Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác

Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác Trang Thông Tin Chính Thức, tiếng nói chung của Chư Tôn Đức Và Phật tử TVTL Đại Giác (SaPa - Lào Cai) HÌNH THÀNH & PHÁT TRIỂN TVTL ĐẠI GIÁC - SAPA
I. II. III.

KHỞI NGUYÊN
Vào năm 1989, Hoà Thượng Tôn Sư có duyên du hoá miền Bắc, được các nhà tri thức văn sĩ mời thuyết giảng đạo pháp. Lời dạy của Ngài như những hạt mưa móc tẩm ướt mầm giác ngộ bao năm, ẩn trong tiềm thức của nhân dân phật tử, nay đã đến lúc nẩy mầm đâm chồi.Trong thời gian đó, Ngài tìm đến các dấu tích của những tổ sư thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tu tập hành đạo. Ngài gom góp các tư liệu của thiền phái qua những tấm bia, câu đối, chí đến các bản viết tay của chư vị tôn túc sau này có liên quan đến thiền phái, để dịch thuật hướng dẫn tăng ni và phật tử tu tập theo. Ngài mong mỏi phục hưng lại dòng thiền Việt Nam mà ông cha ta đã gầy dựng, một dòng thiền rất gần gũi và xác thực với văn hoá dân tộc Việt, phù hợp với châm ngôn “Đạo pháp với Dân tộc”. Từ đó dòng thiền Việt Nam cứ tuôn chảy, lan toả khắp nước Việt và bay xa tận Tây u. Thật là hữu duyên tại lô đất số 08, tổ 6, đường Điện Biên Phủ, phường Phan Si Păng, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai đã đầy đủ phúc lành được lãnh đạo chính quyền các cấp và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Tỉnh Lào Cai đồng thuận cho phép xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
Thiền Viện Đại Giác được hình thành danh hiệu như hiện nay do một nhân duyên:
-Năm 2010 Quý thầy Thiền viện Trúc lâm Sùng Phúc ở Hà Nội được duyên về viếng thăm và chia sẻ đạo lý nhà anh Nguyễn Ngọc Hải trú tại TP Lào Cai. Từ đó anh và các phật tử rất cảm kích, mời quý thầy về sinh hoạt phật pháp mỗi tháng một lần. Hơn một năm sau, gia đình anh Hải đã phát tâm cung tiến cho quý thầy một mảnh đất hơn 5.000m2 tọa lạc như trên.
-Trong khoảng thời gian quý thầy tới lui trên mảnh đất có ngôi nhà gỗ đơn sơ tại Sa Pa. Thể theo nguyện vọng của các phật tử cùng đông đảo bà con địa phương mong mỏi nơi thị trấn SaPa nay là thị xã Sa Pa có một ngôi chùa để nhân dân phật tử có nơi nương tựa tâm linh và hành lễ cầu nguyện.
- Tháng 10/2014: Quý thầy tiến hành làm thủ tục xin phép cất Thiền viện. Do diện tích xây dựng còn hạn hẹp, nên sau đó quý thầy đã xin ban lãnh đạo chính quyền các cấp cho quy hoạch mở rộng thêm hơn 4.000m2 nữa, tổng diện tích thiền viện khoảng 1 hetta.
- Ngày 10/5/2015 : Buổi đại lễ đặt đá xây dựng Thiền viện được diễn ra trong không khí vô cùng hân hoan của đại chúng.
- Ngày 23/4/2017 : Lễ động thổ khởi công xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác chính thức được diễn ra, sau hai năm hoàn thiện đầy đủ thủ tục pháp lý giấy tờ.
- Ngày 13/5/2017 : Chính thức bắt đầu khởi công xây dựng. Theo mô hình thiết kế, thiền viện gồm các hạng mục chính như sau:
1. Một ngôi Tam Bảo 2 tầng với diện tích là 1.500m2, tổng mặt sàn 3.000m2. + Tầng dưới là Giảng Đường, + Tầng trên phía trước là Chính Điện thờ Phật có diện tích 1.000m2 +Phía sau Thờ Tổ có diện tích 500m2
2. Một Cổng Tam Quan có diện tích là 84m2
3. Hai ngôi Nhà Khách nằm bên phải và bên trái ngôi Chính Điện. Mỗi ngôi có diện tích 225m2, thiết kế 2 tầng trên và 1 tầng hầm, tổng mặt sàn 600m2
4. Một ngôi Thiền Đường có diện tích 690m2, thiết kế 2 tầng trên và 1 tầng hầm, tổng mặt sàn 1724m2
5. Một ngôi Nhà Tăng 300m2, thiết kế 2 tầng trên và 1 tầng hầm, với tổng mặt sàn 760m2
6. Một Nhà Bếp 80m2, thiết kế 2 tầng, với tổng mặt sàn 160m2
Sau 3 năm xây dựng, nay đã hoàn thiện được Chánh Điện, Nhà Tổ, Lầu Chuông, Lầu Trống, Giảng đường và nhà khách Tăng. Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác đang xây dựng với một công trình lớn như vậy, song kinh tế tài chính không sẵn có, mọi mặt đều dựa vào xã hội hóa, do các nhà doanh nghiệp hảo tâm cung tiến, cùng quý phật tử và nhân dân gần xa đồng hỗ trợ giúp đỡ tài vật, trí tuệ, công sức…, nên đến thời điểm hiện tại, quý thầy thiền viện có tài chính đến đâu thì tiến hành xây dựng các hạng mục đến đó. SINH HOẠT VÀ PHẬT SỰ
Mặc dù Thiền viện đang trong quá trình xây dựng gặp nhiều khó khăn, nhưng tăng chúng Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác vẫn sinh hoạt tu học nghiêm túc theo đúng thời khóa thanh quy của tông môn.
-Hướng dẫn Phật tử tu học phật pháp định kỳ mỗi tháng 2 ngày (mùng 01 và 15 âm lịch)
-Tổ chức khóa tu mùa hè cho các cháu thanh thiếu nhi diễn ra hàng tháng trong kỳ nghỉ hè được sự phản hồi rất tích cực từ quý phụ huynh. Sau khóa tu các cháu đã có định hướng về đạo đức và trách nhiệm hơn về bổn phận của mình đối với ông bà, cha mẹ cùng xã hội đất nước.
-Với tâm nguyện giúp mọi người có được cuộc sống tốt đẹp hơn, quý thầy còn tổ chức một số hoạt động từ thiện tại địa phương và các nơi lân cận gặp thiên tai. Đối với các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, quý thầy luôn động viên tinh thần và hỗ trợ phần nào về mặt kinh tế giúp bà con có định hướng hơn trong cuộc sống.
-Với các trẻ em nghèo dân tộc thiểu số vùng sâu, ngoài việc hướng dẫn đạo đức để các em nhỏ có được cuộc sống lành mạnh, quý thầy còn giúp đỡ về mặt vật chất: tặng đồ dùng học tập, gạo, quần áo... để các em có nghị lực tiếp bước trên con đường học tập. Thiền viện Trúc Lâm Đại Giác mới đang trong giai đoạn xây dựng, tuy chưa có bề dày lịch sử như những thiền viện khác, song tăng chúng và phật tử nơi đây luôn cố gắng trao dồi trí tuệ, hành trì giới hạnh, hoàn thiện bản hoài “Thượng cầu phật đạo, hạ hoá chúng sinh”, chung tay góp sức cùng các thiền viện khác nỗ lực phục hưng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử ngày càng được phát huy lan toả. Thiền viện Trúc Lâm Đại Giác đang tiến từng bước căn bản theo tông chỉ của Thiền phái: “Phản quan tự kỷ, bổn phận sự" – (luôn tự soi chiếu lại chính mình là việc bổn phận)
IV. KẾT LUẬN
Trúc vườn Yên Tử Tổ xưa lập Thiền phái,
Lâm Tuyền hành đạo Giác Hoàng nối Phật truyền,
Đại đạo quảng khai để đền ơn thầy tổ,
Giác ngộ tâm mình là Phật tự xưa nay. Chúng ta là những hàng hậu học theo gót chân của Phật, Tổ, nên những gì hay đẹp của ông cha ta để lại, bổn phận con cháu phải biết tôn kính, gìn giữ, học tập noi theo, biết tận dụng mọi khả năng để phát huy lan toả, nếu hội đủ duyên lành thì chúng ta gầy dựng để mọi người cùng hiểu biết về những cái hay, cái đẹp của tổ tiên mình. Là người con phật phải lấy giác ngộ làm bản hoài. Kinh có dạy: “Duy tuệ thị nghiệp” (Lấy trí tuệ làm sự nghiệp) và tiếp độ tha nhân để đền ơn thầy tổ, có thế mới gọi là “Trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm quốc độ”
Sa Pa, tháng 08, năm 2020

ĐẠI LỄ VU LAN 2026"HẠNH PHÚC KHI ĐƯỢC CÀI BÔNG HỒNG ĐỎ THẮM"🌹🌹🌹Tháng 7 trời mưa, mưa ướt nhèm đôi mắt, Vu Lan này con vắ...
23/08/2026

ĐẠI LỄ VU LAN 2026

"HẠNH PHÚC KHI ĐƯỢC CÀI BÔNG HỒNG ĐỎ THẮM"
🌹🌹🌹
Tháng 7 trời mưa, mưa ướt nhèm đôi mắt, Vu Lan này con vắng nhà mẹ ơi!
Khi ai đó nhắc về Vu Lan chúng ta lại bồi hồi nhớ về cha mẹ, Người đã khuất, Người đang còn.
Trong tim mỗi người, mẹ luôn là hình ảnh cao đẹp nhất. Mẹ là quê hương, là bóng mát, là hi sinh, là chở che, mẹ là tất cả, suốt cuộc đời chỉ sống vì con. Những tháng ngày mang nặng đẻ đau, trải qua biết bao nhọc nhằn vất vả chưa một lần kể than. Mẹ - Người phụ nữ mạnh mẽ nhất của cuộc đời con, phong ba bão táp ngoài kia sao có thể làm Người gục ngã. Người có thể làm tất cả mọi thứ chỉ mong cho con có được cuộc sống ấm êm và nụ cười hạnh phúc.

“Mẹ thương con mẹ nói, Cha thương con cha làm”. Cha không quãng nắng dầm mưa hay đường mòn hẹp lối, cha làm tất cả chỉ mong nụ cười con trọn vẹn. Bao đêm thức trắng, bao đêm vượt biển to, sóng lớn không run sợ, chỉ sợ rằng con chẳng được ấm no như bạn bè cùng trang lứa.

Lúc nhỏ sống trong vòng tay chở che của cha mẹ con nào biết trân quý, cứ nghĩ rằng đó là bổn phận, là trách nhiệm của bậc làm cha làm mẹ mà quên đi ơn nghĩa sâu dày. Đến khi trưởng thành, con mãi chạy theo những thú vui ngoài kia, con ích kỷ chỉ biết sống cho bản thân mình mà quên đi cha mẹ đã già yếu. Những lúc con bướng bỉnh, không ngoan thì cha mẹ cũng chỉ mỉm cười, nhưng mấy ai biết phía sau nụ cười ấy là những giọt nước mắt xót xa. Mẹ cùng con bước qua bao vui buồn của cuộc sống, cha dìu con qua những khó khăn của cuộc đời. Mẹ xót xa mỗi khi con mình vấp ngã, cha mừng khi thấy con mình đã vững bước trên đường đời lắm phong ba.

Trong mắt mẹ cha, con mãi là đứa bé ngây ngô như những ngày thơ dại, dù rằng con có là ai, trưởng thành đến đâu đi chăng nữa thì với mẹ con vẫn mãi là như thế, vẫn luôn cần sự che chở bảo bọc của gia đình. Người ta vẫn hay nói: “Trái tim người mẹ là vực sâu muôn trượng mà ở đáy ta sẽ tìm được lòng yêu thương và sự tha thứ vô bờ”, thế đấy, cả đời cha mẹ chỉ biết sống vì con cái. Hãy yêu thương họ khi họ vẫn còn đang hiện hữu vì khi mất đi rồi ta biết tìm kiếm nơi đâu. Có thể mua được tất cả nhưng hỡi ơi, sao có thể mua được tấm lòng mẹ cha.

“Thời gian thấm thoát thoi đưa
Mẹ con nay đã già đi đôi phần
Con ước con mãi thời thơ trẻ
Để mẹ con còn mãi tuổi đôi mươi”

Tháng bảy mùa báo hiếu, nhìn hoa trắng mẹ cài trên áo, con biết mẹ không thể mãi mãi bên con. Hôm nay, ngoài kia ai khóc mẹ, sợ giọt nước mắt ấy bao giờ đến phiên con. Vu Lan mây vương nắng nhạt chiều tà, con bồi hồi xúc động nhớ công ơn sinh thành, thầm nghĩ mình còn nhiều thiếu sót, lúc nào cũng để cho mẹ lo lắng chăm sóc mặc dù đã trưởng thành. Công đức sinh thành, dưỡng dục ấy làm sao con có thể nói hết. Mẹ đã ban tặng cho con cuộc sống này, ban tặng cho con đôi chân vững chãi để bước đi qua giông tố của cuộc đời…

Hạnh phúc cho những ai đang còn cha còn mẹ, còn được cài lên ngực áo mình hoa hồng đỏ thắm. Mỗi chúng ta hãy làm tròn bổn phận chữ hiếu của đạo làm con, để mai kia cha mẹ đi rồi cũng không phải hối tiếc muộn màng.

🙏🏻🙏🏻🙏🏻

22/08/2026

Vào lúc 08h30 ngày mai (23/08/2026) sẽ diễn ra ĐẠI LỄ VU LAN - BÁO HIẾU. Xin trân trọng thông báo 🙏🏻

NGÀY LỄ VU LAN - NGÀY TỰ TỨ CỦA CHÚNG TĂNG - NGÀY PHẬT HOAN HỶ.Chữ Tự tứ nói đủ là Tự tứ thỉnh, nghĩa là thỉnh cầu những...
21/08/2026

NGÀY LỄ VU LAN - NGÀY TỰ TỨ CỦA CHÚNG TĂNG - NGÀY PHẬT HOAN HỶ.

Chữ Tự tứ nói đủ là Tự tứ thỉnh, nghĩa là thỉnh cầu những bậc trưởng thượng chỉ dạy mọi lỗi lầm cho mình.

Những lỗi lầm đó hoặc là các ngài thấy, các ngài nghe cho đến chưa thấy, chưa nghe mà chỉ nghi thôi cũng cứ chỉ.

Nếu mình thấy đó là lỗi thật thì mình thành tâm sám hối chớ không dám cãi, không dám bỏ qua.

Bởi vậy nên ngày này chư Phật rất vui vì thấy chúng đệ tử có tâm hồn phục thiện, biết cải hối những lỗi lầm.
Do đó cũng gọi là ngày Phật hoan hỷ.

Đó là ý nghĩa thứ nhứt.

Ý nghĩa thứ hai, ngày này là ngày gợi lại lòng hiếu thảo của người con Phật.

Bởi vì theo tinh thần kinh Vu Lan, ngày rằm tháng Bảy chính là ngày Tôn giả Mục Kiền Liên tìm thấy mẹ đang sinh trong kiếp ngạ quỷ khổ đau, mà tự bản thân Ngài cứu không được.

Ngài mới nhờ Phật chỉ dạy phương pháp cứu độ mẹ.
Nhân đó Phật dạy muốn cứu mẹ thoát khỏi tai ách, phải nên cúng dường chư Tăng, Ni.

Nhờ lực gia trì của Tăng, Ni phụ giúp cho mẹ Ngài chuyển đổi tâm ác, thoát khỏi kiếp ngạ quỷ. Với lòng thành kính của người con thảo, Ngài đã thực hiện đúng những lời Phật dạy và mẹ Ngài cũng thoát khỏi kiếp ngạ quỷ.

Chính nhờ lòng thành đó mà đến rằm tháng Bảy là ngày Tự tứ của chúng Tăng, Phật dạy chúng ta nên cúng dường chư Tăng, nhờ chư Tăng phụ lực mà thân mẫu trong nhiều đời được siêu thăng.

Nên ngày này còn gọi là ngày Báo hiếu.

Trong mùa này, mỗi Phật tử chúng ta nhớ lại công ơn cha mẹ sinh thành nuôi dưỡng cực khổ, cho nên chúng ta nhờ sức chú nguyện của chư Tăng, Ni, nếu cha mẹ có sa vào đường khổ thì nhờ phúc đức này được thoát khỏi.

Còn nếu cha mẹ không đi trong đường khổ thì nhờ phúc đức này mà được tăng trưởng thiện căn.
Nếu cha mẹ hiện tiền cũng nhờ đó mà tăng trưởng tuổi thọ và phát tâm Bồ đề.

Đó là ý nghĩa báo hiếu của người con Phật.

Bởi vậy ngày Vu lan còn có tên là ngày xá tội vong nhân.
Đó là ngày tha thứ mọi lỗi lầm, ngày mà mọi người đều ăn năn, xin cải đổi sám hối, mong các vị lớn tha thứ cho.

Nhờ ý nghĩa tha thứ những lỗi lầm đó nên cũng chính ngày này chư Tăng, Ni thành tâm cầu nguyện cho các vong nhân được khỏi những kiếp khổ đau.

Tôi đã kể sơ qua về ý nghĩa của ngày lễ Vu lan rồi.

Bây giờ đi sâu hơn về hạnh hiếu của người con Phật.

Nhiều khi quý Phật tử thắc mắc, Phật dạy làm con phải hiếu thảo với cha mẹ nhưng quý thầy, quý cô lại bỏ cha bỏ mẹ đi tu, như vậy là bất hiếu rồi, làm sao dạy Phật tử có hiếu được?

Không phải vậy.

Mới nhìn chúng ta thấy như là bất hiếu nhưng trái lại là chí hiếu.

Tại sao?

Vì đi tu không có nghĩa là tìm nơi an nhàn để thụ hưởng yên ổn cho riêng mình, mà vì thương cha thương mẹ, thương chúng sinh; muốn tu làm sao tự bản thân mình giải được những phiền não khổ đau, rồi sau đó giúp cha mẹ và hướng dẫn mọi người hướng về con đường đạo đức, bỏ đi những điều tội lỗi.

Đó là đền đáp công ơn cha mẹ.

Theo thế gian, hiếu thảo với cha mẹ là lo đủ mọi thứ, nào là cơm ăn, áo mặc, giường chõng, thuốc men… nhưng có người nào lo mà cha mẹ khỏi chết không?

Dù nuôi kỹ cách mấy rồi chết cũng phải chết.

Theo tinh thần đạo Phật, chúng ta không chỉ có mặt ở một đời này mà còn có mặt ở vô số kiếp về trước và sau nữa, nên mất thân này sẽ mang thân khác.

Do đó nếu ngay thân này không biết làm lành thì e rằng đời sau sẽ đọa những đường khổ. Bởi vậy người tu phải làm sao thức tỉnh cha mẹ hướng về con đường lành, để cho cha mẹ có mất đi thì sẽ được hạnh phúc, an vui trong những đời sau.

Tôi thí dụ như cha mẹ năm sáu mươi tuổi, có con mười mấy tuổi phát tâm đi tu, ban đầu cha mẹ buồn trách nhưng sau đó lại tự xấu hổ.

Vì nghĩ rằng con mình còn nhỏ nhưng không ham ăn, không ham danh lợi còn mình già rồi mà vẫn chưa thức tỉnh.

Nghĩ vậy, tự nhiên mình cũng bắt chước, lần lần bớt ham ăn, lại tập ăn chay, bớt ham danh lợi, nhờ vậy mình tu từ từ.

Rõ ràng, lúc đầu thì thấy con như dở nhưng càng về sau lại thấy càng hay.

Cho nên phần nhiều những gia đình có con đi tu thì dần dần cha mẹ và gia quyến cũng bắt chước tu theo.

Đó là tinh thần hiếu đễ của người xuất gia.

Người ở thế gian cứ nghĩ nuôi cha mẹ được ấm no, đầy đủ là có hiếu nhưng quên rằng tuổi thọ cha mẹ có giới hạn, tới mức độ nào rồi cũng phải đi.

Cho nên làm sao vừa lo cho hiện tại được ấm no mà nghĩ tới tương lai, sau khi cha mẹ bỏ thân này được thân sau cũng phải sáng sủa, tốt đẹp hơn nhiều.

Đó mới gọi là người biết lo chân chính, lâu dài.
Như vậy tinh thần của người tu không phải là bỏ cha mẹ mà là thương cha mẹ.

Vì muốn hướng cha mẹ về đường lành, hướng thân quyến phát tâm Bồ đề nên mới đi tu.

Với truyền thống người Việt Nam ta, hiếu thảo là một điều rất thiêng liêng, rất cao cả.
Ai biết hiếu thảo với cha mẹ thì mới có thể là một con người tốt ở trong xã hội.

Cho nên hiếu thảo là một nền tảng đạo đức rất cần thiết.
Thuở xưa cha ông chúng ta cũng từng răn dạy những điều đó.

Tôi dẫn một ít đoạn trong ca dao, tục ngữ để quý vị thấy hiếu thảo là một điều hết sức quan trọng:

Nuôi con chẳng quản chi thân
Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn
Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn
Lên non xắn đá xây lăng phụng thờ.

Qua bốn câu này, quý vị thấy người bình dân Việt Nam đối với công ơn cha mẹ rất là thắm thiết.
“Nuôi con chẳng quản chi thân”, khi cha mẹ nuôi con thì không nghĩ gì tới mình hết, miễn con khỏe mạnh là cha mẹ vui.

Con bệnh hoặc bị phiền não hay tật nguyền gì đó thì cha mẹ buồn khổ. Cha mẹ muốn hy sinh thân mình cho con được khỏe mạnh.

Dù cực khổ, khó khăn đến mấy cũng vẫn không nề, không chán.

Câu sau “Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn”, thật thấm làm sao!

Những năm trước bốn mươi lăm, ở Việt Nam mình kinh tế rất là chật vật, quý vị nào có ở miền quê mới thấy cảnh cha mẹ nghèo ở nhà lá rách, giường chiếu chỉ có một đôi thôi.

Con nhỏ chừng một, hai tuổi ban đêm có bệnh hay đái dầm. Khi đái dầm thì ướt, ướt mà không có chiếu thay nên mẹ nằm bên ướt, để con chỗ khô ráo cho nó ngủ ngon.

Cái tình của người mẹ quê như vậy, người không nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ làm sao cho con ngủ ngon giấc, con được khỏe mạnh, con chóng lớn lên.

Người mẹ xưa đã sống trong cảnh cơ cực đó nên mới nói lên được câu này “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn”.

Người mẹ lúc nào cũng trải thân mình cho con cái, quên cả mọi khổ sở, mọi đau đớn, miễn làm sao cho con ăn ngon ngủ được, đó là yên lòng mẹ.

Cha mẹ đối với con đã không kể thân, không nghĩ tới phần của mình thì làm con cái phải làm sao?

Chúng ta là con, muốn đền được ơn đó thì phải nhớ câu “biết lấy chi đền nghĩa khó khăn, lên non xắn đá xây lăng phụng thờ”.

Khi cha mẹ chết rồi mình mới lớn khôn, nhớ ơn cha mẹ không biết làm sao cho nên cạy đá, xây lăng thờ cha phụng mẹ, đó là nói theo người thế gian.

Còn nói theo tinh thần đạo Phật thì nếu cha mẹ chết rồi, chúng ta ráng làm điều lành, điều phước để hồi hướng cho cha mẹ.

Nếu cha mẹ còn sinh tiền, chúng ta lo lắng cho cha mẹ được ấm no, được hạnh phúc, biết quy hướng về Tam bảo, đó là bổn phận của người con hiếu.

Lại một bài nữa:

Công cha nghĩa mẹ cao vời
Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta
Nên người, ta phải xót xa
Đáp đền nghĩa nặng như là trời cao.

Nghĩa là công ơn cha mẹ rất cao vời, không có gì sánh được.

Cha mẹ có khi nào nghĩ rằng tôi nuôi nó chừng ba năm, bảy năm rồi bỏ nó muốn ra sao thì ra đâu. Từ thuở còn bé, nằm nôi cho tới khi lớn khôn, có đôi bạn, có con, vẫn cứ lo. Hết con tới cháu, cho tới đầu bạc phơ, rồi tới ngày tắt thở mới thôi.

Như vậy để thấy thâm tình cha mẹ đối với con không biết bao nhiêu mà kể.

Như vậy bổn phận làm con ta phải làm sao? “Nên người, ta phải xót xa”, khi lớn khôn rồi nghĩ đến công ơn cha mẹ như trời cao, biển rộng.

Ân nghĩa đó nặng nề sâu thẳm chớ không phải là thường.

Cho nên người Phật tử khi nghĩ tới công ơn cao siêu vời vợi của cha mẹ, chúng ta phải hết lòng hết dạ đền đáp.

Nếu không đền đáp được nhiều ít ra cũng năm, mười phần chớ không thể nào chúng ta bỏ mặc cha mẹ ra sao thì ra, đó là không biết đạo nghĩa.

Trong đạo Phật thường nhắc nhở, trong năm tội ngũ nghịch thì tội bất hiếu với cha mẹ là đầu.

HT Thiền Sư Thích Thanh Từ.
Trích trong: Ý NGHĨA VU LAN.

"TÂM HIẾU LÀ TÂM PHẬTHẠNH HIẾU LÀ HẠNH PHẬT".
20/08/2026

"TÂM HIẾU LÀ TÂM PHẬT
HẠNH HIẾU LÀ HẠNH PHẬT".


ÂN CHA MẸ - ĐẠI HIẾU, TRUNG HIẾU, TIỂU HIẾU.Cha mẹ là ân đầu tiên, ân sâu nặng nhất. Cha mẹ cho ta hình hài, dạy ta tiến...
19/08/2026

ÂN CHA MẸ - ĐẠI HIẾU, TRUNG HIẾU, TIỂU HIẾU.

Cha mẹ là ân đầu tiên, ân sâu nặng nhất. Cha mẹ cho ta hình hài, dạy ta tiếng nói, dìu dắt ta qua những bước đầu đời.

Trong tinh thần Phật giáo, hiếu có ba bậc:
• Tiểu hiếu: phụng dưỡng cha mẹ về cơm áo, thuốc men, lo lắng đời sống vật chất.
• Trung hiếu: khuyên cha mẹ làm điều lành, xa ác, gieo trồng phước thiện để đời này và đời sau được an vui.
• Đại hiếu: hướng cha mẹ vào con đường giải thoát, thấy rõ bản tâm, thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.

Trong lịch sử Thiền tông Việt Nam, Thiền sư Tông Diễn (1640–1711), hiệu Chân Dung, là Tổ thứ hai dòng Thiền Tào Động ở Việt Nam. Thuở nhỏ, Sư mồ côi cha, sống với mẹ. Một hôm, mẹ dặn Sư đem cua ra giã nấu canh, nhưng thấy những con cua tuôn bọt như khóc, Sư động lòng thương thả hết xuống ao. Khi mẹ về không có canh, giận quá đánh con, Sư bỏ chạy, từ đó mẹ con ly biệt.

Sau đó Sư được đưa vào chùa, xuất gia tu học và thành bậc đạo hạnh. Ba mươi năm sau, Sư tìm lại mẹ, tình cờ gặp bà cụ già yếu bán nước ven đường, chính là mẹ mình. Thương mẹ, Sư đưa về chùa dựng am tranh cho ở, khuyên tu niệm. Khi mẹ mất, Sư cùng đại chúng làm lễ tang. Ngài phát nguyện: “Người tu hành ngộ đạo, cha mẹ sanh thiên. Nếu lời Phật không hư dối, xin cho quan tài bay lên hư không làm chứng.” Quả nhiên, quan tài từ từ nâng lên, mùi hương lạ lan tỏa. Tăng chúng và Phật tử đều cảm động, biết bà cụ đã được siêu thăng nhờ đạo lực và tâm hiếu của Sư.

Câu chuyện ấy nhắc ta rằng: Hiếu không chỉ dừng ở phụng dưỡng (tiểu hiếu) hay khuyên làm lành (trung hiếu), mà cao nhất là đại hiếu: đưa cha mẹ vào con đường giải thoát. Báo hiếu lớn nhất không chỉ là cơm áo, mà là độ cha mẹ siêu thăng bằng công đức tu hành của chính mình.

TT Thích Đạt Ma Khế Định.

18/08/2026

ÂN ĐỨC CỦA CHA MẸ chín tháng cưu mang, nhường khô nằm ướt, nuốt đắng nhả ngọt, nuôi con khôn lớn...

PHƯƠNG PHÁP NÀO BÁO HIẾU SONG THÂN?Thế Tôn mới bảo lời rằng:Vì ngươi Ta sẽ phân trần khá nghe!Thân đàn bà nhiều bề cực n...
17/08/2026

PHƯƠNG PHÁP NÀO BÁO HIẾU SONG THÂN?

Thế Tôn mới bảo lời rằng:

Vì ngươi Ta sẽ phân trần khá nghe!
Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc,
Sanh đặng con thập ngoạt cưu mang,
Tháng đầu, thai đậu tợ sương,
Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường.
Tháng thứ nhì dường như sữa đặc.
Tháng thứ ba như cục huyết ngưng.
Bốn tháng đã tượng ra hình.
Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ ràng.
Tháng thứ sáu lục căn đều đủ.
Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương.
Lại thêm đủ lỗ chân lông,
Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn.
Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ.
Chín tháng thì đầy đủ vóc hình.
Mười tháng là đến kỳ sinh.
Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn,
Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu.
Nó vẫy vùng đạp quấu lung tung,
Làm cho cha mẹ hãi hùng,
Sự đau, sự khổ không cùng tỏ phân.
Khi sanh đặng muôn phần khoái lạc,
Cũng ví như được bạc được vàng.

Thế Tôn lại bảo A-nan:
Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin.
Điều thứ nhất giữ gìn thai giáo,
Mười tháng trường chu đáo mọi bề.
Thứ hai sanh đẻ gớm ghê,
Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần.
Điều thứ ba, thâm ân nuôi dưỡng,
Cực đến đâu, bền vững chẳng lay.
Thứ tư ăn đắng nuốt cay,
Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con.
Điều thứ năm lại còn khi ngủ,
Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con.
Thứ sáu sú nước nhai cơm,
Miễn con no ấm chẳng nhờm, chẳng ghê.
Điều thứ bảy không chê ô uế,
Giặt đồ dơ của trẻ không phiền.
Thứ tám chẳng nỡ chia riêng,
Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo
Điều thứ chín miễn con sung sướng,
Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam,
Tính sao có lợi thì làm,
Chẳng màng tội lỗi, bị giam bị cầm.
Điều thứ mười chẳng ham trau chuốt,
Dành cho con các cuộc thanh nhàn,
Thương con như ngọc như vàng,
Ơn cha, nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn...
Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân,
Làm sao báo đáp thù ân,
Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình.
Phật bèn dụng Phạm thinh sáu món,
Phân tỏ cùng Đại chúng lắng nghe,
Ơn cha nghĩa mẹ nặng nề,
Không phương báo đáp cho vừa sức đâu.

Ví có người ơn sâu dốc trả,
Cõng mẹ cha tất cả hai vai.
Giáp vòng hòn núi Tu-di,
Đến trăm ngàn kiếp ơn kia chưa đền.
Ví có người gặp cơn đói rét,
Nuôi song thân dâng hết thân này,
Xương nghiền thịt nát phân thây,
Trải trăm ngàn kiếp ơn đây chưa đồng.

Ví có người vì công sanh dưỡng,
Tự tay mình khoét thủng song ngươi,
Chịu thân mù tối như vầy,
Đến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu.
Ví có người cầm dao thiệt bén,
Mổ bụng ra, rút hết tâm can,
Huyết ra khắp đất chẳng than,
Đến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng.

Ví có người dùng ngàn mũi nhọn,
Đâm vào mình bất luận chỗ nào,
Tuy là sự khó biết bao,
Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền.

Ví có người vì ơn dưỡng dục,
Tự treo mình cúng Phật thế đèn,
Cứ treo như vậy trọn năm,
Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền.

Ví có người xương nghiền ra mỡ,
Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình,
Xương tan thịt nát chẳng phiền,
Đến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng.

Ví có người vì công dưỡng dục,
Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan,
Làm cho thân thể tiêu tan,
Đến trăm ngàn kiếp thâm ân chưa đền.

Nghe Phật nói thảy đều kinh hãi,
Giọt lệ tràn khó nỗi cầm ngăn,
Đồng thinh bạch Phật lời rằng:

Làm sao trả đặng thâm ân song đường?

Phật mới bảo các hàng Phật tử,
Phải lắng nghe Ta chỉ sau này,
Các ngươi muốn đáp ơn dày,
Phải toan biên chép Kinh đây lưu truyền.

Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng,
Cùng ăn năn những tội lỗi xưa,
Cúng dường Tam Bảo sớm trưa,
Cùng là tu phước chẳng chừa món chi.

Rằm tháng Bảy đến kỳ Tự tứ
Thập phương Tăng đều dự lễ này,
Sắm sanh lễ vật đủ đầy,
Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng.
Đặng cầu nguyện song đường trường thọ,

Hoặc sanh về Tịnh Độ an nhàn,
Ấy là báo đáp thù ân,
Sanh thành dưỡng dục song thân của mình.
Mình còn phải cần chuyên trì giới,
Pháp Tam quy Ngũ giới giữ gìn,

Những lời Ta dạy đinh ninh,
Khá nên y thử phụng hành đừng sai
Được như vậy mới là khỏi tội,
Bằng chẳng thì ngục tối phải sa,

Trong năm đại tội kể ra,
Bất hiếu thứ nhất, thật là trọng thay.
Sau khi chết bị đày vào ngục
Ngũ Vô Gián, cũng gọi A-tỳ

Ngục này trong núi Thiết Vi,
Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề.
Trong ngục này hằng ngày lửa cháy,
Đốt tội nhân hết thảy thành than,

Có lò nấu sắt cho tan,
Rót vào trong miệng tội nhân hành hình.
Một vá đủ cho người thọ khổ,
Lột thịt da đau thấu tâm can,
Lại có chó sắt, rắn gang,
Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhân,
Ở trong ngục có giường bằng sắt,
Bắt tội nhân nằm khắp đó xong,
Rồi cho một ngọn lửa hồng,
Nướng quay kẻ tội da phồng thịt thau.
Móc bằng sắt, thương đao, gươm giáo,
Trên không trung đổ tháo như mưa,
Gặp ai chém nấy chẳng chừa,
Làm cho thân thể nát nhừ như tương.
Những hình phạt vô phương kể hết,

Mỗi ngục đều có cách trị riêng,
Như là xe sắt phân thây,
Chim ưng mổ bụng, trâu cày lưỡi le.
Chớ chi đặng chết liền rất đỡ,
Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân,
Ngày đêm chết sống muôn lần,
Đến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây.

Sự hành phạt tại A-tỳ ngục,
Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân,
Chúng ngươi đều phải ân cần,
Thừa hành các việc phân trần khoản trên.

Nhứt là phải Kinh này in chép,
Truyền bá ra cho khắp Đông Tây
Như ai chép một quyển này,
Ví bằng đặng thấy một vì Thế Tôn
Nếu in đặng ngàn muôn quyển ấy,
Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên
Do theo nguyện lực tuỳ duyên,
Chư Phật ủng hộ y như sở nguyền.
Cha mẹ đặng xa miền khốc lãnh.
Lại hoá sanh về cảnh Thiên cung.
Khi lời Phật giảng vừa xong,
Khắp trong tứ chúng một lòng kính vâng.
Lại phát nguyện thà thân này nát
Ra bụi tro, muôn kiếp chẳng nài,
Dầu cho lưỡi kéo trâu cày,
Đến trăm ngàn kiếp lời Thầy không quên.

Ví như bị bá thiên đao kiếm.
Khắp thân này đâm chém phân thây.
Hoặc như lưới trói thân này,
Trải trăm ngàn kiếp lời Thầy chẳng sai.
Dẫu thân này bị cưa, bị chặt,
Phân chia ra muôn đoạn rã rời,
Đến trăm ngàn kiếp như vầy,
Chúng con cũng chẳng trái lời Thầy khuyên.

Đức A-nan kiền thiền đảnh lễ,
Cầu Thế Tôn đặt để hiệu Kinh,
Ngày sau truyền bá chúng sinh,
Dễ bề phúng tụng, trì chuyên tu hành.

Phật mới bảo: A-nan nên biết!
Quyển Kinh này quả thiệt cao xa,

Đặt tên “BÁO HIẾU MẸ CHA”,
Cùng là “ÂN TRỌNG” thiệt là chơn Kinh.
Các ngươi phải giữ gìn chu đáo,
Đặng đời sau y giáo phụng hành,
Bốn ban Phật tử rất mừng, rất vui,
Thảy một lòng vâng theo lời Phật,
Và kính thành tin chắc vẹn truyền,
Đồng nhau tựu tại Phật tiền,
Nhất tâm đảnh lễ rồi liền lui ra

NAM MÔ ĐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ-TÁT. (3 lần)
Trích Kinh Báo Đáp Công Ơn Cha Mẹ.

HỎI: KÍNH BẠCH HT, CON THƯỜNG NGHE NÓI: TU MÀ KHÔNG HỌC LÀ TU MÙ, HỌC MÀ KHÔNG TU LÀ ĐÃY ĐỰNG SÁCH.Nhưng con cũng nghe n...
16/08/2026

HỎI: KÍNH BẠCH HT, CON THƯỜNG NGHE NÓI: TU MÀ KHÔNG HỌC LÀ TU MÙ, HỌC MÀ KHÔNG TU LÀ ĐÃY ĐỰNG SÁCH.
Nhưng con cũng nghe nói người tu thời nay thường hay kẹt vào sở tri chướng. Xin Hòa Thượng chỉ dạy cho con làm sao dung hòa hai điều này để tiến tu mà không bị kẹt.

ĐÁP: Muốn dung hòa hai điều này thì tu phải học, nhưng mà học để tu chớ không phải để nói. Nếu học để nói là đãy đựng sách, học để khoe cái không, cái tài của mình thì đó là sở tri chướng, còn học hiểu để ứng dụng tu thì không có chướng gì hết. Đó là dung hòa cả hai.

HỎI: Con quy y được pháp danh là Từ Bi Thọ bảy mươi tuổi, muốn biết khi chết có đem pháp danh theo hay để lại. Xin thầy từ bi chỉ dạy.

ĐÁP: Câu hỏi này có chỗ nhầm lẫn pháp danh với lá phái. Pháp danh là cái tên trong đạo, lá phái trong đó có ghi pháp danh. Lá phái thì để lại còn tên trong đạo đi tới đâu người ta hỏi pháp danh gì thì nói tôi là đệ tử Phật tên gì đó. Tên thì tự mình nhớ thôi, còn lá phái đem theo làm chi.@

HỎI: Kính thưa thầy, con sống trong ngành y nên khi đứng trước một người sắp chết con làm đủ mọi cách để kéo lại mạng sống, nhưng họ vẫn lần lần đi vào cõi chết và tim ngừng đập. Nhưng khi con học Thiền với thầy con thấy ông Bàng Uẩn và cô Linh Chiếu không hề bệnh tật, ngồi kiết già chấp tay thị tịch. Thiền sư Động Sơn Lương Giới ngồi yên mà tịch, đại chúng khóc Sư mở mắt quở và kéo dài thọ mạng đến bảy ngày sau, Sư bảo chớ ồn náo rồi ngồi yên mà tịch. Vậy giữa y học và đạo Phật sự sống khác nhau ở điểm nào, xin thầy hoan hỷ giải tỏa thắc mắc cho con.

ĐÁP: Chúng ta sống có hai phần là thể chất và tinh thần. Về mặt thể chất chúng ta sống bằng tất cả động cơ thúc dục của cơ thể, khi đói đòi ăn, khát ta đòi uống, cơ thể cần cái gì chúng ta đáp ứng theo cái ấy. Cơ thể là chủ mọi nhu cầu và chúng ta tùy thuộc cái chủ đó gọi là tùy thuộc vào chiếc xe.

Còn Thiền sư sống làm chủ cái tâm tức là làm chủ con trâu, mà con trâu thì điều khiển chiếc xe, làm chủ được tâm rồi thì mọi hoạt động của cơ thể các ngài làm chủ được. Có những cái người đời không làm chủ được, người tu làm chủ được. Ví dụ Phật tử chưa quen làm chủ tham sân si, nếu việc sai quất người ta kêu tên mình chửi thì mình nổi sân phát ra ngôn ngữ, phát ra hành động cân xứng với câu chửi mắng đó.

Nhưng người tu làm chủ được tâm khi bị người chửi vẫn ngồi yên mặt bình thản. Như vậy nếu lấy tâm niệm của người thế gian để đối chiếu với người tu thì làm sao hiểu nổi. Đó là nói trường hợp tu sơ sơ, còn tu đến lúc làm chủ hoàn toàn thì chết sống tự tại. Chúng ta sống là nhờ tim đập, hơi thở ra vào, các Ngài không muốn thở nữa thì ngưng lại, tim ngừng đập thì chết, muốn thở thì thở khì ra, tim hoạt động thì sống lại, đó là chỗ tự tại của các Ngài không thể nào so sánh các Ngài với người thường tình của thế gian, vì các Ngài đã làm chủ được mình rồi.

HỎI: Kính bạch Hòa thượng, con là Phật tử ở Sông Bé, hiện con đang thờ Phật mẫu và mẹ sanh mẹ độ. Con đang lo không biết làm thế nào cho đúng chánh pháp. Xin Hòa Thượng chỉ dạy cho con.

ĐÁP: Phật tử khi quy y có đọc: Quy y Phật không quy y thiên thần quỷ vật, Quy y Pháp không quy y ngoại đạo tà giáo. Chúng ta đã theo Phật rồi thì thờ Phật là trên, vì Phật là bậc giác ngộ, là cha lành của chúng sanh trong tam giới, thờ Phật là đủ hết, còn mấy vị kia chỉ là phụ thôi. Phật tử đã quy y Phật rồi, thì tôi khuyên Phật tử thờ Phật cho hợp với chánh pháp.

Trích Những cánh hoa đàm - Tập 03 - HT Thiền sư Thích Thanh Từ.

HỎI: XIN THẦY GIẢNG CHO CON HIỂU TẠI SAO PHẬT THÍCH - CA VÀ NGÀI BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM XUẤT GIA MÀ CÒN ĐỂ TÓC, MÀ BÂY GIỜ X...
15/08/2026

HỎI: XIN THẦY GIẢNG CHO CON HIỂU TẠI SAO PHẬT THÍCH - CA VÀ NGÀI BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM XUẤT GIA MÀ CÒN ĐỂ TÓC, MÀ BÂY GIỜ XUẤT GIA PHẢI XUỐNG TÓC?

ĐÁP: Đức Phật Thích-ca có ba mươi hai tướng tốt, trong đó có một tướng tốt là tóc Ngài xoáy óc vòng phải, khi Ngài ra khỏi thành xuất gia là Ngài cắt tóc rồi. Sau khi thành đạo thâu nhận đệ tử Ngài dạy phải cạo bỏ râu tóc, nhưng bây giờ tạc tượng họ muốn để tóc xoáy cho thấy đủ ba mươi hai tướng tốt của đức Phật.

Bồ-tát Quán Thế Âm tượng trưng cho hạnh tu Bồ-tát độ chúng sanh không nhất thiết phải cạo tóc. Người tu hạnh Bồ-tát có thể là cư sĩ, có thể là quan tước, cho nên kinh Phổ Môn nói: Ưng Tỳ-kheo tức hiện Tỳ-kheo thân đắc độ giả, ưng hiện đồng nam, đồng nữ tức hiện đồng nam đồng nữ... muốn cảm hóa chúng sanh ở hạng nào thì Ngài hiện tướng đó, hình ảnh đó biểu trưng rằng Ngài tùy theo sở nguyện của chúng sanh mà hiện thân không cố định. Vì vậy tạc tượng Ngài qua hình thức cư sĩ để thực hành hạnh Bồ-tát theo sở nguyện của chúng sanh. Còn chư Tăng ni bây giờ xuất gia cạo tóc hết là thực hành theo luật nhà Phật dạy.

HỎI: Kính bạch Hòa thượng, theo sử 33 vị Tổ thì Ngũ Tổ là thân sau của Tài Tòng đạo giả. Theo lý nhân duyên thì muốn có thai phải hội đủ hai giới tính âm dương, nhưng ở đây cô gái nhà họ Châu chỉ gặp Đạo giả một lần và hứa cho Ngài ở trọ trong nhà nếu cha mẹ nàng ưng thuận. Sau đó Đạo giả đi ngay không tá túc trong nhà cô gái họ Châu. Vậy nhân duyên gì khiến cô gái nhà họ Châu thọ thai sanh hài nhi trai đến bảy tuổi gặp Tứ Tổ làm đệ tử xuất gia?

ĐÁP: Cái nghi này rất là có lý, tôi xin nói một cách phân hai cho quý vị dễ hiểu. Câu chuyện không chồng mà có con là chuyện khó tin, nhưng gần đây các nhà khoa học ở Pháp họ phát minh ra một con ếch cha; và rồi người ta nhắc lại có một nước toàn là phụ nữ, không biết sao mà họ còn hoài không mất dòng giống. Như vậy thì có trường hợp ngoại lệ. Bây giờ sử sách ghi sao hay vậy chớ luận bàn đúng sai thì tôi xin chịu. Thôi thì biết có Ngài ngộ đạo giảng kinh cho mình nghe là tốt rồi.

HỎI: Kính bạch thầy, con ăn chay trường đã ba năm rồi nhưng thỉnh thoảng con có ăn trứng gà công nghiệp và nấu thức ăn có dùng hành tỏi. Con nghe nói ăn như vậy có tội, con xin thầy giải đáp cho con rõ.

ĐÁP: Ăn chay không phải là cái gốc của đạo Phật, vì hồi Phật còn tại thế Ngài phải đi khất thực, mà theo luật thì chư Tăng đi khất thực vào lúc chín giờ, để tránh cái lỗi là người đó làm thức ăn riêng vì mình, mà người ấy làm là vì gia đình và chia lại phần nào cho mình. Đó là giai đoạn đầu không có quy định chư Tăng phải ăn chay, cho nên bây giờ Phật giáo nguyên thủy không ăn chay là theo lối sinh hoạt ban đầu.

Nhưng khi Phật giáo truyền sang Trung Hoa, Việt Nam, các bậc vua chúa kính trọng chư Tăng, cất chùa cho chư Tăng ở và cấp đất đai để làm ruộng lấy lúa ăn. Bắt đầu thời điểm đó Tăng chúng sống tự túc, để tránh việc giết hại sinh vật nên trồng rau cải ăn chay cho khỏi nghiệp sát sanh. Đó là lý do cùng tu theo đạo Phật mà bên Nguyên thủy không ăn chay còn bên Bắc tông ăn chay là vậy. Như vậy Phật tử hiểu ăn chay là tránh sát sanh, ăn trứng gà công nghiệp không sát sanh thì không sao, tôi nói không sao chớ không nói cho ăn. Còn nói về hành tỏi thì những vị tu bên Mật tông ăn những thứ ấy trì chú không linh, đây Phật tử không trì chú thì tùy, có ăn hay không ăn không phải là tội, chớ tôi cũng không bảo ăn...
Trích Những cánh hoa đàm - Tập 03 - HT Thiền sư Thích Thanh Từ.

Address

Ngõ 468 Đường Điện Biên Phủ, Phường SaPa, Tỉnh Lào Cai
Sa Pa

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Thiền Viện Trúc Lâm Đại Giác:

Shortcuts

Share