24/08/2026
THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM 42 NĂM NGÀY PHỐI SƯ HƯƠNG NƯƠNG LIỄU ĐẠO
Nguyên Nữ Khâm Châu Đạo Lâm Đồng (đầu tiên)
Ngày 12/07 Giáp Tý (Dl 8/8/1984)
Ngày 12/07 Bính Ngọ (2026)
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ NỮ PHỐI SƯ HƯƠNG NƯƠNG - Thế danh NGUYỄN THỊ NƯƠNG LÚC SANH TIỀN
Nữ Phối Sư Nguyễn Hương Nương, thế danh là Nguyễn Thị Nương, sanh năm 1910 tại Lưu Nghiệp Anh - Trà Vinh.
Thân phụ của Bà là Ông Nguyễn Văn Thành, làm chức Hương Chánh trong Ban Hội Đồng và thân mẫu là Bà Huỳnh Thị Chẫn. Năm 1928, sau một cơn bệnh nặng Bà Chẫn qua đời, để lại 5 người con. Sau đó, người anh cả và hai em gái lập gia đình nên ra ở riêng.
Bà Nguyễn Thị Nương là người con thứ ba trong gia đình. Bà sống độc thân, một mặt lo quán xuyến gia đình, thay mặt cha già đang bận công tác hằng ngày tại Hội Đồng xã, một mặt chăm sóc, dưỡng nuôi đứa em gái thứ sáu là Bà Nguyễn Thị Ý, lúc đó mới tròn 5 tuổi.
Tháng 4 năm 1933, được tin Bà Nữ Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh mở Đạo Cao Đài tại Thánh Thât Vũng Liêm (Vĩnh Long), Bà Nguyễn Thị Nương cùng thân phụ đến xin nhập môn cầu Đạo.
Sau khi lập minh thệ, Bà Nương được Bà Nữ Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh đề cử giữ chức Lễ Sanh, hợp tác với các vị khác lo việc truyền giáo Cao Đài tại quận Trà Cú, xây cất Thánh Thất Long Vĩnh, làm nơi trụ tinh thần cho con cái Đức Chí Tôn.
Ngày 15 tháng 10 năm Ất Hợi (1935), Đức Lý Giáo Tông ân phong cho Bà vào hàng Lễ Sanh chánh vị, thánh danh là Lễ Sanh Hương Nương, Chức Sắc Thiên Phong Nữ phái Cửu Trùng Đài.
Năm 1936, Bà Lễ Sanh Hương Nương, được Hội Thánh thuyên bổ làm Nữ Đầu Quận Đạo quận Cao Lãnh (tỉnh Sa Đéc).
Vì còn mang nặng trách nhiệm thay Mẹ nuôi em tuổi còn ấu thơ, Bà chần chừ chưa quyết định có nên phế đời hành Đạo phương xa hay không. Nhưng qua nhiều đêm đắn đo, suy nghĩ và thường được nghe tiếng gọi của tâm linh dục thúc, Bà Lễ Sanh Hương Nương cương quyết thi hành sứ mạng thiêng liêng. Bà tâm sự cùng thân phụ, xin cho đứa em nhỏ theo Bà trên con đường hành Đạo, vừa hành Đạo, vừa trông nom em, hầu làm tròn Nhơn Đạo và Thiên Đạo. Bà cũng đề nghị với người Cha tìm người hiền đức mà tục huyền để có người chăm sóc, khi không có mặt Bà ở
nhà .
Thông cảm nỗi lòng hiếu Đạo và nhận thức được sứ mạng thiêng liêng cao cả của một Chức Sắc Thiên Phong, nên ba Bà chấp thuận lời đề nghị và để Bà an lòng vấn thân trên con đường hành đạo.
Rằm tháng 10 năm Canh Thìn (1940), Bà Lễ Sanh Hương Nương đắc phong phẩm Giáo Hữu, được Hội Thánh thuyên bổ giữ chức Khâm Châu Đạo Mỹ Tho.
Ngày mồng 4 tháng 6 năm Tân Tỵ (28-6-1941), vào lúc 8 giờ sáng, lính Mật Thám Pháp đến bắt Đức Hộ Pháp và chư vị Chức Sắc Đại Thiên Phong lưu đày sang đảo Madagascar, Phi Châu. Quân đội Pháp chiếm đóng Tòa Thánh Tây Ninh và đuổi toàn thể Chức Sắc và những người làm công quả trở về đời sống thế tục và phải rời khỏi Tòa Thánh ngay lập tức.
Trong thời kỳ từ năm 1943-1946, Nữ Giáo Hữu Hương Nương tham gia tổ chức Nội Ứng Nghĩa Binh. Bà cộng tác với Giáo Sư Thượng Vinh Thanh thi hành Thánh ý của Đức Lý Giáo Tông và Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung.
Ngày mùng 4 tháng 8 năm Bính Tuất (30-8-1946), thực dân Pháp rước Đức Hộ Pháp trở về Tòa Thánh Tây Ninh. Khi trở lại nước nhà, Đức Ngài lo chấn hưng cơ Đạo và tranh đấu cho nền Độc Lập Thống Nhứt Quốc Gia.
Vào các năm 1947-1948, Mặt Trận Việt Minh phát động chiến dịch tàn sát Chức Sắc và đạo hữu Cao Đài khắp nơi.
Không thể ngồi yên nhìn đồng Đạo và thân nhân bị tàn sát bởi nhóm người vô thần, nữ Giáo Hữu Hương Nương hổ trợ cho các chiến sĩ Cao Đài thành lập căn cứ Đạo, che chở cho các tín đồ và nhân dân tránh xa lằn đạn của Pháp và Việt Minh đang tàn sát lẫn nhau.
Cường độ chiến tranh càng ngày càng quyết liệt, loạn lạc khắp nơi. Giáo Hữu Nương nhớ đến người em ruột thứ năm và 3 mẹ con bà Mẹ kế còn đang bị kẹt trong khu chiến tranh, Giáo Hữu Nương bất chấp sự hiểm nguy, liều thân lẻn vào vùng đang đánh nhau, rước được bà Mẹ và các em đem về cơ sở Đạo ở Mỹ Tho.
Thời gian sau, Giáo Hữu Nguyễn Hương Nương được Hội Thánh Nữ Phái bổ nhiệm làm Nữ Khâm Châu Đạo Lâm Đồng Đà Lạt, thuộc Cao Nguyên Trung Phần.
Nhân dịp này, Bà Nương đưa Mẹ và 2 em về vùng Thánh Địa, xin và được Hội Thánh cấp cho một phần đất để xây nhà, giới thiệu cho Mẹ vào làm công quả nơi cơ quan Phước Thiện và gởi hai em vào học tại Đạo Đức Học Đường.
Còn mẹ con Bà Nguyễn Thị Tùng (người em thứ năm) thì cho định cư tại tỉnh Tây Ninh, sống nghề buôn bán bánh mứt.
Ngày 16 tháng 11 năm Canh Dần (22-11-1950), Giáo Hữu Hương Nương được phong phẩm Giáo Sư. Hội Thánh Nữ Phái bổ nhiệm Bà giữ chức vụ Phụ Thống Y Viện tại Tòa Thánh.
Với đức tánh cần cù nhẫn nại, Bà hết lòng chăm sóc cho tất cả những bệnh nhân, ngày đêm không nghĩ, nhứt là những người bị bịnh liệt, nằm một chổ không cử động được, luôn được Bà Giáo Sư tận tình chăm sóc. Lòng bác ái và sự tận tâm của Bà được các bịnh nhân rất ngưỡng mộ và kính mến, xem Bà như một vị nữ Thánh.
Năm Bính Thân 1956, Đức Phạm Hộ Pháp lưu vong sang Nam Vang (Cao Miên), Đức Ngài phát động Phong Trào Hòa Bình Chung Sống, kêu gọi chánh phủ 2 miền Nam Bắc: "Mở Cuộc Thi Đua Nhân Nghĩa" giữa 2 miền, kêu gọi 2 chính phủ tôn trọng quyền dân tộc tự quyết, để xây dựng một quốc gia thống nhất và độc lập.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Phạm Hộ Pháp, Giáo Sư Hương Nương xin gia nhập phong trào nầy , Bà giữ nhiệm vụ trong Ban Đại Diện Miền Nam, cùng với các vị Chức Sắc khác của Đạo Cao Đài.
Nhưng hại thay, chánh quyền buổi ấy đang thi hành chủ thuyết độc tài, chủ trương tiêu diệt những người yêu nước chân chính. chánh quyền ra lịnh lùng bắt những người họat động cho đường lối Hòa Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp. Chánh quyền bắt buộc Hội Thánh ra lịnh cho toàn thể Chức Sắc Cao Đài tức khắc rời khỏi tổ chức Hòa Bình Chung Sống, nếu vị nào còn hoạt động thì kể như đã đổi áo nhà tu, không còn là Chức Sắc Cao Đài nữa.
Sau khi chánh quyền bắt một số Chức Sắc quan trọng họat động cho đường lối Hòa Bình Chung Sống trong Ban Đại Diện Miền Nam, người kế tiếp mà nhà cầm quyền để tâm theo dõi gắt gao là Giáo Sư Hương Nương, vì Bà là người có nhiệm vụ liên lạc và nhận chỉ thị của Đức Hộ Pháp (đang ở Cao Miên) chuyển giao đến các tổ chức ở miền Nam và miền Trung.
Nhờ sự nuôi dưỡng và che chở của bổn Đạo, cơ quan cảnh sát của nhà cầm quyền không thể nào bắt được Bà.
Lính mật thám mở cuộc càn quét khám xét từng nhà đạo hữu, chận xét các nẻo đường đi vào Núi Bà Đen, phái nhơn viên rình rập nơi Vạn Pháp Cung, mục đích là tìm bắt Bà cho bằng được.
Một hôm, khi biết tin phong trào Hòa Bình Chung Sống sẽ tổ chức phiên họp tại một vùng rừng núi gần Vạn Pháp Cung, nhóm mật thám bủa vây và bắt được Giáo Sư Hương Nương và 3 người phụ nữ. Trong khi chờ đợi xe đến để đưa về thành phố, Bà lên kế hoạch tẩu thoát. Bốn người phụ nữ xin phép đi vệ sinh, bọn lính bắt buộc phải cho 4 người đi và chỉ đứng từ xa để canh chừng. Khi bọn lính không để ý, 4 bà vụt bỏ chạy, mỗi người chạy mỗi hướng khác nhau, mục đích là giúp Bà Nương tẩu thoát. Cuối cùng, nhóm lính chỉ bắt được 3 người phụ nữ, riêng Bà Giáo Sư Hương Nương vì quen thuộc khu rừng rậm nơi đây nên Bà chuôi xuống địa Đạo lẫn tránh và vượt rừng núi thoát nạn.
Sau nầy nhắc đến chuyện nhóm lính mật thám thời đó bị Bà Giáo Sư Hương Nương gạt để tẩu thoát ai cũng khen Bà là người thông minh và nhanh trí.
Ngày (13-12-1968), Bà được Ơn Trên khen thưởng, thăng phẩm cho Bà lên chức Nữ Phối Sư vì Bà lập nhiều công quả với Đạo và trải qua nhiều gian khổ trong công cuộc đấu tranh cho đường lối Hòa Bình Chung Sống của Đức Hộ Pháp. Hội Thánh bổ nhiệm Nữ Phối Sư Hương Nương trở lại phụ trách chức vụ Thượng Thống Y Viện Hành Chánh, kiêm Trưởng Ban Dưỡng Lão tại Trí Giác Cung.
Với chức vụ Thượng Thống Y Viện Hành Chánh, Bà Phối Sư Hương Nương hiệp sức với Nam Phối Sư Ngọc Nghiệp Thanh và đồng Đạo mở rộng Y viện, xây cất 3 giải nhà làm bịnh xá cho bệnh nhân nằm điều trị. Y viện được tu bổ lại rất khang trang, có văn phòng làm việc cho cơ quan.
Các Bác Sĩ có văn phòng khảo cứu, và các phòng thí nghiệm chuyên môn. Phía sau Y viện có một giải nhà rộng rãi, dành đặc biệt cho các bịnh nhân bị bịnh liệt, có nhân viên thường trực tận tình săn sóc ngày đêm.
Những ngày cuối đời, Bà Phối Sư Hương Nương lâm bệnh nặng và được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện Bình Dân ở quận 3, Sài Gòn. Bác Sĩ cho biết Bà bị ung thư phổi ở giai đoạn cuối.
Bà trở về Tòa Thánh Tây Ninh, nằm dưỡng bệnh tại Bệnh Viện Phước Thiện. Bà qui vị lúc 12 giờ trưa ngày 12 tháng 7 năm Ất Sửu (28-8-1985) một cách êm ái, hưởng thọ 75 tuổi. Từ ngày khởi bịnh đến ngày Bà mất vừa đúng một tháng.
Tính từ năm 1935, năm Bà thọ phong phẩm Lễ Sanh chánh vị đến năm 1985 Bà mất, Bà đã cống hiến cho Đạo 50 năm công nghiệp. Bà Phối Sư Hương Nương thực sự là một bậc nữ lưu, hiếu nghĩa vẹn toàn, một vị nữ Chức Sắc dầy công với Đạo, một nhà cách mạng khí khái, can đảm, không kém Nam nhi, rất xứng đáng làm gương cho các Chức Sắc Nữ Phái thế hệ mai sau.
Đám tang của Bà được cử hành trọng thể, linh cửu ngự trên thuyền Bát Nhã. Tiển đưa Bà gần cả vài ngàn người, gồm có Chức Sắc lưỡng Đài, các Ban Bộ trong phong trào Hòa Bình Chung Sống, quí vị tu chơn ở Trí Huệ Cung, Trí Giác Cung, Vạn Pháp Cung, chư vị Hiền Tài Ban Thế Đạo, các thanh niên Đại Đạo Thanh Niên Hội, cùng quan khách ngoài đời và thân quyến tham dự. Số người tham dự đưa tiễn Bà dài chừng 2 cây số.
Bà Phối Sư Hương Nương cũng là một trong những thi sĩ của nhóm Đạo Đức Văn Đàn. Trong phần ai điếu ngày tang lễ của Bà, một nữ thi sĩ của Văn Đàn đọc ai điều ca ngợi công nghiệp của Bà và nhắc lại bài thi của Bà sáng tác lúc Bà còn sanh tiền như sau:
Chí quyết giồi mài một chữ Tâm,
Chẳng ham danh lợi, chẳng sai lầm.
Chơn truyền tiến bước theo đường thẳng, Luật Pháp trong chừng hướng Trúc Lâm.
Dưỡng tánh dung bồi nền đạo hạnh,
Trau tâm đâu quản bấy nhiêu năm.
Noi đường nhân nghĩa bòn âm chất,
Vẹn phận tu chơn bước Đạo tầm.
Phối Sư Hương Nương
☘️Bản tiểu sử này được biên soạn bởi Thánh Thất Portland từ nguồn tài liệu của cố Giáo Hữu Thượng Màng Thanh.
Theo ghi chép, Bà đã quy vị vào đúng ngọ (12 giờ trưa) ngày 12 tháng 7 năm Ất Sửu, nhằm ngày 28/8/1985. Tuy nhiên, có một điểm cần lưu tâm: ngày liễu đạo khắc trên bia mộ của Bà hiện có sự sai biệt so với tài liệu lưu truyền của cố Giáo Hữu.