Đạo Mẫu Việt Nam

Đạo Mẫu Việt Nam Tín ngưỡng thờ Mẫu là truyền thống của dân tộc Việt Nam, được truyền thừa từ ngàn xưa đến nay. Hiếu với Ông Bà Cha Mẹ, Kính là kính Thánh trọng Thầy.

Luôn đề cao chữ “Hiếu” và chữ “kính”, đặc biệt thêm phần lễ nghĩa.

31/07/2024

𝗕𝗨̀𝗔 𝗡𝗚𝗔̉𝗜 𝘃𝗮̀ 𝗖𝗔́𝗖𝗛 𝗛𝗢́𝗔 𝗚𝗜𝗔̉𝗜

𝟏. 𝐕𝐞̂̀ 𝐁𝐮̀𝐚 𝐍𝐠𝐚̉𝐢

Bùa, ngải(chài/yểm/ếm) là từ nói chung ý chỉ một loại đối tượng có thể mang lại sức mạnh, may mắn, bảo vệ hoặc phục vụ mục đích nào khác cho người sở hữu hoặc sử dụng: Bùa/ngải cầu tài, trừ tà, bùa yêu, ngải yêu

Bùa ngải thường được tạo từ các loại thảo mộc, đá quý, động vật.... thậm chí cả máu người... hoặc các thành phần khác có liên quan đến môi trường tự nhiên.

Về cơ bản bùa ngải không phải loại nào cũng xấu ví như bùa trừ tà, bùa cầu tài lộc, bùa trấn trạch, bùa áp vong...

Chỉ xấu khi người ta sử dụng với mục đích xấu, dùng các pháp hại người chế lên bùa ngải đó.

Bài viết này đề cập chủ yếu về bùa ngải hại người.

Bùa/ngải giống và khác nhau

a. Giống nhau

Người luyện bùa/ngải cần có:

- Pháp lực nội tại/ lệnh pháp tổ để luyện bùa ngải trong khoảng thời gian nhất định (từ vài giờ đến vài ngày, lâu nhất khoảng 49 ngày).

- Một số loại bùa ngải cần có thêm 1 số thứ của người bị bỏ bùa/ngải/yếm...:

+ Họ, tên, bát tự (giờ+ngày+tháng+năm sinh)

+ Tóc, móng tay hoặc quần áo, vật dụng thường dùng...

- Một số loại bùa ngải chỉ cần có tên, hoặc ảnh khuôn mặt của người bị bùa và khi gọi tên thì người đó trả lời...

- Các phụ chất làm xúc tác cho quá trình luyện bùa/ngải như chất tụ thần, máu động vật, thảo dược khác...

b. Điểm khác:

• BÙA:

Hình thức là dùng cách thức vẽ, thư hương lên chất liệu giấy, lá cây, vải hoặc một số chất liệu khác.

Các bùa này muốn có linh ứng cần được họa bằng các sắc lệnh riêng cho từng loại và gia trì bằng PHÁP và CHÚ riêng biệt cho từng loại bùa.

Nhìn chung, bùa được VẼ và LUYỆN bằng chú và pháp lực từ người luyện chú.

• NGẢI:

Hình thức là dùng cách thức NUÔI một sinh vật sống (cây cối/ con vật...) trong một thời gian kết hợp với bùa, chú và pháp lực để luyện.

Thức ăn để nuôi ngải khá đặc biệt và tùy thuộc vào mục đích tính chất của ngải: Trứng gà vịt, máu động vật, máu n.g.ư.ờ.i,...

Thường việc nuôi ngải và cho ăn sẽ cố định một giờ giấc nhất định.

Các bùa và chú được dùng khi nuôi ngải mục đích để luyện ngải, tức là mặc định ngải sẽ nghe lời và làm theo đúng việc, tập trung vào đúng mục tiêu mà người luyện ngại muốn tác động.

Ngải sau khi được NUÔI và được luyện đủ tầm sẽ được THU HOẠCH và sử dụng. Một số loại được sấy khô, nghiền tán thành bột và dùng cho người dùng ngải uống, một số chỉ đơn giản là đốt cháy... cùng bới bùa chú và thông tin của người cần đặt ngải...

Ngải cũng có tốt có xấu. Có ngải hại người, yểm người, khiến người ta ốm đau bệnh tật nhưng ngược lại cũng có ngải cứu người (thuốc).

Người luyện ngải đặc biệt là ngải đen (mục đích xấu) phải có pháp lực cao và rất cẩn trọng bởi ngải là sinh vật sống được NUÔI LUYỆN, nếu không luyện được thì dễ bị phản lại và người nuôi phải chịu.

Bù lại, tác dụng của ngải khi đã dùng thì đa phần là rất mạnh.

c. Các cách sử dụng BÙA/NGẢI:

+ Đặt bùa ngải tại nơi ở của người bị yểm (dán/ đặt/để trong hoặc ngoài nhà, chôn dưới đất, trước cửa, cạnh nhà, góc tường... hoặc trong khu đất)

+ Đặt bùa/ngải ở nơi tâm linh để thường xuyên tụng chú gia trì đến khi xong việc

(Một số phép hại người dùng kim châm, tác động khác lên hình nhân (có bát tự người bị hại kèm bột hoặc pháp tụ thần) trong 49 ngày để hại ch ết người từ xa).

+ Đốt bùa ngải kèm lời chú nguyện và gọi tên người bị yểm

+ Đốt bùa ngải và để người muốn đánh bùa/ngải ăn hoặc uống hoặc chạm vào...

Thậm chí có phép dùng bùa yêu của 1 số dân tộc như dùng 2 con vật trung thủy đến chết (1 con chết con này bỏ ăn đứng cạnh con kia đến chết ) họ móc tim luyện bùa yêu cho 1 người nào đó uống thì người kia sẽ ko bao giờ ròi xa người còn lại.....

Nói chung nhiều cách làm tà phù tà pháp lắm kể ko hết.

𝟐. 𝐃𝐚̂́𝐮 𝐡𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐛𝐢̣ 𝐛𝐮̀𝐚 𝐧𝐠𝐚̉𝐢 (yếm/chài...)

a. Tự cảm nhận

- Thần sắc thất thần, da dẻ nhợt nhạt dương khí cạn kiệt...

- Có những dấu hiệu bất thường trên cơ thể, chẳng hạn như những vết bầm tím, sưng tấy, hoặc những vết đốt kỳ lạ.

- Thường xuyên cảm giác đau đớn ê ẩm cơ thể, cơn đau chủ yếu nằm ở đầu, đau dữ dội như có ai đang đánh mình hoặc châm kim lên người

- Cảm thấy mệt mỏi, suy nhược, không có sức lực, không muốn làm gì, mất ngủ, ăn uống kém và thường xuyên cảm thấy buồn chán, chán nản.

- Ngủ li bì liên tục cả ngày và kéo dài nhiều ngày, mỗi khi tỉnh dậy cơ thể vô cùng uể oải

- Thường xuyên gặp nhiều xui xẻo, gặp tai nạn, hoặc gặp những vấn đề khó khăn trong cuộc sống, thất nghiệp, kinh doanh thua lỗ, gia đình bất hòa, hoặc gặp những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

- Người bị yểm bùa thường có tâm trạng bất ổn, dễ cáu gắt, hay ghen tuông. Họ có thể trở nên nóng nảy, khó kiểm soát cảm xúc, và thường xuyên cãi vã với người khác.

- Có những suy nghĩ, hành vi kỳ lạ, không giống như bản thân mình. Tự nhiên trở nên thích làm những việc mà trước đây họ không thích, hoặc ghét làm những việc mà trước đây họ thích.

- Bị đau ở một số vị trí cụ thể dù không va chạm hay ngã ở đâu, cũng không có vết bầm tím, chẳng hạn như vùng đầu, cổ, vai, gáy, hoặc lưng.

- Một số thường xuyên mơ mộng, thậm chí nhìn thấy ma quỷ, sinh ảo giác, sợ hãi...

- Cảm thấy bị theo dõi, ám ảnh như có một ai đó đang ở bên cạnh mình hoặc đang nhìn mình.

b. Dùng phép thử

- Sử dụng trứng gà: Sử dụng trứng gà luộc chín, sau đó lăn trên người và quan sát qua màu sắc của lòng đỏ. Nếu màu đen, là đang bị nhiễm bùa.

- Sử dụng đậu nành và đậu đen: Chấm một ít đậu nành hoặc đậu đen, nếu cảm thấy có mùi tanh tức là đang bị dính ngải. Càng nồng, càng chứng tỏ nặng.

- Sử dụng nước cam thảo: Ngậm cam thảo. Nếu ngay lập tức nôn ra nước cam thảo, dễ là đã trúng độc bùa ngải.

- Dùng vài giọt máu người tu đạo nhỏ vào miệng nếu nôn ra ngay và hồng hào lại là trúng bùa còn trúng ngải mặt xám xịt lại ngay và không nôn.

- Gặp thầy cao tay soi xét xem có phải bị bùa/ngải không

LƯU Ý: Bị yểm bùa ngải, chài, ếm... khác với bị RỦA: Dấu hiệu tự cảm nhận có thể gần giống như nhau nhưng dùng các phép thử không hiện ra.

Chỉ có các pháp sư cao tay mới nhận biết được bằng soi bói, và cách thức hóa giải cũng khác với người bị bùa ngải.

Bùa ngoài ra còn các cách dùng như trấn thiếp yểm hóa chốn đi..,,,,,

𝟑. 𝐂𝐚́𝐜𝐡 𝐡𝐨́𝐚 𝐠𝐢𝐚̉𝐢 𝐛𝐮̀𝐚 𝐧𝐠𝐚̉𝐢

• Nếu biết người đánh bùa/ngải mình và giờ họ luyện chú gia trì cho bùa...: thì.... phá rất dễ ( ko truyền gia ngoài )

• Thường thì giờ luyện bùa vào khoảng 7 h tối , 12 h đêm , 3 h 30 sáng ( chỉ lưu hành trong nhà ko lưu hành ra ngoài

• Hóa giải thân thiện 1 Lập kết giới phá tà ,2 rắc huỳnh hoàng máu chó đen máu đàn bà có tội quanh nhà 3 rắc thần xa huỳnh hoàng chu xa và bột can khương quanh nhà.

• 2 đối kháng

Chân họa tứ tung ngũ hành 2 tay hoạ Hư không 2 lệnh Cửu Long thuận nghịch cùng các câu trú đi kèm thầy đã dậy .

• 1 lấy cung tên buộc phù phá tà pháp vào đầu mũi tên đứng trước cửa đốt họa mũi tên theo lệnh tốc tốc và bắn 4 phía nhà tính từ cửa

Miệng đọc thiên cấm tra địa cấm tra nhân cấm tra phản pháp tốc tốc .

Cách nữa: lập kết giới phá tà hộ thân trước cửa
Lập dàn chuẩn bị Lư hương kiếm lệnh, 5 tờ phù thần thông lực sỹ, hương nến thần xa chu sa Huỳnh hoàng và đỗ đen đỗ xanh gạo nếp

Hành pháp đúng giờ lập vị hấp thiên cương thu địa sát khởi thất tinh tay bắt 2 ấn tả hữu đàn trấn , bắt dương lôi chỉ , tổ sư ấn , hợp kim cang , âm xạ tiễn rồi phóng phù thieen tieen lực sỹ tát đậu thành binh đối kháng . Các câu trú theo đường hành và ấn chuyển.

• 2 dành cho mấy con đồng ko nát nhà mình

chuẩn bị gạo muối nếu có tàn nhang của đền phủ càng tốt lấy 1 con gà sống hoa đúng giờ đó mang ra cửa cắt mào cho chẩy máu thành 1 vũng trước cửa lấy gạo muối hắt ra và có tàn nhang của nhà Thánh vung theo chân họa tốc nghịch lệnh mồm đọc trú: phá hắc pháp tất phản đoạn tuyệt đọc tiếp thánh từ chứng giám hắc pháp lai lâm đệ tử đối kháng quỷ thần hai vai chư Thánh chứng giám chính phản tắc hoàn hắc pháp tất diệt tà pháp tất phá phá cấp cấp như luận lệnh .

hoặc 7 ngày mỗi ngày 1 trúng vịt lộn , đập ra thay máu gà

hoặc lấy máu chó đen cũng làm như vậy.

• Nếu khách dính bùa ngải hại mình mà không muốn nhờ thầy pháp làm bùa giải phù (nhà mình có bùa chuyên phá hắc pháp giải phù)

• Thì mấy con đông khuyên họ làm như sau
Dùng máu nước ối bà đẻ thấm giấy bản để dưới chiếu khi ngủ

- Dùng hùng hoàng, tỏi và cây thạch xương bồ pha vào nước uống

- Dùng trứng gà luộc để hút tà khí ra khỏi cơ thể. Đến khi lòng đỏ không đổi màu, có nghĩa là đã giải quyết thành công.

- Đến nhà hộ sinh và lưu lại trong phòng đẻ khoảng nửa ngày để lấy hơi ẩm, mùi hương và máu của nhà thương.

- Tắm bằng nước tỏi hoặc nước lá dâu để thanh tẩy cơ thể, xua đuổi tà ma không xả lại nước khác, lặp lại 3 -5 ngày

Gừng tỏi giã xoa quanh người ngày 2 lần sáng tối

(cách này hiệu quả nhưng khó chịu )

Đun nước gừng tỏi cả ngải cứu tắm

Đun nước nặc hà tỏi xả lá tre g*i Bồ kết hương nhu mùi già gừng xông tắm uống

- Xông bằng lá ngải cứu: Lá ngải cứu là một loại cây có tính sát khuẩn cao, được cho là có thể xua đuổi tà ma, trừ tà.

Xông người bằng lá ngải và xông xung quanh nhà nếu cảm thấy âm khí nhà quá nặng nề.

- Dùng nước muối lau chùi nhà cửa để giúp hóa giải bùa ngải.

- Phân ngỗng: Phân ngỗng khô cũng có tính âm mạnh, có tác dụng trừ bùa ngải. Người ta thường đốt phân ngỗng để xua đuổi tà ma, giải bùa ngải

- Nhờ sự giúp đỡ của thầy cao tay : Đây là cách tốt nhất và cũng nhanh nhất để vừa phát hiện xem mình có bị yểm bùa ngải hay không và giải quyết dứt điểm việc bị bùa ngải.

𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧: 𝐓𝐡𝐚̂̀𝐲 𝐓𝐫𝐚̂̀𝐧

28/07/2024

𝐓𝐮

Tu là sửa = tu sửa

Tu là bổ = tu bổ

Ở đâu chỗ nào sai sót, không tốt, xấu xa là sửa...

Ở đâu chỗ nào khiếm khuyết, không hoàn thiện thiếu sót là bổ sung sửa chữa
Tu sao thành người hẵng, chỗ nào chả tu được cần gì phải vô chùa đền hay học ai? Quan trọng sửa cái gì? tu bổ cái gì? học cái gì?... để tu bổ sửa chữa hoàn thiện mình là 1 con người hãy.

Làm người còn chưa xong lại ham hố tu cứ muốn chứng pháp gì, theo tông nào hạnh nào, rồi có năng lực dị năng gì thông âm dương với quỷ thần ra sao...
Tu làm người chưa xong lại cứ thích thành Phật với Tiên và Thánh, một lũ hoang tưởng lừa người dối mình, bầy đàn.

PS:
Tiên hay Phật và Thánh đều đã là những vị đã đạt đỉnh cao của con người, các vị ấy sống có ý nghĩa cho đời, cho thế hệ mai sau họ mới có thể tu đạo, mới có thể ngộ đạo thành đạo, được lịch sử công nhận và được tôn thờ.

Không phải ai cũng có thể tu đạo chứ đừng nói thành Tiên, Phật, Thánh... bởi đạo luôn “từ chối” người muốn tu đạo dù họ có ý chí đến đâu, tham cầu đến đâu, kính đạo đến đâu... nếu bản thân ta chưa phải là một người tu bổ, sửa chữa cho thành một người sống đúng chữ con người.

𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧
𝐵𝑎̀𝑖 𝑣𝑖𝑒̂́𝑡: 𝑇ℎ𝑎̂̀𝑦 𝑇𝑟𝑎̂̀𝑛
𝐴̉𝑛ℎ:

28/07/2024

Các cụ xưa thường nói: 𝐂𝐨́ 𝐜𝐚̆𝐧 đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐦𝐚̀ 𝐤𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐤𝐡𝐨́𝐜 𝐦𝐨̛́𝐢 𝐥𝐚̀ 𝐥𝐚̣.

Người có căn nhà Thánh mà đang bị cơ, dù mới ra đồng hoặc chưa ra đồng là những người khóc nhiều nhất trên thế giới. Khóc to, khóc bé, khóc thành tiếng, khóc bù lu bù loa, khóc thảm thiết... và đa số là khóc thầm.

Trên thế giới này cái gì cũng có thể đánh lừa tâm trí, con mắt, cách nhìn nhận của chúng ta. Nhưng nước mắt thì không bao giờ đánh lừa chúng ta.

Mới khóc thì sẽ bạc nhược, yếu kém. Nhưng khóc đủ nhiều thì sẽ sinh ra ý chí và lúc đó chỉ khóc không ra nước mắt mà thôi.

Các con có thể bất cứ lúc nào đều nghĩ mình kém cỏi, không may, bất hạnh hoặc có những quá khứ không muốn nhớ, những nỗi đau muốn quên đi hay những lúc từng phải van xin người khác vì danh dự, tiền bạc, gia đình... Khi cảm xúc dâng trào là khóc. Dù là khóc thành tiếng hay khóc thầm, dù là khóc chốn đông người, bên bạn bè người thân hay khóc 1 mình nơi hiu quạnh... nhưng rồi đủ nhiều thì những nước mắt đó sẽ hun đúc thành ý chí.

Nước mắt của các con không hề vô nghĩa. Nó làm các con “sáng” đôi mắt của mình bằng những nhận diện thực tế. Rằng dù có khóc mãi bởi một vấn đề đã qua thì cũng không thay đổi được gì, khóc bởi một người đã xa thì cũng không thể níu kéo lại gần, khóc bởi sự thất bại đã trải thì cũng không thể kéo vớt lại hào quang quá khứ...

Khi nhận diện được những điều này. Ta sẽ ngừng khóc và ngừng làm tổn thương chính bản thân mình.

Quá khứ thì đã sao? Không phải hiện tại ta đang sống.

Tình dứt thì đã sao? Cánh cửa này đóng lại sẽ mở ra một cánh cửa khác hoặc chí ít cũng là bình an trong tâm trí.

Phá sản, thất bại thì đã sao? Bước tiếp hay dừng lại, nỗ lực hay từ bỏ vẫn là ở ta.

Thiên hạ dè bỉu ra, khinh thường ta, phản bội ta, lừa lọc ta... khiến ta phải rơi nước mắt. Thì đã sao?

Đến khi nước mắt đủ nhiều, ta chấp nhận cái quá khứ xấu xí của mình, chấp nhận nỗi đau của mình, chấp nhận sự thực cuộc sống này... nỗi lòng rối như tơ vò sẽ được gỡ bỏ.

Lúc đó ý chí của ta mạnh hơn cái quá khứ, cái xấu hổ, cái tự ti mà ta mặc định cho mình đó. Ta ngừng khóc.

Ai cũng vậy cả.

Chỉ có điều, người tu đạo Thánh ta, đặc biệt là những người cơ đồng và nhất tâm theo đạo sẽ có một ân duyên vô cùng đặc biệt.

Đó là khi đã ra hầu Thánh và đã có phần an yên sẽ khiến những giọt nước mắt rơi ít hơn một chút, nhận ra thực tại nhanh hơn 1 chút và có thể tự ngừng khóc sớm hơn một chút.

Bởi rằng, người căn số khi hầu Thánh, người ta thường nói “hầu cho nhẹ căn nhẹ bóng”, bản chất là sự xóa nhòa đi những vết khắc đau thương khắc trong thần hồn, xóa mờ đi những mặc cảm cố hữu đang giày vò bản thân, xóa nhòa đi những nỗi đau, nỗi buồn âm thầm trong tâm trí. Bởi nguồn năng lượng bản nguyên vũ trụ khi tiếp nhận bóng Thánh. Nhờ vậy, mà con đồng hầu đồng có bóng Thánh như được khai tâm minh trí, người ta nhận ra được bản chất của vấn đề, của những đau khổ, những ân hận, những nỗi buồn và mệt mỏi của mình. Từ cái nhận thức đó, con người ta đối mặt với vấn đề chứ không sợ hãi nó. Và rồi, họ nhẹ tâm và cuộc sống được cởi mở hơn.

Nhưng cũng có loại người cơ đồng mãi không thoát ra được, dù là mới ra hay chưa ra đồng thậm chí đã ra đồng rất lâu rồi nhưng cứ động cái là khóc, là buồn tủi, là ăn mày quá khứ hay oán hận quá khứ... Bởi rằng hầu hạ không đón được bóng Thánh mà chỉ hầu chớt chơ làm màu, hoặc rằng có bóng Thánh giáng xóa nhòa những vết khắc nhưng bản thân họ lại cứ cố đào sâu và làm dày lên những vết khắc quá khứ của mình.

Những loại người này không ai thay đổi được họ, chỉ tự họ thay đổi mà thôi.

𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧
𝐵𝑎̀𝑖 𝑣𝑖𝑒̂́𝑡: 𝑇ℎ𝑎̂̀𝑦 𝑇𝑟𝑎̂̀𝑛
𝐴̉𝑛ℎ:

27/07/2024

𝐇𝐚̂̀𝐮 Đ𝐨̂̀𝐧𝐠 𝐜𝐨́ 𝐭𝐮̛̀ 𝐓𝐡𝐨̛̀𝐢 𝐇𝐮̀𝐧𝐠 𝐕𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠

Có ghi chép rõ ràng trong Thần phả này có nói về 2 Thầy trò: Bà Đồng quế Hoa và trò là Vợ Hải Công (Hùng Quốc Vương), Danh gọi: (Trang Hoa phu nhân)

Cũng nói tích về Quan tướng và đến bây giờ chúng ta thờ Quan tướng lại là Hình lốt...

Nói chung đọc thấy cổ truyền về hầu đồng thời Vua Hùng rất thú vị mời các bạn xem trích đoạn sau, cũng có thể đọc cả ở link: Thần tích dịch theo bản khai làng Đào Xá, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, ký hiệu TTTS 14824

Cả bản thần phả hơi dài tôi trích đoạn chút.

https://hungvietsuquan.blogspot.com/2024/06/viet-thuong-thi-lac-long-quan-sinh-nhat.html?m=1&sfnsn=mo&fbclid=IwZXh0bgNhZW0CMTEAAR2vCBie0wlJVdETqm-8uRFnHf6oVJwjwhVXl8nyw09tdO9VJy0RIRBx0iM_aem_ZmFrZWR1bW15MTZieXRlcw

Trích đoạn:
.....Bà phu nhân từ ấy có thai, trong lòng buồn bực, tinh thần chuyển động, nói năng thất thường, lại muốn có bà đồng múa hát, tính muốn hương hoa ăn chay. Bấy giờ thuyền rồng của quan Hải Công trở về trị sở ở Hưng Hóa. Đức Hải Công thấy bà phu nhân ngày càng thêm sợ hãi, ăn nói thất thường, lại thích hóa bà đồng, hóa hoa nương.

Thời bấy giờ thuộc phủ Gia Hưng đất Việt Trì có bà Quế Hoa, họ Trần, tên là Văn. Mẹ là Đinh Thị Viện. Bà Quế Hoa vốn là dòng bà đồng có phép diệu thông huyền, có tài hay thuật lạ. Khi đó quan Hải Công nghe tiếng, sai sứ thần mời bà đồng Quế Hoa lại chầu, ngày đêm múa hát. Bà phu nhân từ khi có bà Quế thì tinh thần mới được yên lặng, tính khí yên vui. Bà phu nhân cùng bà Quế rất là yêu mến, ngày thường ca múa, mỗi bữa đều không thiếu, tình tuy là thầy trò, mà xem bằng tình sâu như chị em.

Đến năm Đinh Sửu ngày mùng 1 tháng Giêng, Quốc Vương ngự tại điện Hương Lâu, mơ màng như mộng. Bỗng thấy một sứ nhân, mình mặc áo đen, tâu rằng:

- Tôi vâng mệnh đức Lạc Long Quân Động Đình Thủy Đế, xin mời Quốc Vương lại hỏi chuyện.

Vương bèn theo quan sứ vào đế đài, thấy Long Quân ngự ở chính tòa cung Thủy tinh. Hai bên tả hữu trăm quan ngồi hầu. Tướng lân, Long hầu hàng ngàn. Kình binh, ngư giáp hàng trăm đội. Quốc Vương vào chầu trên điện ở bên đầu hàng tả hữu. Đức Lạc Long Quân phán rằng:

- Nhà ta là một trăm con trai, Quốc Vương là đầu. Lại chia làm hai bộ. 50 về núi, chia trị các nơi. 50 là xuống nước chia trị các nguồn sông bể. Nhà ngươi tóm trị cả. Nay Dương đình riêng phó cho nhà ngươi trị vị. Nay hoàng đệ Hải Công là vị thứ 19, nhậm trị Thao, Đà hai sông ở Hưng Hóa. Nay ở Thủy đình ta lại khiến ba vị Long hầu đến để thay trị hai dải Thao, Đà, phân ở các vực cửa nguồn đầu sông cửa khe, để trấn giặc nước. Một là Đạt Linh Long, hai là Mãn Linh Long, ba là Uyên Linh Long. Nay Thủy đình đã định ngày mùng 3 tháng Giêng lên quản nhậm ở hai sông. Còn Hải Công cho rời đổi về nhậm cửa sông Nhị hà, xứ Hải Dương. Còn ba vị Long hầu thì sông Thao, sông Đà khe nguồn hai phái hợp nhau, đầm vực cùng thông. Một ở Thọ Xuyên, địa hình rồng bay phượng múa, thủy thế vực nguồn chín khúc, cho ba Long hầu cùng đóng làm nơi chính. Còn ven sông Ngọc Tháp cho Đệ Tam Uyên Linh một mình trị nhậm. Đào Xá có kiểu đất rồng thiêng dâng nước, chim phượng ngậm châu, vực lớn đầm sâu, chiêng trống cờ hình, Đà Thao hợp phái, nghịch thuận cùng giao, cho Đạt, Mãn Long quan cùng phó nhậm để trấn giặc nước xâm nhập, ngự làm chính sở.

Vua phán xong rồi ba quan bái tạ Long đình. Long Quân lại giao phó cho Quốc Vương. Lại cho thủy quân hơn một nghìn viên theo ba Long quan cùng Quốc Vương mà đi. Quốc Vương nhận mệnh giao phó của Tiên Hoàng (tức là Lạc Long Quân), khấu tạ trở về. Bỗng tỉnh dậy, biết đó là mộng. Quốc Vương mời hoàng đệ Hải Công lại phán rằng:

- Ta có mộng lạ.

Vương kể lại đầy đủ sự mộng cho Hải Công biết. Hải Công tâu rằng:

- Trước đây đã có điềm trứng, từ đó bà Trang Hoa có thai. Nay nhà vua lại cũng có mộng như thế. Việc đã rõ vậy.

Hải Công từ tạ nhà vua, trở xe về nơi trị sở Hưng Hóa. Đến ngày mồng ba thì thấy mây mưa tối tăm, sấm sét ì ầm. Thấy có một đám mây tản che trên nóc nhà chính. Bà phu nhân bỗng thấy trong lòng chuyển động, réo như tiếng sấm. Phu nhân tinh thần hoảng hốt, hồn phách mê man, mơ màng như mộng. Quan Hải Công mời bà đồng Quế Hoa lại bảo rằng:

- Nay phu nhân đến cữ đầy tháng mà chưa thấy bà Quế Hoa đến. Vì vậy mời lại để hầu múa.

Bà Quế Hoa vào hầu múa được một lúc, chợt thấy hơn trăm con rắn từ ngoài sông Thao đi thẳng vào chỗ cung, nằm chầu hai bên trái phải của phu nhân. Quan Hải Công biết là thủy binh đã đến, bèn lập đàn cầu đảo trời đất, làm lễ đức Lạc Long Quân Thủy Đế. Xong rồi đến đêm hôm ấy bỗng thấy hai người tướng mạo đường đường, đi thẳng vào sân đình bảo Ngài rằng:

- Vâng lệnh Thủy quốc báo trước cho Ngài biết, ngày mai là lúc sinh ba vị Long quan, nên kíp sắm ba chiếc thuyền rồng, thả xuống ở sông Thao, để ở giữa sông, dừng thuyền ở trên mặt nước mà đợi long quan sinh ra.

Nói xong ra cửa mà biến đi. Đến ngày hôm sau Ngài cứ theo lời giang sứ bảo, d**g xe đưa bà phu nhân. Khi đó phu nhân nằm mê man, đặt phu nhân xuống thuyền. Bà đồng Quế Hoa cùng hoa nương chầu theo múa hát vài trăm người, bơi ra đến giữa sông Thao thì neo nối ba thuyền ở đấy. Giữa trời mây mưa tối tăm, mặt nước sóng rờn vạn nhận. Giao long, rắn giải, cá lại chầu bốn mặt hàng trăm vạn. Trong thuyền thấy réo o o như tiếng sấm lớn.

Bấy giờ Quốc Vương cùng Hải Công và các quần thần đều ngự thuyền rồng ở tại Tam Tản (tức Vĩnh Lại, xứ Tam Giang) mà xem. Đương lúc ấy chợt thấy dưới đáy sông có ba tiếng sét lớn chuyển động trời đất. Bà phu nhân sinh ra một bọc có ba trứng, nở ra ba con rắn. Đột nhiên biến nên to lớn, dài hơn mười lăm trượng. Mặt rồng mình rắn, vây vảy năm vẻ, mũ hoa sặc sỡ. Rồi xuống sông rẽ nước mà đi. Mây theo mưa ruỗi, gió thổi sấm vang. Đi theo hai bên có giao long, rắn giải, cá lớn ngoài trăm ngàn dặm, nổi đầy mặt nước, đi theo hai bên bờ sông.

Bà đồng Quế Hoa cùng các hoa nương hầu hạ hai bên múa hát. Thuyền rồng theo sau. Ba ông Thủy quan thẳng đến ngự Quốc Vương, cúi đầu làm lễ. Quốc Vương lấy trong mộng mà đặt tên ba ông:

1. Đạt Công Long Vương.
2. Mãn Công Long Vương.
3. Uyên Công Long Vương.

Quốc Vương đặt tên xong rồi khiến đình thần sắm mười chiếc thuyền rồng đưa theo sau. Ba ông chia đường cứ giữa dòng sông mà lên. Một ông Quý Công, tức Uyên Công Long Vương, thẳng đến bờ sông Ngọc Tháp. Khoảnh ấy nhân dân địa phương cửa nhà tối tăm, mây mưa mờ mịt. Người đều sợ hãi náu núp. Đình thần bèn lên bờ sông dựng cờ giương lọng, truyền cho nhân dân làm lễ mừng. Thủy quan nằm trên án. Rắn hoa chầu hai bên. Nhân dân khiếp sợ không dám ngửa trông. Được một lúc lại xuống vo vo mà đi, trở về Đào Xá hội với hai ông. Đình thần bèn khiến dân Ngọc Tháp lập chính cung thờ phụng ông Quý Công.

Lại nói, còn hai ông thẳng đến Thượng Nông. Các quân binh rồng, rắn, cá, giải xuyên mở một đường nước thẳng vào đầm Đào Xá. Ông Quý Công tiếp theo đến hội đầm Đào Xá chỗ bàn đá. Rắn hoa, cá, giải, giao long nổi lên mặt nước chầu xung quanh (tức đá thần trước đền Đào Xá). Bấy giờ trời đất tối tăm, mưa gió ì ầm. Đình thần truyền làm lễ bái tạ (tức ngày mùng 3 tháng Giêng), thiết lập cung ở đấy.

Lại nói, đến trang Thọ Xuyên, Quốc Vương khiến đình thần cùng quan Hải Công đến đất ấy, lập cung đền phụng thờ. Đương lúc dân lập cung đền, ông Hải Công ngồi trước xem đấy. Bấy giờ mặt trời đã xế núi. Chợt thấy hai thuyền rồng đi từ đầm lớn thẳng đến bến Thọ Xuyên. Ba quan ở dưới thuyền đi lên, tướng mạo uy nghi, tinh thần lẫm liệt. Xe loan, kiệu phượng, binh sĩ hai hàng thẳng vào trước cung khấu đầu làm lễ. Đức Hải Công hỏi rằng:

- Quý quan ở phương nào lại mà nhún mình quá lễ như vậy?

Ba quan tâu rằng:

- Chúng tôi là con đức Hải quan vâng mệnh Thủy Đế Động Đình cho lên cai trị các xứ miền Dương đài để chống giặc nước xâm phá vào nơi để dân ở được yên, quốc mạch lâu dài. Nay chúng tôi phó nhậm đã yên các chốn, thân về lễ tạ ơn cha mẹ khó nhọc.

Đức Hải Công biết ba con mình là Long quan. Vậy báo ba quan rằng:

- Dương đài, Thủy quốc đều một là mạch gốc từ nhà Hùng, dần chia ở các xứ, nhưng núi sông cũng là một con nhà cả. Nay trời đã cho xuống ở đời giúp dân, giúp nước, lại nhập đầu vào làm con ta. Thật là mừng lắm. Vả lại đức Tiên Hoàng (tức Lạc Long Quân Động Đình Thủy Đế) đã báo cho vua Quốc Vương giao cho ba quan lên Dương đình trị nhậm các xứ. Trước đây đã định, vậy nên truyền cho nhân dân (tức ở đất trang Thọ Xuyên) thiết lập cung đền để ba quan đến nhậm vị. Nay ba quan đã đến, cá nước một nhà gặp gỡ, cha con cùng hội họp tại đây. May lắm, may lắm. Mừng lắm, mừng lắm.

Ngay hôm đó (mồng mười tháng Giêng) truyền nhân dân làm lễ bái tạ. Việc xong ba quan từ tạ quan Hải Công, xuống thuyền tự nhiên chìm biến.

Lại nói, khi ấy quan Hải Công cùng các đình thần truyền cho nhân dân lập cung đền các chốn đã xong (tức là ba nơi chính Thọ Xuyên, Ngọc Tháp, Đào Xá), chia các quan (tức là ba Long quan) đến nhậm. Các dân đều phụng thờ đấy. Việc xong lại khiến quan Hải Công (tức chính là Hải Vân Long Vương, con của Lạc Long Quân Động Đình Thủy Đế. Trong số 50 người của thủy bộ, Hải Công là ở thứ 19, sinh được các vị Long Đạt, Long Mãn, Long Uyên. Ba vị đều cũng là các long vương vậy. Còn Hải Công là thánh phụ, cũng đều là một dòng phái nhà họ Hùng) rời về xứ Hải Dương nhậm lỵ nguồn vực sông Nhị. Đức Hải Công vâng mệnh về phó nhậm sông Nhị.

Một hôm (ngày 10 tháng 2) bà Trang Hoa phu nhân d**g thuyền dạo chơi ở đầu sông (tức là chỗ sông Nhị và sông Thao giáp nhau). Ngài ra tắm rửa ở đấy, thấy thuyền rồng nổi mặt nước. Lại nghe trong thuyền có tiếng người gọi rằng:

- Ba con lên đón mẹ hôm nay về Thủy quốc.

Tự nhiên thấy bà phu nhân vội vã xuống thuyền, tự chìm hóa đi. Sau ở đất ấy dựng đền thờ (về sau đức Hải Công cùng bách thần hóa ở điện Nghĩa Lĩnh. Trăm vương đều cùng hóa ngày ấy).

Lại nói đến lúc bà đồng Quế Hoa vào chầu múa hát. Một hôm bà Quế Hoa đang ở trong đền múa chầu. Khi đó bà Quế Hoa cùng các trinh đồng năm sáu người theo hầu, ra chơi bến nước trước đền rửa mặt. Bỗng gieo xuống nước chìm đi. Hôm đó (tức ngày mùng 3 tháng Giêng, cùng ngày sinh nhật ba quan). Nhân dân hô hoán, lại khiến người lội xuống nước đều không thấy hình tích gì.

Được trăm ngày sau nhân dân đều sinh tật bệnh không yên. Khi ấy rắn đến có hàng trăm, nằm đầy trong đền, thường gặp người dân thì xua đuổi. Hôm đó (ngày mồng mười tháng hai) nhân dân địa phương lập đàn cầu đảo. Vào buổi chiều tà, bỗng thấy ở đầm lớn trước đền nước dồn sóng rợn, bão lớn tứ tung. Giao long, rắn, cá, giải nổi đầy mặt nước, tất cả đều quay chầu vào nơi tiền tế của đền. Chợt thấy nước rẽ nổi lên hai chiếc thuyền rồng, thẳng đến cung đền. Lại thấy ba quan lên đi trước, đi sau là kiệu phượng của bà Quế Hoa. Nam binh, nữ tốt ngoài nghìn người đường đường vào ngồi trong cung đền. Nhân dân được gọi đến. Ba vị quan cùng nói rằng:

- Chúng ta cùng vâng mệnh Thủy đế, quyền cai Dương đình. Hoàng thiên đã định nhậm ở hình đất tứ linh Thọ Xuyên, ở phiến đá hình rùa lập làm chính cung. Còn địa hình Đào Xá có hai rồng quấn thủy, lập làm chính sở. Cảnh thiêng địa tạo mà thành tứ linh Long Ly Quy Phượng. Các Thủy quan đến nhậm để quản các linh vật, để bảo hộ phong tục nhân dân được thịnh vượng. Nay có bà Quế Hoa, có công với phu nhân trước, cũng có công lao với Thủy đình, được vào trong đền nhậm sở truy phối thờ cùng với chúng ta, nhưng lại chưa có nơi ở riêng. Bởi thế nên trách đến dân các người vậy.

Nói xong xuống thuyền tự chìm biến đi. Dân cả sợ. Ngày đó (ngày 15 tháng 2) lập nơi thờ bà Quế Hoa ở bên phải đền, rồi làm lễ tạ. Từ ấy dân làng được yên, nhân vật thịnh vượng. Thời thường khi nước cầu, dân cầu có nhiều khi linh ứng, biến hiện ra vào khôn lường. Cung thờ hương đèn không ngớt. Giữ nước giúp dân có nhiều ơn vậy.

Lại nói, triều Kinh 18 nhánh truyền đến vua Duệ Vương ở ngôi. Than ôi, vận nước đến lúc cáo chung, cơ đồ họ Hùng vào cuối. Duệ Vương tuy sinh nhiều hoàng tửu (20 hoàng tử), nhưng đều theo nhau về chốn tiên hương, không có người kế vị. Sau lại sinh hai con gái, một là Tiên Dung, hai là Ngọc Nương. Một gả cho Chử Đồng Tử, một gả cho Tản Viên Sơn Tinh.

Khi ấy Thục Vương nghe tin Duệ Vương không có người kế vị, muốn truyền ngôi cho con rể là đức Tản Viên, bèn đem quân sang nước Nam đánh Duệ Vương để lấy nước. Vua Duệ Vương khiến các quan đến các nơi thờ bách thần (bách thần là từ trăm trứng Hùng Vương vậy) cầu đảo âm giúp quân sĩ theo đức Tản Viên đánh giặc cho được thành công. Nếu ngày sau được thanh bình thì sẽ bao phong mỹ tự.

Một hôm quan sứ đến tế lễ ở đền Tam Công tại Đào Xá. Đương khi làm lễ chợt thấy có ba con rắn lớn dài hơn mười trượng, mũ hoa rực rỡ, theo cùng hàng ngàn rắn nhỏ, vảy giáp năm sắc, từ dưới nước lên đi thẳng vào đền. Sứ quan cùng dân đều khiếp sợ. Tự nhiên trời đất mù mịt, mưa gió nổi lên. Tế lễ xong tự nhiên mây tan gió tạnh, trời đất quang đãng. Các vật tự biến đi...

𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧
𝐵𝑎̀𝑖 𝑣𝑖𝑒̂́𝑡: 𝑇ℎ𝑎̂̀𝑦 𝑇𝑟𝑎̂̀𝑛
𝐴̉𝑛ℎ:

27/07/2024

𝐗𝐞𝐦 𝐁𝐨́𝐢 𝐌𝐚̀ 𝐓𝐡𝐚̂̀𝐲 𝐊𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐒𝐨𝐢 Đ𝐮̛𝐨̛̣𝐜
𝐇𝐨𝐚̣̆𝐜 𝐒𝐨𝐢 𝐊𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐂𝐡𝐮𝐚̂̉𝐧 𝐋𝐚̀ 𝐕𝐢̀ 𝐒𝐚𝐨

Ngày nay số người nổi lên làm thầy rất đông nếu không muốn nói là như nấm sau mưa. Nếu như thầy cúng thầy pháp đa phần là nam, có chút ít kiến thức thì thầy soi bói lại đa dạng thành phần, tuổi tác và cả giới tính…

Nói về xem bói cũng rất đa dạng hình thức. Tạm gác lại các hình thức bói theo kinh dịch, tử vi… vì chủ yếu dựa vào những thông số có sẵn như ngày tháng năm sinh, giờ sinh của người cậy sở…

Nay nói về những người soi bói dựa chủ yếu vào dị năng bằng những hình thức như: Bói cau, bói lá, bói bài, bói nước, bói hương, tro…

Bản chất việc soi bói này là dựa vào trường năng lượng.

Người thầy soi bói tỏa ra một trường năng lượng đặc biệt (nhờ dị năng thánh ân ban, nhờ năng lực nội tại tự thân, nhờ năng lực phần âm khác tác động lên …). Trường năng lượng này tỏa ra sẽ có sự giao cảm và phản hồi lại trường năng lượng của người cậy sở.

Người cậy sở phát ra trường năng lượng. Nhưng trường năng lượng người cậy sở phát ra để người soi bói cảm nhận này bắt nguồn từ: Phần âm đi theo hoặc tác động lên người cậy sở, hoặc chính nội tại người cậy sở phát ra.

Khi hai trường năng lượng này gặp nhau và có sự tương thích thì người thầy soi bói sẽ đọc ra được những điều về quá khứ, hiện tại, tương lai …hay giải đáp được những điều thắc mắc về âm phần mà người cậy sở đang cần tìm hiểu.

Tại sao nhiều trường hợp đi xem bói thầy không soi được hay soi không chuẩn?

Có rất nhiều nguyên nhân, cả từ phía thầy soi bói và cả người cậy sở. Chung quy lại thường gặp là:

A. ĐỐI VỚI NGƯỜI CẬY SỞ NÓI CHUNG

1. Do năng lực của người thầy: Năng lực dị năng còn hạn chế, có những người còn không hề có năng lực soi bói mà chỉ bói mò, bói dựa là chủ yếu. Những trường hợp này có thể nhất thời hoặc may mắn đúng được vài quẻ bói, vài dự đoán (bừa), nói đúng vài điều về người cậy sở…còn lại đa phần là loanh quanh, không chính xác.

2. Do chưa đủ duyên: Duyên này đến từ cả người cậy sở và người thầy soi bói. Phật không độ được người vô duyên, nhà Thánh cũng vậy và người hành đạo Thánh cũng tương tự. Lúc này việc soi bói không đem lại kết quả hoặc có chăng cũng là soi được mờ ảo, những việc chung chung hoặc quẩn quanh, không đưa ra được những soi xét dự đoán chính xác cả về quá khứ, hiện tại và tương lai.

3. Do chưa đủ tín: Thường thì trước khi đi xem bói ở đâu, người tín tâm sẽ có nén hương dâng lên gia tiên và thành tâm khấn bái để được gia tiên dẫn lối chỉ đường, hôm nay đi gặp thầy này tại…, xin gia tiên sang tai lai lời báo cho…

Hoặc nếu không có điều kiện thì dù không thắp hương khấn bái nhưng trong lòng tín tâm việc đi xem bói hôm nay, trước là tin vào gia tiên dẫn dắt, sau là tin đến người thầy sẽ đến hôm nay.

Khi đó chính từ sự tín tâm của người cậy sở, mà người âm sang tai lại cho người THẦY soi bói và chính bản thân người cậy sở phát ra trường năng lượng tín tâm tương thích giúp cho những điều về quá khứ, hiện tại và cả tương lai của người cậy sở được hiện lên rõ nét giúp người soi bói (có năng lực) có thể đọc được và nói lại với người cậy sở.

Hơn thế nữa với người nhất tâm thành tín vào chư Thánh cửa đình Thần, vào phép Thánh thì khi đến những nơi đền điện linh thiêng, chư Thánh cũng giáng phúc gia ân truyền nguồn năng lượng cho người thầy soi bói soi xét được chính xác, để giúp cho người cậy sở được chu toàn.

Việc tín tâm (tín vào phần âm, vào gia tiên, vào người thầy soi bói, vào chư Thánh…) là vô cùng quan trọng.

Nếu tâm chẳng đủ tín, đi coi cho vui cho biết, hoặc để thử thầy thử Thánh thì phải nói rằng khả năng không xem được chính xác là khá cao. Trừ trường hợp người đó đã đến thời điểm có những việc phải biết để mà tín tâm thì người thầy soi bói sẽ được gia ân để soi thấy, nói ra những điều khiến cho người kia từ chưa tín thành tín, từ chưa nhất tâm thành nhất tâm, từ không quan tâm phần âm hay gia tiên mà biết đến gia tiên tiền tồ và âm phần gia hộ…

4. Do ma tà oan gia chống phá

Ma tà oan gia này có thể là của người cậy sở, cũng có thể của chính người tu đạo hành pháp (thầy soi bói). Dù là ma tà oan gia của đối tượng nào thì mục đích cuối cùng cũng là:

- Để người cậy sở không được việc, không được chỉ dẫn hay sang tai những điều cần biết, việc đi coi bói vô ích, mất tín tâm, loạn tâm…

- Để người hành đạo: hoặc không soi được hoặc soi sai.

Từ đó lại sinh ra việc:

+ Hoặc thừa nhận mình không soi được mất tín tâm của bách gia cậy sở hoặc vẫn cứ bói dựa bói sai, rồi dần dà mất đạo tâm sa đà ma đạo.

+ Hoặc bản thân không nhận ra bị ma tà oan gia phá hoại mà nói sai mà vẫn cho là đúng gây tổn hại cho người cậy sở. Tự tạo nghiệp bản thân mà không hay, dần dần thành ra mất đi công đức lực tu tập bấy lâu, đường tu bị lệch đạo và có thể trượt ngã.

5. Do nhà Thánh thử thách người tu đạo (thử người hành pháp – thầy soi bói)

B. Đặc biệt, nếu NGƯỜI CẬY SỞ CÓ CĂN TU ĐẠO (với nhà Thánh cửa Đình Thần hoặc các đạo phái khác)

Người có căn tu đạo tiền kiếp hoặc hiện kiếp đi soi bói mà người thầy soi bói không thể soi chuẩn được. Ngoài những lí do như chưa đủ duyên, đủ tín hay bị các tác động ngoài lề như trên. Thì có thể có các lí do sau:

+ Người này tỏa ra trường năng lượng nhưng bị chặn lại bởi không hợp duyên với cửa đạo này (Ví dụ người căn duyên tu đạo Phật nhưng lại tìm đến thầy đạo giáo, người căn duyên tu theo đạo Thánh lại tìm về nơi đạo khác…). “Thế lực” chặn lại trường năng lượng này có thể là phần âm của dòng đạo tu, có thể là bản thân chính vết khắc đạo trong thần hồn của người tu tỏa ra năng lượng chặn lại. Chỉ khi tìm về đúng đạo học phù hợp với mình, vết khắc này sẽ dần dần được khai mở, phát ra năng lượng và người soi bói mới có thể cảm nhận được.

+ Nếu người có căn số thì có thể do Nhà Thánh, do gia tiên, do người bảo hộ … chặn lại trường năng lượng của người có căn để thầy soi bói không thể soi đúng được. Mục đích có thể là để bảo vệ người căn số và để dẫn duyên đến đúng người đúng việc, đúng thầy hoặc vì một lí do nào đó khác (người phàm chẳng bàn được việc Tiên Thánh, người dương trần cũng chẳng hiểu hết được việc âm dẫn dắt…).

Ví dụ như người có căn số khi chưa ra mở phủ đi soi bói nhưng vì một lí do nào đó bị gia tiên che trường năng lượng khiến người thầy soi bói không thể nhìn rõ, cũng có thể do nghiệp nặng oan gia chắn trường năng lượng của người có căn khiến thầy soi bói không đọc đúng căn số hoặc dẫn người có căn đến với thầy tà thầy lừa để làm lễ sai sót, dẫn trình sai cửa…

Ví dụ khác là người đã ra mở phủ được tổ và hành sai, người hộ đạo của dòng đồng mình bảo trợ. Khi đến soi bói tại cửa điện khác, dòng đồng khác hoặc nơi có âm tà bám tá thì căn cơ và nhiều việc của đồng con bị hành sai chốn tổ che đỡ lại, để thầy soi bói kia không thể soi hoặc làm hại đồng con được…

+ Trường hợp cá biệt: Những người tu đạo có năng lực nội tại mạnh mẽ (pháp lực, công đức lực, tín nguyện lực) tích tụ nhiều năm tu đạo hiện kiếp hoặc từ nhiều kiếp trước. Dù kiếp này chưa bước vào con đường tu đạo đi nữa nhưng quanh họ có trường lực mạnh mẽ bảo hộ. Khi họ chưa/không thực sự muốn thì dù không chủ ý bất tín nhưng người thầy soi bói cũng khó có thể soi xét được về họ, dù thầy soi bói có thể có phần âm theo hỗ trợ (âm binh/ hành sai…). Nếu cố tình soi thì đôi khi người thầy soi bói còn bị trường lực này tác động ngược lại tạo ra những ảo ảnh không thật khiến cho người thầy soi bói bị lệch lạc, hoặc có những phán đoán không chính xác thậm chí loạn tâm.

Ngoài lề:

1. Nhiều trường hợp chỉ BÓI DỰA nhưng lại đúng? Vì sao?

Bói dựa có thể đúng mà đúng rất nhiều lần nhưng lại không dựa vào năng lực soi bói dị năng. Trường hợp bói dựạ điển hình là:

+ Dựa vào thời cuộc chung: Ví dụ tình hình dịch bệnh đang khó khăn, người cậy sở đến hỏi về vận hạn thì đa phần thầy nói về kinh tế là chuẩn 99%

+ Dựa vào suy luận cơ bản: người xinh xắn dễ thương nhưng mãi không có ai yêu ai lấy nay đến xem tình duyên thì phán ngay tình duyên trắc trở, có duyên âm theo…

+ Dựa vào cử chỉ thái độ và những câu chuyện kể…: Nghe nhiều nguồn thông tin kể lại, những câu chuyện và biểu hiện của người cậy sở để đoán ra người cậy sở đang gặp vấn đề gì… từ đó đưa ra những dự đoán, cảnh báo, nhắc nhở…

Ví như người cậy sở thường xuyên bị lo lắng, tâm trạng bất an, làm việc đi lại không tập trung… đoán nhà sắp có việc hoặc cẩn thận đi lại. Thế là trong tháng mà có khi tận 2-3 tháng sau đi xe ngã 1 cái cũng cho là thầy bói chuẩn.?!

Thực ra do chính những thời cuộc, cuộc sống, những áp lực tâm lý đè nặng mà người cậy sở bị trì vào tâm trí, sinh ra mệt mỏi, rồi đôi khi tìm đến với bói toán mong giải tỏa áp lực nhưng nếu gặp phải những thầy tà, thầy lừa hay thầy đoán mò… thì chẳng những không giúp được gì mà còn tiền mất tật mang hoặc thêm lo lắng vô bổ, tự sinh loạn tâm và tai nạn rủi ro.

Cũng có thể nói đánh sâu vào tệ nạn nạo phá thai , tệ nạn ngoại tình, ly hôn tệ nạn tạo nghiệp khi chao đảo tham ô mua quyền chức , tệ nạn mánh mung........ nói trung là thời cuộc .. kiểu như lướt sóng nhà nhà mua đất bán nhà....

2. Vậy CÓ NÊN ĐI XEM BÓI nữa không?
Thực ra xem bói có nhiều cái lợi. Hãy xem những cái lợi sau rồi tự mình cân nhắc:

- Khi gặp thầy nói quá khứ khá chuẩn. Và có những giải thích hợp lý về phần âm, về vận hạn thì những chuyện buồn, chuyện mất người thân, phá sản, mất tiền... sẽ khiến người đi soi bói thấy nhẹ tâm và có hướng giải quyết hơn. Bởi khi đó cho rằng: À, đó là do cái số cái vận, do nghiệp…

- Vai trò định hướng về âm phần và cả dương phần:

+ Về âm phần: Người đi soi bói biết được về việc âm phần, gia tiên, mồ mả, đất cát, thờ cúng… thấy đúng sau sẽ có cái tín tâm nhất định với phần âm. Chăm lo cho phần âm chu toàn thì dần dần âm siêu dương thái, cuộc sống sẽ dần dần có cải thiện.

+ Về dương phần: Nhờ soi bói nói ra được những điểm mạnh, điểm yếu, điểm được ủng hộ từ phần âm … khiến người cậy sở có cái nhìn rõ hơn về bản thân mình. Biết được mình nên tập trung làm về mảng nào, việc nào thì hơn… Nên nhớ những dẫn chỉ này là định hướng chứ không phải tiên quyết bắt buộc chỉ được đi hướng đó. Những những định hướng này đa phần là hướng đi dễ dàng, có nhiều thuận lợi hơn với người cậy sở nếu họ thực sự cố gắng và nỗ lực.

- Vai trò động lực vô hình:

Khi đã biết về phần âm vô hình dù là qua soi bói, người ta sẽ hiểu rằng có những điều người đời không thấu nhưng phần âm đều biết, từ đó mà cải thiện bản thân, biết đâu là điều nên làm không nên làm, hoặc giả chăng cuộc sống còn đang vất vả lao đao nhưng biết người âm gia tiên còn thương còn đỡ cho bao vận hạn, tuy trên dương thế có thể đang cô độc khổ sở nhưng thực ra vẫn có người âm giúp đỡ quan tâm, cũng là sự động viên để cố gắng trong cuộc sống để thoát khỏi bế tắc và nhiều khi là sự nỗ lực trong tu tập (nếu là người tu đạo).

- Có sự chuẩn bị: Khi đi xem bói và có những cảnh báo về tương lai, người ta có tâm lý hoặc tránh dữ tìm lành, hạn chế việc không tốt, hạn chế đến nơi không hay hoặc tự chủ động nhờ những người hành pháp thực hành các nghi lễ đỡ đi vận hạn hoặc cải chuyển tai ương phần nào, cũng là tự mình có tâm lý sẵn sàng chuẩn bị và dự phòng với những tai ương, không quá bất ngờ cũng không quá bị động.

+ Về tu đạo (đặc biệt người có căn số): Thì việc cần tìm được người soi bói đúng căn số là việc cần thiết và bắt buộc trên con đường nhập đạo và tu đạo. Trong quá trình đó, có thể gặp các trường hợp soi không ra bói không thấy hoặc bói dựa bói loạn… như trên. Khi đã hiểu lí do thì bản thân trước phải tín Thánh tín gia tiên, sau phải có sự phân biệt đúng sai, phải có tìm hiểu về đạo về người thầy soi bói định cậy sở, đồng thời bản thân phải có sự đánh giá nhiều phương diện để biết đâu mới là soi đúng, đâu là sai. Từ đó đưa ra quyết định đúng đắn trong việc tìm thầy, cầu đạo và tu đạo.

Lại nói nếu đã tìm được thầy đạo, đã ra trình đồng lại càng lắm oan gia thử thách, khó khăn chướng ngại… nhiều khi khiến con đồng loạn tâm tìm hết thầy nọ thầy kia soi bói rồi mất tín tâm nơi cửa thầy mình, mất tín tâm cửa Thánh, cửa Đạo là chuyện không hiếm gặp.

Đi coi bói nếu đủ tín đủ duyên, đủ suy xét và biết cầu đủ thì là tốt. Còn quá mê mờ, loạn ảo, quá mong cầu hoặc quá cả tin… thì dễ trở thành con mồi béo bở cho thầy tà thầy lừa và chẳng có lợi ích gì cả. Cuối cùng sẽ tự làm khổ mình, làm thoái tâm tín vào âm phần, gia tiên và có khi cả Thánh đạo. Vậy nên hãy cân nhắc cho kỹ.

𝐍𝐠𝐮𝐨̂̀𝐧
𝐵𝑎̀𝑖 𝑣𝑖𝑒̂́𝑡: 𝑇ℎ𝑎̂̀𝑦 𝑇𝑟𝑎̂̀𝑛
𝐴̉𝑛ℎ: 𝘊𝘢𝘰 𝘕𝘩𝘢̣̂𝘵 𝘈𝘯𝘩

Address

Quang Nam

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đạo Mẫu Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share