Chùa Linh Sơn Pháp Tạng-Ngagyur Nyingma Mindrolling Vietnam

Chùa Linh Sơn Pháp Tạng-Ngagyur Nyingma Mindrolling Vietnam Ngagyur Nyingma Mindrolling Vietnam là một tổ chức chuyên hoằng dương,bảo tồn và phiên dịch các Kinh

Yangti Nakpo KorzhiGiáo lý của Đức Phật được trình bày theo nhiều cách khác nhau, phù hợp với thời đại và chúng sinh khá...
14/07/2025

Yangti Nakpo Korzhi

Giáo lý của Đức Phật được trình bày theo nhiều cách khác nhau, phù hợp với thời đại và chúng sinh khác nhau. Những giáo lý của Yangti Nagpo “ Đại Viên Mãn Cực Tinh Tuý Thực Hành Trong Bóng Tối” được tiên tri là phù hợp nhất với chúng sinh ở thời đại này như một phương tiện đạt giác ngộ trong một đời.


Lịch sử truyền thừa

Tên đầy đủ bộ pháp là Yangti Nagpo Ser Kyi Dru Chig « Những Chữ Vàng Độc Nhất Của Đại Viên Mãn Cực Tinh Túy Thực Hành Trong Bóng Tối ” - một terma có niên đại từ thế kỷ 15 được phát lộ đầu tiên bởi Khai Mật Tạng Dungtso Repa.
Theo truyền thống Dzogchen có các lớp giáo lý về Tâm Bộ (Semde), Pháp Giới Bộ(Longde), và Chỉ Dẫn Cốt Tuỷ Bộ (Menngakde ). Trong các Chỉ Dẫn Cốt Tuỷ có các cấp độ như: Ati, Chiti và Yangti. Như tên gọi cho thấy, terma Yangti Nagpo thuộc về bộ Yangti ( Cực Tinh Tuý)
Cái được gọi là Yangti ám chỉ bản tánh tâm giác ngộ của Phật Phổ Hiền, Kim Cang Tát Đoả và Kim Cang Trì, là Tâm Yếu của Đấng Liên Hoa Sinh, truyền thừa của chư Không Hành Nữ, con đường nhanh chóng dẫn đến Phật quả.
Thật kỳ diệu! Thật may mắn để có được điều này thông qua lòng từ ái của Đạo Sư. Pháp tu được cho là dẫn đến sự giải thoát qua sự thấy, nghe hay nghĩ tưởng. Nếu như đã được tán thán tột bậc như vậy bởi chân sư kim cương trong mật điển thì không cần bận tâm đến việc người ta có quán chiếu về ý nghĩa thực sự của nó hay không. […]
Không cần tìm kiếm Phật tính ở nơi khác, con đường Yangti có thể trực chỉ cho ta ngay lúc này. Giáo lý này thực sự tuyệt hảo! Khi đã có được viên ngọc như ý, vô song này, đừng bỏ lỡ qua cơ hội này.
Khai Mật Tạng Dungtso Repa đời sau là một hóa thân của cả Yeshe Tsogyal và Vairochana. Còn Dungtso Repa đời trước được cho là sự tái sinh của Yeshe Dorje, đệ tử trực tiếp của Gampopa và là đạo sư Drukpa Kagyu - Lingje Repa. Kho tàng phát lộ vào thế kỷ 15 tại Hồ Mandal Nagpo ở Vùng Gampo, miền trung Tây Tạng, bao gồm một nghi quỹ Đạo Sư Đại Viên Mãn [Guru Dzogchen] và những chỉ dẫn nhập thất trong bóng tối.
Vào thế kỷ 19, một Pháp hữu thân thiết của ngài Shabkar tên là Chinkar Donyo Dorje, đã phát lộ những thực hành khác của Yangti bao gồm cả nghi quỹ đạo sư-Kusum Thugtik. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, ngài Donyo Dorje nói rằng không phù hợp để thêm những bản văn mới này vào bộ pháp và nguyện ước trong tương lai ngài sẽ tái sinh để hoằng dương, trao truyền những giáo lý này. Hóa thân tiếp theo của ngài là Trulshik Dongag Lingpa, người đã hiển lộ những điều đã được tiên tri và ban truyền giáo lý Yangti cho nữ đạo sư Nyingma nổi tiếng của cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, Ani Shukseb Chonyi Zangmo, thường được gọi là Shuksep Jetsun. Vào cuối đời, bà Shuksep Jetsun đã tu tập giáo lý này như thực hành chính của bà.
Chính từ Shuksep Jetsun mà Đạo sư trưởng dòng Nyingma đời thứ 5 tại hải ngoại là Thánh tăng Trulshik Rinpoche đã thọ nhận các giáo lý Yangti, đặc biệt nhấn mạnh vào thực hành Dzogchen và các giai đoạn nhập thất trong bóng tối. Ngài Trulshik Rinpoche cũng thọ nhận Yang ti phần Lama từ Đức Dzatrul Ngawang Tenzin Norbu, người đã được tiên tri từ trước. Ngài Trulshik Rinpoche đã viết những bình giảng sâu rộng về những điểm chính của cả thực hành và nghi lễ.
Mặc dù đôi khi bị hiểu nhầm rằng chỉ nhấn mạnh vào nhập thất bóng tối, trên thực tế Yangti Nagpo là kho tàng tâm linh rộng lớn của mật giáo. Tại trung tâm của Tulku Sangak, các hành giả thực hành giáo lý này theo từng giai đoạn ngondro, kyerim, dzogrim, và dzogchen. Trong terma cũ và mới của Yangti Nagpo, nhập thất trong bóng tối là thực hành được đặc biệt nhấn mạnh, là điều khiến Yangti trở nên khác biệt với các giáo lý dzogchen khác.
Yangti Nagpo bao gồm:
Nghi quỹ đạo sư Kusum Thuktik, phát lộ bởi ngài Chinkar Donyo Dorje
Nghi quỹ Sh*tro- Dzogchen phát lồ bởi ngài Dungtso Repa đời sau
Thực hành đạo sư và không hành nữ ,Chỉ dẫn nhập thất trong bóng tối, Chỉ dẫn bổ sung đều phát lộ bởi ngài Trulzhik Dongak Lingpa

Dòng truyền thừa 4 bộ Yangti Korzhi tại Việt nam:
Guru Rinpoche và Ngài Yeshe Tsogyal - Dungtso Repa - Trulshik Dongak Lingpa - Dzatrul Ngawang Tenzin Norbu và ngài Jetsun Shukseb Chonyid Zangmo - ngài Trulshik Rinpoche - lama Ngawang Labsum và lama Ngawang Tenpa Thaye

Kế thừa dòng mạch tâm linh từ tu viện Rongpuk huyền thoại dưới chân đỉnh Everest xa xôi, Thầy Thích Trí Không (Ngawang Labsum) và thầy Thích Trí Khánh là hai vị tu sĩ người Việt Nam duy nhất được chính thánh Tăng Kyabje Trulshik Rinpoche truyền trao trọn vẹn ba phần thực hành trọng yếu của Yangti: Kusum Thugthik, Sh*tro Thugthik và Tsogyal Thugtik . Về sau, Thầy Trí Không lại tiếp tục được truyền thọ pháp tu tối thượng Kunzang Thugthik, phần tinh tuý nhất của Yangti, từ Dordzin Rinpoche – vị thị giả tận tuỵ, tâm tử của thánh tăng Kyabje Trulshik Rinpoche.

SƠN CƯ PHÁP NHŨ - RICHO TÁC GIẢ : KARMA CHAGMEDỊCH GIẢ: NHƯ NHIÊN            (TRỌN BỘ BỐN TẬP ) Sơn Cư Pháp Nhũ - Giáo H...
25/01/2024

SƠN CƯ PHÁP NHŨ - RICHO

TÁC GIẢ : KARMA CHAGME
DỊCH GIẢ: NHƯ NHIÊN
(TRỌN BỘ BỐN TẬP )

Sơn Cư Pháp Nhũ - Giáo Huấn Nhập Thất Khẩu Truyền dành cho Thiền Giả, Hành Giả, của ngài Karma Chakme Rinpoche là một cuốn cẩm nang toàn diện về mọi mặt của thực hành ở mức độ bên ngoài của Đại thành tựu giả Rinpoche Karma Chakme. Thực chất nó là bản văn đề cập đến cách làm thế nào để khai phóng Phật tánh của chính chúng ta. Phật tánh là bản chất thật sự của chúng ta. Nó là chân tánh của chính chúng ta và chắc chắn đó là điều cốt lõi mà chúng ta phải hiểu điều này như là cơ sở của động lực để thực hành.
Đơn giản biết rằng chúng ta vốn có Phật tánh, tuy nhiên, nó không đủ để đưa đến giác ngộ. Nếu chúng ta biết điều này mà chẳng thực hành, sẽ chẳng có gì thay đổi cả. Suy cho cùng, điều này luôn là bản tánh của chúng ta. Chúng ta có Phật tánh, hay Như lai tạng, nhưng chúng ta chưa đạt Phật quả. Chỉ sự hiện diện của nó thôi chưa đủ. Điều này giống việc xoay xở với nguồn nước ở Tây Tạng trước đây. Giờ thì hiển nhiên có rất nhiều nước dưới lòng đất của Tây Tạng. Đã có thời chúng tôi nghĩ rằng có vấn đề với nguồn nước, nhưng giờ thì chúng tôi biết rằng nếu đào sâu xuống lòng đất, chúng tôi có thể dễ dàng tìm thấy nó. Tuy nhiên, nước có sẵn dưới đất cũng không ích gì trừ khi chúng tôi khoan giếng thực sự. Cũng thế, quan điểm duy nhất của việc tìm hiểu Phật tánh là khích lệ thực hành Phật pháp, bởi lẽ chỉ có thực hành – không phải kiến thức – mới giúp hiển lộ Phật tánh và đưa chúng ta đạt đến Phật quả.
Những gì chúng ta gọi là Phật quả không gì khác hơn là sự hiển lộ hoàn toàn những phẩm tính bẩm sinh của chính chúng ta mà chúng thì vốn luôn hiện hữu trong chúng ta. “Phật” không phải là cái gì ngoài chúng ta. Chừng nào chúng ta chưa khám phá Phật tánh bên trong của chúng ta, chừng đó chúng ta vẫn xem “Phật” ở bên ngoài vì chúng ta chưa kinh nghiệm “Phật” như cái gì ở ngay bên trong chúng ta. Cuốn sách này, Sơn Cư Pháp Nhũ - Giáo Huấn Nhập Thất Khẩu Truyền dành cho Thiền Giả, Hành Giả của ngài Karma Chakme liên quan đến mỗi giai đoạn và mỗi chi tiết của tiến trình khám phá Phật tánh của chúng ta. Nó mô tả cách tiêu trừ mỗi loại chướng ngại bất định và các chướng ngại khác mà bằng mọi cách che giấu hay ngăn cản nhận diện ra chúng.
Tuy nhiên, có khả năng hiểu lầm về quan điểm đối với bản văn này. Bởi vì bản văn gọi là Sơn Cư Pháp Nhũ - Giáo Huấn Nhập Thất Khẩu Truyền dành cho Thiền Giả, Hành Giả, khiến một số người nghĩ rằng nó chỉ hữu ích cho những ai đang nhập thất cô tịch, nghiêm mật, nhưng đó không phải là những gì mà tựa đề trên nói đến cả. Sơn Cư Pháp Nhũ nói đến thực tế rằng đây là bản văn hướng dẫn thực hành đầy đủ nhất. Một khi con đã thọ nhận những trao truyền và nhập môn cần thiết từ một bậc chân sư, nếu con đem bản văn này theo khi nhập thất kín và không có nguồn tham vấn nào khác – không có tài liệu khác và người hướng dẫn – thì con có thể vẫn đủ mọi dẫn dắt và hướng dẫn mà con cần. Lý do nó được gọi là Sơn Cư Pháp Nhũ vì nó sẽ trao cho con bất cứ hướng dẫn nào con cần, bất cứ khi nào con cần đến nó. Nó chứa đựng mọi công cụ mà con sẽ cần ở các giai đoạn thực hành khác nhau của con để nhận ra Phật tánh của con. Cho nên tựa đề sách không có nghĩa nó chỉ dành cho những người nhập thất; đúng hơn, nó có nghĩa là đầy đủ cho những người nhập thất.
Hơn nữa, bản văn không chỉ dành cho những hành giả cao cấp. Nó mở đầu với những phần cơ bản nhất của Phật pháp – giới nguyện quy y... – và tiếp tục hành trình xuyên suốt mọi con đường, giảng giải mọi điều con cần phải biết và mọi điều con cần thực hành để đạt đến Phật quả. Nó chứa đựng mọi giáo lý của cả Kinh và Mật, một giảng giải về mọi giai đoạn của giới và hạnh tương ứng với Biệt giải thoát giới (Hinayana), Bồ tát giới (Mahayana) và Mật thừa giới (Vajrayana). Do sự hoàn chỉnh của nó, bản văn này vì thế được xem là vượt trội so với phần lớn các bản văn khác về loại này.
Giai đoạn lịch sử mà bản văn này được biên soạn là một giai đoạn khác thường và gian truân của dòng truyền thừa chúng ta. Nó là thời của ngài Karmapa đời thứ mười, Choying Dorje, do hoàn cảnh chính trị nên ngài không thể trực tiếp làm lợi lạc chúng sanh trong bất kỳ cách thức có ý nghĩa nào. Ngài đã dạy rằng Rinpoche Karma Chakme là hiện thân hoạt động của ngài trong việc bảo tồn giáo lý của dòng truyền thừa và phát huy nó sâu rộng. Hơn nữa, theo thị kiến của ngài Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm, Karma Chakme được xem như là hiện thân về tâm của Đức A Di Đà. Trong thời đại của ngài Karmapa đời thứ mười và ngài Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm, tác phẩm của Rinpoche Karma Chakme được truyền bá nhanh chóng khắp xứ Tây Tạng, nhất là ở vùng Kham, nó mãi chuyển biến sâu xa con đường tu tập của chúng ta.

Trích từ bài giảng của Rinpoche trong đó ngài giới thiệu một số bối cảnh của bản văn.

TRÀNG HOA QUÝ

• MỤC LỤC
I. SƠN CƯ PHÁP NHŨ - TẬP 1:
Chương 1 ̶ Tràng hoa quý: Danh mục nội dung theo trình tự để tránh xáo trộn.
Chương 2 ̶ Thấy sanh hoan hỷ: Giới thiệu về Pháp nhập thất ẩn cư để dìu dắt người bình thường nhập Pháp môn.
Chương 3 ̶ Buông con súc sắc: Cách rũ bỏ nẻo sanh tử và xuất sanh sự xả ly bền vững.
Chương 4 ̶ Gandi của Tôn giả: Phân loại thực hành của những cá nhân thuộc các thừa Phật giáo khác nhau.
Chương 5 ̶ Vầng mặt trời: Cách giữ ba giới nguyện dễ dàng, thọ nhận chúng theo trình tự..
Chương 6 ̶ Bảo vệ khỏi mọi hiểm nguy: Hướng dẫn về quy y để được bảo vệ khỏi mọi hiểm nguy của luân hồi..
Chương 7 ̶ Con đường chính đến giác ngộ: Hướng dẫn về phát tâm Bồ đề khiến mọi kẻ phát tâm được tiến bước trên đường giác ngộ.
Chương 8 ̶ Bóng mát từ bi: Đặt bản thân và tha nhân dưới sự bảo hộ của Tam Bảo nhờ thiền định.
Chương 9 ̶ Xua tan mọi chướng ngại: Các quán tưởng dùng trong các thời tu để giúp khi bất lực, ốm đau,…
Chương 10 ̶ Dòng sông cam lồ: Hướng dẫn về tịnh hóa nghiệp, ác hạnh, và chướng ngại tích lũy suốt mọi kiếp sống.
Chương 11 ̶ Ngọn núi công đức: Hướng dẫn về cách thức dễ dàng hoàn thành tích tập công đức nhờ cúng dường mạn đà la.
Chương 12 ̶ Dòng sông ân phước: Đạo sư Du già, thực hành để nhận ân phước và tăng trưởng kinh nghiệm và chứng ngộ.

II. SƠN CƯ PHÁP NHŨ - TẬP 2:
Chương 13 ̶ Đạo ca cho những viễn khách sẽ trải qua hành trình dài: Thực hành về thiền định và cách thức khai ngộ.
Chương 14 ̶ Áo giáp từ và bi: Cách bảo vệ khỏi mọi hiểm họa.
Chương 15 ̶ Phong thủy: Hội tụ mọi tinh hoa.
Chương 16 ̶ Thiện đạo giải thoát: Chỉ dẫn nhập thất.
Chương 17 ̶ Chiếc rìu chặt đứt chấp ngã: Cách thức hội tụ tích lũy của một hành khất trước khi ngủ.
Chương 18 ̶ Kết hợp thực hành trường thọ và thịnh vượng: Bạch Độ Mẫu và Trường Thọ Mẫu.
Chương 19 ̶ Âm điệu Phạm thiên: Sự khác biệt giữa Kinh và Mật và thực hành Mật điển nói chung.
Chương 20 ̶ Đóng cửa ác đạo: Thực hành Mật điển Du già cho hành giả thuần thục nghi lễ và thủ ấn.
Chương 21 ̶ Chỉ đường giải thoát: Quán tưởng trong nghi lễ Nam Môn của thực hành Phật Đại Nhật.

III. SƠN CƯ PHÁP NHŨ TẬP 3
Chương 22 ̶ Giải thoát qua nhĩ căn: Giới thiệu về Trung ấm, nhận diện nó khiến hương linh có thể giải thoát.
Chương 23 ̶ Bóng cây vô ưu: Cách phòng tránh kẻ trộm và thần chết khi nhập thất.
Chương 24 ̶ Mọi kết nối có ý nghĩa: Cách đốt tan một chủng tự sinh lực để tịnh hóa chướng ngại của thí chủ tín tâm.
Chương 25 ‒ Móc câu từ bi: Cách dẫn dắt người chết, để tất cả họ kết nối với bậc có khả năng đưa họ đến các Tịnh độ.
Chương 26 ‒ Tiếng sấm của thần chú: Thực hành bên ngoài của một Bổn tôn theo Đại du già, nhấn mạnh giai đoạn Sanh khởi.
Chương 27 ‒ Tiếng gầm của Dũng phụ: Thực hành bên trong, cho những hành giả tụ hội dâng cúng tô ma, các chất thành tựu…
Chương 28 ‒ Bài ca khát ngưỡng của chư Dakini trí tuệ: Thực hành bí mật cho những hành giả có khả năng quán tưởng giai đoạn sanh khởi cực kỳ rõ nét.
Chương 29 ‒ Một viên ngọc sặc sỡ: Một lễ hỏa tịnh cho những hành giả có ít nguồn lực nhưng tinh tấn thực hành.
Chương 30 ‒ Ngọn lửa tối thượng của đại lạc: Thực hành cực mật của Mật điển Vô thượng Du già.
Chương 31 ‒ Thanh tịnh vô hạn: Bậc chính nhân thực hành Mật điển Vô tỉ Du già.
Chương 32 ‒ Viên ngọc như ý: Thực hành kết hợp, cho hành giả có định lực hùng hậu không thích phức tạp.
Chương 33 ‒ Vàng từ sông Jambu: Khẩu quyết gốc về những luyện tập thể chất để thiết lập duyên sanh trong thân.
Chương 34 ‒ Gương ảo thuật: Một tiểu luận về những dấu hiệu cho phép hành giả xác định họ đã thành tựu Ba gốc hay chưa.
Chương 35 ‒ Chỉ đường không lỗi: Tránh những lệch lạc, để hành giả vẫn tiến trên con đường chân thiện mỹ đến giác ngộ.
Chương 36 ‒ Một cơn mưa cam lồ: Những chỉ dẫn về hóa giải những chướng ngại bên ngoài, bên trong, và bí mật.
Chương 37 ‒ Ngọc như ý: Những chỉ dẫn về sự cải thiện, để kinh nghiệm và chứng ngộ tăng trưởng như trăng đang tròn.
Chương 38 ‒ Con công vĩ đại chế ngự độc tố: Những chỉ dẫn hỗ trợ về từ bỏ chướng ngại bởi năm độc phiền não.

IV. SƠN CƯ PHÁP NHŨ TẬP 4
Chương 39 ‒ Thực hành của Pháp tử Đấng Chiến thắng: Những chỉ dẫn về hạnh, để hành giả cư xử theo luật của Đấng Chiến thắng.
Chương 40 ‒ Đại dương hoạt động: Những chỉ dẫn về lợi ích chúng sanh, để hành giả hoàn thành lợi ích vĩ đại cho giáo lý và chúng sanh.
Chương 41 ‒ Quả của cây như ý: Cách chết của hành giả Thượng thừa, Trung thừa, và Hạ thừa.
Chương 42 ‒ Hướng dẫn tìm kiếm châu báu: Chọn một Tịnh độ, để hành giả biết mình sẽ về đâu.
Chương 43 ‒ Chiến mã Balaha: Cách đến một Tịnh độ nếu người chết không có thời gian dành cho thiền định.
Chương 44 ‒ Chiếu chỉ của Hoàng đế: Nhắc nhở hành giả thiền định để nhận ra thanh quang lúc chết.
Chương 45 ‒ Những cơn sóng vĩ đại của hoạt động: Thực hành về Hộ pháp nói chung, để giáo lý chư Phật thịnh vượng.
Chương 46 ‒ Mưa đá trong một cơn bão tuyết, thành tựu mọi hoạt động: tốc thành hoạt động của chư Hộ pháp.
Chương 47 ‒ Núi Tu di của Hala: Cách kiểm soát ma xó, để không có chướng ngại xuất hiện trong bất kỳ thực hành nào.
Chương 48 ‒ Như ruồi bâu thịt thối: Cách thu hút Hộ pháp đến bản thân hay tha nhân bằng cách dùng linh thạch và vật liệu hỗ trợ.
Chương 49 ‒ Châu báu của chư thiên: Bản văn về tô ma, để xua tan mọi chướng ngại và thành tựu mọi mong cầu.
Chương 50 ‒ Mẫu và Hộ pháp hợp nhất, pháp đặc biệt của Karma Pakshi: Sự hòa hợp của hướng dẫn truyền văn tự và truyền khẩu.
Chương 51 ‒ Thực hành Hộ pháp Tài Bảo, pháp đặc biệt của Drogon Rechen: để tự động tăng trưởng thịnh vượng và địa vị.
Chương 52 ‒ Những chỉ dẫn Hộ pháp từ Lhodrak: Thành tựu mọi hoạt động nhờ kinh mạch và khí năng.
Chương 53 ‒ Bảo châu: Chỉ dẫn về Hồi hướng, để công đức được cất giấu như một bảo tạng vô tận.
Chương 54 ‒ Bảng liệt kê các Pháp, những giáo huấn tâm linh của dòng truyền thừa độc nhất: Để Mật thừa không phổ biến rộng rãi, và giữ ân phước mãi dồi dào.

Chú thích: Các chương có chữ in nghiêng không được đưa vào trong ấn bản tiếng Anh. Chúng sẽ được xuất bản riêng, dành cho các đệ tử cao cấp. Do đó, chúng cũng không có trong ấn bản tiếng Việt.
Thỉnh sách liên hệ :
A- Tại Hà Nội:
1- bạn Phương Minh : sdt +84 82 2618888
2- bạn Nguyễn Phương : sdt 091 7835988
3- bạn Nguyễn Chi : sdt 094 5200991
4- bạn Bảo Khang : sdt +84 34 3322371
B- Tại Hồ Chí Minh :
1- bạn Việt Long sdt : +84 91 6713931
2- bạn Quế Như sdt 096 6528528
3- bạn Trương Khuyên sdt : 090 6836720
C- Tại Đà Lạt
Bạn Bảo Châu : 098 2797245

MỘT VÀI KHÍA CẠNH CẦN THIẾT VÀ QUAN TRỌNG ĐỂ BẮT ĐẦU THỰC HÀNH NGONDRO ( DZONGSAR KHYENTSE RINPOCHE- Việt dịch Như Nhiên...
04/10/2023

MỘT VÀI KHÍA CẠNH CẦN THIẾT VÀ QUAN TRỌNG ĐỂ BẮT ĐẦU THỰC HÀNH NGONDRO
( DZONGSAR KHYENTSE RINPOCHE- Việt dịch Như Nhiên )

Thực hành ngondro không phải một thực hành mẫu giáo – nó thực sự là một thực hành chính. Như ngài Patrul Rinpoche đã dạy, “Xem xét theo nhiều cách khác nhau, ngondro còn quan trọng hơn thực hành chính nhiều, vì nó là nền móng.” Sống với một vài bậc đại đạo sư như ngài Trưởng dòng Dilgo Khyentse Rinpoche và Dudjom Rinpoche, tôi biết điều này là sự thật từ chính trải nghiệm của mình. Mọi người phải suy xét rằng nếu đây chỉ là một thực hành mở đầu, thì chúng ta sẽ không thấy các bậc đại đạo sư thực hành ngondro; chắc chắn, một bậc thầy vĩ đại như ngài Dilgo Khyentse Rinpoche sẽ không cần phải thực hành ngondro Nyingtik, nhưng tôi đã tận mắt chứng kiến; thậm chí cho đến tận cuối đời họ, tôi vẫn thấy họ thực hành ngondro. Chỉ duy điều này thôi đã cho thấy tại sao thực hành ngondro lại cần thiết đến như vậy.

SỰ PHÂN BIỆT LÝ THUYẾT VỚI KHẨU QUYẾT (chỉ dẫn cốt tủy)
Trong việc nghiên cứu và thực hành Phật pháp, các bạn có thể nhận thấy một thực tế là chúng ta thường có xu hướng tìm thấy hai thuật ngữ. Có thứ chúng ta nói đến như ‘lý thuyết thuần túy,’ mà trong Đại thừa là kinh điển và cũng có những khẩu quyết hay còn gọi là chỉ dẫn cốt tủy. Tương tự trong Kim cương thừa chúng ta có các mật điển chẳng hạn Kalachakra, Chakrasamvara hoặc Hevajra và cũng có cái gọi là những khẩu quyết. Trong lúc rõ ràng có sự khác biệt lớn giữa lý thuyết và khẩu quyết, nhưng đồng thời, chúng cũng bổ sung cho nhau rất nhiều.
Khá lạ lùng, nhưng tôi nhận thấy là cả ở phương Đông lẫn phương Tây, khi nghiên cứu Đại thừa, mọi người thường có xu hướng thiên về mặt lý thuyết quá nhiều. Nhiều người dường như nhấn mạnh nhiều về lý thuyết và quên mất những khẩu quyết của Đại thừa. Điều này thậm chí xảy ra ngay cả với những bản văn Trung đạo như Nhập Bồ Đề Hạnh (Bodhicharyavatara), mà ở bất kỳ góc độ nào thì nó có lẽ là một chỉ dẫn cốt tủy hơn. Trong Kim cương thừa, thì có tình trạng ngược lại. Tôi đã đến nhiều trung tâm Phật pháp, và đã gặp gỡ rất nhiều Phật tử những người có vẻ xem trọng các khẩu quyết, thế nhưng họ lại hoàn toàn quên lãng các bản văn mật thừa, và nghiên cứu mật điển. Tuy nhiên, lý thuyết và khẩu quyết đều thích đáng như nhau. Nhất là nếu các bạn muốn nghiêm túc theo đuổi con đường Đại thừa hoặc Kim cương thừa, thì đây là điều các bạn cần phải chân thành ghi nhớ.
Sự khác biệt giữa lý thuyết và khẩu quyết là điều dễ hiểu. Vận dụng sự phân tích về học lái xe, chúng ta có một cẩm nang hướng dẫn lái xe đi kèm với chiếc xe, là thứ bạn có thể đọc từ trang đầu đến trang cuối. Cẩm nang này tương tự như các bản văn mật thừa và đó là thứ chúng ta gọi là lý thuyết. Phần đó rất quan trọng. Tự thân bản văn rất hợp lý. Nhưng trong khẩu quyết, thì hoàn toàn linh hoạt, và thỉnh thoảng, khá giật gân và kỳ quặc.
Giả sử có năm mươi người muốn học lái xe, mỗi người có một mức độ hoang tưởng và khả năng thể chất khác nhau. Có lẽ một vài người không thể sử dụng bàn chân phải một cách đúng đắn, hoặc có một số dị tật khác. Mỗi người đều có tình trạng thể chất và tinh thần độc đáo và riêng biệt của họ. Hiển nhiên lúc này, khi dạy một người lái xe, tự thân bản văn, cẩm năng lái xe là tiêu chuẩn, và tương tự là chiếc xe cũng là loại tiêu chuẩn. Như vậy tôi đã trao cho các bạn các chất liệu giống nhau. Một vài chỉ dẫn kiểu như “nếu bạn bẻ lái sang phải, xe sẽ quẹo phải’ cũng đúng chuẩn. Đối với các chỉ dẫn phi-tiêu chuẩn, nó hoàn toàn phụ thuộc vào cá nhân, vào những thứ như bạn có bao nhiêu thời gian. Một vài bạn có thể không quan tâm mình học trong bao lâu. Số khác có thể thực sự muốn học lái, một cách quyết liệt, trong vòng ba ngày chẳng hạn.
Dù sao chăng nữa, vì tôi sẽ xem xét và giải nghĩa thực hành ngondro, hơn là đi sâu vào khía cạnh kỹ thuật, nên tôi muốn truyền đạt nhiều điểm mấu chốt hơn. Vì các quán tưởng và những chi tiết kỹ thuật khác, các bạn luôn có thể tìm thấy những hướng dẫn trong các bình giảng lớn, chẳng hạn tác phẩm “Lời Vàng Thầy Tôi.” Hoặc một cách khác là các bạn có thể tìm kiếm lời khuyên từ các đệ tử khác về cách lễ lạy và những thứ như vậy.

CẤU TRÚC CỦA NGONDRO
Ngondro gồm có quy y, rồi phát Bồ đề tâm và tiếp theo là ba thực hành chỉ có trong Kim cương thừa. Quy y là phần chuẩn bị thứ nhất. Quy y sẽ đưa các bạn rời khỏi đường tà trở về nẻo chánh, và theo cách này, nó thực sự là một thực hành Giới biệt giải thoát. Thế rồi trong chánh đạo, chúng ta sẽ có con đường lớn và con đường nhỏ, mặc dù dĩ nhiên, cả hai đều là con đường chân chính. Để khích lệ hành giả thực hành con đường lớn chúng ta sẽ có Bồ đề tâm, là hiện thân của toàn bộ con đường Đại thừa. Và khi vận dụng các phương pháp như tâm tưởng, vật thể và trì tụng thần chú – là các phương pháp không có trong các truyền thống Thanh văn thừa và Đại thừa - thì chúng ta đang nói đến Kim cương thừa. Có trì tụng thần chú Kim Cương Tát Đỏa và cúng dường mạn-đà-la, trong đó chúng ta sử dụng vật thể
như một sự hỗ trợ cho thực hành. Rồi cuối cùng, để loại bỏ cái kén hay vỏ bọc ảo tưởng này, chúng ta có con đường thâm sâu nhất là Đạo sư du-già. Vì vậy ba cái này: Kim Cương Tát Đỏa, cúng dường mạn-đà-la và Đạo sư du-già là ba thực hành quan trọng nhất đối với con đường Kim cương thừa.
Thực hành này nằm trong con đường Đại thừa. Ngoài ra, vì sự quyết tâm khác nhau, nên Đại thừa được chia ra hai loại: một loại dạy nguyên nhân là con đường, và loại thứ hai lấy kết quả làm con đường. Với việc tu tập ngondro này, các bạn đang thực hành theo loại thứ hai, là lấy quả làm con đường. Đây cũng được gọi là con đường Kim cương thừa. Trên con đường này, chúng ta luyện tâm mình không chỉ thông qua việc thoát ly đời sống thế tục, và phát khởi lòng từ bi và tâm Bồ đề mà chúng ta còn cố gắng luyện tâm mình bằng cách chuyển kinh nghiệm bất tịnh thành cái thấy thanh tịnh. Đó là sở trường của Kim cương thừa; sở dĩ thừa này đặc biệt là do có sự khác biệt như vậy về quan điểm.
Cách nhìn nhận về thế giới của Kim cương thừa hoàn toàn khác. Theo quan điểm của Giới biệt giải thoát (pratimoksa) cõi luân hồi này là thứ bất tịnh, và đây là điều nó gọi là “Sự thật về Khổ.” Như vậy khi tuân theo sự thật này thì sẽ đi đến một kết luận hợp lý rằng thế giới là thứ cần phải từ bỏ và thứ cần phải thoát khỏi nó. Đó là quan điểm của Thanh văn thừa. Trong Đại thừa, cõi luân hồi cũng được xem là bất toàn, nhưng thay vì cố chạy trốn nó, thì mục đích là thực hành lòng từ bi và Bồ đề tâm. Trong Kim cương thừa, chúng ta cố gắng nhận thức về thực tại – thế giới hiện tượng bất tịnh thực chất là thanh tịnh và vốn thanh tịnh từ ban sơ. Đây là điều chúng ta cố gắng suy xét.
Không may, thuật ngữ ‘ngondro’ đã làm rất nhiều người hiểu sai. Theo nghĩa đen, nó có nghĩa thực sự là ‘thực hành chuẩn bị hay thực hành mở đầu.’ Thế là bằng cách nào đó, chúng ta đã cho rằng, “Nó là thứ không quan trọng” và “nó không phải thực hành chính.” Chúng ta nghĩ đó là thứ ‘bắt buộc’ phải làm trước khi bắt tay vào ‘việc tu tập thực sự’ hoặc ‘chánh hành pháp.’ Đó là điều đáng buồn vì khi nghiên cứu sâu hơn, các bạn sẽ nhận ra rằng nếu loại bỏ hoàn toàn thực hành ngondro, thì các bạn sẽ không tìm thấy bất kỳ điều gì đặc biệt hơn trong Kim cương thừa. Mặc dù vậy, tôi có thể hiểu vì sao ngày xưa, các vị lạt-ma chủ yếu nhìn nhận ngondro là một thực hành mở đầu; không chỉ nhằm khuyến khích hành giả, mà nó còn là loại được sắp xếp như vậy.
Việc thoát khỏi ảo tưởng khó khăn, vì chúng ta có nhiều tập khí mạnh mẽ. Những tập khí này là những thói quen chúng ta đã bồi đắp qua vô vàn kiếp sống, qua rất nhiều năm tháng. Người ta có thể nói rằng Phật pháp là một phương pháp có tính hệ thống để bóc lột những lớp vỏ của những tập khí này. Như thể tập khí là một lớp da và thông qua sự học hỏi và thực hành của mình chúng ta bắt đầu làm lớp da đó b**g ra. Mỗi lần lột đi một lớp da, chúng ta lại khám phá ra một lớp da bên trong và nghĩ đó là thành quả thật sự. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc chúng ta nhận ra còn một lớp da nữa, và tiếp theo chúng ta phải lột lớp da đó. Nhưng việc này hết sức khó khăn vì chúng ta có xu hướng dính mắc với lớp da bên trong, cho rằng nó phải là thành quả. Chúng ta không nhận ra ngay rằng điều này chính là một ảo tưởng ngoan cố và vi tế hơn nữa. Vì thế, chúng ta cần phải rèn luyện tâm trí của mình.
Trong Đại thừa cũng như Thanh văn thừa, có một cơ cấu hoàn chỉnh về luyện tâm. Trong truyền thống Thanh văn thừa, việc luyện tâm dựa trên việc rèn luyện thân, khẩu và ý. Việc này được thực hiện thông qua toàn bộ cơ cấu giới luật, từ việc cạo đầu, mặc y, và cơ bản thoát ly đời sống thế tục về mặt vật thể. Trong Đại thừa, chúng ta cố gắng điều phục hay rèn luyện tâm mình, với những phương pháp thậm chí mạnh mẽ hơn. Bên cạnh việc quán chiếu về việc thoát ly đời sống thế tục, chúng ta cũng cố gắng rèn luyện tâm mình để nhận biết về hoàn cảnh chung và những chặng đường khác nhau của những chúng sanh hữu tình khác. Nói cách khác, chúng ta thực hành về lòng từ bi và phát khởi cái gọi là Bồ đề tâm để giúp toàn thể chúng sanh hữu tình đạt giác ngộ.
Như chúng ta đều biết, lời dạy của đức Phật là nhằm giúp chúng ta thoát khỏi mọi loại ảo tưởng hay vọng tưởng, và đó chính là điều chúng ta gọi là giác ngộ. Giờ đây, khi nói đến giải thoát, chúng ta không chỉ nói đến việc cố thoát khỏi ảo tưởng nhất thời, mà còn thoát khỏi chính gốc rễ ảo tưởng, để nó không bao giờ tái hiện nữa. Và khi chúng ta dùng thuật ngữ “ảo tưởng” này, nó không chỉ đề cập các ảo tưởng thô mà còn bao hàm cả ảo tưởng vi tế nhất. Một vài khía cạnh mà chúng ta xem là đạo lộ, hoặc chúng ta coi trọng như trí tuệ, hoặc một vài điều chúng ta cho là thiện hạnh cuối cùng chính là những thứ cũng cần được gạn lọc.
Để giúp chúng ta tự giải thoát mình khỏi mọi ảo tưởng, đức Phật đã chỉ dạy nhiều phương pháp khác nhau. Theo truyền thống, giáo lý đề cập đến trên 84,000 pháp môn. Mỗi pháp môn ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu của mỗi loại chúng sanh hữu tình khác nhau, với động cơ và sự quyết tâm khác nhau. Có những người quyết chí từ bỏ hoàn toàn luân hồi và đó là mục đích chính của họ. Vì những người như vậy, đức Phật đã giảng dạy toàn bộ Thanh văn thừa. Rồi có những chúng sanh hữu tình nhất định những người thậm chí có sự quyết tâm còn lớn lao hơn. Họ không chỉ quyết tâm thoát khỏi luân hồi mà còn quyết tâm không trụ niết bàn. Nói khác đi, họ không những có quyết tâm thoát khỏi mọi loại thái cực vì tự lợi mà còn vì lợi lạc của toàn thể chúng sanh hữu tình. Với những chúng sanh này, đức Phật giảng dạy cỗ xe vĩ đại hơn, thường gọi là Đại thừa. Trong cả hai trường hợp, dù thừa cao hay thừa thấp, mỗi một phương pháp cũng như cả hai con đường này đều giải thoát chúng ta khỏi ảo tưởng. Nó thậm chí quan trọng đến mức chúng ta phải học cách hiểu lý thuyết. Quay trở lại ví dụ của chúng ta về việc học lái xe, tôi dám chắc rằng phải có một số điều các bạn cần phải lưu ý, được đề cập đến trong sổ tay xe hơi. Hầu như trên trang đầu tiên sẽ có: “Chú ý khi sử dụng. Không uống rượu khi lái xe và nhớ tỉnh táo.” Lý thuyết là vậy. Nó hoàn toàn không giải nghĩa rõ ràng. Bạn chỉ phải cẩn thận khi lái xe. Đó là tất cả những gì lý thuyết có thể đề cập. Trên thực tế, ‘hãy cẩn thận’ có rất nhiều cách hiểu. Những người khác nhau phải cẩn thận theo những cách khác nhau. Với điều này trong tâm, các bạn sẽ hiểu vì sao việc thực hiện một trăm ngàn lạy có hiệu quả đối với một số người, còn với một người như ngài Milarepa thì không cần thiết, vì ngài đang xây một ngôi nhà chín tầng. Hoặc vì sao, đối với một vài đệ tử, vị thầy có thể nói: Không cần lễ lạy,” vì người đó có thể làm một việc khác như xác nhận những tấm vé máy bay của thầy mình. Mặt khác, sẽ nguy hiểm khi nghĩ rằng những việc nào đó hầu như có tính chất bắt buộc và rằng một học trò Kim cương thừa phải tuân theo cách lạy của người Tạng. Nói cách khác, các bạn đã hình thành sự hiểu lầm là mọi tài xế cần phải uống một ly cà phê trước khi lái xe.
Sau khi đã đọc ở trang đầu tiên của cuốn cẩm nang xe hơi là mọi người phải cẩn thận khi lái xe, thì việc biết cách hiểu điều đó rất quan trọng. Có thể với một người như bạn, điều đó có nghĩa là: “hãy uống một ly cà phê” còn với người khác, uống cà phê có thể khiến họ bị lo lắng, hoặc kích động, nên một ngụm margarita (một loại thức uống có cồn) sẽ giúp họ thư giãn hơn! Nó có thể ngược lại hoàn toàn!
Hơn nữa, xin nhớ cho là phần lớn các nghi lễ Kim cương thừa, và mọi phương pháp như cúng dường mạn-đà-la và nhất là đạo sư du-già đều là các khẩu quyết. Ngoài ra, bạn nên biết rằng có nhiều lớp khẩu quyết khác nhau. Một số khẩu quyết có tính phổ biến hơn, chẳng hạn “thực hiện một trăm ngàn lễ lạy,” và có những khẩu quyết riêng được trao cho những cá nhân khác nhau.
Thỉnh thoảng, tôi có thể phải dạy một thứ dường như hoàn toàn không liên quan đến bài bản. Tôi có thể bảo: “Đầu tiên hãy uống một ly cà phê, trước khi lái xe.” Hoàn cảnh lúc đó có thể đơn giản là bạn chưa tỉnh táo. Sổ tay hướng dẫn không bao giờ viết: “Bạn phải uống một ly cà phê trước khi lái xe.” Đó chỉ là đánh giá của riêng tôi: học viên này cần phải tỉnh táo một chút nên trước hết họ phải uống một ly cà phê. Đây là điều chúng ta gọi là khẩu quyết. Chúng rất linh hoạt, phong phú, không chính thống, và đôi lúc không hợp lý lắm, giống như khi các Thiền sư đặt vấn đề: “Âm thanh của một bàn tay vỗ là gì?” Nó là một câu hỏi có vẻ buồn cười hết sức, nhưng tùy vào thời điểm, địa điểm và với ai mà bạn sẽ vận dụng một phương pháp như vậy, nó mang tính cá nhân, nhưng hiệu quả.
Vậy giáo lý ngondro sẽ rơi vào loại nào? Nó là lý thuyết hay khẩu quyết? Có lẽ đối với một vài bạn sẽ trở nên ngạc nhiên nhưng thực chất nó chính là khẩu quyết. Nó không phải lý thuyết. Ví dụ như, cả hai thực hành lễ lạy và cúng dường mạn-đà-la là các khẩu quyết. Nếu muốn biết lý thuyết nào ở phía sau chúng, thì các bạn phải nghiên cứu những bản văn như “Mật điển Guhyagarbha” hoặc một loại bản văn tương tự. Điều tôi đang nói là xin hãy, ít nhất cũng như vậy, có ước nguyện rằng một ngày nào đó các bạn có thể bắt đầu và thực sự nghiên cứu lý do vì sao mình phải làm một thực hành như vậy. Bằng cách học các bản văn mật thừa như Guhyagarbha, các bạn sẽ biết tại sao lễ lạy có hiệu quả hay không hiệu quả.
Vì đang giải thích, nên tôi sẽ đề cập đến cả lý thuyết lẫn một vài khẩu quyết. Tôi sẽ cố gắng trung thành với bản văn thực sự, với ngondro và toàn bộ khái niệm Kim cương thừa. Khi đưa ra các khẩu quyết, phần lớn thời gian tôi sẽ nhắc lại những gì tôi đã nghe được từ các vị thầy của mình, vì trên thực tế, tôi dựa trên các khẩu quyết của họ. Nói đúng ra, tôi không có quá nhiều kinh nghiệm vì tôi không thực hành nhiều cho lắm. Tuy nhiên, với thực hành ít ỏi của mình, tôi đã tìm cách thu hoạch một vài kinh nghiệm mơ hồ. Dựa trên một số hiểu biết này, tôi sẽ đưa ra các hướng dẫn.

BA KHẨU QUYẾT ĐỂ BẮT ĐẦU THỰC HÀNH NGONDRO
Hướng dẫn này tôi đã nghe dạy từ các vị thầy của tôi và cũng có một chút từ chính kinh nghiệm của mình. Như đã được nói rõ trong nhiều giáo lý và như tôi đã nghe rất nhiều lần từ các vị thầy của mình, mỗi khi chúng ta bắt đầu thực hành, nó giúp ngăn chúng ta không lao vào thực hành ngay. Điều này đặc biệt áp dụng - nếu bạn là một người rất bận rộn - chỉ trong 5 phút đối với thực hành ngondro Longchen Nyingtik hằng ngày hoặc bất kỳ thực hành nào bạn đang làm. Ngay cả khi bình thường, chúng ta vẫn có luồng tư tưởng bất tận này. Nhưng giả sử bạn vừa cãi cọ với người bạn đời ngay trước lúc thực hành. Nhiều khả năng, sẽ xuất hiện một luồng tư tưởng về những điều nói với bạn đời, và những ý nghĩ này sẽ dồn dập nổi lên. Rồi bạn thấy rằng đã đến giờ thực hành ngondro. Nếu bạn bắt đầu thực hành của mình ngay, thì việc đó sẽ không diễn ra tốt đẹp lắm. Thay vào đó, chỉ trong chốc lát ngưng luồng tư tưởng này, tôi nhận ra việc này rất, rất là hữu ích. Thực ra có vô số cách để ngưng dòng tư tưởng. Nhưng với riêng tôi, trước khi thực hành tôi chỉ ngồi một lúc và mỗi lần tư tưởng nổi lên, tôi cố gắng chấm dứt điều đó bằng cách đưa vào tâm mình ý niệm từ bỏ hay thoát ly, hãy lặp lại việc đó nhiều lần.
Tôi nghĩ về mình hiện nay đã bốn mươi tuổi rồi và nếu tôi sống đến tám mươi tuổi thì đó sẽ là một khoảng thời gian khá dài. Trong thế giới nguy hiểm, độc hại này, sống đến tám mươi tuổi đã là một thành tựu, nhưng đâu còn tám mươi năm vì một nửa số đó đã qua mất rồi. Vì vậy, tất cả những gì tôi có là một nửa còn lại và nếu tôi tiếp tục sống thế này, thì bốn mươi năm tiếp theo cũng sẽ ‘trôi qua như vậy.’ Chuyện là vậy. Tôi nghĩ về những gì ngài Đạo sư Liên Hoa Sanh đã nói và “trong bốn mươi năm còn lại, tôi sẽ ngủ mất hai mươi năm” như thế nào vì một nửa thời gian chúng ta chìm trong giấc ngủ. Vì thế, giờ đây chỉ có mươi hai giờ một ngày để thực sự gọi là sống. Trong mười hai giờ này, phán đoán từ chính ham muốn của mình, giả sử tôi xem ít nhất một bộ phim mỗi ngày, thì việc đó sẽ ngốn ít nhất một hai tiếng đồng hồ, nên có lẽ chỉ còn lại mười giờ một ngày. Dù sao khi đến rạp phim, các bạn cũng phải chờ đợi cho đến khi nó bắt đầu. Điều đó thật đáng buồn, vì chúng ta đang phải chờ vì một điều hoàn toàn vô lý xảy ra. Thỉnh thoảng, chúng ta phải chờ khá lâu, có lẽ mất đến mười lăm phút quảng cáo. Rồi tất nhiên cả việc ăn uống, nhất là nếu bạn đi ăn ở nhà hàng Pháp với một bữa ăn sáu hoặc bảy món, điều đó chắc chắn sẽ ngốn rất nhiều thời gian. Và ít nhất mỗi ngày chúng ta cũng sẽ tán gẫu. Vì thế, có lẽ giờ đây chúng ta còn lại khoảng năm tiếng đồng hồ. Trong bốn mươi năm cuối dự kiến chỉ còn lại tám năm nhưng phần lớn trong đó chúng ta rơi vào tình trạng vọng tưởng, lo lắng,… Do đó, chỉ còn rất ít thời gian thật sự dành cho tu tập!
Dù sao chăng nữa, điều này sẽ cho bạn một khái niệm về cách ngưng dòng suy nghĩ. Đừng cố lao mình vào thực hành ngay; thay vào đó bạn chỉ quan sát chính mình, và quan sát đời mình. Hãy quan sát bạn đang làm gì. Nếu bạn đang nói về mười phút thực hành mỗi ngày, thì ít nhất trong hai hoặc ba phút của khoảng thời gian đó, bạn nên làm điều chúng ta gọi là ngưng dòng tư tưởng lại. Khi làm vậy, chúng ta có mục đích là chuyển hóa tâm. Chúng ta làm vậy bằng cách réo gọi tâm thoát ly, bằng cách khởi lên ý niệm “Tôi đang hấp hối. Tôi đang chết dần”… Nó thực sự giúp ích.
Trong nhiều phương pháp truyền thống khác nhau để chuyển hóa nhận thức thông thường của chúng ta, một cách rất tốt mà chúng ta gọi là ‘đào thải khí xấu.’ Sau vài phút thực hiện việc ngưng dòng tư tưởng, bạn ngồi thẳng lưng và hít vào khá mạnh. Sau đó, bạn bịt lỗ mũi bên phải trong khi thở ra từ lỗ mũi bên trái. Khi thở ra, bạn có thể dùng các phương pháp khác thường của Kim cương thừa, chẳng hạn quán tưởng mọi đam mê, và dục vọng của bạn thoát ra ngoài dưới dạng ánh sáng đỏ sậm đồng thời với hơi thở ra. Tiếp theo bạn hít vào từ cùng lỗ mũi trái, và nếu muốn tỉ mỉ hơn thì bạn có thể nghĩ rằng trí tuệ và từ bi của toàn thể chư Phật và chư Bồ tát tan vào bạn, dưới dạng ánh sáng. Rồi bịt lỗ mũi trái và khi thở ra, hãy nghĩ tất cả sân hận của bạn thoát ra dưới dạng các dòng nước màu đen. Tiếp tục hít vào và thở ra từ cả hai lỗ mũi, và lần này, hãy nghĩ rằng mọi vô minh của bạn trong dạng ánh sáng tối tăm, thoát ra thành một đám khói đen.
Tôi không muốn phí thì giờ vào các chi tiết quán tưởng. Chỉ nghĩ rằng bất kỳ cái gì bạn quán tưởng sẽ xảy ra. Khi làm điều này, có một khẩu quyết nữa. Khi bạn thực hiện một quán tưởng, đừng sa đà vào một hình tướng, qua sự thắc mắc: ánh sáng trắng phải thế nào, hoặc vòng tròn ánh sáng lớn bao nhiêu? Toàn bộ mục đích của quán tưởng Kim cương thừa là thế chỗ tư tưởng thông thường bằng tư tưởng
siêu việt và đó mới là khía cạnh quan trọng nhất ở đây. Nếu quá sa đà vào chi tiết, thì bạn đang mở cửa cho nhiều chướng ngại đấy. Ngay khi bạn cho rằng nó tuyệt vời, đừng nấn ná với nó, hãy chuyển sang bước quán tưởng kế tiếp ngay. Đó là một khẩu quyết rất phổ biến.
Có một khía cạnh nữa trong việc làm sạch khí xấu. Trong Kim cương thừa, chúng ta thấy có các thuật ngữ prana (khí năng), nadi (kinh mạch), and bindu (nguyên tinh), là các thuật ngữ không tìm thấy trong các truyền thống Thanh văn thừa và Đại thừa, huống hồ là ý nghĩa của chúng. Trong Kim cương thừa, có một con đường hoàn chỉnh để đạt được giác ngộ trong chính nhục thân này. Trong Thanh văn thừa và Đại thừa, để đạt giác ngộ thì bạn phải thực sự từ bỏ nhục thân này. Chỉ sau đó bạn mới đạt đến đại niết bàn (parinirvana). Vì vậy thông thường, prana hay khí năng này, như một con ngựa mù, và tâm chúng ta là người cưỡi ngựa tật nguyền. Vì thế, khi bắt đầu thực hành của bạn bằng cách đào thải prana xấu, thì việc đó đã tạo ra bầu không khí bên trong này một cách đúng đắn. Và, tôi cho rằng, nó là một cách tốt để áp dụng. Đó là một phương pháp.
Điều tiếp theo không bắt buộc phải làm, nhưng tôi muốn đề xuất bạn làm nó. Giả sử bạn đang thực hành ở nhà, điều bạn làm là hoàn toàn thuyết phục mình rằng nơi bạn đang ngồi không chỉ là ‘căn nhà ở nước Đức’ hoặc bất kỳ nơi nào bạn tình cờ có mặt. Nơi này không phải ‘ngôi nhà này hoặc căn hộ này’ mà nó là một cõi tịnh độ. Điều đó thực sự rất quan trọng. Nhất là vì Kim cương thừa là một con đường chuyển hóa cái thấy bất tịnh thành cái thấy thanh tịnh. Khi chúng ta nói ‘cái thấy bất tịnh’ thì điều này không theo nghĩa có một thứ dơ bẩn, như bạn có thể nhìn thấy ở Kathmandu. Nó không liên quan gì với điều đó cả. Nó bất tịnh vì chúng ta nghĩ theo kiểu “một trần nhà chỉ là một trần nhà và sàn nhà chỉ là một sàn nhà.” Chúng ta bị mắc kẹt trong các khái niệm này. Nó là bất tịnh vì chúng ta nghĩ: “Một ngàn người không thể nào vào lọt phòng ngủ của mình được.” Nó bất tịnh theo cách chúng ta nghĩ: “Cái này không thể dùng làm phòng ngủ được.” Có mọi sự phân biệt nhị nguyên như thế này, bất cứ khi nào chúng ta cho rằng những thứ như thế chỉ có thể sử dụng cho một mục đích nhất định, hoặc quá sạch sẽ, quá tối tăm, quá nóng, quá lạnh và đại loại thế. Tương tự như vậy, khi nói đến ‘cõi Phật’chúng ta không nói về những thứ chúng ta có thể nhìn thấy trong một vài bộ phim khoa học giả tưởng, và cũng không phải một loại thiên đường thật sự hạnh phúc, mà chính là nói về một thế giới bất nhị. Nhưng tự thân điều này ngay lúc này là điều rất khó hiểu. Cõi bất nhị này, diện mạo nó thế nào? Đối với những người mới, vì đây là ngondro Longchen Nyingtik và vì đức Liên Hoa Sanh là nhân vật trung tâm, chúng ta có thể quán tưởng cõi này là Núi Màu Đồng Đỏ. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là tường và trần nhà được làm bằng đồng và chỉ như vậy. Thậm chí nghĩ: “Đây không phải là điều mình nghĩ” chỉ thế thôi cũng sẽ thay đổi nhận thức thông thường. Như vậy đó là cái thứ ba trong ba khẩu quyết để bắt đầu thực hành ngondro.

LÝ THUYẾT QUÁN TƯỞNG
Tôi sẽ đưa vào một ít lý thuyết ở đây, vì nó cần thiết. Khi bạn nghĩ: “Cái này không thực tồn tại theo cách mình thấy nó,” từ một quan điểm bình thường thì đó sẽ là một kiểu suy nghĩ ngu xuẩn hoặc phi lý. Nhưng từ quan điểm lý thuyết của Kim cương thừa, nó đúng vì mọi thứ bạn thấy chính là nhận thức của riêng bạn. Điều bạn thấy không phải cái đang là nó. Đó chỉ là nhận thức của bạn. Nếu có vài người cùng ngắm một cô gái, một người có thể đang nghĩ: “Cô này đẹp” và rồi một người khác có thể nghĩ cô này xấu. Cái họ thấy không phải thực chất của cô ấy. Vì vậy, bạn sẽ hiểu lý thuyết và chỉ dẫn luôn kết hợp với nhau, và bổ sung cho nhau. Hiện giờ, cách duy nhất để thực hành điều này là thông qua sự chuyển biến nhận thức bình thường của chúng ta.
Khi đi vào quán tưởng, khá nhiều người có chiều hướng gặp rắc rối. Tôi thực sự nhận ra điều này và nghĩ đó là vì các đạo sư Tây Tạng như tôi trong quá trình giảng dạy, cho rằng cả thế giới phải xử lý mọi việc theo cách người Tạng làm. Chúng tôi dạy bạn cách đức Phật trông thế nào theo kiểu Tây Tạng, tô điểm các trang sức nhất định… Tuy nhiên, trên thực tế, một khẩu quyết giống như một lời khuyên của bác sĩ dành cho bệnh nhân của họ. Nó là một lời khuyên có tính cách cá nhân, và căn cứ vào tình trạng của bệnh nhân, có chuẩn đoán phù hợp và đơn thuốc được kê ra. Sẽ sai lầm nếu bác sĩ đưa ra một lời khuyên giống nhau đối với mọi bệnh nhân của họ. Điều đó cho thấy rằng bác sĩ không được đào tạo tốt. Vì vậy rất có thể, nếu bạn bắt đầu hiểu lý thuyết sâu hơn một ít, thì bạn cũng sẽ trở nên khá thỏa mái với các quán tưởng.
Mục đích chính của việc quán tưởng là tịnh hóa cái thấy bất tịnh này, tức nhận thức bình thường. Vậy trong trường hợp đó, nhận thức thanh tịnh là gì? Nó không nói chúng ta phải thấy mọi vật giống như chúng được vẽ trong các tranh thangka Tây Tạng. Đối với nhiều người, nhận thức thanh tịnh phải phần nào giống như thangka Tây Tạng thể hiện. Nhưng điều đó không đúng, và nó không hề như vậy. Trên thực tế, nếu bạn tìm cách để chuyển hóa mọi thứ để nó giống hệt như tranh thangka, thì điều đó chỉ trở nên thậm chí là tồi tệ hơn mà thôi. Trong tranh, các vị bổn tôn không nháy mắt, không thấy lưng, phẳng lì, bất động, và các đám mây đứng yên. Điểm mấu chốt là phá hủy nhận thức bất tịnh này. Dù sao chăng nữa, với riêng tôi, những bức tranh Tây Tạng, và các tấm hình không sống động gì cả.
Vậy khi nói nhận thức bất tịnh thì chúng ta muốn nói gì? Nhận thức bất tịnh ngay lúc này chủ yếu là mọi thứ chúng ta nhìn thấy, nhận thức, và đánh giá. Đây không phải là vì điều gì đó sai trái quá mức, và đó là lý do vì sao mọi thứ bất tịnh. Thay vào đó, là vì ngay lúc này đây sự tồn tại của chúng ta bị bao phủ bởi tham lam, đố kỵ, kiêu căng, vô minh, hoặc sân hận. Vì vậy, bất kỳ lúc nào chúng ta nhận thức điều gì thì nó luôn thông qua năm cảm xúc này. Khi nhìn nhận người này, chúng ta có thể xem xét họ qua bộ lọc đam mê, và vì thế, sẽ thấy họ thật hấp dẫn. Khi xem xét người kía, và thấy họ qua lăng kính sân hận, sẽ khiến chúng ta thấy họ rất xấu xí và đáng ghét. Khi nhận thức người khác qua sự bất an thất thường của mình, chúng ta đánh giá, phán xét và so sánh, để rồi cuối cùng chúng ta hoặc củng cố hoặc tăng trưởng sự kiêu hãnh của mình, đó là hệ quả bắt nguồn từ vô minh. Danh sách cứ thế nối dài mãi. Mọi nhận thức khác nhau của chúng ta chỉ sanh khởi từ chính tâm trí của mình và thông qua những cảm xúc này. Đó là lý do mọi thứ chúng ta trải qua luôn kết thúc bằng một sự thất vọng nào đó. Việc nó được cảm nhận mạnh mẽ hay yếu ớt thế nào thực sự không quan trọng, mà vấn đề là luôn có một chút thất vọng. Đây là điều chúng ta đang cố tịnh hóa.
Ngay cả với một việc đơn giản là thắp một ngọn đèn, hãy luôn bắt đầu với Bồ đề tâm. Khi bạn thắp một ngọn đèn chỉ để làm căn phòng trở nên đẹp đẽ thì điều đó đại diện cho một loại ý nghĩ thế gian, rất bình thường. Nếu khi thắp đèn mà bạn làm vậy để tích lũy công đức và nghĩ rằng nhờ vậy luân hồi sẽ bị phá hủy – thì đây là một quan điểm của Giới biệt giải thoát. Rồi một lần nữa, nếu bạn thắp đèn và nghĩ: “Nhờ công đức này nguyện mọi chúng sanh hữu tình đạt được giác ngộ” thì đó là quan điểm Đại thừa. Hơn nữa, nếu bạn nghĩ: “Đèn này không phải đèn bình thường. Nó là một ngọn đèn trí tuệ soi sáng mọi chúng sanh hữu tình.” Sau đó phát nguyện: “Khi ánh sáng chiếu soi, mọi thứ sẽ trở thành mạn-đà-la” – Đó là một quan điểm Mật thừa.
Trong khi thực hiện bất kỳ thiện hạnh nào, hoặc ngay khi bạn đang thực hành ngondro Longchen Nyingtik, bạn cũng nên nhớ là: “Tất cả những điều này chỉ là một sự thể hiện của tâm mình.” Điều tuyệt hảo thứ hai này thực sự là điều chúng ta gọi là thực hành bất nhị. Bạn cần tự thuyết phục mình nhiều lần: “Tâm mình đang làm điều này. Mình chỉ đang tưởng tượng điều này. Điều này không thực sự tồn tại.”
Giả sử bạn đang lễ lạy. Khi đang làm việc đó, chúng ta nghĩ: “Đây là mình, mình nghĩ, và cảm thấy rằng ‘mình’ đang lễ lạy. ‘Mình’ cảm thấy rằng ‘mình’ đang bị đau, nhưng thực tế, đây là tâm mình.” Tất cả điều này chủ yếu chỉ là tâm. Lợi ích của việc suy nghĩ theo cách như vậy thật đáng kinh ngạc vì bạn sẽ không dính mắc vào các hành động pháp của mình. Đây cũng là một liều thuốc giải trực tiếp cho sự kiêu căng và bản ngã của bạn. Dù pháp hầu như được cho là liều thuốc giải cho bản ngã của chúng ta, nhưng nó cũng có thể bồi đắp thêm bản ngã thông qua việc chúng ta phát sanh ý niệm mình là một hành giả pháp tốt. Trong lúc thực hành, chúng ta phải luôn cố nhận ra: “Đây chỉ là tâm mình.”
Tiếp theo, bạn có thể thắc mắc: “Nếu chỉ là tâm mình, phải chăng như vậy có nghĩa là không có công đức?” Ngay cả khái niệm ‘có công đức,’ hoặc ‘không có công đức’ cũng chỉ là sự thể hiện của tâm chúng ta.
Tất cả là câu chuyện về luyện tâm. Trong truyền thống Giới biệt giải thoát, họ luyện tâm mình bằng cách kỷ luật thân, và khẩu – thông qua việc cạo đầu, đi khất thực, mặc y vàng nghệ tây, và bằng cách tránh mọi loại hoạt động thế gian, chẳng hạn kết hôn và đại loại như vậy. Trong Đại thừa, trên hết họ luyện tâm bằng cách thiền quán về lòng từ bi, Bồ đề tâm… Trong Kim cương thừa, vượt trội hơn hai thừa trước, chúng ta cố gắng chuyển cái thấy bất tịnh thành thanh tịnh. Chúng ta học làm điều đó thế nào? Thông qua thực hành ngondro, tuần tự từng bước. Bước đầu tiên là ngưng dòng suy nghĩ. Tiếp theo, chúng ta đào thải khí xấu thông qua việc thực hiện một ít sự quán tưởng, và đưa vào tri kiến rằng chính nơi chúng ta đang ở không còn là một nơi chốn bình thường nữa. Chúng ta đã bắt đầu chuyển hóa cái thấy bất tịnh.
BA TUYỆT HẢO
Ba điểm tinh yếu tiếp theo là những gì ngài Patrul Rinpoche dạy như ba tuyệt hảo. Trong bất cứ điều gì bạn làm và trong bất cứ thực hành pháp nào bạn có thể đang tu tập, luôn bắt đầu với động cơ này là động cơ vì lợi lạc của toàn thể chúng sanh hữu tình. Khi chúng ta nói đến việc làm lợi ích, điều này không chỉ nói đến sự giúp đỡ bình thường, chẳng hạn bố thí thức ăn hoặc sự hỗ trợ bình thường, mà còn là ước muốn giác ngộ mọi hữu tình chúng sanh. Tuyệt hảo đầu tiên rất quan trọng, vì nếu không có điều đó thì thực hành của chúng ta sẽ trở nên hướng ngã, và chỉ là một hành động khác của tính ích kỷ.
Sau đó, với điểm tinh yếu cuối cùng, lúc kết thúc thực hành chúng ta luôn hồi hướng công đức. Hơn nữa, ngay cả công đức mà chúng ta đã tích lũy cũng không giữ lại cho bản thân. Chúng ta hồi hướng công đức vì lợi ích của mọi chúng sanh hữu tình. Như vậy đây là ba điểm tinh yếu mà chúng ta gọi là ‘ba sự tuyệt hảo.” Đây là sự giới thiệu một số khía cạnh cần yếu để bắt đầu thực hành ngondro.
Nguyễn Việt Long- Như Nhiên kính dịch !

Address

Thôn Đảnh Thạnh
Suoi Hiep
0633

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Linh Sơn Pháp Tạng-Ngagyur Nyingma Mindrolling Vietnam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share