Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác

Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác Trang Thông Tin Chính Thức, tiếng nói chung của Chư Tôn Đức Và Phật tử TVTL Đại Giác (SaPa - Lào Cai) HÌNH THÀNH & PHÁT TRIỂN TVTL ĐẠI GIÁC - SAPA
I. II. III.

KHỞI NGUYÊN
Vào năm 1989, Hoà Thượng Tôn Sư có duyên du hoá miền Bắc, được các nhà tri thức văn sĩ mời thuyết giảng đạo pháp. Lời dạy của Ngài như những hạt mưa móc tẩm ướt mầm giác ngộ bao năm, ẩn trong tiềm thức của nhân dân phật tử, nay đã đến lúc nẩy mầm đâm chồi.Trong thời gian đó, Ngài tìm đến các dấu tích của những tổ sư thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tu tập hành đạo. Ngài gom góp các tư liệu c

ủa thiền phái qua những tấm bia, câu đối, chí đến các bản viết tay của chư vị tôn túc sau này có liên quan đến thiền phái, để dịch thuật hướng dẫn tăng ni và phật tử tu tập theo. Ngài mong mỏi phục hưng lại dòng thiền Việt Nam mà ông cha ta đã gầy dựng, một dòng thiền rất gần gũi và xác thực với văn hoá dân tộc Việt, phù hợp với châm ngôn “Đạo pháp với Dân tộc”. Từ đó dòng thiền Việt Nam cứ tuôn chảy, lan toả khắp nước Việt và bay xa tận Tây u. Thật là hữu duyên tại lô đất số 08, tổ 6, đường Điện Biên Phủ, phường Phan Si Păng, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai đã đầy đủ phúc lành được lãnh đạo chính quyền các cấp và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Tỉnh Lào Cai đồng thuận cho phép xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
Thiền Viện Đại Giác được hình thành danh hiệu như hiện nay do một nhân duyên:
-Năm 2010 Quý thầy Thiền viện Trúc lâm Sùng Phúc ở Hà Nội được duyên về viếng thăm và chia sẻ đạo lý nhà anh Nguyễn Ngọc Hải trú tại TP Lào Cai. Từ đó anh và các phật tử rất cảm kích, mời quý thầy về sinh hoạt phật pháp mỗi tháng một lần. Hơn một năm sau, gia đình anh Hải đã phát tâm cung tiến cho quý thầy một mảnh đất hơn 5.000m2 tọa lạc như trên.
-Trong khoảng thời gian quý thầy tới lui trên mảnh đất có ngôi nhà gỗ đơn sơ tại Sa Pa. Thể theo nguyện vọng của các phật tử cùng đông đảo bà con địa phương mong mỏi nơi thị trấn SaPa nay là thị xã Sa Pa có một ngôi chùa để nhân dân phật tử có nơi nương tựa tâm linh và hành lễ cầu nguyện.
- Tháng 10/2014: Quý thầy tiến hành làm thủ tục xin phép cất Thiền viện. Do diện tích xây dựng còn hạn hẹp, nên sau đó quý thầy đã xin ban lãnh đạo chính quyền các cấp cho quy hoạch mở rộng thêm hơn 4.000m2 nữa, tổng diện tích thiền viện khoảng 1 hetta.
- Ngày 10/5/2015 : Buổi đại lễ đặt đá xây dựng Thiền viện được diễn ra trong không khí vô cùng hân hoan của đại chúng.
- Ngày 23/4/2017 : Lễ động thổ khởi công xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác chính thức được diễn ra, sau hai năm hoàn thiện đầy đủ thủ tục pháp lý giấy tờ.
- Ngày 13/5/2017 : Chính thức bắt đầu khởi công xây dựng. Theo mô hình thiết kế, thiền viện gồm các hạng mục chính như sau:
1. Một ngôi Tam Bảo 2 tầng với diện tích là 1.500m2, tổng mặt sàn 3.000m2. + Tầng dưới là Giảng Đường, + Tầng trên phía trước là Chính Điện thờ Phật có diện tích 1.000m2 +Phía sau Thờ Tổ có diện tích 500m2
2. Một Cổng Tam Quan có diện tích là 84m2
3. Hai ngôi Nhà Khách nằm bên phải và bên trái ngôi Chính Điện. Mỗi ngôi có diện tích 225m2, thiết kế 2 tầng trên và 1 tầng hầm, tổng mặt sàn 600m2
4. Một ngôi Thiền Đường có diện tích 690m2, thiết kế 2 tầng trên và 1 tầng hầm, tổng mặt sàn 1724m2
5. Một ngôi Nhà Tăng 300m2, thiết kế 2 tầng trên và 1 tầng hầm, với tổng mặt sàn 760m2
6. Một Nhà Bếp 80m2, thiết kế 2 tầng, với tổng mặt sàn 160m2
Sau 3 năm xây dựng, nay đã hoàn thiện được Chánh Điện, Nhà Tổ, Lầu Chuông, Lầu Trống, Giảng đường và nhà khách Tăng. Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác đang xây dựng với một công trình lớn như vậy, song kinh tế tài chính không sẵn có, mọi mặt đều dựa vào xã hội hóa, do các nhà doanh nghiệp hảo tâm cung tiến, cùng quý phật tử và nhân dân gần xa đồng hỗ trợ giúp đỡ tài vật, trí tuệ, công sức…, nên đến thời điểm hiện tại, quý thầy thiền viện có tài chính đến đâu thì tiến hành xây dựng các hạng mục đến đó. SINH HOẠT VÀ PHẬT SỰ
Mặc dù Thiền viện đang trong quá trình xây dựng gặp nhiều khó khăn, nhưng tăng chúng Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác vẫn sinh hoạt tu học nghiêm túc theo đúng thời khóa thanh quy của tông môn.
-Hướng dẫn Phật tử tu học phật pháp định kỳ mỗi tháng 2 ngày (mùng 01 và 15 âm lịch)
-Tổ chức khóa tu mùa hè cho các cháu thanh thiếu nhi diễn ra hàng tháng trong kỳ nghỉ hè được sự phản hồi rất tích cực từ quý phụ huynh. Sau khóa tu các cháu đã có định hướng về đạo đức và trách nhiệm hơn về bổn phận của mình đối với ông bà, cha mẹ cùng xã hội đất nước.
-Với tâm nguyện giúp mọi người có được cuộc sống tốt đẹp hơn, quý thầy còn tổ chức một số hoạt động từ thiện tại địa phương và các nơi lân cận gặp thiên tai. Đối với các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, quý thầy luôn động viên tinh thần và hỗ trợ phần nào về mặt kinh tế giúp bà con có định hướng hơn trong cuộc sống.
-Với các trẻ em nghèo dân tộc thiểu số vùng sâu, ngoài việc hướng dẫn đạo đức để các em nhỏ có được cuộc sống lành mạnh, quý thầy còn giúp đỡ về mặt vật chất: tặng đồ dùng học tập, gạo, quần áo... để các em có nghị lực tiếp bước trên con đường học tập. Thiền viện Trúc Lâm Đại Giác mới đang trong giai đoạn xây dựng, tuy chưa có bề dày lịch sử như những thiền viện khác, song tăng chúng và phật tử nơi đây luôn cố gắng trao dồi trí tuệ, hành trì giới hạnh, hoàn thiện bản hoài “Thượng cầu phật đạo, hạ hoá chúng sinh”, chung tay góp sức cùng các thiền viện khác nỗ lực phục hưng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử ngày càng được phát huy lan toả. Thiền viện Trúc Lâm Đại Giác đang tiến từng bước căn bản theo tông chỉ của Thiền phái: “Phản quan tự kỷ, bổn phận sự" – (luôn tự soi chiếu lại chính mình là việc bổn phận)
IV. KẾT LUẬN
Trúc vườn Yên Tử Tổ xưa lập Thiền phái,
Lâm Tuyền hành đạo Giác Hoàng nối Phật truyền,
Đại đạo quảng khai để đền ơn thầy tổ,
Giác ngộ tâm mình là Phật tự xưa nay. Chúng ta là những hàng hậu học theo gót chân của Phật, Tổ, nên những gì hay đẹp của ông cha ta để lại, bổn phận con cháu phải biết tôn kính, gìn giữ, học tập noi theo, biết tận dụng mọi khả năng để phát huy lan toả, nếu hội đủ duyên lành thì chúng ta gầy dựng để mọi người cùng hiểu biết về những cái hay, cái đẹp của tổ tiên mình. Là người con phật phải lấy giác ngộ làm bản hoài. Kinh có dạy: “Duy tuệ thị nghiệp” (Lấy trí tuệ làm sự nghiệp) và tiếp độ tha nhân để đền ơn thầy tổ, có thế mới gọi là “Trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm quốc độ”
Sa Pa, tháng 08, năm 2020

NGÀY TU AN LẠC (15/03 ÂL)NGŨ GIỚII. MỞ ĐỀCon người là đối tượng của đạo Phật, bao nhiêu luật, bao nhiêu pháp môn, đức Ph...
01/05/2026

NGÀY TU AN LẠC (15/03 ÂL)
NGŨ GIỚI

I. MỞ ĐỀ
Con người là đối tượng của đạo Phật, bao nhiêu luật, bao nhiêu pháp môn, đức Phật đều vì con người lập bày. Đem lại sự an vui hạnh phúc cho con người, là mục tiêu chánh yếu của đạo Phật. Song quan niệm đạo Phật, không phải được nhiều của cải, nhiều tình yêu v.v... là con người có hạnh phúc. Hạnh phúc là người sống biết tiết chế, biết tôn trọng hạnh phúc của mọi người, biết thành thật thương mến nhau. Một dân tộc văn minh là biết tôn trọng sanh mạng của nhau, tôn trọng những quyền tự do căn bản của con người.

Vì thế, ngũ giới là nền tảng căn bản đem lại hạnh phúc cho con người, xây dựng con người sống đúng ý nghĩa văn minh của nhân loại. Ngũ giới là cơ bản đạo đức của người Phật tử, khi bắt đầu bước chân trên con đường giác ngộ giải thoát.

Thiếu căn bản đạo đức này, dù chúng ta có nói đạo đức cao siêu đến đâu cũng là lối nói rỗng. Sự tu hành thiết thực phải gầây dựng cơ bản trước, sau mới tiến lên những bậc cao siêu. Đó là tầm quan trọng của ngũ giới.

II.- ĐỊNH NGHĨA
Ngũ giới là năm điều ngăn cấm do đức Phật chế ra, bảo các Phật tử phải tuân
hành theo. Sau khi qui y người ấy đã tự nhận là đệ tử Phật, để đủ tư cách một Phật tử cần phải gìn giữ năm giới. Năm điều răn cấm này, Phật vì thương xót chúng sanh mà chế ra, cốt khiến đời sống họ được an lành hạnh phúc. Gìn giữ năm giới này là vì mình, không phải vì Phật. Hình thức năm giới:

1. KHÔNG SÁT SANH : Không sát sanh nghĩa là không được giết hại mạng sống của con người. Chúng ta tự quí sanh mạng của mình, vô lý lại sát hại sanh mạng kẻ khác. Trên lẽ công bằng nhân đạo không cho phép chúng ta làm việc ấy. Nếu làm, chúng ta đã trái lẽ công bằng thiếu lòng nhân đạo, đâu còn xứng đáng là đệ tử Phật.
Giết hại mạng sống người có ba: trực tiếp giết, xúi bảo người giết, tùy hỉ trong việc giết hại. Phật tử không tự tay mình giết mạng người, không dùng miệng xúi bảo đốc thúc kẻ khác giết, khi thấy họ giết hại nhau chỉ một bề thương xót không nên vui thích.

Đó là giữ giới không sát sanh. Nhưng suy luận rộng ra, chúng ta quí trọng
mạng sống, những con vật cũng quí trọng mạng sống, để lòng công bằng tràn đến các loài vật, nếu không cần thiết, chúng ta cũng giảm bớt giết hại sanh mạng của chúng.

2. KHÔNG TRỘM CƯỚP: Của cải tài sản của chúng ta, không muốn ai xâm phạm đến, của cải tài sản của người, chúng ta cũng không được giựt lấy hay lén lấy. Bởi cướp giựt hay lén lấy của người là hành động trái nhân đạo, phạm luật pháp chánh quyền, phải bị trừng phạt.

Trộm cướp là do lòng tham lam ác độc, chỉ nghĩ lợi mình, quên nỗi đau khổ của người, mất cả công bằng và nhân đạo, người Phật tử quyết định không được làm.

3. KHÔNG TÀ DÂM: Người Phật tử có vợ chồng đôi bạn như mọi người thế gian khác. Khi có đôi bạn rồi tuyệt đối không phạm đến sự trinh bạch của kẻ khác. Nếu phạm thì mắc tội tà dâm.

Bởi vì đây là hành động làm đau khổ cho gia đình mình và gia đình người, tạo thành nguy cơ tán gia bại sản. Do một chút tình cảm riêng tư của mình, khiến nhiều người khổ đau liên lụy, quả là thiếu lòng nhân. Để bảo đảm sự an ổn của gia đình mình và hạnh phúc của gia đình người, Phật tử nhất định không phạm tà dâm.

4. KHÔNG NÓI DỐI: Nói lời trái với sự thật để mưu cầu lợi mình, hoặc hại người là nói dối. Do động cơ tham lam ác độc, sự kiện xảy ra thế này lại nói thế khác, sửa trái làm mặt, đổi phải thành quấy, khiến người mắc họa.

Người nói như thế trái với đạo đức, mất cả lòng nhân, không xứng đáng là một Phật tử. Phật tử là người đạo đức nên
ăn nói có mẫu mực, thấy biết thế nào nói thẳng thế ấy, không điêu xảo dối trá. Trừ trường hợp vì lợi người lợi vật, không nỡ nói thật để người bị hại hoặc khổ đau, do lòng nhân cứu người cứu vật nói sai sự thật mà không phạm. Không nói dối là giữ lòng tin đối với mọi người chung quanh.

5. KHÔNG UỐNG RƯỢU: Đạo Phật chủ trương giác ngộ, muốn được giác ngộ
trước phải điềm đạm tỉnh sáng, uống rượu vào gan ruột nóng bức, tâm trí quay cuồng, mất hết bình tĩnh không còn sáng suốt, trái hẳn mục đích giác ngộ. Chính vì nóng bức cuồng loạn, có những người khi say sưa tội lỗi họ cũng dám làm, xấu xa gì họ cũng
không sợ, mất hết lương tri.

Vì thế, người biết đạo đức phải tránh xa không uống rượu.
Uống rượu chẳng những làm mất trí khôn, lại gây nên bệnh hoạn cho thân thể, còn di hại cho con cái sau này đần độn. Quả là một họa hại cho cá nhân và xã hội. Người Phật tử vì sự nghiệp giác ngộ, vì lợi ích cho mình cho người quyết hẳn không uống rượu.

Trừ trường hợp mắc bệnh y sĩ bảo phải dùng rượu hòa thuốc uống mới lành, Phật tử được uống thuốc rượu đến khi lành bệnh thì chấm dứt, cần phải trình cho chư Tăng biết trước khi uống...
Trích Bước đầu học Phật - HT Thiền sư Thích Thanh Từ.

"PHẢI BIẾT THƯƠNG MÌNH MÀ RÁNG TU" 🙏🏻🙏🏻🙏🏻.
30/04/2026

"PHẢI BIẾT THƯƠNG MÌNH MÀ RÁNG TU" 🙏🏻🙏🏻🙏🏻.


PC 422: HẠNG NGƯỜI DŨNG MÃNH, TÔN QUÝ NHƯ TRÂU CHÚA, HẠNG NGƯỜI THẮNG LỢI VÔ DỤC NHƯ ĐẠI TIÊN, HẠNG NGƯỜI TẮM XONG SẠCH ...
29/04/2026

PC 422: HẠNG NGƯỜI DŨNG MÃNH, TÔN QUÝ NHƯ TRÂU CHÚA, HẠNG NGƯỜI THẮNG LỢI VÔ DỤC NHƯ ĐẠI TIÊN, HẠNG NGƯỜI TẮM XONG SẠCH SẼ VÀ GIÁC TỈNH, HẠNG NGƯỜI NHƯ THẾ TA GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Thuở xưa dân Ấn Độ ví người dũng mãnh tôn quý là trâu chúa. Miền quê Việt Nam gọi là con trâu cổ, là chỉ mấy con trâu mạnh mẽ nhất.

Người không có lòng mê đắm ngũ dục lạc, chiết phục được ma quân phiền não của mình, đó là bậc đại tiên. Dân chúng Ấn Độ tin rằng nước sông Hằng có thể rửa sạch tội lỗi, nên nói người tắm xong sạch sẽ và giác tỉnh, để chỉ cho hạng người trong tâm không còn cấu nhiễm, mà có trí tỉnh giác, Phật gọi là Bà-la-môn.

PC 423: VỊ MÂU - NI (THANH TỊNH) TRƯỚC, THẤY CẢ CÕI THIÊN VÀ CÁC CÕI KHỔ (ÁC THÚ), ĐÃ TRỪ DIỆT SỰ TÁI SINH, THIỆN NGHIỆP HOÀN TOÀN, THÀNH BẬC VÔ THƯỢNG TRÍ; NGƯỜI VIÊN MÃN THÀNH TỰU MỌI ĐIỀU NHƯ THẾ, TA GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Mâu-ni là tiếng Phạn, Hán dịch là tịch tịnh. Vị Mâu-ni biết ở cõi trời sung sướng thế nào, cõi địa ngục súc sanh đau khổ ra sao, biết rõ ràng và dứt được sự tái sanh trong sáu cõi, đầy đủ tất cả nghiệp lành, thành bậc Vô thượng trí. Người giác ngộ viên mãn như thế, ta gọi là Bà-la-môn hay cũng gọi là Phật. Bà-la-môn hay Phật đều chỉ cho người giác ngộ giải thoát hoàn toàn.

HẾT

HT Thiền sư Thích Thanh Từ.

HỎI:  KÍNH BẠCH HT, XIN GIẢNG CHO CON HIỂU, THEO LUẬT NHÂN QUẢ NÓI CÓ VAY THÌ CÓ TRẢ, CON THẤY CÓ MỘT ÔNG THẦY XUẤT GIA ...
28/04/2026

HỎI: KÍNH BẠCH HT, XIN GIẢNG CHO CON HIỂU, THEO LUẬT NHÂN QUẢ NÓI CÓ VAY THÌ CÓ TRẢ, CON THẤY CÓ MỘT ÔNG THẦY XUẤT GIA SAU NÀY XẢ GIỚI HOÀN TỤC CÓ VỢ, CÓ CON NHƯ NGƯỜI ĐỜI. VẬY SAU KHI LÂM CHUNG CÓ BỊ ĐOẠ ĐỊA NGỤC KHÔNG?

ĐÁP: Phật tử này lo cho quý vị xuất gia rồi hoàn tục, vay nợ đàn na thí chủ có bị đọa địa ngục không?

Tôi xin giải thích: Nếu hiểu luật nhân quả một cách cố định có vay có trả thì không đúng, vì lý nhân quả rất tế nhị. Trong nhân gian thường nói: "gieo gió gặt bão", hay nói "nhân nào quả nấy". Như vậy chưa hiểu thấu lý nhân quả của đạo Phật. Đạo Phật nói nhân quả là một chuỗi dài thời gian. Ví dụ hạt xoài ươm xuống đất cho đến thành cây có trái, phải mất bốn năm năm và phải có người săn sóc đúng mức, nếu thiếu sự săn sóc chưa chắc có trái xoài. Hiểu như vậy mới là hiểu nhân quả, chớ quyết định nhân nào quả nấy thì không được. Tôi thường nói tôi sống nhờ Phật tử giúp đỡ về tiền bạc vật chất, như vậy tôi có vay không? Nếu khẳng định vay tiền trả tiền, vay lúa trả lúa thì không trả được. Vay lúa vay tiền mà lại trả bằng thứ khác, như vay nợ tiền mà tôi trả bằng Phật pháp. Tiền quý Phật tử giúp tôi ăn năm ba tháng thì hết, còn tôi cho quý Phật tử pháp cả đời xài không hết, áp dụng tu hành cho tới khi nào thành Phật mới thôi. Tính ra thì tôi lời hơn, cho nên nói thuyết Pháp có phước là vậy.

Trở lại ông thầy xuất gia hoàn tục, nếu vì chướng duyên không thể tu nữa ông xả giới hoàn tục, chặng xuất gia của ông là tốt, bây giờ ông không kham thì ông trở về đời sống người tại gia. Nếu trong thời gian xuất gia ông tu hành đàng hoàng thì có phước, trong giai đoạn cư sĩ tại gia lỡ tạo tội thì lấy phước đó mà bù. Nếu thời gian xuất gia tu hành lôi thôi không có phước, trong giai đoạn cư sĩ tại gia ông lại tạo tội thì không có phước khi chết bị đọa. Còn ông sống đời cư sĩ đúng đắn thì cũng còn cái phước thừa xuất gia của ông, đời sau ông có thể xuất gia tu trọn vẹn hơn.

HỎI: XƯA NAY THEO PHONG TỤC TẬP QUÁN CON THỜ RẤT NHIỀU BÀN THỜ, NAY CON ĐƯỢC NGHE THẦY GIẢNG CON THẤY CÓ PHẦN PHỨC TẠP. VẬY CON CÓ THỂ BỚT LẠI CHỈ THỜ CỬU HUYỀN THẤT TỔ, ĐỨC CHÍ TÔN VÀ CÁC VỊ BỒ - TÁT ĐƯỢC KHÔNG?

ĐÁP: Hồi chưa biết đạo ai chỉ sao làm vậy, bây giờ biết đạo thì thờ một bàn ông bà để tỏ lòng hiếu thảo với tổ tiên, ở giữa thì thờ Phật để chứng tỏ mình là đệ tử Phật, ngày đêm thường nhớ Phật, như vậy đủ rồi.

HỎI: LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC VẤN ĐỀ NHÂN QUẢ LUÂN HỒI ĐỂ CÓ THỂ GIẢI THÍCH ĐƯỢC HIỆN TƯỢNG BẤT CÔNG CỦA XÃ HỘI?

ĐÁP: Cái bất công ở đây không nói bất công của tổ chức xã hội, mà bất công ngay nơi con người với con người. Khi sanh ra có người đẹp, người xấu, người khỏe mạnh, người đau yếu, người tật nguyền, người lành lặn, người sanh trong gia đình sung túc, người sanh trong cảnh thiếu thốn. Những điều bất công đó không phải người ta làm nên mà sanh ra mình đã mang sẵn rồi. Làm sao giải thích có nhân quả luân hồi để mọi người thừa nhận? Về luân hồi, ngày xưa thì khó tin thật, nhưng bây giờ rất dễ tin, vì tất cả sự vật đều chuyển biến chớ không mất hẳn. Gần nhất là quả đất, không cố định một chỗ mà cứ quay vòng vòng hoài đó là luân hồi chứ gì?
Đến thời tiết thay đổi qua bốn mùa cũng luân hồi. Đó là vạn vật bên ngoài luân hồi.

Nhìn lại ngay con người mình, máu huyết lưu thông từ tim ra động mạch, đi khắp cơ thể rồi trở về tim, lưu chuyển không dừng. Xa hơn nữa là từ đời này sang đời khác, chúng ta thấy một khoảng cách thời gian, tuy không có dữ kiện chứng minh, nhưng nó có mang cái bản chất cụ thể.
Thí dụ như một đứa bé sanh ra chưa ai dạy mà nó lại ăn chay không chịu ăn mặn, hoặc có những đứa bé bảy tám tuổi học ít mà biết nhiều gọi là thần đồng. Vì sao có những hiện tượng lạ đó, có phải do mỗi người mang sẵn chủng tử từ trước nên khi được khơi dậy là phát triển liền. Trong một lớp học, thầy giáo dạy như nhau mà năng khiếu phát triển của học trò lại khác nhau, có trò giỏi toán, có trò giỏi văn... Từ đó chúng ta biết là do luân hồi.

Quý Phật tử hiểu vậy rồi thì biết sự bất công trong xã hội này là do phước nghiệp lành dữ của mình đã tạo, nên phải ráng tu sửa chớ đừng oán trách ai hết, vì phước lành hay nghiệp xấu gì cũng do mình tạo ra chớ không phải ngẫu nhiên mà có...
Trích Những cánh hoa đàm - Tập 03 - HT Thiền sư Thích Thanh Từ.

HỎI:  KÍNH BẠCH THẦY, THẦY NÓI NHẤT CỬ NHẤT ĐỘNG LÀ DUYÊN NGHIỆP? LÀM SAO PHÂN BIỆT ĐƯỢC NGHIỆP VÀ DUYÊN?ĐÁP:  Tôi xin đ...
27/04/2026

HỎI: KÍNH BẠCH THẦY, THẦY NÓI NHẤT CỬ NHẤT ĐỘNG LÀ DUYÊN NGHIỆP? LÀM SAO PHÂN BIỆT ĐƯỢC NGHIỆP VÀ DUYÊN?

ĐÁP: Tôi xin đặt câu hỏi lại cho quý Phật tử theo dõi kỹ. Duyên nghiệp mà Phật tử này hiểu là duyên nghiệp của quá khứ hay hiện tại?

Nếu nói của quá khứ thì chưa thấu đáo, bởi vì đời sống chúng ta một là trả nợ quá khứ, hai là tạo duyên vị lai. Đành rằng tất cả hành động đều là duyên nghiệp nhưng nếu duyên nghiệp thuộc quá khứ thì ta thấy như định nghiệp, nghĩa là bắt buộc mình phải như vậy, tức là phải theo một cái khuôn đã định, người ta thường nói là số mạng. Nhà Phật không chấp nhận số mạng vì quá khứ có những duyên nghiệp xấu nhưng hiện tại tạo duyên nghiệp tốt thì nghiệp xấu ở quá khứ sẽ giảm, không có cái khuôn nhất định, cũng không giống số mệnh như nhà Nho nói: Số mệnh là cái đã định sẵn không đổi được, còn nghiệp duyên theo nhà Phật thì có thể chuyển đổi xấu thành tốt.

HỎI: CON NGHE QUÝ THẦY DẠY THỨC THÌ TỈNH, NGỦ THÌ MÊ. KHI CON PHÁT TÂM TU HÀNH MUỐN ĐOẠN TRỪ PHIỀN NÃO VÀ LOẠN TÂM. TUY NHIÊN KHI THỨC CON ĐIỀU PHỤC ĐƯỢC, KHI NGỦ THÌ BỊ DẪN ĐI LUNG TUNG. VẬY CON PHẢI THỨC HOÀI ĐỂ TU CÓ CHƯỚNG ĐẠO KHÔNG?

ĐÁP: Muốn đoạn trừ phiền não và vọng tâm thì khi tu mình cố gắng tỉnh táo để có sức mạnh trị nó, còn khi ngủ thì mê, không có sức tỉnh nên bị nó dẫn, nhưng không sợ, vì trong mộng không có tạo nghiệp, không tạo nghiệp thì không có quả báo. Bây giờ Phật tử phải cố gắng huân tu trí huệ càng ngày càng mạnh, nhờ sức mạnh đó mà dẹp bỏ phiền não dễ. Chừng nào đạo lực thật vững mạnh thì thức ngủ mới như nhau.

HỎI: THEO SỬ GHI TỔ BÁT - NHÃ ĐA - LA ( TỔ THỨ HAI MƯƠI BẢY) LÚC CÒN LÀ ĐỒNG TỬ ANH LẠC, GẶP TỔ BẤT - NHƯ - MẬT - ĐA ( TỔ THỨ HAI MƯƠI SÁU) THƯA: "TÔI NHỚ XƯA ĐỒNG TRONG PHÁP HỘI, TÔN GIẢ GIẢNG BÁT NHÃ BA - LA - MẬT - ĐA, TÔI GIẢNG TU - ĐA - LA THẬM THÂM".
Xin thầy giảng nghĩa Tu-đa-la thậm thâm cho con được rõ.

ĐÁP: Tu-đa-la là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Kinh. Kinh Bát-nhã có khi nói là Kinh, có khi nói là Tu-đa-la liễu nghĩa.

Trích Những cánh hoa đàm - Tập 03 - HT Thiền sư Thích Thanh Từ.

26/04/2026

Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mồng 10 tháng 03; Nhớ ơn công đức ông cha
Nối bước thế hệ chúng ta hướng về...(St)

PHƯƠNG PHÁP TỌA THIỀN(HT Thiền sư Thích Thanh Từ)Hằng ngày khi chúng ta đối duyên xúc cảnh tâm ý dao động, từ sự dao độn...
25/04/2026

PHƯƠNG PHÁP TỌA THIỀN
(HT Thiền sư Thích Thanh Từ)

Hằng ngày khi chúng ta đối duyên xúc cảnh tâm ý dao động, từ sự dao động đó nên tâm không được khinh an. Cho nên tâm là đầu mối của sanh tử phiền não; và cũng là cội nguồn của Niết bàn.
Do đó Phật phương tiện chỉ dạy thiền định để nhiếp tâm chánh niệm.

Trong các oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, chúng ta phải tập sống trong trạng thái tỉnh thức,hằng thắp sáng hiện hửu của mình trong mọi hoạt động hàng ngày. Tuy nhiên đối với người sơ cơ, tọa thiền vẫn là một phương pháp thù thắng hơn các oai nghi kia.

DỤNG CỤ TOẠ THIỀN.

- Một bồ đoàn tròn, đường kính 2 tấc (20 cm), bề cao 2 tấc (20 cm), dồn gòn, khi ngồi xuống còn một tấc (10cm) là vừa.
- Một tọa cụ vuông 8 tấc để trải dưới, bồ đoàn để lên trên.
- Một khăn lông hoặc gối nhỏ dùng để chêm bên lòng bàn chân trũng.

PHƯƠNG PHÁP TOẠ THIỀN.
Tọa thiền có ba giai đoạn: Nhập, Trụ, Xuất.

A. NHẬP
Ðến giờ tọa thiền, trải tọa cụ ra, đặt bồ đoàn lên trên tọa cụ.
Ngồi lên bồ đoàn, xương cùng đúng giữa bồ đoàn, nghiêng qua nghiêng lại cho an ổn mới kéo chân ngồi.
Nếu ngồi bán già, kéo chân trái để lên chân phải hoặc ngược lại.
Nếu ngồi kiết già, chân trái kéo để lên đùi phải, chân phải để lên đùi trái, kéo sát vào thân.
Nới rộng dây lưng, cổ áo, sửa thân ngay thẳng.
Lấy bàn tay phải để lên bàn tay trái. Hai bàn tay để lên hai lòng bàn chân,
Những ngón tay chồng lên nhau, hai đầu ngón tay cái vừa chạm nhau, nằm ngay chiều rún.
Nếu lòng bàn chân bên nào trũng.
Nên dùng khăn chêm vào cho bằng.
Cùi chỏ vừa ôm hông là được.
Chuyển động thân 3 lần, ban đầu mạnh, sau yếu dần.
Ngồi lưng thẳng vừa phải, đừng quá ưỡn cũng đừng để cong hoặc ẹo, đầu hơi cúi (lưng còng và đầu cúi dễ sanh hôn trầm) chiều chóp mũi ngay đầu ngón tay cái, hai trái tai đối xứng với bả vai, mắt mở 1/3, tầm nhìn không quá 6 tấc từ giao điểm giữa hai chân, gương mặt bình thản ngồi yên.
Dùng mũi hít vô cũng đừng mạnh, cũng đừng gấp, phải đều đều nhẹ nhẹ, tưởng như "Không khí trong sạch vô khắp châu thân làm cho những chỗ không thông theo hơi thở lưu thông", rồi há miệng thở ra sạch tưởng như "Phiền não, bệnh hoạn, cấu uế đều theo hơi thở ra ngoài." Thở như thế đến 3 lần cũng từ thô đến tế (từ mạnh rồi nhẹ dần). Thở xong ngậm miệng lại, môi và răng vừa khít lại, lưỡi để lên trên. Từ đây về sau chỉ hít thở bằng mũi đều đều nhẹ nhẹ.

B. TRỤ
Có ba phương pháp dành cho người sơ cơ:

1. SỔ TỨC QUÁN.
Sổ là đếm, tức là hơi thở, sổ tức quán là quán sát hơi thở ra vô, đếm từ một đến mười.
Có hai cách Quán Sổ Tức: Nhặt và Khoan.
* Nhặt: Hít hơi vô đếm một, thở hơi ra đếm hai... Lần lượt đến mười, rồi trở lại bắt đầu từ một.
* Khoan: Hít hơi vô thở ra đếm một, hít vô thở ra đếm hai, lần lượt đến mười, rồi bắt đầu trở lại từ một. Cứ đếm như thế suốt thời gian tọa thiền.
Nếu trong lúc đếm từ một đến mười nữa chừng quên hoặc bị lộn số, ta bắt đầu trở lại từ một...
Sau một thời gian tu tập, hành giả đếm thuần thục không còn bị lộn số nữa thì ta bước qua giai đoạn tùy tức.

2. TUỲ TỨC.
"Tùy" là theo, "tức" là hơi thở. "Tùy tức" là theo dõi hơi thở. Hít hơi vô tới đâu là ta biết tới đó. Hơi thở ra đến đâu, ta cũng đều biết rõ.
Trong khi theo dõi hơi thở, nên dùng trí quán mạng sống trong hơi thở, thở ra mà không hít vào thì mạng sống không còn tồn tại. Hơi thở đã vô thường thì mạng sống của ta cũng mỏng manh giả tạm.
Khi theo hơi thở thuần thục rồi, hành giả bước sang giai đoạn tri vọng.

3. TRI VỌNG.
Ðầu tiên, chúng ta theo dõi hơi thở ra vào an ổn đôi ba phút, buông hơi thở để tâm an tịnh, vừa có vọng khởi liền biết vọng không theo, vọng lặng thì tâm thanh tịnh. Vọng dấy liền biết có vọng, cứ thế cho đến vọng thưa dần và im bặt. Nếu mơ màng ngủ gục thì mở mắt sáng ra chấn chỉnh thân trang nghiêm lại.
Trong lúc tọa thiền nghe ngực nặng, tim hơi nhói là do ngồi thẳng quá nên rùn xuống một chút. Nghe nhức xương sống gần lưng quần, biết ngồi cong rồi, phải thẳng lên. Nếu nhức một bên vai, coi chừng hai vai không ngang nhau, một bên bị lệch xuống. Nếu nhức cả hai vai là do gồng hai tay, phải nới lỏng ra, toàn thân ở trong tư thế thư giãn...
Toàn thân trong tư thế thư giãn

C. XẢ THIỀN
Khi xả thiền, trước đọc bài nguyện hồi hướng:
"Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Ðệ tử và chúng sanh
Ðều trọn thành Phật đạo".
Kế đến, dùng mũi hít vào, dùng miệng thở ra ba hơi (từ nhẹ đến mạnh).
Hít vô tưởng như máu huyết theo hơi thở lưu thông khắp cơ thể. Thở ra tưởng như phiền não, bệnh hoạn, cấu uế theo hơi thở ra ngoài.

Ðộng hai bả vai mỗi bên lên xuống 5 lần.
Ðộng cái đầu cúi xuống ngước lên 5 lần.
Xoay đầu sang phải.
Xoay đầu sang trái mỗi bên 5 lần, rồi trở lại cúi ngước lên xuống 1 lần nữa cho quân bình.
Ðộng hai bàn tay co duỗi 5 lần.
Ðộng thân 7 lần, lần chót dời hai bàn tay úp lên 2 đầu gối, nhấn mạnh xuống.
Xoa mặt 20 - 30 lần.
Xoa hai lỗ tai 20 - 30 lần.
Xoa đầu 20 -30 lần.
Xoa sau gáy 20 -30 lần.
Xoa cổ 20 -30 lần.
Dùng bàn tay phải xoa từ vai xuống cánh tay.
Bàn tay trái xoa từ nách xuống bên hông, hai bên kết hợp xoa một lượt mổi bên 10 lần.

Lòng bàn tay phải đặt lên ngực, lưng bàn tay xoa lên lưng, hai tay kết hợp xoa một lượt (xoa ngang). Xoa ba điểm thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu 5 lần (ngực, bụng, bụng dưới).

Dùng hai bàn tay xoa thắt lưng.
Xoa mông.
Xoa đùi (xoa đùi tùy theo sự đau nhiều hay đau ít không có số lượng).
Xoa hai ngón tay giữa cho nóng
Áp vào mắt mỗi bên 5 lần.
Một tay nắm đầu các ngón chân, một tay giơ cổ chân từ từ để nhẹ xuống.
Hai bàn tay cùng xoa mạnh lên xuống từ đùi đến bàn chân và xoa nóng 2 lòng bàn chân. Xoa bàn chân này xong rồi xoa bàn chân kia, xoa tùy thích không có số lượng.
Duỗi hai chân ra
Thân rướn về phía trước, các ngón tay vừa chạm đầu các ngón chân 5 lần.
Dời thân khỏi bồ đoàn, ngồi yên khoảng vài phút mới đứng dậy lạy Phật.

* Chú ý: Khi xả thiền mọi động tác xoa bóp đều phải ấn mạnh vào da, nhưng đừng thô ồn. Các động tác và hơi thở bắt đầu từ tế đến thô (nhẹ đến mạnh).


HỎI:  KÍNH BẠCH THẦY, KHI TOẠ THIỀN XONG, SAU PHẦN HỒI HƯỚNG CON THÀNH TÂM CẦU NGUYỆN HỒNG ÂN TAM BẢO GIA HỘ CHO THẦY, C...
24/04/2026

HỎI: KÍNH BẠCH THẦY, KHI TOẠ THIỀN XONG, SAU PHẦN HỒI HƯỚNG CON THÀNH TÂM CẦU NGUYỆN HỒNG ÂN TAM BẢO GIA HỘ CHO THẦY, CHO TVTL ĐÀ LẠT THƯỜNG TRỤ VỚI THỜI GIAN ĐỂ NÊU CAO NGỌN ĐÈN CHÁNH PHÁP CỦA ĐỨC NHƯ LAI. CON NGHĨ VẬY ĐỂ GÓP CÔNG VỚI THIỀN VIỆN CÓ ĐÚNG KHÔNG, CÚI XIN THẦY CHỈ DẠY.

ĐÁP: Phật tử này nói trong hằng ngày lúc tu hành chỉ phát tâm cầu nguyện cho Thiền viện Trúc Lâm sớm thành tựu và được lâu dài để lưu truyền ngọn đèn chánh pháp. Dù chỉ là phát tâm hồi hướng cũng là một sự đóng góp rồi, điều đó rất tốt. Nhưng quý vị thấy tôi xây cất Thiền viện ở Đà Lạt, nghe thì vui mừng mà không biết tôi làm với mục đích gì. Tiện đây tôi xin nói cho quý Phật tử được rõ, tôi xây cất Thiền viện ở Đà Lạt với mục đích làm một cái gì cho Phật giáo Việt Nam. Vì hiện giờ ở Việt Nam chưa có chùa nào tu thiền theo tinh thần Phật giáo Việt Nam. Nếu chùa tu theo Đại thừa thì tụng kinh chữ Hán, còn chùa Nguyên thủy thì tụng kinh Pali, vậy có cái nào là Việt Nam đâu! Đến ngày rằm hoặc ba mươi Phật tử tới chùa lạy sám hối, lẽ ra sám hối là phơi bày những lỗi lầm mà mình đã phạm, đằng này chỉ quỳ xuống đọc: "Như thị đẳng nhất thiết chư Phật..." đọc xong rồi lạy, lạy xong rồi đi về mà không hiểu gì hết. Như vậy tụng đọc mà không hiểu kinh nói cái gì thì nghi thức ấy có phải là Phật giáo Việt Nam không? Khi Phật tử cúng cầu gì đó thì quý Thầy phục nguyện toàn âm Hán tự chớ không có một âm tiếng Việt. Tìm một ngôi chùa tu theo Phật giáo Việt Nam không có!

Tại sao Phật giáo ở Ấn-Độ khi truyền sang Trung Hoa họ chuyển thành nghi thức Trung Hoa, sang Nhật Bản chuyển thành nghi thức Nhật Bản, mà Việt Nam cứ giữ y nguyên không chuyển nổi? - Đó là do chúng ta lệ thuộc văn hóa của nước Tàu. Ở Thiền viện Trúc Lâm tôi quy định phải thực hành nghi thức Việt Nam, chúng ta tu Phật nhưng Phật ở Việt Nam.

Lâu nay ở các chùa, Phật tử thường lạy Lương Hoàng Sám hoặc Từ Bi Thủy Sám v.v... những nghi thức đó do Tổ Trung Hoa đặt ra, chưa có nghi thức nào của Tổ Việt Nam. Ở Việt Nam đời Trần vua Trần Thái Tông soạn Lục Thời Sám Hối trong Khóa Hư Lục rất hay. Lỗi lầm từ sáu căn mà ra cho nên trong kinh Lăng Nghiêm Phật nói sáu căn là nhân luân hồi, sáu căn cũng là gốc giải thoát. Sáu căn là cái gốc để chúng ta tu. Lâu nay nghi thức của chư Tổ Việt Nam soạn chúng ta lại lờ đi không để ý, còn nghi thức của Trung Hoa thì đem ra tụng đọc hàng ngày. Do đó ở Trúc Lâm chúng tôi quy định phải sám hối sáu căn theo Lục Thời Sám của vua Trần Thái Tông. Còn tu thì chúng tôi tạo điều kiện cho Tăng Ni tu hành đúng với tinh thần Thiền Tông Việt Nam, Thiền viện Trúc Lâm ra đời nhằm vào mục đích đó và cũng là chỗ Phật tử hướng tâm cầu nguyện.

HỎI: KÍNH BẠCH THẦY, CHÚNG CON TU CHƯA CHỨNG A - LA - HÁN, VẬY KHI THÂN TỨ ĐẠI TAN RÃ TÁNH GIÁC CÓ ĐI ĐẦU THAI KHÔNG? NẾU KHÔNG THÌ Ở ĐÂU? - TÁNH GIÁC VÀ GIÁC LINH KHÁC NHAU THẾ NÀO?

ĐÁP: Nếu tu chưa chứng A-la-hán thì bảo đảm còn tái sanh. Tái sanh thì lúc chỗ này lúc chỗ kia, tùy nghiệp lành dữ của mình mà đến chỗ tốt xấu không cố định. Phật tử đừng lo khi chưa chứng A-la-hán không biết Tánh giác đi đâu, sẽ đi dài dài trong vòng luân hồi chớ chưa dừng đâu.

Tánh giác và giác linh chỉ là hai từ ngữ thôi. Tánh giác là cái biết sáng suốt mà ai cũng có. Người tu khi chết rồi thường được tôn xưng là giác linh, vì người ta tin rằng người tu có cái sáng suốt hơn thế tục nên gọi là giác linh. Còn nói hương linh hay linh hồn nghe nó phàm tục quá. Cho nên đối với những vị xuất gia gọi là giác linh, đó chỉ là danh từ thôi.

Trích Những cánh hoa đàm - Tập 03 - HT Thiền sư Thích Thanh Từ.
Nguồn ảnh: TVTL Tây Thiên

PC 412: NẾU Ở THẾ GIAN NÀY, KHÔNG CHẤP TRƯỚC THIỆN VÀ ÁC, THANH TỊNH KHÔNG ƯU LO, ĐÓ GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.Ở thế gian này...
23/04/2026

PC 412: NẾU Ở THẾ GIAN NÀY, KHÔNG CHẤP TRƯỚC THIỆN VÀ ÁC, THANH TỊNH KHÔNG ƯU LO, ĐÓ GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Ở thế gian này mà không chấp trước thiện ác tốt xấu, tâm luôn luôn trong sạch thanh tịnh, không còn lo lắng phiền não, đó gọi là Bà-la-môn.

PC 413: ÁI DỤC LÀM CHO TÁI SANH ĐÃ ĐƯỢC ĐOẠN TẬN, NHƯ TRĂNG TRONG KHÔNG BỢN, ĐỨNG LẶNG MÀ SÁNG NGỜI, ĐÓ GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Đêm rằm trời trong, nhìn thấy mặt trăng sáng ngời không một tí mây che. Cũng vậy người dứt được lòng ái dục, đoạn tận sự tái sanh, tâm trong sạch sáng suốt, như trăng không gợn mây, đó gọi là Bà-la-môn.

PC 414: VƯỢT KHỎI CON ĐƯỜNG GỒ GHỀ LẦY LỘI, RA KHỎI BIỂN LUÂN HỒI NGU SI MÀ LÊN ĐẾN BỜ KIA, AN TRÚ TRONG THIỀN ĐỊNH, KHÔNG DỤC KHÔNG NGHI HOẶC, KHÔNG CHẤP ĐẮM CHỨNG NIẾT - BÀN TỊCH TĨNH, NGƯỜI NHƯ THẾ TA GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Vượt khỏi tất cả phiền não, ra khỏi biển luân hồi ngu si sanh tử mà đến bờ Niết-bàn. Tâm luôn luôn an trú trong thiền định, không tham dục không nghi ngờ pháp tu, tuy chứng Niết-bàn mà không chấp rằng mình chứng Niết-bàn. Người như thế Phật gọi là Bà-la-môn.

PC 415: XẢ BỎ DỤC LẠC NGAY TẠI ĐỜI NÀY MÀ XUẤT GIA LÀM SA - MÔN KHÔNG NHÀ, KHÔNG CHO DỤC LẠC PHÁT SINH LẠI, NGƯỜI NHƯ THẾ TA GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

PC 416: XẢ BỎ ÁI DỤC NGAY TẠI ĐỜI NÀY MÀ XUẤT GIA LÀM SA - MÔN KHÔNG NHÀ, KHÔNG CHO ÁI DỤC PHÁT SINH TRỞ LẠI, NGƯỜI NHƯ THẾ TA GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Ngay tại đời này xả bỏ hết ngũ dục lạc thế gian và xả bỏ ái dục, xuất gia làm người tu hành. Người như vậy đức Phật gọi là Bà-la-môn.

PC 417: RỜI KHỎI TRÓI BUỘC CỦA NHÂN GIAN, VƯỢT KHỎI TRÓI BUỘC Ở THIÊN THƯỢNG, HẾT THẢY TRÓI BUỘC ĐỀU LÌA SẠCH, ĐÓ GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Một số người thấy thế giới mình đang ở có nhiều đau khổ vì bệnh tật, phiền não, thiếu thốn v.v… ở cõi trời thì sung sướng, muốn gì được nấy nên khởi lòng tham, lo tu riết để đời sau sanh lên đó hưởng sự sung sướng, như thế tu mà còn bị trói buộc ở cõi thiên thượng. Vì không hưởng được dục lạc thế gian thành ra muốn về cõi trời để hưởng. Tu như vậy là còn muốn bỏ khổ để cầu vui ngũ dục, chứ không phải tu để giải thoát, người đó chưa phải là cao siêu. Cho nên đức Phật dạy phải rời khỏi sự trói buộc của nhân gian, rời khỏi sự trói buộc của thiên thượng, tất cả những trói buộc đều phải tránh xa, như vậy mới gọi là Bà-la-môn.

PC 418: XẢ BỎ ĐIỀU ƯA GHÉT, THANH LƯƠNG KHÔNG PHIỀN NÃO, DŨNG MÃNH HƠN THẾ GIAN, ĐÓ GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Những điều đáng ưa và không đáng ưa đều không dính mắc, tâm luôn mát mẻ không phiền não và dũng mãnh hơn người thường, vượt khỏi vòng sanh tử, đó gọi là Bà-la-môn.

PC 419: NẾU BIẾT TẤT CẢ LOÀI HỮU TÌNH TỬ THẾ NÀO, SINH THẾ NÀO, KHÔNG CHẤP TRƯỚC, KHÉO VƯỢT QUA NHƯ PHẬT, ĐÓ GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Người biết được các loài hữu tình, chết rồi sanh ở đâu. Biết rõ nghiệp báo của họ một cách rành rẽ. Không chấp trước, khéo vượt qua dòng luân hồi sanh tử như đức Phật, đó gọi là Bà-la-môn,

PC 420: DÙ CHƯ THIÊN, CÀN - THÁT - BÀ HAY NHÂN LOẠI, KHÔNG AI BIẾT ĐƯỢC NƠI CHỐN CỦA VỊ A - LA - HÁN ĐÃ DỨT SẠCH PHIỀN NÃO, VỊ ẤY TA GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Dù chư thiên, càn-thát-bà hay bất cứ người nào cũng không biết chỗ nơi của các vị A-la-hán. Vì các ngài đã dứt sạch phiền não, chứng vô sanh nên người không thấy không biết được. Người như thế Phật gọi là Bà-la-môn.

PC 421: QUÁ KHỨ, VỊ LAI HAY HIỆN TẠI, NGƯỜI KIA CHẲNG CÓ MỘT VẬT CHI, NGƯỜI KHÔNG CHẤP THỦ MỘT VẬT CHI ẤY, ĐÓI GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Người già không còn hoạt động nổi thì thường sống với quá khứ, ngồi đây mà không biết ngồi đây, cứ nhớ lại thời trẻ trung, mình ngang dọc tài ba hùng dũng thế nào, rồi kể lại cho con cháu nghe, hiện tại lờ đi. Người trẻ thì hướng tới tương lai, ít bữa giở lịch coi hết năm chưa, trông sang năm lên lớp hay thi cử đỗ đạt, bởi vậy tâm không bao giờ yên vì không biết sống trong hiện tại.

Cũng vậy người tu khi ngồi yên sẽ thấy tâm mình dao động, bởi nghĩ về quá khứ, nhớ hồi sớm mai ai nói câu gì xúc phạm tới mình mà buông không được, hoặc nhớ chuyện năm trên năm dưới, hay dự định ít tháng nữa cất nhà, đi du lịch v.v… rồi tâm loạn không yên, vì không biết sống trong hiện tại.
Phật dạy nếu không dính mắc ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai thì tâm rỗng rang tự tại, không chấp đắm một vật chi, đó gọi là Bà-la-môn hay người tu giải thoát.

HT Thiền sư Thích Thanh Từ.

PC 405: BỎ HẾT ĐAO TRƯỢNG, KHÔNG TỰ MÌNH GIẾT, KHÔNG BẢO NGƯỜI KHÁC GIẾT ĐỐI VỚI TẤT CẢ HỮU TÌNH MẠNH YẾU, NGƯỜI NHƯ THẾ...
22/04/2026

PC 405: BỎ HẾT ĐAO TRƯỢNG, KHÔNG TỰ MÌNH GIẾT, KHÔNG BẢO NGƯỜI KHÁC GIẾT ĐỐI VỚI TẤT CẢ HỮU TÌNH MẠNH YẾU, NGƯỜI NHƯ THẾ TA GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Người tu hành chân chánh không sát hại từ con người cho đến con vật, như trâu, bò, heo, dê, loài nhỏ như bồ cào, châu chấu, con giun, con dế; đức Phật gọi là Bà-la-môn hay là người tu chân thật.

PC 406: Ở GIỮA ĐÁM NGƯỜI CỪU ĐỊCH MÀ GÂY TÌNH HỮU NGHỊ, Ở GIỮA ĐÁM NGƯỜI HUNG HĂNG CẦM GẬY MÀ GIỮ KHÍ ÔN HOÀ, Ở GIỮA ĐÁM NGƯỜI CHẤP ĐẮM MÀ KHÔNG CHẤP ĐẮM. NGƯỜI NHƯ THẾ TA GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Ở giữa những người thù oán luôn gây tình hữu nghị để thương mến nhau là điều rất quý. Người cầm gậy muốn hành hung mà mình không sợ cũng không giận, giữ vẻ mặt bình tĩnh ôn hòa, được như vậy mới xứng đáng là người tu. Hơn nữa khi gặp những người đang thù hận nhau mà chúng ta hòa giải được, đó là đem an vui đến cho chúng sanh, như vậy mới thật là người tu hành chân chánh và có bản lĩnh. Ở giữa những người mê chấp mình không mê chấp, được như vậy đức Phật gọi là Bà-la-môn.

PC 407: TỪ LÒNG THAM DỤC, SÂN NHUẾ, KIÊU MẠN, CHO ĐẾN LÒNG HƯ NGUỴ, ĐỀU THOÁT BỎ NHƯ HẠT CẢI KHÔNG DÍNH ĐẦU MŨI KIM. NGƯỜI NHƯ THẾ TA GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Đức Phật dạy không còn dính mắc tham, sân, kiêu mạn và dối trá, như hạt cải không dính đầu mũi kim. Người được như vậy đức Phật gọi là Bà-la-môn.

PC 408: CHỈ NÓI LỜI CHÂN THẬT HỮU ÍCH, KHÔNG NÓI LỜI THÔ ÁC, KHÔNG XÚC PHẠM ĐẾN NGƯỜI, ĐÓ GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Luôn nói lời chân thật và có ích cho mọi người, không bao giờ nói lời thô ác xúc não người khác. Người như thế đức Phật gọi là Bà-la-môn.

PC 409: ĐỐI VỚI VẬT GÌ XẤU HAY TỐT, DÀI HAY NGẮN, THÔ HAY TẾ, MÀ NGƯỜI TA KHÔNG CHO THÌ KHÔNG BAO GIỜ LẤY, ĐÓ GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Đức Phật dạy bất cứ những món gì dù tốt xấu dài ngắn lớn nhỏ, nếu người không cho thì không bao giờ lấy, đó là giữ giới không trộm cắp. Như thế là người tu chân chánh, xứng đáng gọi là Bà-la-môn.

PC 410: ĐỐI VỚI ĐỜI NÀY CŨNG NHƯ ĐỜI KHÁC. KHÔNG MÓNG LÒNG DỤC VỌNG, VÔ DỤC NÊN GIẢI THOÁT, ĐÓ GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Dù ở đời này hay ở đời khác, người không có lòng dục vọng thì hoàn toàn giải thoát, được như vậy đức Phật gọi là Bà-la-môn.

PC 411: NGƯỜI KHÔNG CÒN THAM DỤC, LIỄU NGỘ KHÔNG NGHI HOẶC, CHỨNG ĐẾN BẬC VÔ SANH, ĐÓ GỌI LÀ BÀ - LA - MÔN.

Người không còn tham đắm ngũ dục, liễu ngộ không nghi ngờ, người được như vậy thì chứng quả vô sanh, là không còn tái sanh trên thế gian này nữa, đó gọi là Bà-la-môn.

HT Thiền sư Thích Thanh Từ.

21/04/2026

Không làm các điều ác.
Siêng làm những điều lành,
Giữ tâm ý trong sạch,
Đó là lời Phật dạy./.

HỎI:  THẤY ĐƯỢC LÝ NHÂN QUẢ, SỐNG THEO LÝ NHÂN QUẢ CÓ PHẢI LÀ HUỆ KHÔNG? ĐA SỐ NGƯỜI NGHĨ KHI NÀO TÔI KHÁ GIẢ MỚI CÓ TÀI...
20/04/2026

HỎI: THẤY ĐƯỢC LÝ NHÂN QUẢ, SỐNG THEO LÝ NHÂN QUẢ CÓ PHẢI LÀ HUỆ KHÔNG? ĐA SỐ NGƯỜI NGHĨ KHI NÀO TÔI KHÁ GIẢ MỚI CÓ TÀI VẬT GIÚP NGƯỜI. CÓ NGƯỜI LẠI NÓI KHI NÀO CÓ TÂM MUỐN GIÚP NGƯỜI THÌ MỚI CÓ ĐỒ VẬT ĐỂ CHO. KÍNH BẠCH THẦY NHƯ VẬY Ý NÀO ĐÚNG?

ĐÁP: Trong nhà Phật có nói tam huệ là văn, tư, tu. Chúng ta thấy được lý nhân quả, rồi ứng dụng lý nhân quả thì đó là huệ học. Còn đợi khá giả có tài vật nhiều mới bố thí, nếu cả đời chưa khá giả thì cả đời không làm được việc thiện. Còn nói rằng tâm mình nghĩ bố thí liền có tài vật để bố thí thì duy tâm quá.

Vậy Phật tử phải dung hợp hai ý, vừa nghĩ bố thí vừa ráng làm cho có tiền, tiền mình làm ra thấy có phần nào hơi dư thì phát tâm bố thí. Đó là vừa nghĩ bố thí vừa làm ra tiền của để bố thí chớ đừng một bên thì không hợp.

HỎI: THƯA THẦY, KHI NGÀI DUY - MA - CẬT BỆNH PHẬT SAI BỒ - TÁT VĂN THÙ ĐẾN THĂM, ĐẾN NƠI BỒ - TÁT VĂN THÙ HỎI NGÀI DUY - MA - CẬT: TẠI SAO NGÀI BỆNH?". DUY - MA - CẬT ĐÁP: "TẠI VÌ CHÚNG SANH BỆNH NÊN TÔI BỆNH, CHÚNG SANH HẾT BỆNH THÌ TÔI HẾT BỆNH". TÂM TRÍ CON CÒN HẠN HẸP CHƯA HIỂU ĐƯỢC Ý NÀY KÍNH XIN THẦY TỪ BI CHỈ DẠY.

ĐÁP: Khi Ngài Duy-ma-cật nằm bệnh, Phật bảo Bồ-tát Văn Thù đến thăm, khi đến thăm Ngài hỏi: "Bệnh ông nhiều ít, gần mạnh chưa?". Duy-ma-cật đáp: "Vì chúng sanh bệnh nên tôi bệnh, nếu chúng sanh hết bệnh tôi sẽ hết bệnh".

Trong kinh nói Duy-ma-cật là một vị cổ Phật hiện thân cư sĩ để giúp cho đức Phật Thích-ca trên đường giáo hóa. Bây giờ chúng ta chỉ nói Bồ-tát thôi. Tâm Bồ-tát là tâm lợi ích chẳng sanh, thương chúng sanh như thương thân mình cho nên Bồ-tát thấy chúng sanh bệnh là thấy mình bệnh, bệnh của chúng sanh là bệnh gì?

- Bệnh si mê. Vì si mê mà tạo nghiệp trầm luân trong tam giới không ra khỏi, Bồ-tát vì thương muốn tạo phương tiện giáo hóa chúng sanh thức tỉnh, hết tạo nghiệp mới thoát khỏi trầm luân trong tam giới. Vì tâm nguyện rộng lớn của Bồ-tát, khi chúng sanh còn bệnh tức là còn si mê thì Bồ-tát thấy mình bệnh nên lăn lóc trong cõi trần để độ. Khi chúng sanh hoàn toàn tỉnh giác không cần độ nữa thì Bồ-tát hết bệnh. Như Bồ-tát Địa Tạng phát nguyện độ chúng sanh ở địa ngục, bao giờ địa ngục trống không thì Ngài mới thành Phật. Chỗ này nói lên tình thương chúng sanh như trời bể của Bồ-tát. Người tu chân chính phải theo hạnh nguyện Bồ-tát mới có thể làm lợi ích chúng sanh.

Như vậy bệnh của ngài Duy-ma-cật là do chúng sanh mê lầm mà Ngài giả bệnh. Khi nào chúng sanh hết mê thì Ngài hết bệnh.

Trích Những cánh hoa đàm - Tập 03 - HT Thiền sư Thích Thanh Từ.

Address

Ngõ 468 Đường Điện Biên Phủ, Phường SaPa, Tỉnh Lào Cai
Sa Pa

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác:

Share