Cộng Đồng Chăm Việt Nam

Cộng Đồng Chăm Việt Nam Cập nhật những tin tức, hình ảnh, văn hoá Chăm Việt Nam

Trong tang lễ truyền thống của người Chăm Bà Ni, mỗi nghi thức đều phản ánh quan niệm về sự chuyển tiếp từ cuộc sống trầ...
20/06/2026

Trong tang lễ truyền thống của người Chăm Bà Ni, mỗi nghi thức đều phản ánh quan niệm về sự chuyển tiếp từ cuộc sống trần thế sang thế giới tổ tiên. Từ việc tắm rửa, khâm liệm đến đưa tiễn người quá cố đều được thực hiện theo những quy định riêng của cộng đồng và sự hướng dẫn của các chức sắc tôn giáo.

Hình ảnh chiếc kiệu tang bằng tre, nứa và vật liệu tự nhiên là một phần quen thuộc trong nhiều đám tang của người Chăm Bà Ni. Kiệu được dùng để đưa người mất từ nhà đến nghĩa địa hoặc nơi cử hành các nghi lễ cuối cùng.

Theo quan niệm truyền thống, không phải mọi trường hợp qua đời đều được tổ chức tang lễ giống nhau.
Đối với những người chưa thực hiện đầy đủ các nghi lễ tôn giáo trong đời sống cộng đồng, đặc biệt là những người chưa chính thức bước vào các giai đoạn nghi lễ theo quy định của Chăm Bà Ni, tang lễ thường được tiến hành giản lược hơn so với những người đã hoàn thành đầy đủ các nghi thức tôn giáo.

Tại một số địa phương, những trường hợp này được đưa đi bằng loại kiệu tang đơn giản làm từ tre, nứa như trong hình ảnh. Tuy nhiên, tập tục cụ thể có thể khác nhau tùy từng palei, từng dòng họ và truyền thống của mỗi vùng cư trú.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hệ thống nghi lễ tang ma của người Chăm là sự kết hợp giữa tín ngưỡng bản địa với các yếu tố tôn giáo tiếp nhận trong quá trình lịch sử lâu dài.

Mỗi vật dụng xuất hiện trong tang lễ, từ tấm chiếu, chiếc gối đến kiệu đưa tang, đều mang ý nghĩa biểu tượng gắn liền với quan niệm về hành trình trở về với tổ tiên.

Chi tiết tại nhóm: CỘNG ĐỒNG CHĂM VIỆT NAM.

NHIỀU NGƯỜI THẮC MẮC: TẠI SAO GIA LAI LẠI CÓ THÁP CHĂM?Khi nhắc đến tháp Chăm, phần lớn mọi người thường nghĩ ngay đến d...
19/06/2026

NHIỀU NGƯỜI THẮC MẮC: TẠI SAO GIA LAI LẠI CÓ THÁP CHĂM?

Khi nhắc đến tháp Chăm, phần lớn mọi người thường nghĩ ngay đến dải duyên hải miền Trung. Tuy nhiên, ít ai biết rằng trên vùng đất Gia Lai cũng tồn tại dấu tích kiến trúc của người Chăm. Điều này không phải là sự xuất hiện ngẫu nhiên, mà phản ánh phạm vi ảnh hưởng rộng lớn của vương quốc Champa trong quá khứ.

Từ khoảng thế kỷ X đến thế kỷ XV, Champa không chỉ phát triển ở vùng đồng bằng ven biển mà còn mở rộng ảnh hưởng lên khu vực Tây Nguyên. Những tuyến đường cổ nối từ biển lên cao nguyên đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giao thương và kết nối giữa các cộng đồng cư dân.

Tây Nguyên là nơi có nhiều sản vật quý như trầm hương, sáp ong, ngà voi, lâm sản và các loại dược liệu. Để kiểm soát các tuyến thương mại này, người Chăm đã thiết lập những trung tâm cư trú, điểm giao thương và công trình tín ngưỡng ở nhiều vị trí chiến lược.

Tại Gia Lai, các nhà khảo cổ đã phát hiện phế tích tháp Chăm An Phú, còn được gọi là Gò Tháp, nằm ở xã An Phú, thành phố Pleiku. Di tích này được các học giả Pháp ghi nhận từ cuối thế kỷ XIX và tiếp tục được khảo sát trong những năm gần đây.

Các cuộc khai quật đã phát hiện nền móng kiến trúc, gạch xây dựng và nhiều hiện vật mang đặc trưng nghệ thuật Champa. Những phát hiện này cho thấy nơi đây từng là một công trình tôn giáo quan trọng, gắn liền với quá trình mở rộng ảnh hưởng của Champa lên vùng cao nguyên.

Sự hiện diện của tháp Chăm tại Gia Lai cũng phản ánh mối liên hệ lâu đời giữa cư dân Chăm với các cộng đồng bản địa Tây Nguyên như Jarai và Bahnar. Trong nhiều thế kỷ, các hoạt động trao đổi hàng hóa, giao lưu văn hóa và quan hệ chính trị đã tạo nên sự kết nối chặt chẽ giữa miền núi và vùng duyên hải.

Có thể nói, tháp Chăm ở Gia Lai là dấu tích lịch sử cho thấy không gian văn hóa Champa rộng lớn hơn nhiều so với nhận thức phổ biến hiện nay. Những ngôi tháp này không chỉ phục vụ nhu cầu tín ngưỡng mà còn thể hiện vai trò của Champa trong việc kiểm soát các tuyến giao thương và kết nối giữa biển với Tây Nguyên.

Chi tiết tại nhóm: CỘNG ĐỒNG CHĂM VIỆT NAM.

Về bộ tộc Cau, theo truyền thuyết, vào thời xa xưa một vị vua cai trị phương Nam một hôm thấy bên cạnh cung đình có một ...
19/06/2026

Về bộ tộc Cau, theo truyền thuyết, vào thời xa xưa một vị vua cai trị phương Nam một hôm thấy bên cạnh cung đình có một cây cau trổ một buồng trái thật lớn và thật đẹp.

Đến ngày trổ hoa, buồng cau không nở, nhà vua thắc mắc liền sai một gia nhân trẻ tuổi trèo lên hái xuống xem sao.

Gia nhân mang xuống dâng lên vua. Vua lấy gươm báu chẻ mo cau ra thì thấy một em bé mặt mũi hồng hào đẹp đẽ. Nhà vua rất vui mừng, nhận làm con nuôi và đặt tên là Radja Po Klong, tức hoàng tử Po Klong (Po Klău).

Mo cau bọc hoàng tử được dùng làm mộc đỡ của hoàng gia và mũi nhọn của mo cau được biến thành gươm báu của nhà vua.

Mộc đỡ và gươm báu sau này trở thành biểu tượng cho uy quyền của các vị vua Chiêm Thành phía Nam.

Hoàng tử Po Klong không chịu bú sữa của người thường mà chỉ bú sữa của một con bò tơ ngũ sắc.
Đó cũng là lý do giải thích tại sao người Chăm ở phía Nam sau này từ chối giết và ăn thịt bò.

Hoàng tử Po Klong càng lớn lên càng đẹp và khỏe mạnh. Nhà vua sau đó gả con gái và cho kế nghiệp. Khi lên ngôi, Po Klong cho xây một cung thành tuyệt mỹ trải rộng trên bảy ngọn đồi, đặt tên là Băl.

Băl sau này là thủ đô của các tiểu vương quốc Champa theo tiếng “Chăm mới”, như Băl Cău ở Phan Rang, Băl Canar ở Phan Rí (thôn Tịnh Mỹ) của bộ tộc Cau.

Chuyện bò ngũ sắc là dựa theo truyền thuyết Bò Thần của đạo Bà La Môn bên Ấn Độ, ý muốn nói bò là một vị thần, dân chúng phải tôn thờ không được ăn thịt hay sử dụng phó sản của bò để tỏ lòng tôn kính thần linh.

Về bộ tộc Dừa, các dòng vương tôn phương Bắc cũng dựa theo truyền thuyết trên để tạo sự huyền bí về dòng dõi vương quyền của mình, nhưng đổi buồng cau thành buồng dừa và mo cau thành mo dừa.

Theo lời kể lại, một vị hoàng tử được sinh ra từ một mo dừa, làm con nuôi một vị vua, lấy một cô công chúa và sau đó được tôn lên làm vua. Không rõ vị vua này tên gì, các nhà nghiên cứu Chăm học và khảo cổ chưa tìm ra sử tích.

Thật ra, các dòng vương tôn phía Bắc, vì chịu ảnh hưởng muộn màng nền văn minh Ấn Độ, phải tìm trong kho tàng dân gian một câu chuyện huyền bí đề cao dòng tộc vương quyền của mình để tỏ ra ngang hàng với các dòng vương tôn phía Nam.

Tuy nhiên, do chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa lúc ban đầu, thay vì phải thờ vật tổ (cây Cau hay Bò Thần) như người phía Nam, người Chăm phía Bắc đề cao cây Dừa như một biểu tượng huyền bí của uy quyền như người Hoa đề cao con rồng hay con phượng.

Hơn nữa, vật tổ của người Chăm phương Bắc không mang ý nghĩa tôn giáo mà chỉ thuần túy là một biểu tượng. Tượng mà người Chăm miền Bắc tôn thờ là Buddha, Siva và các vị thần Ấn Độ khác.

Một vị vua làm được nhiều tốt cho dân chúng, khi chết đi được dân chúng tạc tượng và lập đền thờ tôn kính như một vị Phật.

Tên vị vua quá cố thường được kết hợp với tên thần Isvara (tức Siva), do đó tên sau cùng của các vị vua quá cố thường có thêm chữ “vara” (như Bradresavara, Sambhudresavara) để thần thánh hóa ngôi vị của mình, vua là do thần sai xuống cai trị dân gian.

Qua sự phân chia này, trong suốt dòng lịch sử của vương quốc cổ Champa, các bia ký ghi lại rất nhiều tranh chấp giữa hai bộ tộc về quyền lãnh đạo, không bộ tộc nào chịu nhường bộ tộc nào.

Bộ tộc Dừa bị coi là bộ tộc bình dân (không tinh khiết) thường bị các dòng vương tôn bộ tộc Cau (tự nhận là truyền nhân chính thống) khinh thường.

Tuy nhiên vì quyền lợi của đất nước, nhiều lúc hai bộ tộc này đã biết kết hợp lại với nhau thành một để đối phó với kẻ thù chung.

Chi tiết tại nhóm: CỘNG ĐỒNG CHĂM VIỆT NAM.

19/06/2026

Cập nhật tiến độ chùa Chăm Bà Ni Tánh Linh

Chi tiết tại nhóm: CỘNG ĐỒNG CHĂM VIỆT NAM.

TẠI SAO NGƯỜI CHĂM KHI CÚNG LẠI ÚP NẢI CHUỐI XUỐNG?Trong nhiều nghi lễ truyền thống của người Chăm, từ lễ cúng tổ tiên, ...
17/06/2026

TẠI SAO NGƯỜI CHĂM KHI CÚNG LẠI ÚP NẢI CHUỐI XUỐNG?

Trong nhiều nghi lễ truyền thống của người Chăm, từ lễ cúng tổ tiên, cúng đất đến các nghi lễ cộng đồng, người ta thường thấy một chi tiết rất đặc biệt: nải chuối trên mâm lễ được đặt úp xuống thay vì ngửa lên như cách bày biện thông thường. Đây là một hình ảnh quen thuộc nhưng lại khiến nhiều người thắc mắc về ý nghĩa phía sau.

Điều đáng nói là cho đến nay, các công trình nghiên cứu về văn hóa Chăm chủ yếu ghi nhận sự hiện diện của chuối trong lễ vật cúng, nhưng chưa có tài liệu thành văn nào giải thích trực tiếp lý do phải úp nải chuối. Các nghiên cứu về nghi lễ Chăm chỉ cho biết chuối là một trong những lễ vật thường xuyên xuất hiện trên mâm cúng cùng với trầu cau, bánh lễ, cơm và các sản vật khác. (Di Sản Việt Nam⁠)

Tuy nhiên, trong tri thức dân gian và lời truyền dạy của nhiều vị chức sắc, người cao tuổi, cách lý giải phổ biến nhất là nải chuối úp xuống tượng trưng cho sự kính cẩn dâng lên thần linh và tổ tiên. Những quả chuối hướng xuống giống như hình ảnh cúi đầu trước bề trên. Đây không phải tư thế nhận lấy mà là tư thế dâng hiến.

Một cách hiểu khác cho rằng đây là quy cách nghi lễ được lưu truyền từ nhiều thế hệ. Người xưa làm như thế nào thì con cháu tiếp tục làm như thế ấy để giữ đúng phép tắc của ông bà. Trong văn hóa Chăm, rất nhiều chi tiết nghi lễ được bảo tồn bằng truyền khẩu qua các đời, đôi khi nghi thức vẫn còn nguyên vẹn nhưng lời giải thích ban đầu đã dần thất truyền. (Dân tộc & Phát triển⁠)

Có thể vì vậy mà khi được hỏi lý do, nhiều vị cao niên chỉ trả lời đơn giản: “Ông bà xưa làm vậy nên mình làm theo vậy”. Câu trả lời nghe có vẻ ngắn gọn nhưng lại phản ánh một thực tế rất quan trọng của văn hóa truyền thống: không phải giá trị nào cũng được lưu giữ bằng sách vở, mà nhiều khi được bảo tồn bằng chính sự thực hành liên tục của cộng đồng.

Cho đến hiện nay, cách giải thích hợp lý nhất vẫn là nải chuối úp xuống mang ý nghĩa kính lễ, khiêm cung và dâng hiến trước tổ tiên cùng các đấng thiêng liêng.

Chi tiết tại nhóm: CỘNG ĐỒNG CHĂM VIỆT NAM.

17/06/2026

Niềm tin tâm linh của người Chăm Bà La Môn được hình thành trên nền tảng tín ngưỡng bản địa kết hợp với những ảnh hưởng của Ấn Độ giáo từ nhiều thế kỷ trước.

Chi tiết tại nhóm: CỘNG ĐỒNG CHĂM VIỆT NAM.

Truyền thuyết về các dòng vương tôn Theo truyền thuyết, các dòng vương tôn cầm quyền tại Champa đều xuất thân từ hai dòn...
17/06/2026

Truyền thuyết về các dòng vương tôn

Theo truyền thuyết, các dòng vương tôn cầm quyền tại Champa đều xuất thân từ hai dòng họ lớn. Mỗi dòng họ lấy một vật tổ (totem) làm biểu tượng.

Dòng vương tôn ở phía Nam lấy cây Cau (Kramukavansa) làm biểu tượng, những nhà nghiên cứu gọi là chi bộ, bộ tộc hay thị tộc Cau.

Dòng vương tôn ở phía Bắc lấy cây Dừa (Narikelavansa) làm biểu hiệu, gọi là chi bộ, bộ tộc hay thị tộc Dừa.

Chỉ những truyền nhân xuất thân từ hai dòng họ này mới được công nhận lên ngôi vua, tức phải thuộc đẳng cấp Brahman và Ksatriya.

Những người dân thường, cho dù có tài giỏi hay anh dũng đến đâu cũng không được công nhận là vua nếu không chứng minh có liên hệ huyết thống đến hai dòng họ này, tức phải do một phụ nữ mang dòng máu vương tôn sinh ra.

Trong lịch sử Champa, nhiều người xuất thân là dân thường phải biện hộ có thần linh yểm trợ để lên ngôi vua như Phạm Văn (nguyên là một người chăn dê gốc Hoa), Lưu Kỳ Tông (một người Việt muốn lên làm vua nhưng không được dân chúng tuân phục) hay nhiều vị tướng khác sau khi đã hạ đối thủ chính trị.

Thật ra người dân thường khó giữ được ngôi cao trong xã hội Champa vì không bao giờ có cơ hội, hơn nữa những người thuộc giai cấp vương tôn, đặc biệt là giới vương tôn nữ phái, chỉ lập gia đình với những dòng vương tôn với nhau, do đó không có những cuộc hôn nhân không môn đăng hộ đối và ít có những cuộc hôn nhân dị chủng, dị giáo.

Phụ nữ quí tộc Chăm chỉ chọn chồng cùng đẳng cấp, đa số cung phi của các vua Chăm đều xuất thân từ các gia đình quí tộc.

Khi một vua Champa cưới một người vợ ngoại quốc, ông ta chỉ có thể lập gia đình với con gái của những vua chúa thuộc các vương triều khác, chứ không thể lấy một người thường dân.

Chi tiết tại nhóm: CỘNG ĐỒNG CHĂM VIỆT NAM.

Từ thế kỷ XVII, khi các chúa Nguyễn lựa chọn Phú Xuân làm trung tâm chính trị và văn hóa của Đàng Trong, vùng đất Thuận ...
17/06/2026

Từ thế kỷ XVII, khi các chúa Nguyễn lựa chọn Phú Xuân làm trung tâm chính trị và văn hóa của Đàng Trong, vùng đất Thuận Hóa Phú Xuân đã trở thành không gian giao thoa mạnh mẽ giữa nhiều cộng đồng cư dân, trong đó có người Chăm.

Trước khi trở thành kinh đô của triều Nguyễn, khu vực này từng nằm trong vùng ảnh hưởng lâu đời của vương quốc Champa.

Dấu ấn Chăm không chỉ hiện diện qua hệ thống đền tháp, địa danh hay tín ngưỡng dân gian mà còn lan tỏa sâu rộng vào đời sống nghệ thuật của vùng đất cố đô.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nghệ thuật cung đình Huế không hình thành từ một nguồn duy nhất mà là kết quả của quá trình tiếp nhận và chọn lọc nhiều yếu tố văn hóa khác nhau.

Bên cạnh nền tảng âm nhạc cung đình Đại Việt và ảnh hưởng từ Trung Hoa, nghệ thuật Chăm đã góp phần tạo nên diện mạo riêng cho âm nhạc, múa và mỹ thuật cung đình thời Nguyễn.

Trong lĩnh vực âm nhạc, một số nhạc cụ, tiết tấu và phương thức diễn xướng mang màu sắc lễ nghi của cư dân miền Trung được cho là có sự kế thừa từ truyền thống âm nhạc Chăm.

Các loại trống, kèn hơi và nhịp điệu mang tính nghi lễ đã được tiếp biến, điều chỉnh để phù hợp với không gian cung đình.

Đối với nghệ thuật múa, sự uyển chuyển trong động tác tay, cách di chuyển theo đội hình và tính biểu cảm giàu tính tượng trưng của một số vũ khúc cung đình cho thấy sự tương đồng với nghệ thuật múa Chăm truyền thống.

Tuy nhiên, đây không phải là sự sao chép nguyên bản mà là quá trình cải biên và cung đình hóa nhằm phù hợp với nghi thức và thẩm mỹ của triều Nguyễn.

Trong lĩnh vực mỹ thuật, ảnh hưởng của nghệ thuật Chăm có thể nhận thấy qua nhiều họa tiết trang trí, mô típ hoa lá, hình tượng linh vật và kỹ thuật tạo hình trên kiến trúc cung đình. Sự kết hợp giữa yếu tố bản địa và phong cách cung đình đã góp phần tạo nên vẻ đẹp riêng biệt của di sản văn hóa Huế.

Sự giao thoa giữa văn hóa Việt và Chăm tại Thuận Hóa Phú Xuân diễn ra trong nhiều thế kỷ, tạo nên những lớp trầm tích văn hóa phong phú.

Chính quá trình tiếp biến ấy đã góp phần làm nên bản sắc độc đáo của nghệ thuật cung đình triều Nguyễn, đồng thời phản ánh sự đa dạng và sức sống bền bỉ của các giá trị văn hóa bản địa trên dải đất miền Trung.

Nghiên cứu về nghệ thuật cung đình Huế vì thế không thể tách rời vai trò và đóng góp của văn hóa Chăm trong tiến trình lịch sử. Những ảnh hưởng ấy vẫn hiện diện trong âm nhạc, vũ đạo và mỹ thuật cung đình, trở thành một phần quan trọng trong di sản văn hóa Việt Nam ngày nay.

Nguồn tham khảo:

– Georges Maspero, Le Royaume de Champa, Paris, 1928.

– Ngô Văn Doanh, Văn hóa Chăm Pa, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, 2002.

– Trần Văn Khê, Âm nhạc truyền thống Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, 2001.

– Phan Thuận An, Văn hóa Huế, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2005.

– Nguyễn Hữu Thông (chủ biên), Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2001.

– UNESCO, Nhã nhạc cung đình Việt Nam, Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

– Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, các công trình nghiên cứu về nghệ thuật cung đình triều Nguyễn.

Chi tiết tại nhóm: CỘNG ĐỒNG CHĂM VIỆT NAM.

15/06/2026

Cả hai vị chức sắc đều khoác trên mình bộ lễ phục màu trắng truyền thống của Chăm Bà Ni. Tuy nhiên, nếu quan sát kỹ từng chi tiết, có thể nhận thấy sự khác biệt rõ rệt giữa trang phục Acar của cộng đồng Chăm Bà Ni ở Ninh Thuận và Bình Thuận.

Vị Acar đứng bên trái là đại diện cho cộng đồng Chăm Bà Ni ở Ninh Thuận. Bộ lễ phục gồm áo dài trắng được may theo kiểu rộng và thẳng, thân áo buông suông từ vai xuống đến mắt cá chân. Thiết kế tổng thể khá đơn giản, ít đường may trang trí, không nhấn mạnh các chi tiết tạo hình. Phần cổ áo được cắt kín đáo, hàng khuy cài phía trước được giấu khéo léo, tạo nên vẻ trang nghiêm và thanh thoát.

Khăn đội đầu của Acar Ninh Thuận cũng mang nét đặc trưng riêng. Khăn trắng được quấn gọn gàng thành nhiều lớp, ôm sát phần đầu và tạo thành các nếp gấp cân đối. Toàn bộ trang phục thể hiện sự mộc mạc, giản dị nhưng vẫn toát lên vẻ uy nghiêm của người thực hành nghi lễ.

Trong khi đó, vị Acar đứng bên phải là đại diện cho cộng đồng Chăm Bà Ni ở Bình Thuận. Dù vẫn sử dụng màu trắng làm chủ đạo, bộ trang phục lại có nhiều điểm khác biệt về kiểu dáng.

Áo dài được may gọn hơn, thân áo không quá rộng và có thêm các đường viền trang trí ở phần ngực, tạo nên điểm nhấn rõ rệt. Tà áo phía trước ngắn hơn lớp áo bên trong, tạo cảm giác nhiều lớp thay vì một thân áo liền mạch như trang phục ở Ninh Thuận.

Điểm khác biệt dễ nhận thấy nhất nằm ở khăn đội đầu. Khăn của Acar Bình Thuận được quấn cầu kỳ hơn với phần đỉnh khăn cao và nhiều lớp vải xếp chồng lên nhau. Đặc biệt, hai dải vải màu đỏ được thả xuống hai bên tai tạo nên nét nhận diện riêng biệt mà không phải địa phương nào cũng có.

Sự khác biệt trong trang phục giữa Acar Ninh Thuận và Bình Thuận không phản ánh sự khác nhau về giáo lý hay chức năng tôn giáo.

Đây là kết quả của quá trình phát triển lịch sử riêng của từng cộng đồng cư trú, sự lưu truyền tập quán của từng dòng tộc và sự thích nghi với môi trường văn hóa địa phương qua nhiều thế hệ.

Dù khác nhau về kiểu áo hay cách quấn khăn, cả hai bộ trang phục đều giữ nguyên những yếu tố cốt lõi của Chăm Bà Ni. Màu trắng vẫn là màu sắc chủ đạo, tượng trưng cho sự thanh khiết, lòng thành kính và tính thiêng liêng trong các nghi lễ cộng đồng.

Chính những khác biệt nhỏ trong trang phục đã góp phần tạo nên sự phong phú của văn hóa Chăm Bà Ni.

Mỗi địa phương có cách gìn giữ và thể hiện bản sắc riêng, nhưng tất cả đều cùng chung một cội nguồn văn hóa và cùng có trách nhiệm bảo tồn những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc Chăm.

Chi tiết tại nhóm: CỘNG ĐỒNG CHĂM VIỆT NAM.

15/06/2026

Address

Phan Rang- Thap Cham

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Cộng Đồng Chăm Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share