THẮC MẮC CÔNG GIÁO

THẮC MẮC CÔNG GIÁO Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from THẮC MẮC CÔNG GIÁO, Church, Sài Gòn.

Vấn đề Sống Thử của giới trẻ ngày nayTrong những năm gần đây, ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, đã xuất hiện một...
02/06/2019

Vấn đề Sống Thử của giới trẻ ngày nay

Trong những năm gần đây, ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, đã xuất hiện một lối sống mới của giới trẻ: Những đôi nam nữ sống chung như vợ chồng không có đăng ký kết hôn.


Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI, một kỷ nguyên đánh dấu bước ngoặt về kinh tế, khoa học và nhất là sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ thông tin đã làm cho cuộc sống con người ngày càng được nâng cao. Tiếc thay, những giá trị đạo đức đang bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, duy vật chất, kéo theo đó là cả một hệ lụy. Hơn nữa, giới trẻ ngày nay quá lạm dụng tự do để chạy theo lối sống hưởng thụ, mà họ cho là hợp thời, sành điệu; họ bỏ qua những giá trị đạo đức là nền tảng cốt yếu của con người. Một trong những lạm dụng tự do, đó là “sống thử”. Vấn đề này không chỉ là sự lo lắng của các bậc làm cha mẹ mà còn là thách đố của các nhà giáo dục cũng như những người có trách nhiệm.

1. Tình trạng “sống thử” của giới trẻ

Trong những năm gần đây, ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, đã xuất hiện một lối sống mới của giới trẻ: Những đôi nam nữ sống chung như vợ chồng không có đăng ký kết hôn. Sau một thời gian, nếu thấy phù hợp thì họ tiến tới hôn nhân chính thức, sẽ đăng ký kết hôn theo pháp luật. Còn nếu thấy không phù hợp, họ sẽ chia tay nhau, không cần đến pháp luật. Người ta gọi đó là “sống thử”. Hiện tượng “sống thử” hay còn gọi là “góp gạo thổi cơm chung” đã và đang trở thành một thứ “mốt” trong lối sống của giới trẻ hiện nay, không chỉ trong giới công nhân sống xa nhà mà còn cả ở những sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường. Theo thống kê của khoa xã hội học Đại học Mở TPHCM, năm 2010, có khoảng 1/3 các bạn trẻ sống thử trước hôn nhân: Lan, sinh viên năm thứ 2 trường Đại học Nông Lâm TPHCM, cho biết: “Ở xóm trọ của em, gần một nửa các bạn sống thử trước hôn nhân”. Tôi được một bạn công nhân chia sẻ, dãy phòng trọ của em có 10 phòng thì có đến sáu phòng “góp gạo thổi cơm chung”.

Mặt khác, “sống thử” đa phần là học đòi theo mốt chứ chưa có định hướng tương lai là có lấy nhau hay không. Xét theo truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục của Việt Nam thì “sống thử” là một lối sống không phù hợp, không nên khuyến khích, nó có tác động xấu đến đời sống và mang lại nhiều hậu quả đáng tiếc cho bản thân và xã hội. Đồng thời, “sống thử” khó được toàn xã hội chấp nhận, đó là lối sống sai lầm, buông thả, phóng túng, làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống, là một biểu hiện của sự xuống cấp về đạo đức trong lối sống thực dụng ngày nay.

Hơn nữa, “sống thử” còn là một trong những thực trạng của xã hội, nó đang có nguy cơ lan rộng như một “dịch bệnh”. Đối tượng được nói đến cách phổ biến, lại rơi vào các học sinh, sinh viên, công nhân, viên chức, hay người trẻ vốn phải sống xa nhà, thiếu thốn tình cảm, khó khăn trong cuộc sống nhưng lại chưa đủ bản lĩnh để bươn trải vào đời. Chuyện “sống thử” trước khi quyết định tiến tới hôn nhân có thực sự là một giải pháp tốt để tiến tới một cuộc hôn nhân hoàn hảo hay nó chỉ là "cái bẫy của một quan niệm suy đồi trong lãnh vực hôn nhân"?

2. Nguyên nhân “sống thử” của giới trẻ

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng “sống thử”, nhưng vì giới hạn của bài viết, tôi chỉ xin nêu ra một vài nguyên nhân sau:

2.1 Nguyên nhân bản thân

Do sống xa nhà, thiếu thốn tình cảm, thiếu vật chất, hoặc có thể vì đua đòi và đi theo não trạng sai lạc do chủ thuyết “duy thế tục” được tự do quảng bá dưới mọi hình thức trong đời sống xã hội. Một số bạn không thích kết hôn khi sự nghiệp chưa vững vàng và càng không thể để "Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy". Tư tưởng mạnh mẽ giúp họ cởi mở hơn trong quan niệm tình dục và không còn e dè dư luận xã hội trước kia. Theo tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn, trưởng khoa tâm lý Đại học sư phạm TPHCM cho rằng: “Một trong những nguyên nhân dẫn đến giới trẻ sống trước hôn nhân là các bạn sống quá tự do, sống xa nhà, thiếu thốn tình cảm, sống buông thả”.

Hơn nữa, nhiều bạn đã tự nguyện sống thử, đặc biệt là các bạn nữ sinh viên và công nhân. Các bạn thích một cuộc sống hưởng thụ, phóng đãng, không tôn trọng chuẩn mực đạo đức của cộng đồng hay luật lệ của tôn giáo. Rất nhiều bạn không những coi thường luật pháp và giáo luật mà còn tự hạ thấp nhân phẩm của mình, không coi trọng giá trị của đời sống gia đình, cho dù biết hành động mình đang làm là sai trái với chuẩn mực cuộc sống nhưng vẫn cố tình bước vào.

2.2 Nguyên nhân từ gia đình

Do cha mẹ sống không hạnh phúc, những cảnh xào xáo, chửi bới và cãi vã thường ngày trong gia đình chính là yếu tố làm cho giới trẻ không muốn nghĩ đến hôn nhân; ngược lại, coi hôn nhân như một sự ràng buộc, cùm kẹp, hoặc chỉ như cơ hội để người ta lợi dụng nhau. Đồng thời, do cha mẹ bồ bịch, mèo chuột, muốn “tìm của lạ” hoặc “ông ăn chả, bà ăn nem” nên không thể khuyên bảo con cái được. Cha mẹ lăng nhăng mà cấm con cái bồ bịch mới là chuyện lạ!

Hơn nữa, cha mẹ không quan tâm đến đời sống và tình cảm của con mình, không động viên con cái sống lành mạnh, chỉ biết phó mặc cho nhà trường, thì làm sao chúng không hư hỏng? Theo thạc sĩ tâm lý nữ tu Hồ Thị Hạnh cho biết: “Do cha mẹ chỉ biết kiếm tiền, không quan tâm đến đời sống của con cái. Mà thực ra, cha mẹ đâu chỉ có kiếm tiền cho con là đủ mà còn phải biết đồng hành với con cái, nhất là ở lứa tuổi đang chập chững biết yêu”. Còn theo tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn, trưởng khoa tâm lý Đại học sư phạm TPHCM thì cho rằng: “Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng “sống thử” ở giới trẻ là do sự giáo dục của gia đình còn quá lỏng lẻo, ít quan tâm tới các em, nhất là lúc các em đang tuổi cặp kè yêu đương, các em muốn có người đồng hành để chia sẻ” .

2.3 Nguyên nhân từ xã hội

Do ảnh hưởng văn hóa Phương Tây tràn vào, nên tình trạng quan hệ tình dục và “sống thử” trước hôn nhân ở giới trẻ đang ở mức báo động. Nhiều bạn trẻ thật dễ dãi, cho rằng “việc đó” là bình thường, không ảnh hưởng gì. Theo tiến sĩ tâm lý Vũ Gia Hiền: “Việc các bạn trẻ “sống thử” trước hôn nhân không chỉ ảnh hưởng của văn hóa Phương Tây mà còn do lối sống quá dễ dãi của các bạn. Đồng thời, do ảnh hưởng của nền văn hóa “tốc độ”, một số bạn trẻ quan niệm về tình yêu “rất hiện đại” hay còn gọi tình yêu tốc độ”. Cách đây không lâu, tôi có dịp đến thăm các bạn sinh viên sống ở khu nhà trọ, tôi thật bất ngờ trong một dãy phòng trọ, có khoảng một phần ba các bạn “sống thử” trước hôn nhân, hay còn gọi là “góp gạo thổi cơm chung”.

Hơn nữa, do ảnh hưởng của truyền thông, các bạn nghe nhạc, đọc tiểu thuyết, xem phim ảnh, tạp chí về yêu đương và cả những trang web về tình dục là điều không thể tránh khỏi. “Tai nghe không bằng mắt thấy”, có nhiều bạn trẻ vì tò mò “sống thử để biết”, và “sống thử vì thấy bạn bè mình có nhiều cặp cũng đang sống chung đấy thôi”. Tôi được một bạn sinh viên chia sẻ: “Phòng em có ba người ở, hai bạn của em có người yêu, em cảm thấy rất buồn và quyết định kiếm đại một người yêu để vơi đi nỗi buồn. Nhưng sau thời gian khi chiếm được thân xác em, anh ta đã cao chạy xa bay rồi”. Cách suy nghĩ mang tính trào lưu này khiến các bạn trẻ dễ thả mình theo sống thử, không thấy hợp thì chia tay, không còn xem trọng việc hệ trọng cả đời là hôn nhân và gia đình. Theo TS tâm lý học Trương Thị Bích Hà: “Do đến với nhau chỉ vì tò mò, vì tiết kiệm, vì người khác sống thử thì mình cũng sống thử và chỉ để thỏa mãn dục vọng nhất thời. Mặt khác, do hội nhập văn hoá làm cho giới trẻ sống “tây hoá” không còn biết đến nền tảng đạo đức của con người”.

3. Hậu quả của việc “sống thử”

“Sống thử” mang lại nhiều khó khăn hơn những gì người ta tưởng tượng về nó, và thực sự, trong cuộc sống “thử” người ta cũng ít có trách nhiệm với nhau hơn. “Sống thử” là một cuộc sống không lâu bền vì hầu hết sau một thời gian sống chung tạm bợ, những va chạm trong cuộc sống hằng ngày dễ làm cho người ta chán nhau, nhất là những cặp sinh viên “sống thử” còn phải mang theo nỗi lo học hành, nỗi lo “cơm áo gạo tiền” thì càng bức bối. “Sống thử” rất bấp bênh, thiếu một mục đích cụ thể, do vậy khi gặp khó khăn, mâu thuẫn đáng ra có thể giải quyết được, thì hai người lại dễ buông xuôi và tan vỡ. Tâm lý “không hợp thì bỏ” khiến nhiều bạn trẻ thiếu trách nhiệm với bản thân, người yêu và tình yêu của mình, “cả thèm chóng chán” và mối quan hệ trở nên nhạt dần. Cuộc sống vợ chồng sẽ trở nên nhàm chán nhanh chóng nếu cả hai không nhận thấy trách nhiệm phải vun đắp cho mối quan hệ thì tất yếu là không vững bền.

Hơn nữa, vì chỉ có hai người coi nhau là vợ chồng, còn xã hội và gia đình thì không, nên chẳng có ai giúp đỡ cho “vợ chồng” này khi gặp những khó khăn, trục trặc nhỏ trong tình cảm để nó không bùng phát thành mâu thuẫn lớn; chẳng có ai bảo vệ “gia đình” này khi có kẻ thứ ba dòm ngó. Và nỗi lo chẳng may có thai trước khi kết thúc giai đoạn “sống thử” sẽ khiến cho cuộc sống tình dục “vợ chồng thử” của các bạn trẻ không bao giờ có được niềm hạnh phúc tự nhiên như trong một cuộc hôn nhân hợp pháp. Rồi nhiều chuyện không mong muốn xảy ra như nạo phá thai, con cái sinh ra chưa được pháp luật công nhận và đặc biệt nó có thể kéo theo nhiều căn bệnh nguy hiểm và có thể gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống hôn nhân thực sự của các bạn sau này.

“Sống thử” làm cho hai người biết quá rõ về nhau, nhàm chán và đơn điệu, chưa kể đến vấn đề “cơm áo gạo tiền”, những mâu thuẫn trong cuộc sống hằng ngày là điều không thể tránh khỏi. Khi các bạn chưa thực sự là của nhau thì việc chia tay là hoàn toàn có thể xảy ra. Tất nhiên, đám cưới chỉ là hình thức nhưng giấy tờ hôn thú là sự ràng buộc về giáo luật và pháp luật, đó là kết quả của một tình yêu chín muồi. Khi sống thật, các bạn trẻ sẽ sống có trách nhiệm hơn, yêu và tôn trọng nhau hơn. Chẳng hạn, một cuộc nghiên cứu của Trung tâm Hôn nhân và Gia đình tại trường Đại học Crieghton (Mỹ) cho biết, những đôi bạn sống chung trước khi thành hôn thường phải chịu đau buồn khôn khổ nhiều hơn bởi cách sống ấy, và cuối cùng dẫn tới tình trạng không ổn định trong đời sống vợ chồng. Điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là những người đã chung sống trước hôn nhân như thế lại có khuynh hướng “cãi nhau liên miên” ngay sau ngày cưới.

Một khi “sống thử” tan vỡ, bạn nữ chịu thiệt thòi đã đành, bạn nam cũng không phải không bị ảnh hưởng, mất mát về thời gian, sức khoẻ, tiền bạc, mất mát nhiều cơ hội trong cuộc sống… chia đều cho cả hai bên. Nhiều bạn gái gặp bế tắc sau khi “sống thử” đã tự tử. Tỷ lệ nạo phá thai ở Việt Nam gia tăng rất nhanh và hiện là một nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, đóng góp không nhỏ là việc “sống thử” của các bạn trẻ. Họ còn chưa đủ tiềm lực về kinh tế, nhận thức về trách nhiệm và hậu quả còn nông cạn, thường cho rằng hiện đại là phải “sống thử”. “Sống thử” nhưng chia tay là thật, theo thống kê từ Bộ tư pháp Mỹ cho thấy trong vòng 15 năm qua, 86% các cuộc “sống thử” đã kết thúc bằng chia tay. Tiếp tục theo dõi 14% tiến đến hôn nhân thì tỷ lệ ly dị của những đôi này lại cao hơn những cặp trước đó đã ra sống riêng. Vì thế, có thể khẳng định “sống thử” không thể là bước đệm cho một cuộc hôn nhân bền vững.

Giáo sư xã hội học, bà Linda Waite, sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy đã cho biết: Những cặp chung sống gần như vợ chồng đã trải qua kinh nghiệm đau khổ như bị ngược đãi hay phản bội nhau mà hoàn toàn không nhận được sự trợ giúp nào từ gia đình đôi bên. Bà cho biết tiếp, 16% phụ nữ sống chung với bạn trai hay bị đánh đập vào những lần cãi vã, trong lúc chỉ có 5% phụ nữ bị đánh đập khi chung sống với chồng của họ. Những cặp khác, có con chung, không giáo dục nổi con họ vì họ không cảm nhận được ràng buộc thiêng liêng của vợ chồng thực thụ. Đặc biệt, người cha rất vô trách nhiệm, và sống bê tha, không chu cấp cho con mình, mà tự cho mình chỉ là "bạn trai" của mẹ đứa bé, và vô hình chung, người đàn ông đó đã chuyển trách nhiệm nuôi và dạy đứa nhỏ cho bà mẹ. Hơn nữa, bà còn cho biết, đời sống sinh lý của những người không phải là vợ chồng cũng không điều hòa như đời sống vợ chồng.

3.1 Trả giá quá “lớn”

Một phút vui chơi bên người mình yêu, bên tình nhân tưởng như đang ở thiên đường; những tháng ngày vắn vỏi bên nhau tưởng giúp con người thoải mái về tinh thần và thể xác, hay đáp ứng cách trọn vẹn khao khát sống cho nhau. Nhưng hậu quả của nó mang lại rất lớn mà người trong cuộc thường không lường hết được. Đó là việc gia đình sau này lục đục, bất hòa… gây hoang mang tinh thần cho những người thân trong gia đình.

Bên cạnh nỗi đau về tinh thần còn có nỗi đau về thể xác, hậu quả của người trong cuộc khó tiên liệu trong hiện tại, vì câu trả lời chỉ có trong tương lai. Có lẽ chỉ với những người đang và sẽ làm mẹ mới hiểu nỗi đau không thể sinh con mà hậu quả của những lần phá thai để lại; hiện tại họ không có lựa chọn nào khác hơn là phá bỏ cái thai, nhẫn tâm trở nên “thú dữ” với chính mầm sống đang từng ngày lớn lên trong bụng. Đó là giải pháp cuối cùng và tất yếu của cuộc ngoại tình, hôn nhân ngoài giá thú, hay “sống thử”, vội vàng “cho” để chứng minh tình yêu của cô gái, hay của những cuộc ăn chơi thác loạn…

Một khi cuộc sống chung không xây dựng trên nền tảng vững chắc của gia đình, thì tất yếu sẽ dễ dàng đi đến chỗ rạn nứt và đổ vỡ với những lý do rất đời thường như: ghen tuông, không còn yêu nhau, hay không có trách nhiệm… Và đó cũng là nguyên nhân xảy ra những cuộc ẩu đả, bạo hành giữa vợ chồng với nhau… trước khi chia tay. Phần lớn người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi .

3.2 Di chứng tương lai

Một khi “trao thân gửi phận” cho nhau nhưng không thành vợ thành chồng, cũng để lại nhiều vết thương lòng và tâm lý trong tương lai. Nhiều phụ nữ lỡ “trải nghiệm” trong quá khứ, thì tương lai phải đối diện câu trả lời về trinh tiết với người bạn đời hay khi yên bề gia thất, người cũ quấy rối, tống tiền; hoặc mặc cảm tự ty với gia đình... Tất cả điều đó, thường cản lối đến với cuộc sống tốt đẹp phía trước, và sự chọn lựa vì đó không được trọn vẹn. Và chắc chắn, không có cơ hội tận hưởng hạnh phúc, dù chỉ là những giây phút ngắn ngủi trong cuộc đời dương thế.

Tất cả những hậu quả đó, hơn ai hết, chính bản thân người trong cuộc sẽ phải gánh chịu, không chỉ ở thời gian hiện tại mà còn ảnh hưởng dài tới tương lai sau này. Hậu quả của việc “sống thử”, quan hệ trước hôn nhân sẽ dễ sinh nhàm chán và nếu có hôn nhân thì cuộc sống của họ thường không hạnh phúc và tiếp theo là một “lộ trình buồn”. Thật đáng tiếc cho giới trẻ ngày nay. Cái tai hại hơn và không đáng có, lại là nỗi bất hạnh của những đứa trẻ, có thể chúng sẽ không được thấy ánh dương mặt trời của sự “nhẫn tâm và tàn nhẫn” của cha mẹ; hay nếu được sinh ra thì cũng sẽ èo uột vì “thiếu vắng sự ấm áp” từ tình thương của cha hoặc mẹ. Và như thế, chúng sẽ là những đứa trẻ phát triển không bình thường về thể lý và tâm lý .

4. Để hạn chế việc “sống thử”

4.1 Về phía bản thân

Bản thân các bạn, nên cố gắng học hỏi, trau dồi kiến thức về tình yêu, về hôn nhân gia đình, không nên vì những lời ngon ngọt của người yêu mà bỏ qua những chuẩn mực, giá trị đạo đức của người Việt Nam. Các bạn gái phải tự biết bảo vệ cái quý giá nhất của mình. “Sống thử”, nếu “dính bầu” thì đơn giản là đi phá thôi sao? Đừng chỉ vì một giây phút nông nổi mà bạn phải ân hận suốt đời khi mất luôn thiên chức làm mẹ. Hơn nữa, các bạn nên tham gia các đoàn hội, tạo một sân chơi lành mạnh, giao lưu học hỏi và phải quyết tâm nói không với việc “sống thử”.

4.2 Về phía gia đình

Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề, Ðức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong tông huấn về gia đình “Familiaris Consorto” đã khuyến cáo các bậc phụ huynh: “Bởi vì cha mẹ đã cho con cái sinh ra đời, họ phải có một bổn phận quan trọng nhất, là giáo dục con cái của họ. Do đó, cha mẹ phải nhận rằng, chính họ là những nhà giáo dục đầu tiên và trên tất cả đối với con cái. Vai trò giáo dục của họ quyết liệt đến nỗi thật khó tìm được bất cứ điều gì có thể đền bù vào sự thất bại của họ. Cha mẹ phải nhận trách nhiệm tạo bầu khí gia đình đầy linh hoạt trong tình yêu và tôn kính Thiên Chúa và mọi người, để sự phát triển hoàn mỹ về cá tính và xã hội được nẩy nở trong con người. Vì vậy, gia đình là trường học đầu tiên cho tất cả những đức tính Giáo hội và xã hội mà bất cứ xã hội nào cũng cần phải có.”

Ðây không phải là khó khăn có thể đóng khung trong khuôn khổ gia đình, nhưng thực sự nó đã trở nên thách đố quan trọng của Giáo hội và xã hội. Ðể đối phó, cần có sự vận động qui mô với sự hợp tác chặt chẽ của gia đình, học đường và giáo xứ. Sự hợp tác này, cho đến hiện tại vẫn còn được mô tả là chưa đúng mức, nếu không muốn nói là qúa hời hợt. Thành thật mà nói, đa số các bậc phụ huynh Việt Nam, mặc dù có kinh nghiệm, nhưng việc nói chuyện về tình dục với con cái, đã không được coi như “tốt lành.” Có một bà trong xứ đạo của người Việt kia, đã than phiền rằng cha xứ đã dạy các thanh niên nam nữ trong họ đạo những điều “tục tĩu”, khi những người trẻ này tham dự các lớp giáo lý Chuẩn Bị Hôn Nhân! Vì vậy, chính một số phụ huynh cũng cần phải được đi “huấn luyện” thêm, học hỏi thêm, trước khi họ có thể giúp đỡ con cái của họ.

4.3 Về phía xã hội

Xã hội nên có những buổi tuyên truyền, những buổi hội thảo, những diễn đàn và những bài viết liên quan đến vấn đề này, nên tổ chức và khai triển dưới nhiều khía cạnh khác nhau trong xã hội cũng như trong Giáo hội Công giáo một cách sôi động. Giới trẻ có rất nhiều điều hấp dẫn, bổ ích trong học tập, làm việc, giao lưu bạn bè, giải trí… Hơn nữa, chúng ta sinh ra ở Việt Nam, một nước phương Đông với nhiều giá trị đạo đức tốt đẹp, vì vậy, người Việt Nam dù có văn minh hay học hỏi ở nước ngoài thế nào cũng nên giữ lại một chút truyền thống của dân tộc mình. Biết rằng, phương Tây họ có nhiều cái hay cái mới mình cần nên học, nhưng họ cũng có những cái xấu mà mình không nên học, hoặc dù có học cũng nên điều chỉnh sao cho phù hợp với nước mình một chút.

5. Quan điểm và lập trường của Giáo hội Công giáo

Theo giáo luật, hai tín hữu Công giáo mặc dù đã làm hôn thú dân sự với nhau, nhưng họ chưa thực hiện bí tích Hôn Phối trước mặt Giáo hội, hôn thú của họ vẫn không phải là bí tích, và do đó họ không thể ăn ở với nhau như vợ chồng thật sự. Đối với những vợ chồng không Công giáo, hôn thú dân sự của họ là hôn phối tự nhiên. Giáo hội vẫn tôn trọng hôn phối đó. Nhưng đối với người Công giáo, họ có nghĩa vụ của các tín hữu, đó là hôn phối của họ phải được kết ước theo thể thức của Giáo hội đã quy định (GL 1108) để có thể là bí tích Hôn Phối.

Hôn phối của các người Công giáo, cho dù chỉ một bên là người Công giáo, họ bị chi phối không những bởi luật Thiên Chúa, mà còn bởi luật Giáo hội nữa, tuy vẫn tôn trọng thẩm quyền của luật dân sự về hiệu quả thuần túy dân sự của hôn nhân. Đồng thời, có những người nghĩ rằng vì đã tốn kém nhiều mới lấy được vợ, nên phải ăn ở với nhau càng sớm càng tốt dù chưa làm phép cưới theo luật đạo; cách ứng xử như thế, bộc lộ một thái độ thiếu tôn trọng người bạn đời của mình, coi người bạn đời như món hàng mình đã tốn kém nhiều mới kiếm được nên phải tận hưởng càng sớm càng tốt. Quan niệm đó cũng không phù hợp với giáo lý Công giáo về hôn nhân.

Đối với Giáo hội, hôn phối không phải chỉ là chuyện riêng tư thuần túy giữa hai người nam nữ, nhưng còn liên hệ tới tính hiệp thông trong toàn thể cộng đoàn Giáo hội. Thật vậy, từ đôi hôn phối Kitô giáo này sẽ đem đến một gia đình Kitô với tất cả sự phong phú của cuộc sống, khả năng giáo dục tri thức và đức tin, trở nên một tế bào sống động của Giáo hội. Gia đình là tế bào đầu tiên của Giáo hội và được Công Đồng Vaticanô II gọi là “Giáo hội tại gia”. Khi cử hành hôn phối theo nghi thức của Giáo hội, đôi vợ chồng Công giáo bày tỏ quyết tâm dấn thân sống đời hôn nhân theo giới luật của Chúa và những mong đợi của Giáo hội” .

Tóm lại

“Sống thử” trước hôn nhân là một lối sống đáng phê phán và phải ngăn chặn vì nó để lại nhiều tác hại đối với gia đình và xã hội. Nó làm băng hoại lối sống lành mạnh của giới trẻ và gây nhiều hậu quả đáng tiếc cho chính tương lai của lớp trẻ. Hơn nữa, Giáo hội kêu gọi mọi thành phần dân Chúa hướng đến một đời sống hôn nhân đặt trọng tâm trên giao ước với Thiên Chúa – Đấng là nguồn sự sống đích thực; đồng thời, qua đó, khám phá và đề cao những giá trị Tin Mừng về tình yêu, về sự hiệp thông và những ân ban nhưng không của Thiên Chúa, qua Đức Giêsu, trong Đức Giêsu và nhờ Đức Giêsu. Nơi Ngài, sự sống của Thiên Chúa ban cho con người được cụ thể hóa một cách sống động qua cung cách sống, cung cách ứng xử, cung cách trao tặng Tình yêu – Một tình yêu đích thực “hy sinh mạng sống cho người mình yêu” (x.Ga 15, 13).

Thụ Tinh Nhân Tạo – Mang Thai Hộ và Luân lý Kitô GiáoMột trong những trở ngại cho hạnh phúc gia đình, đó là không thể si...
02/06/2019

Thụ Tinh Nhân Tạo – Mang Thai Hộ và Luân lý Kitô Giáo

Một trong những trở ngại cho hạnh phúc gia đình, đó là không thể sinh con.

Có được phép mang thai hộ người khác không?

Khoa học ngày nay thành công trong một số trường hợp bằng việc thực hiện tạo sinh nhân tạo (x.Nguyễn Công Vinh, Giải đáp thắc mắc tình yêu và gia đình, Hà Nội 2006, NXB Tôn Giáo, tr 107). Việc tạo sinh nhân tạo mà y học đang thực hiện gồm có: Thụ tinh nhân tạo, Thụ tinh trong ống nghiệm, Tạo sinh vô tính. Trong phần nầy, chúng ta chỉ đề cập đến thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ.

I. Thụ tinh nhân tạo

1/ Thụ tinh nhân tạo do tinh trùng của người chồng: Lấy tinh trùng của người chồng và gieo cấy vào tử cung người vợ mà không giao hợp.

2/ Thụ tinh nhân tạo do tinh trùng của người khác: Khi tinh trùng của người chồng không có khả năng đậu thai hoặc người chồng không có tinh dịch, người ta lấy tinh trùng của một người khác không phải là chồng của người phụ nữ và đem gieo cấy vào tử cung của chị. Tinh trùng cũng có thể lấy ở Trung Tâm Bảo Quản Tinh Trùng. Trường hợp nầy có thể là vô danh, nghĩa là không biết ai là cha đứa bé sẽ chào đời.

II. Thụ tinh trong ống nghiệm

Trứng của người nữ được hút ra theo phẫu thuật. Trứng và tinh trùng được phối hợp trong ống nghiệm. Sau khi trứng được thụ tinh thành phôi, người ta cấy phôi nầy vào tử cung người nữ. Người nữ nầy có thể là vợ hoặc một người nữ khác không phải là vợ. Trường hợp cấy phôi vào một người nữ khác không phải là vợ, thì gọi là thụ thai và đẻ mướn.

Kỹ thuật y khoa thành công trong nhiều trường hợp thụ thai nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm. Nhưng những cách thụ tinh nầy để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, nhất là về mặt luân lý:

1/ Khi tinh trùng và trứng không phải là của hai vợ chồng, thì đứa bé sinh ra không thể coi là con của họ.

2/ Khi tinh trùng là của người khác được đưa vào tử cung người vợ để thụ thai, thì vi phạm đến luật hôn nhân do có sự can thiệp của người thứ ba, vì con cái là kết quả sự phối hợp tình yêu chỉ giữa hai vợ chồng mà thôi, đứa bé sinh ra coi như là con ngoại tình.

3/ Những đứa con sinh ra do việc lấy tinh trùng của cùng một người để cho nhiều người, sau nầy kết hôn với nhau mà không biết, đưa đến trường hợp loạn luân, vì cùng một cha khác mẹ.

4/ Trường hợp người phụ nữ độc thân thụ thai cách nầy, đứa con sinh ra coi như không có cha. Điều nầy gây nhiều bất lợi cho đứa con về mặt thể lý và tâm lý.

5/ Việc mang thai và đẻ mướn tạo nên nhiều phức tạp về mặt tình cảm, đạo đức và pháp lý, khi người mang thai đẻ mướn từ chối không giao lại đứa bé cho người thuê mình mang thai và sinh.

6/ Việc thụ tinh trong ống nghiệm rồi đem cấy vào tử cung gây nhiều hậu quả nghiêm trọng cho người nữ như ung thư tử cung hoặc trụy tim

Giáo Hội Công giáo không chấp nhận những cách thức thụ thai nêu trên, vì nó đi ngược lại với giáo huấn của Chúa và giáo lý truyền thống của Giáo Hội:

a/ Kinh thánh dạy rằng Thiên Chúa là chủ sự sống con người. Thiên Chúa đã tạo thành sự sống của muôn loài muôn vật, trong đó, sự sống con người là cao quý nhất (x.St 1,26-27;2,7.5,12). Con người không có quyền tuyệt đối trên sự sống của mình. Họ được mời gọi tham dự vào công trình tạo thành sự sống mới và lãnh trách nhiệm làm phát triển sự sống ấy (x.St 1,28), như là những hồng ân quý giá.

b/ Nhiều lần Giáo Hội đã xác định rõ rệt lập trường của mình về vấn đề nầy:

-Năm 1949, Đức Giáo Hoàng Piô XII tuyên bố việc thụ thai nhân tạo với tinh trùng của một người khác là trái luân lý: “Việc thụ thai nhân tạo bằng tinh trùng của một người khác là nghịch với tính duy nhất của hôn nhân, với phẩm giá của vợ chồng, với ơn gọi riêng của cha mẹ và với quyền của đứa bé được thụ thai và sinh ra trong hôn nhân và do hôn nhân” (Pius XII Address to Catholic Doctors, September 29, 1949,ASS 41 (1949), tr. 560).

- Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin và Kỷ Luật các Bí Tích, trong Huấn thị Donum Vitae (Hồng ân sự sống), đã khẳng định: “Việc nhờ đến tinh trùng hay trứng của người thứ ba để thụ thai, là vi phạm đến sự cam kết hỗ tương giữa vợ chồng và là một thiếu sót trầm trọng đối với tính duy nhất là đặc tính thiết yếu của hôn nhân […]. Ngoài ra, việc thụ thai nhân tạo nơi người nữ không kết hôn, độc thân hay góa bụa, cho dù tinh dịch là của ai, thì cũng không thể biện minh được về mặt đạo đức” (Sđd, II,2).

- Giáo Hội cũng lên án việc thụ thai nhân tạo với tinh trùng của người chồng, vì nó trái với luân lý:
Công Đồng Vaticanô II, trong Hiến chế Mục vụ Vui mừng và Hi Vọng, đã xác định:

“Chính những hành vi đặc thù của đời sống vợ chồng, được thực hiện đúng theo phẩm giá đích thực của con người, đều phải được tôn trọng[…], những tiêu chuẩn ấy sẽ tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn của sự trao hiến và sinh sản con cái trong khung tình yêu đích thực”(CĐ Vaticanô II,GS số 51).
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI cũng đã bác bỏ hình thức thụ thai nầy:

“Kết hợp và tạo sinh, là mối dây không thể tháo gỡ và con người không thể tự ý phá bỏ[…]. Chính bằng cách bảo vệ hai khía cạnh chính yếu là kết hợp và tạo sinh, mà việc thân mật vợ chồng giữ trọn được ý nghĩa yêu thương lẫn nhau một cách đích thực và duy trì sự quy hướng về ơn gọi cao quý làm cha mẹ của con người” (TĐ. Humanae vitae, số 12; AAS 60 (1968), tr.488-489).
Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, trong diễn văn tại Hiệp Hội Các Thầy Thuốc Thế Giới Khóa 35, ngày 29/10/1983, đã nói:

“Con người bắt nguồn từ một sự tạo sinh nối liền với sự kết hợp không những sinh lý mà còn thiêng liêng của cha mẹ, là những người được kết hợp nhờ dây liên kết hôn nhân” (x. AAS76 [1984], tr. 392). Giáo luật 1983, điều 1061,1 quy định:

[…]“ Hôn nhân thành sự và hoàn hợp, khi hai bên đã theo cách thức hợp với nhân tính thực hiện hành vi phu thê, tự nó có khả năng sinh sản con cái; hành vi nầy là mục tiêu tự nhiên của hôn nhân và làm cho vợ chồng trở thành một xương một thịt”.

c/ Việc thụ tinh trong ống nghiệm

- Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin khẳng định: “Theo Giáo lý truyền thống về các điều tốt lành của hôn nhân và phẩm giá con người, Giáo Hội đứng ở quan điểm đạo đức vẫn chống đối việc thụ thai trong ống nghiệm; việc nầy tự nó trái với luật đạo đức và đi ngược lại phẩm giá của việc tạo sinh và của sự kết hợp vợ chồng, ngay cả khi người ta làm mọi cách để tránh việc sát hại phôi thai” (Donum Vitae, II,5).

III.Mang thai hộ (mang thai và đẻ mướn)

Trong việc thụ tinh nhân tạo dị hợp, phôi thai người là do sự gặp gỡ giữa những giao tử của hai người cho, ít nhất một trong hai người không thuộc cặp vợ chồng kết hợp trong hôn nhân. Việc thụ tinh nhân tạo dị hợp, như đã đề cập ở trên, nghịch với tính duy nhất của hôn nhân, với phẩm giá của vợ chồng, với ơn gọi riêng của cha mẹ và với quyền của đứa trẻ thụ thai và sinh ra, trong hôn nhân và do hôn nhân.

Việc làm mẹ thay thường bắt đầu bằng việc thụ tinh dị hợp nầy. Do đó, không được phép, vì những lý do giống như các lý do đưa đến việc không được phép thụ tinh nhân tạo dị hợp. Thật vậy, việc làm mẹ thay nghịch với tính duy nhất của hôn nhân và với phẩm giá của việc tạo sinh con người. Việc làm mẹ thay là một thiếu sót khách quan, đối với bổn phận của tình mẫu tử, của sự trung tín giữa vợ chồng và của trách nhiệm làm mẹ. Việc đó xúc phạm tới phẩm giá của đứa con và quyền của nó được thai nghén cưu mang, sinh ra và giáo dục bởi chính cha mẹ nó. Việc đó gây thiệt hại cho gia đình khi chia cắt các yếu tố thể xác, tâm linh và đạo đức, là những yếu tố cấu thành gia đình (Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Donum Vitae, Roma 22.02.1987, số II, A, 2-3).

Ngoài ra còn có nhiều phúc tạp khác về mặt xã hội.

Vợ chồng cố gắng tìm một đứa con nuôi để bù đắp lại việc không thể sinh con. Có khi đứa con nuôi, nếu được nuôi dạy đàng hoàng, còn quý hơn con đẻ nữa[1].

Phải chăng Giuđa không được cứu rỗi?Hỏi : Có ý kiến cho rằng ; 1- Giuđa chắc chắn không được cứu rỗi 2- Đức Mẹ đã được T...
01/06/2019

Phải chăng Giuđa không được cứu rỗi?

Hỏi : Có ý kiến cho rằng ; 1- Giuđa chắc chắn không được cứu rỗi 2- Đức Mẹ đã được Thiên Chúa cứu độ trước khi làm Mẹ Chúa Giêsu .? Xin Cha cho biết 2 ý kiến trên có đúng không ?

Trả lời :

1- Về câu hỏi thứ nhất liên quan đến Giuđa, xin được trả lời như sau :

Nói về Giudda thì trước hết, đây là điển hình cho loại người quá đam mê tiền của đến quên tinh quên ân nghĩa hoặc phản bội. Đây cũng là gương xấu to lớn phải tránh cho mọi người có niềm tin nơi Chúa là Đấng đầy lòng thương xót , công bình và tha thứ. Người thương xót và hay tha thứ nhưng chúng ta phải tin tưởng và chậy đến xin Người thứ tha cho dù tội lỗi đến đâu. Chí có một tội không thể tha thứ được : đó là tội phạm đến Chúa Thánh Thần , tức là tội hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và không còn tin tưởng gì nơi lòng thương xót của Người nữa. Đó là điều Chúa Giêsu đã nói rõ trong Tin Mừng như sau:

“Tôi bảo thật cho anh em : mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng , và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời. “ ( Mc 3: 28-29)

Như thế, nếu Giuđa quả thực hết tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa đến nỗi đi thắt cổ tự tử thì có thể Giuđa đã phạm tội mà Chúa Giêsu nói trên đây. Nhưng điều này chỉ có một mình Thiên Chúa biết và phán đoán Giuđa chiếu theo lòng khoan dung vô lượng và công minh tuyệt đối của Người.Nghĩa là chúng ta không thể căn cứ vào sự kiện bề ngoài để đưa ra một phán đoán nào, vì chúng ta hoàn toàn không biết được Giuđa có thực sự mất hết tin tưởng nơi lòng thương xót tha thứ của Chúa hay trong một phút trước khi chết anh ta đã kịp ăn năn hối lỗi và được tha thứ như người trộm lành?

Điều này chỉ một mình Chúa biết mà thôi.Do đó, Giáo Hội cũng không dám đưa ra một phán đoán chắc chắn nào về số phận đời đời của Giuđa.Nếu Giáo Hội mà không dám kết luận chắc chắn về phần rỗi của Giuđa thì chúng ta dựa vào đâu mà dám nghĩ rằng Giuđa đã sa hỏa ngục hay được cứu rỗi ?

Cũng vậy, đối với những người tự tử chết ngày nay, Giáo Hội vẫn cho phép cử hành lễ an táng cũng như cho chôn xác trong nghĩa trang công giáo, một điều không được phép làm trước Công Đồng Vaticanô II . Sở dĩ trước đây Giáo Hội cấm cử hành tang lễ cho người tự tử chết vì Giáo Hội lên án gương xấu này chứ không vì phán đoán rằng người tự tử đã sa hỏa ngục rồi nên không còn ích gì để cầu nguyện cho ai đã tự hủy hoại đời mình vì bất cứ lý do nào.

Như vậy, ta không nên phán đoán gì về trường hợp của Giuđa cũng như về những người đã tự tử chết, mặc dù đó là gương xấu và cũng là tội trọng phải tránh.Giuđa có tội rất lớn là đã tham tiền và cam tâm phản bội Chúa khi bán Người lấy 30 đồng bạc của bọn Thượng Tế Do Thái. Không ai có thể biện minh cho việc phản bội, tham tiền và thất vọng đi tự tử của Giudda.

Chính Chúa Giêsu cũng lên án việc phản bội của Giuđa như sau :
“ Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người : thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn !” ( Mc 14: 21)

Lại nữa trong lời cầu cùng Chúa Cha trước đêm bị trao nộp , Chúa Giê su cũng than trách về Giuđa như sau :
“Khi còn ở với họ, con đã giữ gìn họ
Trong danh Cha mà Cha đã ban cho con
Con đã canh giữ và không một ai trong họ phải hư mất
Trừ đứa con hư hỏng để ứng nghiệm lời kinh Thánh.” ( Ga 17: 12)

Đứa con “ hư hỏng” vì đã phản bội chứ không có nghĩa là đã sa hỏa ngục. Nhưng việc Chúa phải chịu khổ hình và chết trên thập giá lại khác : không phải vì Giuđa phản bội, mà vì Chúa Giêsu muốn thi hành thánh ý Chúa Cha muốn Người hy sinh để đền tội cho cả loài người như Thánh Phaolô đã dạy:
“ Đến như chính Con Một Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thẩy chúng ta.” ( Rm 8:32)

Thánh Phêrô cũng quả quyết thêm như sau:
“ Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi. Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa.” ( 1 Pr 3 :18)

Cũng chính vì vâng ý Chúa Cha để chiu khổ hình thập giá và chết thay cho kẻ có tội là mọi người chúng ta, nên trước khi trút hơi thở cuối cùng, Chúa Giêsu đã phó linh hồn cho Chúa Cha với những lời thống thiết như sau :
“ Lậy Cha con xin phó thác hồn con trong tay Cha.Nói xong Người tắt thở.” ( Lc 23:46)

Lời cầu xin phó linh hồn trên đây của Chúa Giêsu đã được tiên báo trước trong Thánh Vinh 131:

Trước khi Chúa đến trần gian để thi hành thánh ý Chúa Cha:

“ Trong tay Ngài con xin phó linh hồn con.” ( Tv 131: 6)

Như thế, chứng tỏ Chúa Giêsu đã biết trước việc Người sẽ chết để đền tội cho nhân loại, đúng như Người đã nói với các môn đệ trong khi còn đi rao giảng Tin Mừng với họ:

“ Này chúng ta lên Jerusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người. Họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại. “ (Mc 10:33-34),

Do đó, không thể nói rằng nếu Giuđa không phản bội thì Chúa đã không chết.

Sự thật phải tin là Chúa đến trần gian làm Con Người để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người, trong Chương Trình Cứu Độ nhân loại của Chúa Cha, như ngôn sứ Isaia đã loan báo từ 8 thế kỷ trước khi Chúa Giêsu sinh xuống trần gian :

“ Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn
Giơ má cho người ta giật râu
Tôi không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.” ( Is 50: 6)

Hoặc :
“ Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội
Bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm
Người đã chịu sửa trị để cho chúng ta được bình an
Đã mang lấy thương tích cho chúng ta được chữa lành. “ ( Is 53 :5)

Như vậy, đủ cho thấy rõ là Chúa Cha đã dự liệu những khổ hình mà Chúa Kitô sẽ phải chịu để cứu chuộc cho nhân loại khỏi bị án phạt vì tội. Người chính là “ Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” như Gioan Tiền Hô đã tuyên xưng một ngày kia. Chúa Giêsu cũng đã xác nhận những điều đã được tiên báo về Người trong đêm bị nộp khi Chúa quở mắng Phêrô vì đã chém. đứt tai một đầy tớ của thượng tế:

“ Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần. Nhưng như thế thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được ?”( Mt 26: 53-54)

Hay rõ hơn nữa , khi Chúa bảo Phêrô “ Hãy xỏ gươm vào bao. Chén đắng Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống ? “ ( Ga 18: 11)

Chén đắng đây chính là việc Người bị trao nộp, bị đánh đập, nhạo báng, phỉ nhổ và cuối cùng bị đóng đanh và chết trên thập giá.Như vậy, tuyệt đối không có vấn đề giả sử Giuđa không phản bội thì Chúa đã không phải chết. Đây là chén đắng Chúa Cha đã định liệu cho Người uống để chuộc tội cho nhân loại trong chương trình cứu độ của Chúa Cha

Và Chúa Kitô đã vui lòng uống “ chén đắng” đó khi Người không kêu cứu Chúa Cha sai đạo binh thiên thần đến giải thoát cho Người khỏi bị bắt và điệu đi hành hình.

Dầu vậy, Giuđa vẫn có lỗi lớn là đã bán Chúa lấy 30 đồng bạc của các thượng tế và kỳ mục Do Thái. Và vì không ngờ việc bán Thầy lại trùng hợp với việc Chúa Giêsu vâng ý Chúa Cha để vui lòng chiu tử nạn, nên y đã thất vọng đi tự tử, tức là phạm thêm một tội trọng nữa là tự hủy hoại mang sống mình. Nhưng như đã nói ở trên, ta không biết được Giuđa có còn kịp sám hối trước khi chết hay không, nên không thể kết luận được gì về phần rỗi của y. Việc này Chỉ có Chúa biết mà thôi.

2- Đức Mẹ được cứu chuộc trước khi Chúa Kitô ra đời ? Có thể nói vắn gọn là điều này không đúng, vì bằng chứng Kinh Thánh sau đây :

a- “ Chỉ có một Thiên Chúa
Chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người
Đó là một con người : Đức Kitô- Giêsu
Đấng đã tự hiến làm giá chuộc cho mọi người.” ( 1 Tm 2 : 5-6)

b- “ Ngoài Người ( Đức Kitô) ra, không ai đem lại ơn cứu độ vì dưới gầm trời này
Không có một danh nào khác đã ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào
Danh đó mà được cứu độ.” (Cvtđ 4: 12)

Đức Trinh Nữ Maria được diễm phúc không mắc tội tổ tông và mọi tội khác, được trọn đời đồng trinh dù đã sinh Chúa Giêsu với quyền năng của Chúa Thánh Thần, cũng như được về trời cả hồn xác.Nghĩa là Mẹ không phải trải qua cái chết trong thân xác như mọi con người sinh ra trong trần thế này. Hơn thế nữa, Mẹ còn được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos) vì là Mẹ thật của Chúa Giêsu, cũng là Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi Một Thiên Chúa ( The Holy Trinity).

Nhưng dù với địa vị cao trọng làm vậy, Mẹ cũng không cùng bản thể với Thiên Chúa hay cao hơn Chúa, Là Đấng được tôn thờ ở mức Latria trong khi Mẹ được tôn kính đặc biệt ở mức Hyperdulia, các Thánh Nam Nữ khác ở mức Dulia trong phụng vụ thánh của Giáo Hội. Đó là những điều chúng ta cần biết, tin và thực hành như Giáo Hội dạy.

Nhưng Giáo Hội chưa hề dạy rằng Mẹ Maria được lãnh nhận ơn cứu chuộc của Thiên Chúa trước khi làm Mẹ Ngôi Hai. Thiên Chúa có Chương Trình cứu chuộc loài ngoài, và đã nhờ Chúa Kitô thi hành Chương Trình này và Chúa đã hoàn tất Công Trình đó qua khổ nạn thập giá, chết , sống lại và lên trời . Đó là nội dung Mầu Nhiệm Vượt qua ( Paschal Mystery) của Chúa Kitô mà Giáo Hội cử hành mỗi năm trong Tuần Thánh với cao điểm là Lễ Phục Sinh, tuyên xưng Chúa Kitô đã sống lại sau khi phải chiu khổ nạn và thực sự chết trên thập giá và được mai táng 3 ngày trong Mồ đá.

Như thế, trước khi Chúa Kitô hoàn tất Chương Trình cứu độ của Chúa Cha qua Mầu Nhiệm Vượt qua thì công nghiệp cứu chuộc đó chưa có để ban phát cho ai, -dù là riêng cho Mẹ Maria- vì Chúa Giêsu chưa “uống chén đắng” mà Chúa Cha muốn trao cho Người.

Chính vì ơn cứu độ chưa sẵn có, nên những người lành thánh hết từ bao đời trước khi Chúa Giêsu hoàn tất công nghiệp cứu chuộc của Người , thì đều phải ở nơi gọi là “Ngục tổ tông=Abode of the Dead” đợi chờ Chúa “đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm” ở đây. Vì thế, sau khi Chúa chết trên thập giá, Người đã xuống nơi này với tư cách là Đấng Cứu Thế để loan báo Tin mừng cứu độ cho họ và dẫn đưa họ vào Thiên Đàng ( x.1 Pr 3: 19; SGLGHCG số 632)

Do đó, không thể nói rằng Chúa Cha đã ban ơn cứu độ riêng cho Mẹ Maria, Người đầy ơn phúc., vì đã sinh Con Chúa Trời và cộng tác tích cực vào việc thi hành Chương Trình cứu chuộc nhân loại của Chúa Giêsu-Kitô.Nghĩa là mọi người - kể cả Đức trinh Nữ Maria- dù vẹn toàn vì không mắc tội tổ tông và mọi tội cá nhân- đều phải nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô để vào Nước Trời hưởng Thánh Nhan Chúa là hạnh phúc của các Thánh và các Thiên Thần. Lý do là chỉ có một mình Chúa Kitô là Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người trong việc cứu độ như lời Kinh Thánh trích trên đây.Cho nên, khi Người chưa hoàn tất công cuộc cứu chuộc loài người qua Hy Tế Thập giá, thì ơn cứu độ đó chưa sẵn có để ban cho ai.Vì nếu ơn đó đã sẵn có, thì Chúa Kitô đã không cần phải đến trần gian để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người và trở thành Đấng Cứu Chuộc duy nhất cho nhân loại ( Human Savior).

Đó là tất cả những điều người tín hữu Chúa Kitô phải tin và thực hành để hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo là Mẹ, thay mặt Chúa là Cha để dạy dỗ con cái mình không sai lầm những gì thuộc phạm vị đức tin và luân lý.

Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.

Address

Sài Gòn

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when THẮC MẮC CÔNG GIÁO posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category