Tu Viện Quán Thế Âm - Chùa Tranh

Tu Viện Quán Thế Âm - Chùa Tranh TU VIỆN QUÁN THẾ ÂM đây
Cùng nhau ta hãy đắp xây Đạo vàng. Thích Thông Quang

Vì Sao Bồ Tát Văn Thù Đã Thành Phật Vẫn Thị Hiện Làm Bồ Tát?Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi còn được gọi là Diệu Ðức Bồ Tát hoặc D...
14/07/2026

Vì Sao Bồ Tát Văn Thù Đã Thành Phật Vẫn Thị Hiện Làm Bồ Tát?
Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi còn được gọi là Diệu Ðức Bồ Tát hoặc Diệu Kiết Tường Bồ Tát. Vì sao gọi là "Diệu Ðức"? Bởi vì khi Ngài ra đời thì có mười điềm lành xảy ra:

1) Ánh sáng đầy nhà;
2) Cam lồ đầy nhà;
3) Dưới đất vọt lên bảy thứ quý báu;
4) Chư thần mở các kho tàng ẩn giấu;
5) Gà sanh ra phượng hoàng;
6) Heo sanh ra rồng;
7) Ngựa sanh ra kỳ lân;
8) Trâu sanh ra bạch trạch;
9) Kho thóc biến thành vàng. (Tất cả lúa thóc, ngũ cốc chứa trong kho đều biến thành vàng.)
10) Voi sáu ngà xuất hiện. (Voi xưa nay chỉ có hai ngà, nhưng con voi này lại có đến sáu ngà.)

Do mười hiện tượng kỳ diệu không thể nghĩ bàn này, nên Ngài có tên là Diệu Ðức. Lại nữa, bởi vì đó cũng toàn là những điềm lành, đem lại sự may mắn cát tường, cho nên Ngài còn có tên là Diệu Kiết Tường.

Thật ra, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát không còn là Bồ Tát nữa; thế thì Ngài là gì? Là một đức Phật! Trong đời quá khứ, Ngài đã thành Phật, hiệu là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. Ngài đã thành Phật trong đời quá khứ, thế thì trong đời hiện tại này Ngài đã thành Phật chưa? Hiện tại, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cũng đã thành Phật, danh hiệu là Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật và quốc độ là Hoan Hỷ Thế Giới ở phương Bắc. Tuy đã thành Phật, Ngài vẫn quay thuyền từ bi trở lại cõi Ta Bà, "giấu lớn hiện nhỏ," thị hiện làm Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi.

Theo Kinh Pháp Hoa (phẩm thứ nhất), thì Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là "sư tổ" của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni. Vì sao? Thuở truớc, khi chưa xuất gia, Ðức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh có tám người con trai và cả tám người này đều tu hành thành Phật. Người thành Phật sau rốt có danh hiệu là Phật Nhiên Ðăng, và thầy của Ðức Phật Nhiên Ðăng này là Pháp Sư Diệu Quang. Pháp Sư Diệu Quang là ai? Chính là tiền thân của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi! Còn Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thì vốn là học trò của Ðức Phật Nhiên Ðăng và được Ðức Phật Nhiên Ðăng thọ ký làm Phật trong đời này.

Do đó, nếu luận về thứ bậc thì Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi thuộc vai trên-là "sư tổ" của Phật Thích Ca Mâu Ni. Thế nhưng, trong đời này thì Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện thành Phật, còn Bồ Tát Văn Thù thì lại làm đệ tử của Ngài.

Quý vị xem, cảnh giới của Bồ Tát quả thật là không có hình tướng, chẳng phân lớn nhỏ, chẳng hiềm cao thấp-hoàn toàn không có sự phân biệt. Thế nên, khi giảng Kinh Kim Cang, tôi thường nhắc nhở quý vị rằng:

Thị pháp bình đẳng, vô hữu cao hạ.
(Pháp vốn bình đẳng, chẳng có cao thấp.)
Hiện tại, trong giảng đường này, có thể có những người vốn là thầy hoặc là đệ tử của tôi trong đời quá khứ cũng không chừng. Hoặc biết đâu trong số quý vị lại có người học Phật Pháp một cách chân thành, tinh tấn, thật sự có đạo hạnh, có đức độ, sớm khai ngộ thành Phật, và xứng đáng cho tôi tôn làm Thầy cũng không chừng. Phật Pháp vốn vi diệu không thể nghĩ bàn; nếu quý vị hiểu rõ thì:

Ly nhất thiết tướng, tức nhất thiết pháp.
(Lìa tất cả tướng, tức được tất cả pháp.)
còn như không hiểu rõ thì:

Trước tướng đầu đầu thố,
Vô vi hựu lạc không.
(Chấp tướng thì sai lầm,
Vô vi rơi vào không.)
Tôi giảng kinh thì cứ nghĩ gì nói nấy, nhớ đâu giảng đó; trời sụp đất lở, tôi cũng mặc, bởi chẳng có cái gì thật sự hiện hữu cả. Tất cả các pháp đều "không mình, không người, không chúng sanh, không thọ giả"; vậy thì thế nào gọi là Phật Pháp hưng thịnh? Thế nào gọi là Phật Pháp suy vi? Ở đâu có Chánh Pháp? Nơi nào có Mạt Pháp? Không có gì cả; tất cả đều là giả tạm!

Có người cằn nhằn: "Này Pháp Sư, ông càng giảng thì càng khiến cho chúng tôi thêm hồ đồ, rối trí mà thôi!" Thì ý của tôi là muốn làm cho quý vị trở nên hồ đồ kia mà! Nếu quý vị minh mẫn sáng suốt, thì quý vị đã không ngồi đây để nghe tôi giải thích! Thôi, bây giờ tôi nên trở lại với công việc giảng kinh một cách "hồ đồ" của mình thì hơn.

"Bồ Tát Ma Ha Tát" tức là "Ðại Bồ Tát." Ở đây là muốn nói đến vị Ðại Bồ Tát nào? Chính là Ðại Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi!

(Trích Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Giảng Ký - Hòa Thượng Tuyên Hóa)

Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên Mārīcī ☀☀☀Trong tiếng Phạn, "Marici" có nghĩa là "Ánh Sáng" hoặc "Tia Sáng Mặt Trời". Ngài thườn...
21/06/2026

Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên Mārīcī ☀☀☀

Trong tiếng Phạn, "Marici" có nghĩa là "Ánh Sáng" hoặc "Tia Sáng Mặt Trời". Ngài thường được mệnh danh là "Bổn Tôn Ánh Dương" hay "Bổn Tôn du hành trước mặt trời". Ngoài ra Ngài còn các thánh hiệu như: Phát Man Tinh Chủ - bậc chủ quản các vì sao, tinh tú; Chiến Uy Kim Cang - bậc uy đức dũng mãnh như kim cang.

Trong các kinh điển Phật giáo, lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Shakyamuni về Bồ Tát Ma Lợi Chi Thiên Marici được ghi chép chủ yếu và chi tiết nhất trong bộ Kinh mang tên "Phật Thuyết Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát Đà La Ni Kinh". Tên tiếng Phạn: Arya Marici Bodhisattva Dharani Sutra.

Đức Phật đã nói với các Tỳ-kheo rằng:

"Này các Tỳ-kheo! Có một vị Thiên nữ tên là Ma Lợi Chi (Marici). Vị Thiên nữ ấy đi ở phía trước mặt trời. Mặt trời chẳng thấy được Thiên nữ ấy, nhưng Thiên nữ ấy thấy được mặt trời."

"Nếu có người nào biết đến danh hiệu của vị Thiên nữ Ma Lợi Chi Marici ấy, thì người đó cũng sẽ (được gia hộ để) giống như Thiên nữ: Không ai thấy được, không ai bắt được, không ai trói buộc được, không ai lừa dối được, không ai chiếm đoạt được của cải, và không bị oan gia làm hại."

Trong Phật giáo Mật tông, Ngài được xem là một hóa thân của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) hoặc đôi khi là hóa thân phẫn nộ của Đức Tara. Trong 1 số tín ngưỡng khác như Đạo giáo, gọi Ngài là Đẩu Mẫu Nguyên Quân, 1 vị có vị thế rất cao trong cõi vô hình.

Tâm chú phổ biến nhất của Ngài để hành trì, kết duyên:

Om Marici Svaha (Phiên âm Việt: Ôm Ma Ri Chi Sô Ha)

Hoặc câu chú dài hơn thường dùng trong các nghi quỹ:

Om Marici Mam Soha (Ôm Ma Ri Chi Mam Sô Ha)

Để thực hành Phật pháp, trì tụng, một người cần giữ giới luật, đạo đức trong sạch, có tâm hiểu sự buông bỏ những khổ đau của vô thường trong luân hồi sinh tử. Phát tâm trong sạch, từ bi với tất cả chúng sinh hữu tình.

XA LÌA KẺ BẤT NAM, ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁITrích Giảng giải Kinh Pháp Hoa, Phẩm An Lạc Hạnh - Hoà Thượng Tuyên HóaCũng lại chớ...
14/06/2026

XA LÌA KẺ BẤT NAM, ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI
Trích Giảng giải Kinh Pháp Hoa, Phẩm An Lạc Hạnh - Hoà Thượng Tuyên Hóa

Cũng lại chớ gần gũi với năm hạng người bất nam, xem là thân hậu.

Diệc phục bất cận ngũ chủng bất nam chi nhân, dĩ vi thân hậu.

Cũng lại chớ gần gũi với năm hạng người bất nam: năm hạng người bất nam này, có vị nào biết không? Nếu ai biết thì nói lại cho đại chúng cùng nghe thử! Nào, Quả Ninh!

– Đệ tử không biết (Quả Ninh đáp).

Ai biết? Ai có thể nói cho tôi nghe? Có ai biết không? Nhanh lên nào! Quả Hộ biết không?

– Đệ tử không biết (Quả Hộ đáp).

– Vì sao chú không biết? Thế Quả Dật biết không?

– Đệ tử không biết.

– Thế còn Quả Tu?

– Đệ tử cũng không biết. Sư Phụ chưa dạy con.

Quý vị thọ giới đều đã học qua, khi thẩm tra giới, đã có hỏi đến. Quả Tiên biết không?

– Đệ tử không biết.

Chà! Không ai biết cả, chẳng trách có nhiều đồng tính luyến ái đến vậy, chính là vì không biết vấn đề này! Hiện nay, đồng tính luyến ái đã trở thành hợp pháp, các cô sắp tới đây sẽ không có cơm ăn, không có ai nuôi, không có ai thèm muốn, bởi người nam đều muốn lấy người nam làm vợ rồi, chứ không muốn lấy người nữ nữa, người nữ không còn hữu dụng, cũng không cần người nữ sanh con cho họ nữa. Thê thảm quá! Sao quý vị lại cười? Phải khóc mới đúng chứ!

Năm hạng người bất nam: thế đã không phải là nam, thì là người nữ chăng? Cũng không phải nữ. Có năm loại người không phải nam, cũng chẳng phải nữ. Quý vị nói họ là nam, nhưng họ không có khả năng làm được việc thuộc về bản năng của nam giới; quý vị bảo họ là nữ, nhưng người này lại cũng không có khả năng làm được việc thuộc về thiên chức của người nữ, vì thế năm loại người này được gọi là “bất nam”.

Khi nãy không nói họ là “bất nữ” mà là “bất nam”, thế thì bây giờ tôi đặt cho họ một cái tên, cũng gọi là “bất nữ”. “Bất nam bất nữ”, quý vị nói xem, đây là thứ gì? Đây quả thật không phải là người mà là đồ vô dụng! Chẳng có một chút hữu dụng nào ở trên đời này cả, chỉ là đồ vật biết ăn! Họ không thể giúp người nữ sanh con, bản thân họ cũng không thể làm người nữ để sanh con, Quý vị nói xem, loại người như thế có phải là chẳng giúp ích được gì cho thế giới không?

“Bất nam bất nữ” này có năm hạng:

(1). Sanh (生). Người này, từ trong bụng mẹ sanh ra đã không có nam căn, cũng không có nữ căn; vừa ra đời, họ đã không phải là nam, cũng chẳng phải là nữ, nên việc thuộc về bản năng của nam giới, người này không thể làm được; và tất nhiên, cũng không thể thực hiện được việc thuộc về bản năng của nữ giới. Xưa nay, đàn ông là để giúp đàn bà sanh con; còn người đàn bà, tự bản thân họ sẽ sanh con; thế nhưng, người này vừa lọt lòng mẹ đã không thể làm được chuyện họ cần phải làm, hạng này gọi là “sanh”, tức là vừa sanh ra đã không có khả năng.

Vì sao họ trở nên như thế? Lý nhân quả này, quý vị cần phải biết! Do vì đời trước, họ luyến ái người đồng giới – hoặc giả người nữ chỉ luyến ái người nữ, hoặc giả người nam lại đi luyến ái người nam, hoặc giả họ vừa luyến ái người nam vừa luyến ái người nữ; với tính cách như vậy, cho nên họ đã trở nên nam chẳng ra nam, nữ chẳng ra nữ, có hình mà vô căn – hình dáng con người thì có, nhưng căn của con người lại không, hạng này gọi là “sanh”.

(2). Kiền (犍). Vốn là người có nam căn, nhưng anh ta lại cắt bỏ nó đi, hoặc là anh ta bị mọc một loại ung nhọt độc, khiến cho nam căn bị hư hoại; đối với người nữ cũng giống thế, hạng này gọi là “kiền”.

(3). Đố (妒). Hạng này khi thấy người nam, sanh lòng ganh tỵ, liền biến đổi thành nam; đã đành biến thì biến thành nam, có tâm lý của giới tính này, thế nhưng họ không làm được việc, không thể giao hợp. Có lúc, họ thấy người nữ, liền sanh lòng ganh tỵ, lại biến thành người nữ, nhưng cũng không có khả năng giao hợp. Tùy theo cảm xúc ganh tỵ mà họ biến đổi thành nam hay nữ. Hạng này gọi là “đố”.

(4). Biến (變). Loại “đố” ở trên, khi thấy người nam, họ liền biến thành nữ; khi thấy người nữ, lại biến thành nam, đó là do khởi tâm dâm dục; hoặc khi thấy người nam thì trở thành nam, thấy người nữ thì trở thành nữ, tất cả những hình tướng đó đều do tâm ganh tỵ mà hiện ra; còn “biến” ở loại thứ tư này, là bản thân họ tự thay đổi sau một khoảng thời gian. Thí dụ như vào lúc 12 giờ họ là người nam, đến 1 giờ họ lại biến thành người nữ, không cần phải nhìn thấy người nam, mà cơ thể họ vẫn tự biến đổi. Đợi đến hai giờ, hoặc ba giờ, hoặc năm giờ sau, họ lại biến thành người nam; vì thế, gọi loại người này là: “nam bất nam, nữ bất nữ” (nam không ra nam, nữ không ra nữ).

Sự thể của loại người này là sao? Sở dĩ họ trở nên như thế chính vì xưa kia, làm thân người nam lại đem lòng yêu thương người nam, làm người nữ lại đi yêu người nữ; hoặc trường hợp người nam, hay người nữ kia tự hành dâm một mình. Người làm ra những chuyện kiểu này thì tương lai sẽ phải lãnh chịu quả báo kiểu này, trở thành kẻ chẳng phải nam, chẳng phải nữ. Quý vị bảo họ là nam, thế nhưng họ không có nam căn; quý vị cho họ là nữ, nhưng họ lại không có nữ căn. Họ vừa có thể biến thành nam, vừa có thể biến thành nữ. Biến là biến vậy thôi, nhưng họ không có khả năng giao hợp, hoàn toàn không có năng lực này.



(5). “Bán” (半). Tức là chỉ có một nửa. Sao gọi là “một nửa”? Tức là loại người này nửa tháng biến thành người nam, nửa tháng biến thành người nữ; nửa tháng nam, nửa tháng nữ. Hạng “biến” ở trên, có thể một-hai ngày là người nam, một-hai ngày là người nữ, không nhất thiết đợi đến nửa tháng. Thế còn loại người này? Họ phải đợi đến nửa tháng, đã có được nam căn rồi, nhưng đến nửa tháng sau, lại biến thành người nữ. Đây cũng thuộc loại người “nam chẳng ra nam, nữ chẳng ra nữ”, mới thọ quả báo này.



Cho nên có nghiên cứu Phật pháp, quý vị mới hiểu được lý lẽ này, bằng không thì tuyệt nhiên không thể biết được năm loại bất nam, năm loại bất nữ này. Quý vị thấy! Phật Pháp đã bày tỏ mọi sự việc cho chúng ta một cách rõ ràng.

Năm hạng người này nếu muốn xuất gia, không được nhận, không cho phép họ xuất gia. Đức Phật không độ năm hạng người này vì họ quá xấu xa. Năm hạng người này, tư tưởng của họ rất tồi tệ, rất ô nhiễm, trong bụng họ toàn những ý nghĩ xấu, tư tưởng xấu. Vì thế, bất luận người nào, nếu có tình hình “thủ dâm” – tự hành dâm một mình; (kể cả nam lẫn nữ), thì sẽ trở thành năm hạng người bất nam, cũng chính là năm loại người bất nữ, cũng chẳng phải nam cũng chẳng phải nữ. Có thể có người cho rằng: “Đây mới chính là (cảnh giới) ‘không có tướng nam nữ’!” Nhưng đây là hoại tướng, bị gọi là “các căn không trọn vẹn” (chư căn bất cụ túc). Bản chất của “căn” này chính là “căn nam, nữ”, căn nam, nữ của quý vị đều không trọn vẹn, đây là loại người tồi tệ nhất trên đời; vì thế làm người, nhất định phải giữ gìn khuôn phép. Nếu quý vị không tuân thủ khuôn phép thì tương lai sẽ phải nhận lãnh quả báo, tức là sẽ trở thành người không được bình thường; Quý vị xem! Những người có sáu căn không toàn vẹn đều là vì đã từng làm quá nhiều việc xấu xa, vì thế mới phải nhận lãnh quả báo này.

Xem là thân hậu: thân tức là gần gũi; hậu tức là kết bạn thân với họ. Đại Bồ-tát tu Bồ-tát đạo, không nên kết bạn thân thiết với năm hạng người bất nam, bất nữ này.

Thật ra bạn đang có hạnh phúc rồi:Nếu bạn có thực phẩm để ăn, có áo quần để mặc, có nhà để về là bạn đã giàu hơn 75% dân...
07/06/2026

Thật ra bạn đang có hạnh phúc rồi:

Nếu bạn có thực phẩm để ăn, có áo quần để mặc, có nhà để về là bạn đã giàu hơn 75% dân số trên thế giới này.

Nếu bạn có tiền tiêu trong ví, có tiền để ăn một bữa sáng, bạn thuộc 8% những người giàu nhất thế giới.

Nếu bạn thức dậy vào buổi sáng và cảm thấy khoẻ hơn hôm qua thì bạn đã may mắn hơn 1 triệu người không thể sống qua nổi tuần này.

Nếu bạn chưa bao giờ trải qua nguy hiểm của chiến tranh, chưa bao giờ trải qua tù tội, đớn đau của tra tấn hay vật vã của đói khát thì bạn đã hạnh phúc hơn 500 triệu người trên thế giới.

Nếu bố mẹ bạn còn sống và hạnh phúc bên nhau thì trường hợp của bạn không nhiều đâu.

Và cuối cùng , nếu bạn đọc được thông điệp này thì bạn đã sung sướng hơn 2 tỉ người trên thế giới chẳng bao giờ đọc được thứ gì cả.

Hãy trân trọng những gì bạn đang có vì đó đang là mơ ước của rất nhiều người đấy.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Thông Báo:Ngày 20 tháng 4 âm lịch có chương trình mổ mắt từ thiện tại Trung Tâm Mắt Trưng Vương, Sài Gòn.Quý vị nào có n...
26/05/2026

Thông Báo:
Ngày 20 tháng 4 âm lịch có chương trình mổ mắt từ thiện tại Trung Tâm Mắt Trưng Vương, Sài Gòn.
Quý vị nào có nhu cầu mổ mắt thì đăng ký để em lên danh sách., tuỳ theo số lượng mà mình thuê xe.
Khuya 19 rạng sáng 20 mình xuất phát tới Sài Gòn khoảng 5 giờ sáng.
Lưu ý: Photo CCCD 1 bản để đăng ký thủ tục mổ.
Mọi chi tiết xin liên hệ
0919012082

Thần Chú Ðại Bi, Nhiệm Mầu Không Thể Nghĩ BànHôm nay bắt đầu vào thất Ðại Bi. Buổi tối sau lễ sái tịnh sẽ tụng Ðại Bi Th...
07/05/2026

Thần Chú Ðại Bi, Nhiệm Mầu Không Thể Nghĩ Bàn
Hôm nay bắt đầu vào thất Ðại Bi. Buổi tối sau lễ sái tịnh sẽ tụng Ðại Bi Thần Chú. Trong quá khứ, số chư Phật nói chú này nhiều bằng chín mươi chín ức số cát sông Hằng và Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát vì thương hết thảy mọi loài chúng sanh, nên phát tâm đại bi, cưỡi thuyền từ bi trở về cõi Ta-bà để cứu độ tất cả chúng sanh ra khỏi cảnh khổ ách. Có câu: "Bể khổ không bờ, quay đầu là bến," chỉ cần chúng ta kiền thành trì tụng Ðại-bi Chú ắt sẽ thấy ứng nghiệm, không thể nghĩ bàn.
Trước đây trong vô lượng kiếp, Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát được Thiên Quang Vương Tĩnh Trú Như-lai diễn pháp Ðại-bi Thần Chú cho nghe, lấy bàn tay sắc vàng xoa đầu, khiến Ngài, khi nghe xong liền chứng được quả vị Bồ-tát bậc Bát-địa. Ngài liền sanh tâm đại hoan hỷ rồi lập tức phát nguyện lớn như sau: "Nếu tôi có thể làm lợi ích hết thảy chúng sanh, thì xin cho tôi có ngay ngàn tay và ngàn mắt." Phát nguyện xong, hốt nhiên trái đất chấn động, hào quang phát ra từ chư Phật mười phương chiếu sáng thân Ngài, rồi ngàn tay và ngàn mắt tức khắc trang nghiêm thân tướng của Ngài. Tay thì có thể nâng đỡ, mắt thì có khả năng chiếu soi. Ngàn tay và ngàn mắt tượng trưng cho vô số thần thông và trí huệ.
Ý nghĩa của đại bi: Căn cứ câu: "Bi năng bạt khổ," bất cứ ai gặp phải mọi cảnh khổ nạn, nếu thành tâm tụng Chú Ðại-bi đều có thể được bình an, chuyển hung thành cát. Ngài Quán Thế Âm bạch Phật rằng: "Nếu như chúng sanh trì tụng Ðại-bi Chú mà không được mãn nguyện, thì xin thề không thành chánh giác, trừ phi nguyện ước của họ bất thiện hay không thành tâm trì tụng."
Trì tụng Ðại-bi Chú không những được tự tại, mà các điều cầu mong còn được thành tựu; có thể tránh được khổ ách tai nạn và được vui sướng an lạc; vượt qua mọi hiểm nghèo, tới chỗ bình an vô sự. Làm sao có thể xa lìa khổ ách? Phải tụng Ðại-bi Chú. Làm sao thoát khỏi hiểm nghèo? Phải trì tụng Ðại-bi Chú. Chớ có coi Ðại-bi Chú là tầm thường hay đơn giản. Tôi xin nói với quý vị rằng nếu quả trong đời quá khứ và hiện tại quý vị không có căn duyên tốt lành thì ngay đến cả cái tên của Chú Ðại-bi cũng chưa được nghe, đừng nói tới việc trì tụng. Nay không những quý vị được nghe biết tên của Chú lại còn được trì tụng Chú với một lòng chí thành như vậy, thật là một cơ hội trăm ngàn vạn kiếp mới có một lần, rồi lại được thiện tri thức chỉ dẫn, cách thức đọc tụng, thọ trì, tu trì nữa. Thật đáng cho quý vị coi trọng! Tóm lại, Ðại-bi Chú có những lợi ích không thể nghĩ hết được.
Trong thời gian bẩy ngày này, chúng ta nên thành tâm thành ý, rất mực cung cung kính kính trì tụng Chú Ðại-bi, tụng cho tới độ tâm không vọng tưởng. Lúc đó, lòng lắng trong, hoặc giả có người thấy hào quang, có người thấy hoa xuất hiện, có người được Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát rờ đầu, giúp cho khai mở trí huệ. Hoặc giả có khi ngửi thấy mùi hương lạ, cũng có người dù đã tha thiết chí thành trì tụng, nhưng cũng chẳng thấy một hiện tượng gì khác lạ. Dầu có hay không cũng chớ có nản lòng, cứ hết sức dốc một lòng trì tụng. Khi nào thời khắc tới, sẽ nhất định chứng kiến cảnh giới "cảm ứng đạo giao," xuất hiện ngay trước mắt.
Bất luận thấy cảnh giới nào, hay chẳng thấy gì hết, việc chánh vẫn là tinh tấn trì tụng. Kẻ thấy điềm lành chẳng nên chấp vào tướng lành đó. Kẻ không thấy điềm gì cũng đừng sanh lòng tự ti mà tự bảo rằng: "A ! Vậy là ta chẳng có thiện căn, sao ta chẳng thấy Bồ-tát?" Thiện căn có khi sớm kết thành quả, có khi thì muộn. Nếu như có cảm giác thiện căn của mình chưa đến lúc thành thục, thì ta phải tiếp tục bồi đắp, làm thêm nhiều công đức nữa mới được. Người ta nói: "Chưa trồng căn lành, phải trồng căn lành; đã trồng căn lành, khiến nó tăng trưởng; đã tăng trưởng rồi, khiến nó thành thục; đã thành thục rồi, khiến tới giải thoát."
Quý vị lần đầu tới Kim Sơn Thánh Tự, nghiên cứu Phật pháp, tu tập Phật pháp, phải dốc lòng thành học tập, không ngại khổ, không ngại khó. Ở đây trong vòng bảy ngày, nên dũng mãnh tinh tấn, xa lìa vọng tưởng. Nếu lại vừa học tập, vừa nghĩ ngợi lung tung, công phu không thể chuyên nhất được. Tâm không chuyên nhất thì khó lòng sanh cảm ứng. Ðó là một điều, quý vị phải đặc biệt chú ý!
Những lợi ích của công phu trì tụng Ðại-bi Chú, nói ra không thể hết được. Phàm ai đã trì tụng Ðại-bi Chú thì tuyệt đối chẳng bị đọa vào ba đường ác. Nếu bị đọa vào các đường ác đó thì Ngài Quán Thế Âm nguyện chẳng bao giờ thành Phật. Phàm ai ngu si mà trì tụng Ðại-bi Chú, nếu chẳng biến thành kẻ trí huệ, Ngài Quán Thế Âm cũng nguyện chẳng thành Phật. Thần Chú Ðại-bi lại có thể trị tám vạn bốn ngàn loại tật bệnh của thế gian. Ai bị bệnh nan y, cho đến các y sĩ, Tây y hay Ðông y phải bó tay, nhưng nếu thành tâm trì tụng Ðại-bi Chú cũng nhất định chẳng uống thuốc mà được khỏi bệnh. Thần hiệu của Ðại-bi Chú thật không thể nghĩ bàn!
Tại Kim Sơn Thánh Tự có người đã từng được sự ứng nghiệm như vậy. Chữa trị chứng ung thư chẳng phải là chuyện dễ dàng, vậy mà trì tụng Ðại-bi Chú khiến cho bệnh tiêu tan. Thần lực của Chú Ðại-bi thật mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. Chỉ cần xem công phu của quý vị trong bảy ngày ra sao, ai thành tâm, người đó sẽ thấy ứng nghiệm, được lợi ích. Ai có bệnh, bệnh sẽ lui. Ai không bệnh, thì trí huệ được khai mở. Cầu chuyện gì được chuyện đó, cho nên Ðại-bi Chú gọi là bất khả tư nghì quảng đại linh cảm, vô ngại đại bi tâm đà-la-ni. Chữ đà-la-ni (Dharani) dịch nghĩa là tổng trì, tổng nhất thiết pháp, trì vô lượng nghĩa, cũng gọi là chú, hoặc gọi là chân ngôn. Tóm lại đó là những chữ mật.
Mật chú gồm có bốn ý nghĩa sau:
Trong bài chú có tên vua các loài quỷ thần, nên phàm tiểu quỷ nghe đến tên này thì không dám làm bậy và phải tôn trọng phép tắc,
Chú được coi như khẩu lệnh trong quân đội, nếu vi phạm ắt sẽ bị trừng trị,
Chú có thể âm thầm tiêu trừ nghiệp tội mà chính mình không hay biết,
Chú là ngôn ngữ bí mật của chư Phật, chỉ có chư Phật mới hiểu được mà thôi.
Quý vị lần này tới tham dự pháp hội Ðại-bi, đều có sẵn căn lành cả, đức hạnh đầy đủ lại được nhân duyên thành thục nên mới tới Chùa Kim Sơn Tự. Hy vọng rằng một khi đã vào tới "bảo sơn" rồi thì không đến nỗi tay không trở về, tất phải được bảo vật để dùng cho mình. Bảo vật gì? Chính là Chú Ðại-bi. Ðại-bi Chú có thể trị bệnh, có thể hàng phục loài ma, có thể khai mở trí huệ, có thể mang lại sự bình an, hay nói cách khác, cầu việc gì được việc ấy, nhất định toại lòng xứng ý.
Kỳ pháp hội Ðại-bi này còn đặc biệt hơn nữa là tại Trung-quốc rất hiếm có khóa tụng Ðại-bi có tính cách kỷ lục, kéo dài cả bẩy ngày luôn như vậy. Tại các nước khác người ta có niệm Chú Ðại-bi trong bẩy ngày không, điều này tôi không biết, nhưng tại Mỹ, tôi nghĩ rằng đây là lần đầu tiên. Mong tất cả quý vị hết sức chân thành trì tụng Ðại-bi Chú, công đức vô lượng!
Ngày 9 tháng 4 năm 1976, tại Kim Sơn Thánh Tự

HT Tuyên Hoá khai thị

Thông báoNgày 19 tháng 2 âm lịch, có chương trình mổ mắt từ thiện tại bệnh viện mắt Sài Gòn.Quý bà con nào có nhu cầu mu...
01/04/2026

Thông báo
Ngày 19 tháng 2 âm lịch, có chương trình mổ mắt từ thiện tại bệnh viện mắt Sài Gòn.
Quý bà con nào có nhu cầu muốn mổ mắt thì đăng ký nha.
Ngày 15 tháng 2 âm lịch chốt danh sách.
Lưu ý: Mổ mắt từ thiện kg tốn tiền nhưng chỉ phí đi và về bà con tự lo nha.
Liên lạc 0919012082

Address

Khu Phố Đại Lộc, Phường Bình Thuận. Tỉnh Lâm Đồng
Phan Thiet
084

Telephone

+84966012082

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tu Viện Quán Thế Âm - Chùa Tranh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share