Giữ Đạo Giữa Đời

Giữ Đạo Giữa Đời Nơi lưu giữ và chia sẻ những câu chuyện, ký ức, di sản tinh thần của hàng thế hệ tiền nhân Đạo Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh. Muốn sống phải no, ấm, mạnh.

Trang lập nên để nhắc nhớ đạo nghĩa, vun bồi lòng nhân ái và gieo mầm Phước Thiện trong đời sống hằng ngày. “ Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh, tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát ít oi, hoặc giúp tay cho bên Hành Chánh thi hành luật pháp cho đặng dễ dàng trọn vẹn.” (ĐLMD)

“ Phước Thiện là cơ quan tận độ, cốt để mở đường Thánh đức cho toàn sanh chúng có đủ phương thế nhập vào Thánh thể, người ngoại giáo có thể nhờ nơi cửa Phước Thiện mà hiệp cùng Hội Thánh. Phước Thiện là phương bảo tồn sanh chúng, tế khổn phò nguy, vì trong đời người không có sự khổ nào bằng sanh, lão, bệnh, tử. Muốn thi hành cơ tận độ, những con cái của Đức Chí Tôn sẵn có tài tình học thức, đã được lập công nơi cơ quan khác, còn sót lại những kẻ dốt, kém, thật thà thì do nơi đâu mà lập công đoạt vị ? Chỉ có CQPT mới có đủ phương thâu nhập toàn thể con cái Chí Tôn qui về cửa Đạo, nên gọi là cơ Bảo tồn. Muốn thật hành chánh nghĩa Phước Thiện, con cái Chí Tôn đói phải nuôi, rách cho mặc, tật nguyền phải bảo dưỡng, cô thế phải chở che, châu cấp người già cả, săn sóc kẻ bịnh hoạn, vv. . . . nói tóm lại là phải gánh mọi sự khổ trên đời nầy. Vả lại, đời là một trường tranh đấu vì miếng ăn chỗ ở. Phước Thiện cứu kẻ khổ, giúp kẻ nguy, dìu dắt cho có phương sanh sống, tuy không giàu mà tự toại, không sang mà thung dung, mới có thể tránh được sự tranh đấu vì lẽ sống, tức là nâng đỡ, bảo sanh cho hạng Tam dân (nông, công, thương) hưởng đủ quyền lợi mà mỗi người được quyền sống hưởng theo luật tự nhiên của Tạo hóa. Phước Thiện là phương pháp làm cho bình đẳng giữa hai hạng người : vô sản và tư sản, hay nói cho đúng là dung hòa quyền lợi chung hưởng chánh đáng, bất phân giai cấp sang hèn, tức là huờn thuốc tự do bình đẳng bác ái. Chơn truyền của Phước Thiện lại còn phải thay thế cho Chí Tôn và Phật Mẫu thật hành cơ cứu khổ bằng phương pháp là : làm cha những kẻ không cha, làm mẹ những kẻ không mẹ, làm anh những kẻ không anh, làm bạn những kẻ thiếu bạn, làm chồng làm vợ những kẻ không chồng không vợ, trong sự thương yêu cao quí và trong sự giúp đỡ chơn thành. Như thế mới có thể thực hành cơ quan cứu khổ để nơi mặt thế. Nếu CQPT bảo đảm được con cái Chí Tôn dường ấy thì ân đức của Đại Đạo có thể sánh cùng Trời Đất, làm cho đời khổ trở nên đời hạnh phúc, đời loạn trở nên đời an cư lạc nghiệp thì sự hòa bình của đại đồng thế giới mới mong thành tựu đặng. “ (Trích Chánh Trị Đạo của Trần Khai Pháp)

“ Phải cho cơm những kẻ thiếu cơm, cho thuốc những kẻ thiếu thuốc, cho hàn những kẻ không hàn chôn, chở che những kẻ bị đàn áp bất công, binh vực những kẻ bị chúng hiếp, an ủi những kẻ buồn rầu, khuyến khích những kẻ toan thối bước, độ những kẻ khổ tâm, lau chùi nước mắt những kẻ cô độc đang khóc trước mặt mình.

“ Tóm lại, là phải tự hiến mảnh thân làm tế vật cho Đức Chí Tôn để làm tôi đòi cho con cái của Người sử dụng trong công việc đem hạnh phúc đến cho họ, để thực hành trọn vẹn cơ quan giải khổ của Đại Từ Phụ.” (TNST-Q2-B 67)

24/08/2026

BÁT TIÊN QUÁ HẢI 🌊

Biển Đông sóng vỗ trập trùng,
Bát Tiên quá hải thần thông nhiệm mầu.
Người nương sáo ngọc, quả bầu,
Vượt qua bể khổ, lướt sầu trần gian.
Cao Đài soi sáng Đạo Vàng,
Tam Kỳ Phổ Độ, bến ngàn bình yên.
Ngũ chi hiệp nhất linh thiêng,
Noi gương Tiên Đạo, kết duyên tu hành.
Thước phim gửi gắm tâm thành,
Tích xưa mượn cảnh, đắp xây thiện lành.
Biển trần dẫu lắm mong manh,
Đồng tâm hiệp lực, mây xanh khải hoàn.
Video : Nguồn tiktok TiêuDao

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM 42 NĂM NGÀY PHỐI SƯ HƯƠNG NƯƠNG LIỄU ĐẠO Nguyên Nữ Khâm Châu Đạo Lâm Đồng (đầu tiên)  Ngày 12/07 G...
24/08/2026

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM 42 NĂM NGÀY PHỐI SƯ HƯƠNG NƯƠNG LIỄU ĐẠO
Nguyên Nữ Khâm Châu Đạo Lâm Đồng (đầu tiên)

Ngày 12/07 Giáp Tý (Dl 8/8/1984)
Ngày 12/07 Bính Ngọ (2026)

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ NỮ PHỐI SƯ HƯƠNG NƯƠNG - Thế danh NGUYỄN THỊ NƯƠNG LÚC SANH TIỀN

Nữ Phối Sư Nguyễn Hương Nương, thế danh là Nguyễn Thị Nương, sanh năm 1910 tại Lưu Nghiệp Anh - Trà Vinh.

Thân phụ của Bà là Ông Nguyễn Văn Thành, làm chức Hương Chánh trong Ban Hội Đồng và thân mẫu là Bà Huỳnh Thị Chẫn. Năm 1928, sau một cơn bệnh nặng Bà Chẫn qua đời, để lại 5 người con. Sau đó, người anh cả và hai em gái lập gia đình nên ra ở riêng.

Bà Nguyễn Thị Nương là người con thứ ba trong gia đình. Bà sống độc thân, một mặt lo quán xuyến gia đình, thay mặt cha già đang bận công tác hằng ngày tại Hội Đồng xã, một mặt chăm sóc, dưỡng nuôi đứa em gái thứ sáu là Bà Nguyễn Thị Ý, lúc đó mới tròn 5 tuổi.

Tháng 4 năm 1933, được tin Bà Nữ Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh mở Đạo Cao Đài tại Thánh Thât Vũng Liêm (Vĩnh Long), Bà Nguyễn Thị Nương cùng thân phụ đến xin nhập môn cầu Đạo.

Sau khi lập minh thệ, Bà Nương được Bà Nữ Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh đề cử giữ chức Lễ Sanh, hợp tác với các vị khác lo việc truyền giáo Cao Đài tại quận Trà Cú, xây cất Thánh Thất Long Vĩnh, làm nơi trụ tinh thần cho con cái Đức Chí Tôn.

Ngày 15 tháng 10 năm Ất Hợi (1935), Đức Lý Giáo Tông ân phong cho Bà vào hàng Lễ Sanh chánh vị, thánh danh là Lễ Sanh Hương Nương, Chức Sắc Thiên Phong Nữ phái Cửu Trùng Đài.

Năm 1936, Bà Lễ Sanh Hương Nương, được Hội Thánh thuyên bổ làm Nữ Đầu Quận Đạo quận Cao Lãnh (tỉnh Sa Đéc).

Vì còn mang nặng trách nhiệm thay Mẹ nuôi em tuổi còn ấu thơ, Bà chần chừ chưa quyết định có nên phế đời hành Đạo phương xa hay không. Nhưng qua nhiều đêm đắn đo, suy nghĩ và thường được nghe tiếng gọi của tâm linh dục thúc, Bà Lễ Sanh Hương Nương cương quyết thi hành sứ mạng thiêng liêng. Bà tâm sự cùng thân phụ, xin cho đứa em nhỏ theo Bà trên con đường hành Đạo, vừa hành Đạo, vừa trông nom em, hầu làm tròn Nhơn Đạo và Thiên Đạo. Bà cũng đề nghị với người Cha tìm người hiền đức mà tục huyền để có người chăm sóc, khi không có mặt Bà ở
nhà .

Thông cảm nỗi lòng hiếu Đạo và nhận thức được sứ mạng thiêng liêng cao cả của một Chức Sắc Thiên Phong, nên ba Bà chấp thuận lời đề nghị và để Bà an lòng vấn thân trên con đường hành đạo.

Rằm tháng 10 năm Canh Thìn (1940), Bà Lễ Sanh Hương Nương đắc phong phẩm Giáo Hữu, được Hội Thánh thuyên bổ giữ chức Khâm Châu Đạo Mỹ Tho.

Ngày mồng 4 tháng 6 năm Tân Tỵ (28-6-1941), vào lúc 8 giờ sáng, lính Mật Thám Pháp đến bắt Đức Hộ Pháp và chư vị Chức Sắc Đại Thiên Phong lưu đày sang đảo Madagascar, Phi Châu. Quân đội Pháp chiếm đóng Tòa Thánh Tây Ninh và đuổi toàn thể Chức Sắc và những người làm công quả trở về đời sống thế tục và phải rời khỏi Tòa Thánh ngay lập tức.

Trong thời kỳ từ năm 1943-1946, Nữ Giáo Hữu Hương Nương tham gia tổ chức Nội Ứng Nghĩa Binh. Bà cộng tác với Giáo Sư Thượng Vinh Thanh thi hành Thánh ý của Đức Lý Giáo Tông và Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung.

Ngày mùng 4 tháng 8 năm Bính Tuất (30-8-1946), thực dân Pháp rước Đức Hộ Pháp trở về Tòa Thánh Tây Ninh. Khi trở lại nước nhà, Đức Ngài lo chấn hưng cơ Đạo và tranh đấu cho nền Độc Lập Thống Nhứt Quốc Gia.

Vào các năm 1947-1948, Mặt Trận Việt Minh phát động chiến dịch tàn sát Chức Sắc và đạo hữu Cao Đài khắp nơi.
Không thể ngồi yên nhìn đồng Đạo và thân nhân bị tàn sát bởi nhóm người vô thần, nữ Giáo Hữu Hương Nương hổ trợ cho các chiến sĩ Cao Đài thành lập căn cứ Đạo, che chở cho các tín đồ và nhân dân tránh xa lằn đạn của Pháp và Việt Minh đang tàn sát lẫn nhau.

Cường độ chiến tranh càng ngày càng quyết liệt, loạn lạc khắp nơi. Giáo Hữu Nương nhớ đến người em ruột thứ năm và 3 mẹ con bà Mẹ kế còn đang bị kẹt trong khu chiến tranh, Giáo Hữu Nương bất chấp sự hiểm nguy, liều thân lẻn vào vùng đang đánh nhau, rước được bà Mẹ và các em đem về cơ sở Đạo ở Mỹ Tho.

Thời gian sau, Giáo Hữu Nguyễn Hương Nương được Hội Thánh Nữ Phái bổ nhiệm làm Nữ Khâm Châu Đạo Lâm Đồng Đà Lạt, thuộc Cao Nguyên Trung Phần.

Nhân dịp này, Bà Nương đưa Mẹ và 2 em về vùng Thánh Địa, xin và được Hội Thánh cấp cho một phần đất để xây nhà, giới thiệu cho Mẹ vào làm công quả nơi cơ quan Phước Thiện và gởi hai em vào học tại Đạo Đức Học Đường.

Còn mẹ con Bà Nguyễn Thị Tùng (người em thứ năm) thì cho định cư tại tỉnh Tây Ninh, sống nghề buôn bán bánh mứt.

Ngày 16 tháng 11 năm Canh Dần (22-11-1950), Giáo Hữu Hương Nương được phong phẩm Giáo Sư. Hội Thánh Nữ Phái bổ nhiệm Bà giữ chức vụ Phụ Thống Y Viện tại Tòa Thánh.

Với đức tánh cần cù nhẫn nại, Bà hết lòng chăm sóc cho tất cả những bệnh nhân, ngày đêm không nghĩ, nhứt là những người bị bịnh liệt, nằm một chổ không cử động được, luôn được Bà Giáo Sư tận tình chăm sóc. Lòng bác ái và sự tận tâm của Bà được các bịnh nhân rất ngưỡng mộ và kính mến, xem Bà như một vị nữ Thánh.

Năm Bính Thân 1956, Đức Phạm Hộ Pháp lưu vong sang Nam Vang (Cao Miên), Đức Ngài phát động Phong Trào Hòa Bình Chung Sống, kêu gọi chánh phủ 2 miền Nam Bắc: "Mở Cuộc Thi Đua Nhân Nghĩa" giữa 2 miền, kêu gọi 2 chính phủ tôn trọng quyền dân tộc tự quyết, để xây dựng một quốc gia thống nhất và độc lập.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Phạm Hộ Pháp, Giáo Sư Hương Nương xin gia nhập phong trào nầy , Bà giữ nhiệm vụ trong Ban Đại Diện Miền Nam, cùng với các vị Chức Sắc khác của Đạo Cao Đài.

Nhưng hại thay, chánh quyền buổi ấy đang thi hành chủ thuyết độc tài, chủ trương tiêu diệt những người yêu nước chân chính. chánh quyền ra lịnh lùng bắt những người họat động cho đường lối Hòa Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp. Chánh quyền bắt buộc Hội Thánh ra lịnh cho toàn thể Chức Sắc Cao Đài tức khắc rời khỏi tổ chức Hòa Bình Chung Sống, nếu vị nào còn hoạt động thì kể như đã đổi áo nhà tu, không còn là Chức Sắc Cao Đài nữa.

Sau khi chánh quyền bắt một số Chức Sắc quan trọng họat động cho đường lối Hòa Bình Chung Sống trong Ban Đại Diện Miền Nam, người kế tiếp mà nhà cầm quyền để tâm theo dõi gắt gao là Giáo Sư Hương Nương, vì Bà là người có nhiệm vụ liên lạc và nhận chỉ thị của Đức Hộ Pháp (đang ở Cao Miên) chuyển giao đến các tổ chức ở miền Nam và miền Trung.

Nhờ sự nuôi dưỡng và che chở của bổn Đạo, cơ quan cảnh sát của nhà cầm quyền không thể nào bắt được Bà.
Lính mật thám mở cuộc càn quét khám xét từng nhà đạo hữu, chận xét các nẻo đường đi vào Núi Bà Đen, phái nhơn viên rình rập nơi Vạn Pháp Cung, mục đích là tìm bắt Bà cho bằng được.

Một hôm, khi biết tin phong trào Hòa Bình Chung Sống sẽ tổ chức phiên họp tại một vùng rừng núi gần Vạn Pháp Cung, nhóm mật thám bủa vây và bắt được Giáo Sư Hương Nương và 3 người phụ nữ. Trong khi chờ đợi xe đến để đưa về thành phố, Bà lên kế hoạch tẩu thoát. Bốn người phụ nữ xin phép đi vệ sinh, bọn lính bắt buộc phải cho 4 người đi và chỉ đứng từ xa để canh chừng. Khi bọn lính không để ý, 4 bà vụt bỏ chạy, mỗi người chạy mỗi hướng khác nhau, mục đích là giúp Bà Nương tẩu thoát. Cuối cùng, nhóm lính chỉ bắt được 3 người phụ nữ, riêng Bà Giáo Sư Hương Nương vì quen thuộc khu rừng rậm nơi đây nên Bà chuôi xuống địa Đạo lẫn tránh và vượt rừng núi thoát nạn.

Sau nầy nhắc đến chuyện nhóm lính mật thám thời đó bị Bà Giáo Sư Hương Nương gạt để tẩu thoát ai cũng khen Bà là người thông minh và nhanh trí.

Ngày (13-12-1968), Bà được Ơn Trên khen thưởng, thăng phẩm cho Bà lên chức Nữ Phối Sư vì Bà lập nhiều công quả với Đạo và trải qua nhiều gian khổ trong công cuộc đấu tranh cho đường lối Hòa Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp. Hội Thánh bổ nhiệm Nữ Phối Sư Hương Nương trở lại phụ trách chức vụ Thượng Thống Y Viện Hành Chánh, kiêm Trưởng Ban Dưỡng Lão tại Trí Giác Cung.

Với chức vụ Thượng Thống Y Viện Hành Chánh, Bà Phối Sư Hương Nương hiệp sức với Nam Phối Sư Ngọc Nghiệp Thanh và đồng Đạo mở rộng Y viện, xây cất 3 giải nhà làm bịnh xá cho bệnh nhân nằm điều trị. Y viện được tu bổ lại rất khang trang, có văn phòng làm việc cho cơ quan.

Các Bác Sĩ có văn phòng khảo cứu, và các phòng thí nghiệm chuyên môn. Phía sau Y viện có một giải nhà rộng rãi, dành đặc biệt cho các bịnh nhân bị bịnh liệt, có nhân viên thường trực tận tình săn sóc ngày đêm.

Những ngày cuối đời, Bà Phối Sư Hương Nương lâm bệnh nặng và được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện Bình Dân ở quận 3, Sài Gòn. Bác Sĩ cho biết Bà bị ung thư phổi ở giai đoạn cuối.

Bà trở về Tòa Thánh Tây Ninh, nằm dưỡng bệnh tại Bệnh Viện Phước Thiện. Bà qui vị lúc 12 giờ trưa ngày 12 tháng 7 năm Ất Sửu (28-8-1985) một cách êm ái, hưởng thọ 75 tuổi. Từ ngày khởi bịnh đến ngày Bà mất vừa đúng một tháng.

Tính từ năm 1935, năm Bà thọ phong phẩm Lễ Sanh chánh vị đến năm 1985 Bà mất, Bà đã cống hiến cho Đạo 50 năm công nghiệp. Bà Phối Sư Hương Nương thực sự là một bậc nữ lưu, hiếu nghĩa vẹn toàn, một vị nữ Chức Sắc dầy công với Đạo, một nhà cách mạng khí khái, can đảm, không kém Nam nhi, rất xứng đáng làm gương cho các Chức Sắc Nữ Phái thế hệ mai sau.

Đám tang của Bà được cử hành trọng thể, linh cửu ngự trên thuyền Bát Nhã. Tiển đưa Bà gần cả vài ngàn người, gồm có Chức Sắc lưỡng Đài, các Ban Bộ trong phong trào Hòa Bình Chung Sống, quí vị tu chơn ở Trí Huệ Cung, Trí Giác Cung, Vạn Pháp Cung, chư vị Hiền Tài Ban Thế Đạo, các thanh niên Đại Đạo Thanh Niên Hội, cùng quan khách ngoài đời và thân quyến tham dự. Số người tham dự đưa tiễn Bà dài chừng 2 cây số.

Bà Phối Sư Hương Nương cũng là một trong những thi sĩ của nhóm Đạo Đức Văn Đàn. Trong phần ai điếu ngày tang lễ của Bà, một nữ thi sĩ của Văn Đàn đọc ai điều ca ngợi công nghiệp của Bà và nhắc lại bài thi của Bà sáng tác lúc Bà còn sanh tiền như sau:

Chí quyết giồi mài một chữ Tâm,
Chẳng ham danh lợi, chẳng sai lầm.
Chơn truyền tiến bước theo đường thẳng, Luật Pháp trong chừng hướng Trúc Lâm.
Dưỡng tánh dung bồi nền đạo hạnh,
Trau tâm đâu quản bấy nhiêu năm.
Noi đường nhân nghĩa bòn âm chất,
Vẹn phận tu chơn bước Đạo tầm.
Phối Sư Hương Nương

☘️Bản tiểu sử này được biên soạn bởi Thánh Thất Portland từ nguồn tài liệu của cố Giáo Hữu Thượng Màng Thanh.

Theo ghi chép, Bà đã quy vị vào đúng ngọ (12 giờ trưa) ngày 12 tháng 7 năm Ất Sửu, nhằm ngày 28/8/1985. Tuy nhiên, có một điểm cần lưu tâm: ngày liễu đạo khắc trên bia mộ của Bà hiện có sự sai biệt so với tài liệu lưu truyền của cố Giáo Hữu.

TÌM HIỂU DANH TỪ CHUYÊN BIỆT CỦA ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘSỐ 1: NAM TÔNG ĐẠO – BẮC TÔNG ĐẠO – TRUNG TÔNG ĐẠO – KIÊM BIÊN TÔN...
22/08/2026

TÌM HIỂU DANH TỪ CHUYÊN BIỆT CỦA ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

SỐ 1: NAM TÔNG ĐẠO – BẮC TÔNG ĐẠO – TRUNG TÔNG ĐẠO – KIÊM BIÊN TÔNG ĐẠO

(Theo Thánh Huấn số 77, ngày 17–1–Canh Thìn / 24–2–1940)

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có nhiều danh từ chuyên biệt dùng trong tổ chức và Hành Chánh Đạo. Buổi đầu khai Đạo, một số danh từ còn tạm dùng theo thế tục cho dễ hiểu; về sau Hội Thánh đính chánh lại để thống nhất cách xưng hô trong toàn Đạo.

Theo Thánh Huấn số 77 năm Canh Thìn 1940:

Nam Kỳ gọi là Nam Tông Đạo.
Bắc Kỳ gọi là Bắc Tông Đạo.
Trung Kỳ gọi là Trung Tông Đạo.
Kiêm Biên gọi là Kiêm Biên Tông Đạo.

TÔNG ĐẠO LÀ GÌ?

Tông Đạo là một địa hạt hành Đạo rộng lớn, bên trong được phân chia thành các Trấn Đạo, Châu Đạo, Tộc Đạo và Hương Đạo.

Có thể hiểu theo thứ bậc:

TÔNG ĐẠO → TRẤN ĐẠO → CHÂU ĐẠO → TỘC ĐẠO → HƯƠNG ĐẠO.

Vì vậy, chữ Tông Đạo không có nghĩa là tông phái. Đặc biệt, Nam Tông Đạo không phải Nam phái. Nam Tông Đạo là danh từ chỉ địa hạt hành chánh của Đạo tại Nam phần.

☘️NAM TÔNG ĐẠO :
Nam Tông Đạo là địa hạt hành Đạo thuộc Nam Kỳ, tức Nam phần Việt Nam đương thời.

Theo tài liệu thời kỳ trước, Nam Tông Đạo có 5 Trấn Đạo: An Giang, Long Hồ, Gia Định, Biên Hòa và Định Tường.

Đến Vi Bằng Đại Hội Hội Thánh năm Đinh Mùi 1967, Nam Tông Đạo được ghi nhận có:

6 Trấn – 27 Châu – 134 Tộc, gồm:

– Trấn Đạo Biên Hòa
– Trấn Đạo Gia Định
– Trấn Đạo Định Tường
– Trấn Đạo Long Hồ
– Trấn Đạo An Giang
– Trấn Đạo Ba Xuyên

Đến năm Bính Thìn 1976, Hội Thánh tiếp tục sắp xếp lại theo địa giới mới, Nam Tông Đạo gồm 8 Trấn Đạo, 13 Châu Đạo.

Như vậy, danh từ Nam Tông Đạo vẫn được giữ, còn số lượng Trấn và Châu được điều chỉnh tùy từng thời kỳ.

☘️TRUNG TÔNG ĐẠO:
Trung Tông Đạo là địa hạt hành Đạo thuộc Trung Kỳ, tức Trung phần Việt Nam.

Theo Vi Bằng Đại Hội Hội Thánh năm 1967, Trung Tông Đạo có:

2 Trấn – 17 Châu – 78 Tộc.

Hai Trấn gồm:
Trấn Đạo Bình Định: 10 Châu.
Trấn Đạo Khánh Hòa: 7 Châu.

Đến năm 1976, Trung Tông Đạo được tổ chức lại thành 5 Trấn Đạo, 8 Châu Đạo.

☘️KIÊM BIÊN TÔNG ĐẠO:
Kiêm Biên Tông Đạo là địa hạt hành Đạo tại Cao Miên, tức Campuchia ngày nay, trong tài liệu Đạo cũng thường gọi là Tần Quốc.

Theo Vi Bằng Đại Hội Hội Thánh năm 1967, Kiêm Biên Tông Đạo có 1 Trấn Đạo Tần Quốc và 10 Châu Đạo.

Bản Vi Bằng ghi các Châu gồm: Kiêm Biên, Kandal, Kompong Chhnang, một Châu hiện bản sao chưa đọc rõ tên, Kg. Cham, Battambon, Oisémsreaf, Krotie, Preydel và Svayrieng.

☘️BẮC TÔNG ĐẠO:
Bắc Tông Đạo là danh từ dùng để gọi địa hạt hành Đạo thuộc Bắc Kỳ, tức Bắc phần Việt Nam.

Danh từ Bắc Tông Đạo đã được xác lập trong Thánh Huấn số 77 năm 1940. Hội Thánh cũng từng cử Chức sắc ra Bắc hành Đạo và trong sử liệu có nhắc đến chức vụ Khâm Trấn Đạo tại Bắc phần.

Tuy nhiên, trong phần thống kê của Vi Bằng Đại Hội Hội Thánh năm 1967 hiện tìm được lại không thấy ghi cơ cấu Trấn, Châu, Tộc của Bắc Tông Đạo.

Do hoàn cảnh truyền Đạo ngoài Bắc gặp nhiều trở ngại, rồi chiến tranh và chia cắt đất nước, tư liệu về tổ chức Bắc Tông Đạo hiện còn khá thiếu. Phần này cần tiếp tục sưu tầm thêm trước khi có thể xác định đầy đủ các Trấn Đạo ngày trước.

👉TÓM LẠI :
☘️Nam Kỳ → Nam Tông Đạo
☘️Bắc Kỳ → Bắc Tông Đạo
☘️Trung Kỳ → Trung Tông Đạo
☘️Cao Miên → Kiêm Biên Tông Đạo

Bốn danh từ trên là danh từ hành chánh của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, dùng để phân định những địa hạt hành Đạo lớn của Hội Thánh, chớ không phải bốn tông phái khác nhau.

Qua từng thời kỳ, địa giới và số lượng Trấn Đạo, Châu Đạo có thể thay đổi, nhưng danh từ Tông Đạo vẫn cho thấy một phần quan trọng trong tổ chức Hành Chánh Đạo của Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh.

Hẹn Quý HTĐM ở Số tiếp theo, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu hai danh từ chuyên biệt trong nền Hành Chánh Đạo: KHÂM TRẤN ĐẠO và KHÂM CHÂU ĐẠO — là những chức trách quan trọng trong việc điều hành Trấn Đạo và Châu Đạo thuở trước

☘️Tài Liệu Tham Khảo:
Thánh Huấn số 77 năm 1940; Vi Bằng Đại Hội Hội Thánh năm 1967; Huấn Lịnh Hội Thánh Cửu Trùng Đài năm 1976.

AI TÍN☘️🙏Kính báo cùng chư quý Huynh Tỷ, Đệ Muội đồng đạo!Cố Giáo Sư : THÁI HIỆP THANH( thế danh: Lâm Văn Hiệp 59 tuổi)Q...
22/08/2026

AI TÍN☘️🙏

Kính báo cùng chư quý Huynh Tỷ, Đệ Muội đồng đạo!

Cố Giáo Sư : THÁI HIỆP THANH
( thế danh: Lâm Văn Hiệp 59 tuổi)
Qui vị lúc: 07 giờ 46 - ngày 10 tháng 7 năm Bính Ngọ (dl. 22/ 8/ 2026).
tại Y Viện Nội Ô Toà Thánh.

CHƯƠNG TRÌNH Lễ tang như sau:
☘️Ngày 10 tháng 7 năm Bính Ngọ (dl. 22/ 8/ 2026)
-12 giờ 00 : Ngọ thời THƯỢNG SỚ TÂN CỐ tại Đền Thánh
-16 giờ 00 : Tẩn liệm tại Khách Đình
☘️Ngày 11 tháng 7 năm Bính Ngọ (dl. 23/ 8/ 2026)
-07 giờ 00 :Di Quan vào BÁO ÂN TỪ.
-08 giờ 00 :THÀNH PHỤC PHÁT TANG
-14 giờ : CÚNG TẾ ĐIỆN (Chánh tế- phụ tế) Cầu Siêu.
-19 giờ : CHÈO HẦU.
☘️Ngày 12 tháng 7 năm Bính Ngọ (dl. 24/ 8/ 2026)
-07 giờ: Cúng tế châm chước Di quan đến Đền Thánh CẦU SIÊU – TUYÊN DƯƠNG CÔNG NGHIỆP HÀNH ĐẠO
-An táng tại: CỰC LẠC THÁI BÌNH

Nay xin kính báo để chư quý đồng đạo tường lãm và đồng tâm cầu nguyện cho chơn linh Trưởng Huynh sớm nhẹ bước tiêu diêu trên coi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát
Nay kính báo !

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ GIÁO SƯ HỨA HƯƠNG XUÂN (1897–1976)Giáo Sư Hứa Hương Xuân sanh năm 1897, theo bia mộ ghi nơi sanh tại Thư...
22/08/2026

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ GIÁO SƯ HỨA HƯƠNG XUÂN (1897–1976)

Giáo Sư Hứa Hương Xuân sanh năm 1897, theo bia mộ ghi nơi sanh tại Thường Thới, Châu Đốc. Bà là Chức sắc Nữ phái Cửu Trùng Đài, từng có thời gian hành đạo tại Kiêm Biên Tông Đạo.

Theo Vi Bằng Đại Hội Hội Thánh năm Đinh Mùi, lúc bấy giờ Bà đang ở phẩm Giáo Hữu, trường trai, hiện hành sự tại Kiêm-Biên Tông-Đạo, có 8 năm 5 tháng công nghiệp hành đạo và đã xuất sư. Hồ sơ ghi nhận Bà có hạnh đức hiền hòa, đạo đức tốt, phục vụ siêng năng. Phần Minh Tra Pháp Chánh nhận xét Bà rất xứng đáng về tâm đức, tuy còn nặng gánh gia đình nhưng công nghiệp nhiều, rất có triển vọng trong sự dìu dắt đàn em Nữ phái tại Kiêm Biên. Nữ Chánh Phối Sư xét Bà có công nghiệp thâm niên, xứng đáng cầu thăng phẩm Giáo Sư; Hội Nhơn Sanh công nhận và Hội Thánh cũng quyết nghị công nhận việc cầu thăng.

Tuy nhiên, việc Hội Thánh công nhận hồ sơ cầu thăng lúc ấy chưa đồng nghĩa với việc Bà được chính thức thọ phong ngay. Sau kỳ Đại Hội Đinh Mùi, đến đàn tại Cung Đạo Đền Thánh năm Mậu Thân 1968, việc cầu thăng thuộc danh sách của kỳ Đại Hội trước bị Đức Lý Đại Tiên Nhứt Trấn Oai Nghiêm đình lại, nên những trường hợp đã được Hội Thánh công nhận vẫn phải chờ sự định phận tiếp theo của Thiêng Liêng.

Đến năm Tân Hợi 1971, các hồ sơ cầu thăng từng bị đình lại được cho phép đưa ra Cung Đạo để tái xét. Trong đàn ngày 15 tháng 11 Tân Hợi, nhằm 01/01/1972, có bốn vị Giáo Hữu Nữ phái được thăng lên phẩm Giáo Sư. Tuy nhiên, tài liệu hiện tìm được chỉ ghi số lượng mà không lưu danh tánh, nên chưa thể xác định Giáo Hữu Hứa Hương Xuân có thuộc đợt này hay không.

Qua năm Nhâm Tý, tại đàn Cung Đạo Đền Thánh đêm mùng 1 tháng Chạp Nhâm Tý, nhằm 04/01/1973, Đức Lý chấp thuận cho 24 Giáo Hữu Nữ phái được thăng phẩm Giáo Sư. Danh sách 24 vị này đã được đối chiếu và không có tên Hứa Hương Xuân. Điều đó cho thấy Bà không thọ phong Giáo Sư trong đợt ngày 04/01/1973; đồng thời cũng giải thích vì sao không nên căn cứ vào đợt thăng thưởng năm 1973 để xác định thời điểm Bà lên phẩm Giáo Sư. Rất có thể hồ sơ của Bà đã được giải quyết trong một đợt trước đó hoặc bằng một quyết định riêng khác, nhưng hiện chưa tìm được văn kiện ghi rõ ngày thọ phong nên chưa thể kết luận.

Dầu chưa xác định được chính xác ngày Bà chính thức thọ phẩm Giáo Sư, đến cuối đời phẩm vị Giáo Sư Hứa Hương Xuân đã được xác nhận qua bia mộ. Bà qui vị tại Tòa Thánh Tây Ninh ngày mùng 7 tháng 10 năm Bính Thìn, nhằm 27/11/1976, hưởng thọ 79 tuổi.

Qua những tư liệu còn lưu lại, Giáo Sư Hứa Hương Xuân là một vị Nữ Chức sắc có tâm đức hiền hòa, công nghiệp thâm niên, siêng năng phụng sự và từng được Hội Thánh đánh giá có khả năng dìu dắt đàn em Nữ phái tại Kiêm-Biên Tông-Đạo. Dẫu một phần hành trạng và thời điểm thọ phong của Bà còn chờ thêm tài liệu xác chứng, công nghiệp hành đạo của Bà vẫn là một dấu tích đáng trân trọng trong hàng Chức sắc Nữ phái Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Tây Ninh, ngày 09 tháng 8 năm 2026
Người biên soạn
HUỲNH HUY

Những chơn dung nhuốm màu thời gian nay đã được phục hồi lại đầy uy nghi. ✨Xin chia sẻ cùng quý đồng đạo một việc làm tr...
21/08/2026

Những chơn dung nhuốm màu thời gian nay đã được phục hồi lại đầy uy nghi. ✨

Xin chia sẻ cùng quý đồng đạo một việc làm tri ân thầm lặng mà vô cùng ý nghĩa từ Tiệm Phục Chế Ảnh - tự tay phục dựng lại hình ảnh Chư Vị Chức Sắc Tiền Bối để lưu truyền mai sau.

Cùng ngắm nhìn thành quả đầy tâm huyết của Tiệm ở bài viết bên dưới nhé! 🙏🌿

CẮT CÂY MỤC,ƯƠM MẦM XANH : NHÌN “TUỒNG ĐỜI” QUA MẤY GỐC CÂY Ở TOÀ THÁNH Mấy hôm nay, chuyện Toà Thánh Tây Ninh cưa hạ hà...
21/08/2026

CẮT CÂY MỤC,ƯƠM MẦM XANH : NHÌN “TUỒNG ĐỜI” QUA MẤY GỐC CÂY Ở TOÀ THÁNH

Mấy hôm nay, chuyện Toà Thánh Tây Ninh cưa hạ hàng cây mục rỗng trong nội ô để trồng lại cây mới gây ra không ít xôn xao. Người thấy hình ảnh thân cây ngã xuống thì vội vã trách than, kẻ phán xét chưa tường tận đã vội buông lời xúc phạm Hội Thánh. Nhưng chỉ khi nhìn vào những khúc gỗ đã xẻ ra—lõi rỗng tuếch, mối mọt ăn tàn tạ bên trong—mới thấy nếu không cưa bỏ, hiểm họa dông lốc quật ngã gẫy đổ lên người đi đường sẽ nguy hiểm đến chừng nào.

Chuyện mấy gốc cây tưởng chừng đơn giản, nhưng ngẫm lại là một bài học sâu sắc cho người học Đạo giữa đời:

Thế gian thường dễ bị đánh lừa bởi những gì um tùm, to lớn ở bề ngoài mà quên mất việc nhìn vào cái lõi bên trong. Một cái cây bóng mát phủ rộng nhưng ruột đã mục chuộng thì chỉ là mối nguy tiềm ẩn. Trong đường tu học cũng vậy, giữ cái danh suông hay vẻ đạo mạo bên ngoài mà tâm trí tích tụ tham-sân-si mục rỗng thì cũng chẳng khác nào gốc cây chờ ngày ngã đổ.

Cưa bỏ cây già cỗi, sâu bệnh là hành động bắt buộc để bảo vệ sự an toàn cho Nhơn Sanh và nhường chỗ cho những mầm xanh mới vươn lên. Muốn tâm mình trổ hoa kết quả, người tu giữa đời cũng phải can đảm "cưa hạ" những thói hư nết xấu, những tư tưởng tiêu cực đã bị mối mọt ăn mòn từ lâu. Sự dọn dẹp nào ban đầu cũng để lại khoảng trống ngổn ngang, nhưng đó là khoảng trống cần thiết để đón ánh nắng mới.

Thị phi ở đời vốn như gió thoảng. Người không nhìn thấu bản chất thì vội phán xét, kẻ thiếu tầm nhìn thì hay trách than. Người biết giữ Đạo không sa vào đôi co với "tuồng đời", mà thản nhiên làm đúng trách nhiệm, lấy sự an toàn và lợi ích lâu dài của chúng sanh làm gốc. Thời gian trôi qua, khi cây mới bám rễ tỏa bóng mát, tự khắc những lời dèm pha sẽ tự tan biến.

Tâm mình cũng như khuôn viên Toà Thánh, phải biết nhìn thấu những chỗ mục rỗng để dọn dẹp, và luôn vững vàng, thản nhiên trước sóng gió dư luận ngoài kia.

Trong góc khuất lòng mình, có "gốc cây mục" nào mà chúng ta vẫn đang ngần ngừ chưa chịu dọn dẹp để ươm lại một mầm xanh mới?
TÂY NINH, Ngày 21/08/2026
Đạo Hữu Vô Danh

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ TIẾP LỄ NHẠC QUÂN TRẦN THIỆN NIỆM (1917–2006)Tiếp Lễ Nhạc Quân Trần Thiện Niệm, thường được đồng Đạo kín...
21/08/2026

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ TIẾP LỄ NHẠC QUÂN TRẦN THIỆN NIỆM (1917–2006)

Tiếp Lễ Nhạc Quân Trần Thiện Niệm, thường được đồng Đạo kính gọi là Ông Tư Niệm, sanh năm 1917, quê quán tại Thủ Thừa, tỉnh Long An. Ông là một vị Chức sắc kỳ cựu của Bộ Nhạc Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, có nhiều năm phụng sự nền Lễ Nhạc của Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh.

Trong bước đường hành Đạo, Ông tuần tự trải qua nhiều phẩm vị và trọng trách trong Bộ Nhạc. Khi còn ở phẩm Đề Nhạc, Ông từng được giao cai quản Bộ Nhạc Trung Tông, Văn phòng đặt tại Thánh Thất Đa Phước. Sau thời gian lập công bồi đức, Ông được thăng lên phẩm Đốc Nhạc.

Trong thời kỳ Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc lưu vong nơi Cao Miên, Đốc Nhạc Trần Thiện Niệm có mặt tại Nam Vang và đảm trách việc cai quản Ban Nhạc nơi đây. Ngày mùng 6 tháng 5 năm Đinh Dậu, nhằm ngày 3 tháng 6 năm 1957, khi hay tin Thừa Sử Phan Hữu Phước qui vị trong lúc bị giam giữ tại Thủ Đức, Đức Hộ Pháp đã giao cho Đốc Nhạc Trần Thiện Niệm lo phần lễ Chèo Thuyền tại Khách Đình ở Nam Vang.

Đến ngày 17 tháng 5 năm 1959, khi Đức Hộ Pháp qui Thiên tại Nam Vang, tư liệu Đạo tiếp tục ghi nhận Đốc Nhạc Trần Thiện Niệm có mặt trong những công việc chuẩn bị tang lễ của Đức Ngài. Những dấu tích này cho thấy Ông là một trong những vị Chức sắc Bộ Nhạc đã theo sát Đức Hộ Pháp trong những năm cuối đời của Đức Ngài nơi đất khách, đồng thời góp phần duy trì nền Lễ Nhạc của Hội Thánh trong một giai đoạn đầy biến động.

Sau này, Ông được thăng phẩm Nhạc Sư và đảm trách cai quản Ban Nhạc Tòa Thánh. Với nhiều năm kinh nghiệm cùng sự am tường sâu sắc về Lễ Nhạc, Ông có nhiều công lao trong việc gìn giữ, chấn chỉnh và truyền lại những khuôn phép âm nhạc dùng trong các thời Đại Đàn, Tiểu Đàn và Tứ Thời tại Đền Thánh, Báo Ân Từ.

Những tài liệu còn lưu lại cho thấy Nhạc Sư Trần Thiện Niệm đã trực tiếp hướng dẫn các Nhạc sĩ từ việc chuẩn bị nhạc khí, lên dây, vào đàn cho đến cách phối hợp giữa nhạc, chuông, kiểng và những nghi thức phải tuân giữ trong từng thời cúng. Ông luôn nhấn mạnh việc gìn giữ đúng khuôn phép tiền nhân, từng căn dặn anh em Bộ Nhạc phải “gia tâm chỉnh đốn cho y khuôn mẫu để khỏi phần thất lễ.”

Trong bài dạy Ban Nhạc đờn cúng Đại Đàn Đức Phật Mẫu ngày mùng 9 tháng 11 năm Tân Mùi, nhằm ngày 14 tháng 12 năm 1991, Ông đặc biệt nhắc nhở người hành Nhạc phải chuẩn bị nhạc khí chu đáo từ trước, khi vào vị trí không được thử kèn, trống gây huyên náo, và trong suốt thời cúng phải “thủ lễ nghiêm túc.”

Qua những lời chỉ dẫn ấy có thể thấy đối với Nhạc Sư Trần Thiện Niệm, Nhạc nơi cửa Đạo không chỉ cần đúng bài bản mà người hành Nhạc còn phải giữ trọn lễ nghi, phẩm hạnh và lòng thành kính. Từ cách vào bài Nam, bài Xuân, cách phối hợp chuông kiểng, tiếng tụng kinh, cho đến lúc Thượng Tấu Sớ văn hay kết thúc đàn cúng, Ông đều chú trọng sự hòa hợp, trang nghiêm và đúng phép. Chính những chỉ dẫn tỉ mỉ ấy đã góp phần lưu truyền khuôn mẫu Lễ Nhạc của Tòa Thánh cho các thế hệ kế tiếp.

Ngoài phận sự nơi Bộ Nhạc, khi mang phẩm Nhạc Sư, Ông còn là Hội viên Hội Đồng Chưởng Quản và giữ nhiệm vụ Trưởng Ban Điều Hành Tang Tế Sự, trực tiếp góp phần chăm lo các nghi lễ tang tế cho Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu theo đúng khuôn phép của Hội Thánh. Hồ sơ nhân sự năm 1997 còn ghi rõ tên Trần Thiện Niệm – Nhạc Sư – Hội viên, xác nhận vai trò của Ông trong cơ cấu điều hành Hội Thánh vào những năm cuối thế kỷ XX.

Đến năm 1999, Nhạc Sư Trần Thiện Niệm được thăng lên phẩm Tiếp Lễ Nhạc Quân, phẩm vị cao nhất của Bộ Nhạc. Đây là một dấu mốc đáng chú ý trong lịch sử hành Đạo của Ông, bởi năm 1999 là năm đầu tiên kể từ khi Đạo Lịnh số 01 ra đời, việc cơ bút đã ngưng, nên việc thăng thưởng phẩm vị được thực hiện theo đường lối hành chánh mới của Hội Thánh, không còn theo hình thức cầu phong, cầu thăng qua cơ bút như trước.

Từ phẩm Đề Nhạc, rồi Đốc Nhạc, Nhạc Sư cho đến Tiếp Lễ Nhạc Quân, cuộc đời hành Đạo của Ông gắn liền với nền Lễ Nhạc Cao Đài qua nhiều thời kỳ. Ông không chỉ trực tiếp đảm trách việc Nhạc lễ mà còn góp phần gìn giữ những khuôn phép đã được các bậc tiền bối truyền lại, để tiếng nhạc nơi Điện thờ luôn hòa cùng tiếng chuông, tiếng kiểng, lời kinh trong sự trang nghiêm và thành kính.

Tiếp Lễ Nhạc Quân Trần Thiện Niệm qui vị ngày mùng 6 tháng 11 năm Bính Tuất, nhằm ngày 25 tháng 12 năm 2006, hưởng thọ 90 tuổi.
An táng tại Cực Lạc Thái Bình

Trải qua gần chín mươi năm tuổi đời và nhiều thập niên phụng sự cửa Đạo, Tiếp Lễ Nhạc Quân Trần Thiện Niệm đã để lại dấu ấn sâu đậm trong hàng ngũ Bộ Nhạc Tòa Thánh Tây Ninh. Công nghiệp của Ông không chỉ được ghi nhớ qua những phẩm vị cao trọng và các trọng trách từng đảm nhiệm, mà còn qua những lời chỉ dạy, những khuôn phép Lễ Nhạc mà Ông đã tận tâm gìn giữ và truyền lại. Đó cũng là phần di sản quý báu của một bậc tiền bối suốt đời phụng sự nền Lễ Nhạc Đại Đạo.

Tây Ninh, ngày 09 tháng 8 năm 2026
Người biên soạn
HUỲNH HUY

☘️Nguồn tham khảo:
1.Âm Nhạc Đại Đạo – Nguyên Thủy.
2.Cao Đài Đại Đạo Tam Nguyên Từ Điển – Nguyên Thủy.
3.Cao Đài Từ Điển – Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (Đức Nguyên).
4.Những Câu Chuyện Trong Đạo – Tầm Nguyên, sưu tập.
5.Hòa Bình Chung Sống Biên Niên – Nguyễn Phúc Thành, biên soạn.
6.Những Bài Thài Tế Điện – Quang Minh.
7.Tiểu Sử Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc – Nguyễn Thanh Bình, biên soạn.
8.Hiến Chương Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Cao Đài Tây Ninh năm 1997 – Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh.

Chút Hồi Ức Về Tòa Thánh Tây Ninh Qua Lăng Kính Quốc Tế (Năm 1961) 🌿Chào những người bạn của "Giữ Đạo Giữa Đời"Hôm nay, ...
20/08/2026

Chút Hồi Ức Về Tòa Thánh Tây Ninh Qua Lăng Kính Quốc Tế (Năm 1961) 🌿

Chào những người bạn của "Giữ Đạo Giữa Đời"

Hôm nay, chúng ta cùng ngược dòng thời gian để chiêm ngưỡng vẻ đẹp uy nghiêm, thiêng liêng của Đạo Cao Đài qua những trang tài liệu quý giá được báo chí quốc tế ghi lại cách đây hơn 6 thập kỷ.

Sự thành kính và trang nghiêm trong từng nghi thức cho thấy, dù ở bất kỳ thời đại nào, niềm tin tôn giáo vẫn luôn là điểm tựa tinh thần mạnh mẽ, giúp con người "giữ đạo" ngay giữa những biến động của cuộc đời.

📰 THÔNG TIN TƯ LIỆU BÁO CHÍ:
-Tên tạp chí: NATIONAL GEOGRAPHIC.
-Số báo: Volume 120, No. 4.
-Thời gian xuất bản: Tháng 10 năm 1961.
-Các bức ảnh thuộc bài viết mang tựa đề "South Viet Nam Fights the Red Tide".

THƯỚC HỮU VI ĐO LÒNG VÔ VI Đôi khi, giữa cõi nhân sinh bộn bề này, chúng ta hay mượn lăng kính của cái "hữu vi" để đong ...
20/08/2026

THƯỚC HỮU VI ĐO LÒNG VÔ VI

Đôi khi, giữa cõi nhân sinh bộn bề này, chúng ta hay mượn lăng kính của cái "hữu vi" để đong đếm sự "vô vi" rộng lớn của Đất Trời.

Là tín hữu Cao Đài chắc ai cũng nằm lòng câu Thánh ngôn: "Chi chi cũng phải nhớ quyết rằng có Thầy trong đó".

Câu nói ấy mở ra một sự bao dung vô cùng tận của cội nguồn vũ trụ. Đã tin vào quyền năng tuyệt đối và sự an bài của Đấng Thiêng Liêng, cớ sao đôi lúc chúng ta lại tự vạch ra ranh giới, tự vẽ ra những kịch bản hữu hạn rồi vội vã kết luận sự tồn tại của một nhóm người nào đó là "nghịch lý" hay "trái tự nhiên"?

Phàm là tạo hóa sinh ra, đâu có gì nằm ngoài Thiên Ý. Cái mà con người trần mắt thịt gọi là "bất thường", nhiều khi chỉ vì nó nằm ngoài cái khung chật hẹp của thói quen và định kiến xã hội mà thôi. Dùng sự hiểu biết có hạn để đo lường Cơ Trời, chẳng khác nào lấy gáo nước nhỏ để đong đếm biển khơi.

Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Âm Dương hòa hợp mà hóa sanh vạn vật. Đó là nguyên lý vận hành của vũ trụ vô hình, là sự cân bằng giữa động và tĩnh, giữa cương và nhu, giữa trí tuệ và từ bi trong cùng một bản thể.

Nhưng dường như, càng đi sâu vào cõi hồng trần, người ta lại càng có xu hướng "vật chất hóa" triết lý sâu xa ấy. Thật tiếc khi một nguyên lý bao la của Đạo học đôi khi lại bị thu hẹp lại chỉ bằng hình thức phối ngẫu sinh học của thể xác. Bát phẩm chơn hồn trải qua vô lượng kiếp luân hồi, khi khoác áo nam, lúc mặc áo nữ để học trọn bài học nhân sinh. Cái vỏ bọc hữu vi ấy vốn dĩ là phương tiện để tiến hóa, lẽ nào chúng ta lại lấy hình tướng của một kiếp người tạm bợ để trói buộc bản chất vô vi của một điểm Tiểu Linh Quang?

Sự tu học cốt ở đạo hạnh vuông tròn và tình thương yêu chân thật, chứ đâu nằm ở lớp vỏ bọc mang tính thời điểm của kiếp này.

Đại Đạo đề cao tinh thần Bác Ái - Đại Đồng. Thế nhưng, tình thương thực sự không bao giờ đi kèm với sự dán nhãn hay phân loại. Một sự "chấp nhận" nhưng lại rụt rè coi một lối sống là "hiện tượng", hay răn dạy nhau "đừng để trở thành xu hướng", thì ẩn sâu bên trong lớp vỏ bọc ngôn từ khéo léo ấy vẫn còn nguyên bóng dáng của sự kỳ thị và phán xét.

Đạo là phương thuốc xoa dịu nhân sinh. Đừng biến Đạo thành một thước đo lạnh lẽo để khoét sâu thêm vào nỗi đau của những người trót sinh ra đã mang một sự an bài khác biệt. Vạn vật sinh ra không ai tự chọn cho mình những chông g*i.

Giữ Đạo giữa đời, suy cho cùng, là giữ lấy cái tâm bình đẳng để nhìn thấu Tiểu Linh Quang trong mỗi con người. Khi trái tim đủ rộng để thấy ai cũng là anh em một nhà dưới bóng Từ Bi, ta sẽ thôi dùng giáo lý làm hàng rào ngăn cách, mà dùng nó để làm nhịp cầu thấu cảm.

HTĐM nghĩ sao về ranh giới giữa việc "giữ gìn khuôn phép giáo lý" và "mở rộng tình thương vô điều kiện" trong thời đại ngày nay? Hãy chia sẻ suy nghĩ của HTĐM cùng nhau học hỏi nhé !

Address

Tòa Thánh Tây Ninh
Tây Ninh
73000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Giữ Đạo Giữa Đời posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share