đại thần Huỳnh Công Thắng vẫn luôn được nhân dân Tây Ninh kính trọng và lưu truyền như biểu tượng của lòng trung liệt, tinh thần khai phá và ý chí bảo vệ bờ cõi phương Nam.
Thành kính tưởng niệm và tri ân công đức tiền nhân.

☘️TÂY NINH KHAI QUỐC CÔNG THẦN TÁN

Nam địa sơ khai, chướng lam vị tịnh;
Biên thùy sơ lập, man khấu vị an.

Rừng thiêng nước độc, thú dữ gầm vang;
Đất rộng người thưa, khói hoang phủ lối.

Bấy giờ:
Triều Nguyễn ban quân, ký thác biên phòng;
Nhựt Tảo xuất tướng, hiển danh trung liệt.

Tam Huỳnh đồng chí, nhất mạch trung can;
Huynh đệ đồng tâm, thiên thu nghĩa khí.

Huỳnh Công Giản trấn thủ Trà Vong,
Uy danh động địa;
Huỳnh Công Nghệ đóng binh Bến Thứ,
Hào khí kinh thiên.

Riêng Quan đại thần Huỳnh Công Thắng:
Dựng lũy Cẩm Giang, mở đường lập ấp;
Đào hào đắp trại, chiêu tập lưu dân.

Một dải Vàm Cỏ làm thành thiên hiểm;
Mấy lớp đồn doanh giữ vững biên cương.

Ban ngày luyện trận thao binh;
Ban đêm tuần phòng canh giặc.

Gươm thiêng loé sáng rừng sâu;
Trống trận vang rền đất đỏ.

Dân nghèo nương bóng đại nhân;
Xóm cũ dần thành thôn ấp.

Từ Trà Vong đến Sóc Om, Bến Thứ;
Khắp Cẩm Giang sang Thạnh Đức ngày nay.

Công mở đất sánh cùng nhật nguyệt;
Nghĩa cứu dân rạng tợ non sông.

Than ôi!
Một buổi binh đao dậy sóng;
Mấy phen giặc dữ tràn sang.

Quan lớn vì dân quên thân báo quốc;
Anh hùng tận tiết chẳng thẹn cùng trời.

Hồn trung nghĩa lưu truyền thiên cổ;
Khí tiết anh linh quán tận sơn hà.

Đến nay:
Đền cổ khói nhang nghi ngút;
Mộ xưa cây cối uy nghiêm.

Mỗi độ tháng tư âm lịch,
Bá tánh gần xa tề tựu kính thành.

Người dâng nén hương tưởng nhớ tiền nhân;
Kẻ kể chuyện xưa giáo truyền hậu thế.

Hai trăm năm nước chảy mây trôi;
Một tấm trung tâm còn soi đất Việt.

Tây Ninh còn núi còn sông;
Công thần họ Huỳnh còn lưu muôn thuở.

Phục vọng
Hiển hách anh linh
Khâm thừa hương hỏa
Vĩnh hộ dân an.

Thành kính tưởng niệm công đức tiền nhân
Quan Đại Thần Huỳnh Công Thắng
Vị công thần khai cơ giữ đất Tây Ninh.

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM43 NĂM NGÀY CHƠN NHƠN VĂN TẤN BẢO QUI TIÊN🕯️ Ngày mùng 6 tháng 4 năm Quý Hợi (1983)🕯️ Ngày mùng 6 t...
21/05/2026

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM
43 NĂM NGÀY CHƠN NHƠN VĂN TẤN BẢO QUI TIÊN

🕯️ Ngày mùng 6 tháng 4 năm Quý Hợi (1983)
🕯️ Ngày mùng 6 tháng 4 năm Bính Ngọ (2026)

CHƠN NHƠN VĂN TẤN BẢO
(1909 – 1983)
Trưởng Ban Hành Thiện Trung Ương

Ông Chơn Nhơn Văn Tấn Bảo sinh năm 1909, quê quán tại Lương Phú – Mỹ Tho. Sau ngày nhập môn, Ông cùng gia đình về Tây Ninh hành Đạo, cư ngụ tại Long Thành – Tây Ninh.

• Nhập môn ngày 15 tháng 02 năm Đinh Mão (1927).
• Hiến thân ngày 30 tháng 01 năm Quý Dậu (1933), lãnh phận sự Chủ Sở Sơn Đình.
• Năm 1936, đắc phong Giáo Thiện, lãnh Đầu Tộc Mỹ Tho.
• Năm 1948, thăng Chí Thiện, lãnh Phụ Thống Lương Viện, rồi được giao Cai Quản Lò Gạch Phước Thiện, kế đó lãnh Quyền Thượng Thống Lương Viện.
• Năm 1951, thăng Đạo Nhơn, lãnh Thượng Thống Lương Viện.
• Năm 1960, thăng Chơn Nhơn, lãnh Thượng Thống Nông Viện, kiêm Trưởng Ban Hành Thiện Trung Ương.
• Đến năm 1970, vì bệnh nặng, Ông được Hội Thánh cho nghỉ dưỡng lão.

Ông qui vị ngày mùng 6 tháng 4 năm Quý Hợi (1983), hưởng thọ 74 tuổi, sau nhiều năm công quả nơi cửa Đạo.

Nay nhân kỷ niệm 43 năm ngày Ông qui tiên, hàng hậu học và đạo hữu đồng thành tâm tưởng niệm, ghi nhớ công trình hành đạo của một vị chức sắc đã gắn bó gần trọn đời mình cùng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Nguyện cầu anh linh Chơn Nhơn Văn Tấn Bảo an nhiên nơi cõi thiêng liêng hằng sống, và hồng ân Đức Chí Tôn luôn chan hòa cùng con cháu và đạo tâm hậu tấn. 🙏

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM 89 NĂM NGÀY NỮ ĐẦU SƯ LÂM HƯƠNG THANH ĐĂNG TIÊN(8 tháng 4 năm Đinh Sửu 1937 – 8 tháng 4 năm Bính N...
21/05/2026

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM 89 NĂM NGÀY NỮ ĐẦU SƯ LÂM HƯƠNG THANH ĐĂNG TIÊN
(8 tháng 4 năm Đinh Sửu 1937 – 8 tháng 4 năm Bính Ngọ 2026)

Bên dòng lịch sử hình thành và phát triển của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, hàng nữ phái đã để lại nhiều dấu son đạo hạnh và hy sinh cao quý. Trong số ấy, hình ảnh của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh luôn được xem là biểu tượng tiêu biểu của đức tin, lòng tận tụy và tinh thần phụng sự vô ngã đối với Đạo pháp và chúng sanh.

Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh, thế danh là Lâm Ngọc Thanh, sanh năm Giáp Tuất (1874) tại làng Trung Tín, quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Thuở còn tại thế, Bà vốn là một nghiệp chủ giàu có và nổi danh nhân đức tại miền Nam Kỳ, thường được người đời gọi là “Bà Huyện Xây”. Tuy sống trong cảnh phú quý, nhưng Bà lại sớm hướng tâm về cửa Phật, quy y cùng Hòa thượng Như Nhãn tại chùa Giác Hải ở Phú Lâm, Chợ Lớn.

Với căn lành nhiều đời, khi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ khai mở vào năm Bính Dần 1926, Bà sớm được Đức Chí Tôn độ dẫn nhập môn ngày mùng 6-6-Bính Dần (dl 16-7-1926). Từ đây, cuộc đời của Bà hoàn toàn hiến dâng cho cơ Đạo.

Không chỉ đem tâm lực hành đạo, Bà còn hiến dâng tài sản, cơ sở và điền sản để trợ giúp Hội Thánh trong buổi sơ khai còn nhiều gian nan thiếu thốn. Chính ngôi chùa do Bà lập tại Vũng Liêm cũng được cải thành Thánh thất để phổ độ người hữu duyên nơi quê nhà.

Trong thời kỳ đầu mở Đạo, Bà là một trong những vị nữ chức sắc tiên phong gánh vác trọng trách dìu dắt nữ phái.

Trong ngày Đại Lễ Khai Đạo tại Thánh Thất tạm Từ Lâm Tự, ngày 15-10-Bính Dần (dl 19-11-1926), Bà Lâm ngọc Thanh thọ Thiên Ân Nữ Giáo Sư, Thánh danh là Lâm Hương Thanh. (TNHT. II. 13).

Sau đó tiếp tục được thăng phẩm Phối Sư Trong kỳ Phong Thánh Nữ phái lần thứ I ngày 14-1-Đinh Mão (dl 15-2-1927), Đức Chí Tôn thăng Bà lên phẩm Nữ Phối Sư, đứng đầu Nữ phái, và phong người con gái của Bà, Cô Huỳnh thị Hồ, vào phẩm Nữ Giáo Sư, Thánh danh Huỳnh Hương Hồ.

Ngày mùng 9-3-Kỷ Tỵ (dl 16-4-1929), Bà Lâm Hương Thanh được thăng phẩm Nữ Chánh Phối Sư, chưởng quản các tín đồ Nữ phái. Sau khi Bà Đăng Tiên được 17 ngày, đến ngày 25-4-Đinh Sửu (dl 3-6-1937), Bà được Đức Chí Tôn ân tứ lên phẩm Nữ Đầu Sư, vì Bà là người có đại công với Đạo trong buổi sơ khai và là chị cả của Nữ phái, dìu dẫn đàn em Nữ phá, trở thành vị Nữ Đầu Sư đầu tiên của nền Đại Đạo.

Công nghiệp hành đạo của Bà không chỉ nằm nơi chức phẩm hay uy tín ngoài xã hội, mà còn thể hiện nơi đức hy sinh và lòng từ ái đối với đồng đạo và nữ phái. Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc từng nhắc đến Bà với tất cả lòng kính trọng, nhìn nhận rằng chính Bà là người hết lòng che chở và bảo trọng nữ phái trong buổi đầu khai Đạo đầy sóng gió. Đức Ngài từng thuyết rằng:

“Duy có một mình Chị binh vực bảo trọng phái nữ còn tồn tại đến ngày nay…”

Lời minh chứng ấy đã cho thấy vai trò đặc biệt của Bà trong lịch sử hình thành nền nữ phái Cao Đài. Giữa hoàn cảnh xã hội đương thời còn nhiều ràng buộc đối với nữ giới, Bà đã dùng đức hạnh, trí tuệ và lòng kiên định để mở đường cho hàng nữ lưu bước vào con đường tu học và phụng sự Thiêng Liêng.

Bà vốn là người đặc biệt sùng kính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Có lẽ vì mối duyên sâu dày ấy mà ngày Bà qui tiên cũng nhằm đúng ngày Đại lễ vía Đức Phật Thích Ca. Đức Hộ Pháp từng giảng rằng đây không phải là sự tình cờ, mà là cơ duyên tiền định nơi cửa Thiêng Liêng.

Ngày mùng 8 tháng 4 năm Đinh Sửu (dl 16-5-1937), Bà an nhiên bái mạng Ngọc Hư Cung tại quê nhà Vũng Liêm, hưởng thọ 63 tuổi. Tang lễ của Bà khi ấy được đông đảo đồng đạo và người dân khắp nơi đến kính viếng, đủ cho thấy uy tín và đức độ lớn lao của một bậc nữ lưu đã trọn đời sống vì Đạo và vì người.

Hướng đến , ngày kỷ niệm 89 năm ngày Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh Đăng Tiên, hậu tấn chúng ta thành tâm tưởng niệm và tri ân công đức của một bậc tiền bối nữ lưu đã góp phần quan trọng trong buổi sơ khai Đại Đạo. Cuộc đời của Bà là tấm gương sáng về đức tin kiên định, lòng hy sinh vô ngã và tinh thần tận tụy phụng sự Thiêng Liêng.

Nguyện noi theo gương hạnh cao quý ấy để giữ gìn đạo tâm, vun bồi công quả và tiếp nối chí hướng mà các bậc tiền khai đã dày công gây dựng cho nền Đại Đạo hôm nay.

Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
☘️Hình ảnh được phục hồi màu sắc tươi sáng sắc nét từ nguồn ảnh tiktok Caodaism.1926.







Nhị vị Nữ Đầu Sư CỬU TRÙNG ĐÀI ☘️❤️
21/05/2026

Nhị vị Nữ Đầu Sư CỬU TRÙNG ĐÀI ☘️❤️

THƯƠNG YÊU CHẲNG CÓ ĐỘ LƯỜNGChỉ cầu con để dạ một chữ thương, Thương mình vậy thương ai cũng vậy, Lòng tình ái sao cho l...
19/05/2026

THƯƠNG YÊU CHẲNG CÓ ĐỘ LƯỜNG

Chỉ cầu con để dạ một chữ thương,
Thương mình vậy thương ai cũng vậy,
Lòng tình ái sao cho lừng lẫy,
Cái khí thương động dậy Trời già,
Chẳng phải thương chỉ trọng người ta,
Dầu cầm thú cỏ hoa cũng đoái,
Thương chẳng biết biệt phân phải trái,
Dầu khôn ngoan, ngu dại cũng thương,
Phàm tình thương chẳng có độ lường,
Thương cho đến hơi sương giọt nước,
Tình thương vốn ngoài vòng tội phước,
Với kẻ thù thương đựơc cũng nên thương,
Tình thương kia ví đặng phi thường,
Hoà giọt luỵ đau thương lau thế sự

“Trích Phương Tu Đại Đạo của Đức Hộ Pháp.”

☘️HÌNH ẢNH PHẠM NGHIỆP VÀ NHÀ MỒ CỦA BÀ NỮ CHÁNH PHỐI SƯ HƯƠNG NHIỀU - CHƯỞNG QUẢN HT PHƯỚC THIỆN NỮ PHÁI và 2 NGƯỜI CON...
17/05/2026

☘️HÌNH ẢNH PHẠM NGHIỆP VÀ NHÀ MỒ CỦA BÀ NỮ CHÁNH PHỐI SƯ HƯƠNG NHIỀU - CHƯỞNG QUẢN HT PHƯỚC THIỆN NỮ PHÁI và 2 NGƯỜI CON GÁI.

Hướng đến ngày kỷ niệm Đức Tôn Sư HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC Triều Thiên, chúng tôi có dịp về thăm lại PHẠM NGHIỆP cùng Nhà Mồ của Bà Nữ Chánh Phối Sư HƯƠNG NHIỀU - Chưởng Quản HT Phước Thiện Nữ Phái (bạn đời của Đức Ngài) và 2 người con gái là Cô Ba Phạm Hồ Cầm cùng Cô Tư Phối Sư Phạm Hương Tranh (Phạm Tần Tranh).

Theo tài liệu “Lược Sử Phạm Môn – Hồi Ký” của Đạo Nhơn Nguyễn Đức Hòa (bút hiệu Khiết Dân), PHẠM NGHIỆP chính là ngôi nhà đầu tiên do Đức Hộ Pháp tạo lập vào buổi sơ khai để mở nền Hội Thánh Phước Thiện về sau.

Phạm Môn được phôi thai từ năm Kỷ Tỵ (1929), khi Đức Hộ Pháp sang phần đất tại xóm Trường Đua, xã Hiệp Ninh, quận Châu Thành, tỉnh Tây Ninh dựng nên một ngôi nhà cột cây lợp tranh đơn sơ. Ngôi nhà đầu tiên ấy do Đức Ngài giao cho Ông Lễ Sanh Thượng Ngươn Thanh lãnh khoán thực hiện.

Trong lúc kiến tạo, có nhiều người đạo tâm tự nguyện đến phụ giúp công việc. Ban đầu chỉ là lòng mến Đạo, muốn gần gũi Đức Hộ Pháp để học hỏi đạo lý; nhưng dần dần số người tìm đến ngày một đông hơn. Đến năm Canh Ngọ (1930), Đức Hộ Pháp mới chính thức dạy rằng:

“Chỗ nầy không phải chỗ làm công quả. Nếu ai muốn làm công quả thì về Tòa Thánh mà làm. Còn muốn theo Qua thì phải hiến thân trọn đời vào Phạm Môn.”

Từ đó hình thành nên lớp người hiến thân đầu tiên của Phạm Môn. Người vào Phạm Môn phải lập Tờ Hiến Thân, có sự đồng thuận của cha mẹ hoặc vợ con và được Đầu Họ Đạo chứng nhận.

Buổi đầu ấy vô cùng kham khổ.

Anh em làm công mỗi tháng đủ 27 ngày, chỉ nghỉ các ngày mồng 1, 20 và 30. Cơm gạo thiếu thốn, nhiều bữa chỉ có khoai mì, lá dạ rồng, lá cây búng chấm nước muối qua ngày. Dầu vậy, không ai than van với gia đình. Khi cha mẹ hay vợ con hỏi thăm, tất cả đều chỉ nói mình “làm nhà, học Đạo, học Kinh”, chớ không ai kể cảnh đói lạnh cực nhọc nơi buổi đầu khai mở.

Khi ngôi nhà đầu tiên được dựng hoàn chỉnh, có xây hai trụ cửa ngõ, Đức Hộ Pháp mới dạy làm bảng đề hai chữ “PHẠM NGHIỆP” và đăng đôi liễn:

“Phạm Nghiệp thừa nhàn lợi lộc công danh vô sở dụng,
Môn Quan tích Đạo tinh thần pháp bửu hữu cơ cầu.”

Từ nơi mái nhà tranh đơn sơ ấy, Đức Hộ Pháp tiếp tục khai mở thêm nhiều cơ sở khác như Khách Đình, Tâm Lạch, Giang Tân, Nam Công Nghệ, Nữ Công Nghệ, Dưỡng Lão Đường… đặt nền móng cho tổ chức Phước Thiện sau nầy.

Đặc biệt, chính tại buổi đầu nơi Phạm Môn, Đức Hộ Pháp đã dạy anh em phải học thuộc Thập Điều Giới Răn, lấy đó làm căn bản lập thân hành Đạo:

1/- Phải tuân y Luật Pháp Chơn Truyền của Chí Tôn.
2/- Phải trọn hiếu với Tông Đường Phụ Mẫu, trọn nghĩa Vợ Chồng, vẹn phận làm Cha.
3/- Phải trọn giữ trai giới.
4/- Phải xa lánh các Đảng phái.
5/- Phải thật hành Phước Thiện, nuôi người già, dưỡng trẻ nhỏ.
6/- Không đặng thâu của chúng sanh.
7/- Coi Anh Em đồng Đạo như ruột thịt.
8/- Không được bì Sư phản bạn.
9/- Phải ở như các Thánh Hiền, đừng phạm tội vong công bỉ đức.
10/- Phải thương yêu loài người và loài vật, kính trọng mạng sanh, vì theo tánh chất của Chí Tôn là chúa sự sống.

Nhìn lại PHẠM NGHIỆP hôm nay, người hậu tấn không khỏi bùi ngùi khi nhớ về buổi đầu đầy gian lao ấy. Từ một mái nhà tranh nơi xóm Trường Đua năm xưa, biết bao lớp người đã hiến trọn đời mình cho Đạo pháp, sống trong thanh bần, lao khổ nhưng giữ trọn niềm tin cùng chí hướng phụng sự.
Ngày 16/5/2026
Người Phước Thiện

☘️Dưới đây là một số hình ảnh ghi lại PHẠM NGHIỆP cùng Nhà Mồ của Bà Nữ Chánh Phối Sư HƯƠNG NHIỀU và nhị vị nữ lưu Phạm Môn là Cô Ba Phạm Hồ Cầm và Cô Tư Phối Sư Phạm Hương Tranh.

Address

Tòa Thánh Tây Ninh
Tây Ninh
73000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Giữ Đạo Giữa Đời posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Giữ Đạo Giữa Đời:

Share