19/05/2026
CÂU CHUYỆN THÁP BABEL: TỪ THAM VỌNG, HỖN LOẠN ĐẾN Ý NGHĨA ƠN GỌI
——- ——- ——-
«ĐỨC CHÚA phân tán họ từ nơi đó ra khắp mặt đất, và họ phải thôi không xây thành phố nữa. Bởi thế, người ta đặt tên cho thành đó là Babel, vì tại đó, ĐỨC CHÚA đã làm xáo trộn tiếng nói của mọi người trên mặt đất, và cũng từ nơi đó, ĐỨC CHÚA đã phân tán họ ra khắp mặt đất» (St 11,8-9).
Biến cố tháp Babel không phải là một câu chuyện về ơn gọi. Trái lại, nó thuật lại một tham vọng kiêu ngạo, mang tính Promete (thách thức) ngay từ thuở bình minh của lịch sử nhân loại: tham vọng xây dựng một ngọn tháp có thể thách thức cả Thiên Chúa và chạm đến cõi trời của Ngài. Một ngọn tháp... vô tận, như chính sự tự mãn của con người, và theo sau đó – như đã biết – là một sự thất bại hoàn toàn. Thật ra, biến cố này cũng cho chúng ta những chỉ dẫn thú vị về ý nghĩa của tiếng gọi.
«Toàn cõi đất đều dùng một thứ tiếng và cùng những từ ngữ như nhau» (St 11,1)
Đối với chúng ta ngày nay, điều này thật quá lý tưởng để có thể là sự thật: một ngôn ngữ duy nhất cho phép phương Bắc và phương Nam của thế giới truyền thông với nhau, thấu hiểu nhau cách hoàn hảo mà không cần bất kỳ thông dịch viên nào! Ấy thế mà, vào thời bấy giờ, Đức Chúa lại nhìn nhận điều đó với sự không bằng lòng: sự đồng nhất về mặt ngôn ngữ ấy đang trở thành phần cốt lõi của một kế hoạch vừa phi lý vừa nguy hiểm. Nhưng trước hết, có vẻ như Thiên Chúa không yêu thích bất cứ điều gì cào bằng nhân tính, biến người này trở nên hoàn toàn giống người khác, như thể chỉ có một khuôn mẫu người duy nhất và tất cả những người khác chỉ còn là những bản sao chụp của một ai đó.
Ơn gọi chính là điều bảo đảm cho một động lực ngược lại, động lực cho phép mỗi người tìm lại căn tính đích thực của mình, căn tính đã được Thiên Chúa Sáng Tạo thiết định, để tự hiện thực hóa bản thân theo khuôn mẫu ấy; khuôn mẫu này luôn là một nguyên mẫu, bởi nó xuất phát từ Thiên Chúa, từ sự sáng tạo vô biên của Ngài, mà mỗi chúng ta là một thể hiện cách duy nhất, riêng biệt và không thể lặp lại.
Không phải là một từ ngữ đồng loạt, nhưng mỗi người là một Lời duy nhất của Chúa Cha, Lời mà Chúa Cha đã phán ra chỉ một lần duy nhất: khi Ngài mời gọi mỗi thọ tạo bước vào sự sống. Và từ đó trở đi, Lời ấy không bao giờ lặp lại nữa. Nếu Ngài là Anpha và Ômêga, thì mỗi chúng ta là một ký tự trung gian trong bảng chữ cái vô tận của sự sống. Đó chính là ngôn ngữ của Thiên Chúa. Một mầu nhiệm tuyệt mỹ!
«... nào ta hãy xây cho mình một thành và một tháp, có đỉnh cao chọc trời, và ta hãy làm cho danh ta lẫy lừng...» (St 11,4)
Ý định của con người đã quá rõ ràng: tự làm cho danh mình lẫy lừng, trở thành một ai đó bằng cách thách thức cả các quy luật tự nhiên, nhưng luôn bắt đầu từ một dự án tự mình định đoạt, như thể chính mình tự ban tặng căn tính cho mình; và có một điều kỳ lạ là họ quên mất rằng mình đã có sẵn một cái tên (và cái tên ấy vô cùng cao quý!), rằng họ không cần phải trở thành là ai hay phải nhọc công leo cao cho đến khi chạm tới trời. Khi suy nghĩ như thế, họ không nhận ra rằng mình đang tự làm phức tạp hóa cuộc đời cách vô ích để đi tìm kiếm những gì mà Đấng Sáng Tạo đã ban tặng sẵn cho mình cách dư dật để vui hưởng.
Thật là một mầu nhiệm nực cười của phận người: đi ăn xin chính những thứ thuộc về mình và mình đã sở hữu từ muôn thuở! Để rồi rốt cuộc lại cam chịu bằng lòng với một cái gì đó luôn thấp kém hơn vô cùng so với kế hoạch của Thiên Chúa.
«... Ta hãy xuống và làm cho tiếng nói của chúng bị xáo trộn, khiến chúng không ai hiểu được tiếng ai nữa» (St 11,7)
Một câu chuyện Rabbin cổ đã giải thích về sự sụp đổ của Babel như sau: khi công trình càng lên cao, việc vận chuyển gạch từ mặt đất lên nền tháp phía trên – nơi ngày càng cao hơn và hẹp hơn – trở nên ngày càng gian nan và hao tổn thời gian, công sức: ban đầu chỉ mất nửa giờ, sau đó là một giờ, rồi 5 giờ, 10 giờ, một ngày, một tuần, một năm và hơn thế nữa... Cho đến khi những người phu khuân gạch lên tháp khi còn trẻ thì lúc đi xuống đã thành người trung niên hay tuổi già, vì thời gian trôi qua quá dài, đến mức không còn ai nhận ra họ, và họ cũng chẳng còn nhận ra ai (nếu như họ không bỏ mạng dọc đường); chưa kể đến những người làm việc trên cao, những người được định sẵn là ngày càng mất liên lạc với những người dưới mặt đất. Đường lên tháp ngày càng nguy hiểm, nhưng nếu có ai đó ngã xuống và mất mạng thì cũng đành cam chịu, điều quan trọng là gạch không được rơi vỡ, đó mới là điều quan trọng nhất đối với công trình, thậm chí còn hơn cả mạng sống con người! Tóm lại, trong khi ngọn tháp cứ tiếp tục dự án điên rồ của nó, thì những kẻ xây cất lại càng đánh mất căn tính và nhân tính của chính mình cũng như của tha nhân, và tham vọng "làm cho danh mình lẫy lừng" đã lộ rõ tất cả sự ngu muội nguy hiểm và sự điên rồ tột cùng của nó.
Vì thế, không phải Thiên Chúa phạt những kẻ leo núi thiếu khôn ngoan này bằng cách làm xáo trộn ngôn ngữ của họ, mà chính họ – khi loại trừ Thiên Chúa ra khỏi dự án của mình – đã tự dựng lên những rào cản ngăn cách sự hiệp thông giữa họ với nhau, giống như những ngọn tháp rốt cuộc sẽ sụp đổ xuống đầu họ. Đó là hậu quả tất yếu khi mục đích của cuộc sống chỉ là sự tự khẳng định mình cách kiêu ngạo, của cái tôi hay của cái chúng tôi. Nơi đó, thật vậy, sẽ nảy sinh những liên minh kỳ quái và được thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi (sợ bị cô độc), những mối bang giao mập mờ và lỏng lẻo, theo kiểu "bạn xôi thịt", những mối quan hệ chỉ đứng vững chừng nào tương quan với cái "bạn" đáp ứng được cho nhu cầu của cái "tôi", và người này có thể "sử dụng" người kia cho các mục đích của mình. Nhưng nơi đó cũng đặt ra những tiền đề cho một thứ bạo lực chắc chắn sẽ bùng nổ sớm muộn gì, khi mà lợi ích của các cá nhân xung đột với nhau ("làm cho danh mình lẫy lừng" suy cho cùng là một dự án quy ngã và cạnh tranh với... danh tiếng của người khác), và người ta sẽ kết thúc bằng việc không còn hiểu nhau nữa, ai nấy đều cố chấp chỉ nói "ngôn ngữ" của riêng mình. Điều này có nghĩa là: nhiều cái tôi ích kỷ khi tập hợp lại với nhau thì sớm muộn gì cũng sẽ tan rã hoặc bùng nổ, tạo nên sự hỗn loạn và hiểu lầm, sự phân tán và tuyệt vọng.
Người ta không còn hiểu nhau ở những nơi mà mỗi người tự coi mình là kiến trúc sư của chính mình và chỉ đi tìm kiếm chính mình.
Và đó là điều hoàn toàn ngược lại với hành trình phân định ơn gọi đích thực, một hành trình luôn mang tính tương quan. Người ta khám phá ra ơn gọi của mình thông qua một tổng thể các mối tương quan: trước hết là với Thiên Chúa và với Lời của Ngài, rồi với thế giới nội tâm của chính mình và với những gì mà chính chủ thể thực sự khao khát cũng như muốn thực hiện, với thực tại gần gũi và cả những nơi xa xôi, với những thảm kịch và vùng ngoại biên của nó, với tha nhân và với nỗi đau của thế giới, với Giáo hội và những nhu cầu của Giáo hội, với các nhân chứng đang sống tốt ơn gọi của họ, và đặc biệt là với một người anh/người chị đi trước, người am tường hành trình thiêng liêng để cùng chia sẻ cùng một cuộc tìm kiếm. Trong tất cả các cuộc trao đổi này, điều quan trọng là phải nói cùng một ngôn ngữ, nghĩa là các bên đối thoại, người giúp đỡ và người được giúp đỡ, đều được thúc đẩy bởi cùng một khát vọng duy nhất là khám phá ra kế hoạch của Đấng Sáng Tạo. Khi đó, việc phân định ơn gọi mới khả thi và sinh hoa kết trái. Và hành trình này tiếp tục suốt cả cuộc đời.
«Ta hãy xuống...», Đức Chúa phán
Con người cố gắng leo lên hướng về cõi trời trong một cuộc leo núi bất khả thi, trong khi Thiên Chúa lại hạ mình xuống với con người, xóa bỏ khoảng cách muôn trùng. Đây chính là ý nghĩa của mọi tiếng gọi: không phải con người muốn tự định đoạt và tự làm cho danh mình lẫy lừng bằng cách thách thức Thiên Chúa và tự tìm lối đi độc lập cho mình, mà là Đấng Sáng Tạo mạc khải cho thụ tạo biết con đường và trao cho họ một cái tên «đã được ghi khắc trên trời» (Lc 10,20), cái tên thuộc về riêng họ. Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta sẽ có một con người-không-ơngọi và vô danh, cô độc và là kẻ xa lạ trên miền đất lạ; trong trường hợp thứ hai, là một hữu thể được Thiên Chúa chăm sóc, và là người cảm nhận được mình được nhìn nhận bởi Đấng hằng ngày gọi đích danh mình và cho mình cư ngụ trong miền đất của Ngài. Và nếu như tháp Babel được định sẵn là mãi mãi dang dở, thì kế hoạch của Thiên Chúa vẫn tiếp tục tiến triển và hoàn thành trong lịch sử của những người được gọi, trong một miền đất ngày càng gần gũi và giáp ranh với cõi trời, nơi người ta học biết ngôn ngữ của Thiên Chúa, Đấng là Anpha và Ômêga của thế giới, học biết bảng chữ cái của tình yêu. Nơi mà người ta vui hưởng việc cộng tác cùng nhau.
—————
Tác giả: Amedeo Cencini