27/05/2021
Chuyện về Liệt sĩ Phạm Ngọc Lẫm – người Nộn Khê
Ông Lẫm hồi trẻ đẹp trai nhất làng, tính tình vui vẻ xởi lởi, nói chuyện có duyên, luôn tươi cười hòa nhã với mọi người mà lại rất can trường. Ở làng tôi có ông (Phạm) * Tụy đi cày nhưng lại hay làm thơ, làm vè. Nhân việc bác Lựu bị lí trưởng bấy giờ là ông cửu Mỵ đánh ba roi, ông liền vận luôn thành thơ:
Có mấy lời hỏi thăm bác Lựu:
Cớ làm sao bác chịu ba roi?
Nhiêu thì bác đã mua rồi,
Được lên chức sắc, được ngồi cỗ ba,
Mà sao ông lí làng ta
Lại coi ông chẳng khác là bạch đinh?
Chậm chân trống thúc ra đình,
Cũng ba roi, thật tội tình cho ông!
Chả là ở làng tôi hồi đó, ông cửu Mỵ thấy ai có máu mặt là bắt phải mua nhiêu mua xã. Tục lệ đề ra là mua nhiêu bảy đồng ăn vọng cỗ ba, khi trong làng có việc đình đám thì không phải đi vác cờ khiêng kiệu. Chưa là chức sắc, có trống gọi ra đình mà ra chậm là bị cửu Mỵ hạ lệnh cho tuần đinh nọc đánh liền. Bán ruộng sâu cầu miếng chín, ông Lựu chật vật mãi mới lo được cái chức nhiêu ăn vọng cỗ ba. Nhưng nhiêu vẫn còn kém xã chính xã sử, ăn vọng cỗ hai. Cửu Mỵ bảo mua xã chính, ông không mua. Ông ta thấy ông đi buôn bán lời lãi chắc cũng khá, muốn moi tiền ông mà không được, nên thù. Thấy ông ra đình chậm, ông ta vẫn phạt, ý chừng bảo rằng nếu mua tiếp xã chính xã sử ăn vọng cỗ hai thì mới thoát cái “vòng kim cô” đó.
Bác Lẫm khen ông Tụy làm thơ châm biếm đả kích như thế cũng tốt, nhưng lịa bảo là chưa đủ, cần phải cho cửu Mỵ mấy quả đấm vào giữa mặt thì mới chặn được cái thói hống hách của ông ta.
Bác Lẫm biết rõ bọn cường hào quen thói đục khoét của dân vì chưa bị cảnh cáo nên càng ngày càng làm càn như thế. Đã nhiều lần, hễ thù ghét nhà ai, chúng lại cho người đem rượu lậu bỏ và vườn nhà người đó, rồi cho tuần đinh đến khám xét, bắt phạt. Thu thuế thì khỏan phụ thu lạm bổ lại nặng hơn là thuế chánh tang. Có lần bác Lẫm tập hợp nông dân lại, bảo chờ huyện Tước về rồi vạch tội bọn cường hào, sau đó hãy nộp thuế.
Bác Lẫm nói thẳng cho mọi người trong nhà biết là nhất định sẽ cho cửu Mỵ một trận. Bà nội chúng tôi lại là cô ông cửu Mỵ nghe thấy thế liền can “Tao còn sống đây thì đừng có làm thế. Mày để tao chết rồi mày hãy đánh nó”.
Bác Lẫm không nghe bà nội, vẫn đón cửu Mỵ ở chỗ trường học đầu làng, nay là cửa hàng bán bách hóa, nói rõ tội lỗi của ông ta rồi mới cho mấy cái bạt tai. Cửu Mỵ sợ khiếp vía. Từ đó ông ta không dám hống hách như trước nữa.
Bác Lẫm thường hay ra thành phố Nam Định làm gì đó nhiều ngày rồi mới về. Sau hôm đánh cửu Mỵ một thời gian dài, bác đi đâu xa cũng không ai rõ.
Một hôm vào đầu năm Canh Ngọ (1930), bỗng gia đình được tin bác Lẫm bị bắt, rồi sau đó lại bị kết án hai mươi năm tù khổ sai và mười lăm năm quản thúc. Đến bấy giờ, dân làng mới hay bác Lẫm hoạt động trong hội kín từ hồi còn học ở Nam Định nên mới vắng nhà luôn như vậy.
Thế rồi, sau đó bác Lẫm lại được bảo lãnh ra. Đây là chuyện nhân duyên tình nghĩa hiếm có trên đời, rất là cảm động.
Thì ra ở Nam Định, bác Lẫm hoạt động cùng với các bạn học trường thành chung những năm trước và thường họp hành trong nhà một cô bạn tên là Chính, bố mẹ rất giàu, có những cửa hàng tấm lớn nhất nhì thành phố, bán đủ các loại vải. Tuy giàu có nhưnggia đình cô Chính không ai ưa gì bọn Pháp, nên sẵn sàng giúp đỡ những người có lòng yêu nước. Ông cụ quyết tâm cho con đi học chữ Quốc ngữ, chữ Tây, nhưng lòng ông vẫn không quên chữ thánh hiền, trân trọng đạo Nho có một không hai.
Chả vậy mà cụ giao cho bác Hiền là quản gia một công việc rất đặc biệt là hằng ngày phải đi quanh phố thấy giấy chữ Nho thì nhặt về đốt đi, không để cho người qua lại dẫm lên hoặc làm ô uế. Cụ rất hài lòng khi thấy con cái mình cũng có chí hướng cứu nước, nen việc bác Lẫm ở trong nhà, ciuj cảm thấy là dịp tốt để con cái mình mau chóng trưởng thành.
Hôm bọn mật thám đưa lính về nhà cô Chính khám xét tìm bắt bác Lẫm, bác Lẫm được gia đình chỉ chỗ nấp ở sau ban công rất kín đáo. Nhưng khi nghe thấy chúng tra tấn mọi người trong nhà, đạp bà cụ ngã lăn xuống vầy thang kêu thất thanh và nghe chúng chỉ hỏi “Phạm Văn Lẫm đâu?”, bác Lẫm, hẳn là không đành lòng để liên lụy đến gia đình cô Chính nên phải ra nhận “Tôi đây!”.
Gia đình cô Chính càng cảm kích cái chí khí của bác Lẫm nên đã quyết định bán tài sản nộp tiền xin bảo lãnh cho bác Lẫm ra. Thời ấy cứ có tiền là xong hết, dù là trọng án. Kết quả phải bán gần hết mấy cửa hàng mới lo xong.
Bác Lẫm ra tù. Người đẹp trai thế mà ở tù có ít ngày ra trông như ông lão, xanh xao vàng võ, đầu trọc lốc như củ chuối. Cảm tạ tấm lòng nhân hậu của gia đình cô Chính, bác Lẫm đã xin với hai cụ được làm con cái trong nhà tức là được làm rể hai cụ, được lấy cô Chính làm vợ. Các cụ chấp thuận ngay vì đã sẵn có cảm tình với cậu học trò thông minh và rất can trường này.
Chỉ có điều, thời gian đó bác Lẫm đã có người yêu ở dưới Bình Hải tên là Thúy. So sánh giữa hai cô, thì cô Thúy đẹp hơn nhiều lại còn ít tuổi, da trắng, tóc dài, mắt bồ câu. Còn cô Chính, ngược lại, hơn bác Lẫm ba tuổi, da ngăm ngăm, mi mắt sập xuống như là bị đau mắt hột. Nếu có hơn chỉ là ở trình độ văn hóa, cô Thúy mới học xong tiểu học, cô Chính đã có bằng thành chung, nói chuyện với bác Lẫm toàn nói bằng tiếng Pháp.
Bác Lẫm phải tạ lỗi với cô Thúy và gia đình bên đó, bởi cái ơn nghĩa với gia đình cô Chính nó nặng quá, nó lớn quá, chỉ có cách như thế mới đền đáp được.
Chia tay nhau, nhưng xem ra cô Thúy còn vương vấn tơ lòng nên bức thư cuối cùng gửi cho bác Lẫm, cô ấy đã có mấy câu vận Kiều rất hay. Bác Lẫm lại cho tôi đọc thư, nên tôi vẫn còn nhớ mấy câu như thế này:
Có cây có lá sẵn sàng,
Có hiên Lãm Thúy nét vàng chưa phai.
Mừng rằng chốn ấy chữ bài,
Mà ba sinh hẳn duyên trời chưa cân.
Trăm năm trong cõi hồng trần,
Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi!...
Đặc biệt sau này hai cô lại quý nhau lắm. Cứ vài tháng một lần, cô Thúy lại gánh sang cho cô Chính một gánh gạo vừa nếp vừa tẻ, rồi chị em tâm sự xem vẻ rất là thân mật.
Bà Phạm Minh Hằng, con gái đầu lòng của ông Phạm Văn Lẫm và bà Lê Thị Chính năm nay đã 58 tuổi. Cô kể lại rằng, từ khi cô lên năm, cô không thấy cha ở nhà mấy khi. Năm đó cậu em trai của cô, cậu Phạm Bá Cường mới được hai tuổi. Năm cô lên bảy, thì cha đi biệt không thấy về, ba mẹ con dắt díu nhau ra thành phố Nam Định sinh sống. Cô có nghe mẹ nói là một lần ông Hào ở phố Hàng Tiện cùng hoạt động với cha cô đến nhà báo tin là thượng cấp định cho bà sang Trung Quốc học, nhưng bà từ chối, “Anh ấy đi xa rồi, tôi ở nhà nuôi con và công tác ở địa phương thôi”. Mẹ tôi trả lời ông Hào như vậy.
Trước ngày khởi nghĩa tháng 8-1945, cha tôi có về rất đột ngột song tỏ ra mừng rỡ và có nói với mẹ con tôi rằng: “Ta sắp khởi nghĩa giành lại chính quyền. Mẹ con ở nhà cứ yên tâm. Nước nhà độc lập, anh sẽ về đón cả ba mẹ con vào Huế”. Nhưng từ sau ngày đó là bặt tin tức, suôt bốn mươi chín năm không còn biết cha tôi hoạt động ở địa bàn nào, sống chết ra sao? Mẹ tôi nghĩ nhiều về những chuyện rủi ro hơn là những điều may mắn đối với cha tôi. Bởi vì bà đoán rằng, ông đã được Trung ương điều vào công tác ở phía nam từ mấy năm trước đó.
Giá mà cha tôi hi sinh có giấy báo về thì đã đành một lẽ. Đằng này bặt tin tức, không biết ông ở đâu, làm gì mà chẳng có thư từ về nhà nên dư luận lại cho rằng, có thể ông đi với Quốc dân đảng hoặc là đi theo địch cũng nên. Mẹ tôi rất khổ tâm nên trước khi qua đời đã dặn đi dặn lại chị em tôi phải gắng tìm tung tích xem bố làm gì, ở đâu, “mẹ tin rằng, bố con không bao giờ phản dân, phản nước”. Mẹ tôi khẳng định như thế.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, mẹ tôi còn có một điều phải day dứt không yên chẳng kém gì việc cha tôi biệt vô âm tín. Đó là chuyện em trai tôi, em Phạm Bá Cường, giữa những ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bị cuốn theo dòng người tản cư lạc đi phương nào cũng mất tích luôn. Năm đó, em tôi mới lên chín tuổi. Bố mẹ tôi chỉ sinh được có hai chị em tôi. Em Cường là niềm an ủi không thể lấy gì bù đắp được đối với mẹ tôi, nhất là khi cha tôi đi xa. Vậy mà...
Nhưng rồi, rất tình cờ, mẹ con, chị em tôi lại gặp được nhau, khi đó em tôi đã là một sĩ quan Quân đội nhân dân. Chuyện là như thế này:
Ông Phạm Bá Cường kể:
Khi đó tôi còn nhỏ mà người tản cư già trẻ lớn bé thì đông, kẻ gồng người gánh xô đẩy nhau, ai cũng lo quân giặc nó đuổi tới sau lưng. Sau khi lạc gia đình, thì tôi chỉ còn biết theo người lớn đi mãi, đi mãi. Thế là cuối cùng phiêu bạt lên tận huyện Thạch Thất, Sơn Tây, làm con nuôi một bà mẹ hiếm con ở thôn Cầu, xã Hạ Bằng. Bà đón tôi về khi tôi đang ngồi co ro ở góc chợ. Tôi coi bà như người mẹ thứ hai của mình bởi thật sự bà cũng thương tôi như con. Bà cho tôi ăn học đến nơi đến chốn. Lớn lên, tôi muốn đi bộ đội. Bà bảo hãy cưới vợ đi đã để rồi con có đi xa, con cũng được yêm tâm mà mẹ ở nhà, mẹ sẽ không phải lo gì vất vả. Thế là bà cưới vợ cho tôi. Đám cưới linh đình. Vợ tôi là em gái anh Nguyễn Văn Châu, anh hùng quân đội. Công dưỡng dục của mẹ nuôi tôi đối với tôi không thể nào tính đếm được. Nó lớn lắm!
Những năm ở bộ đội, tôi chỉ nhớ quê gốc của mình có chữ “Bình” nên nghĩ nhiều đến Thái Bình. Vì thế, một lần nghỉ phép, tôi về Thái Bình tìm quê hương gia đình. Nhưng không có kết quả gì. Ít lâu sau, đơn vị tôi chuyển về đóng quân và tập luyện ở một vùng thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.Tôi chợt nhận ra nơi đây có những hình ảnh quen quen. Lật lại trí nhớ tuổi thơ, tôi cảm thấy hình như đã có những lần tôi đi trên con đường có rặng nhãn giông giống như thế này. Chỉ khác là những gốc nhãn bây giờ có lớn hơn, sần sùi hơn một chút. Tôi nói với một số anh em trong đơn vị rằng, có thể đây chính là quê tôi. Các đồng chí ấy khuyến khích tôi đi sâu vào trong từng thôn xóm. Cuối cùng tôi nhận ra cái phiến đá lớn ở cầu ao nhà tôi mà thuở nhỏ chúng tôi thường ngồi tắm. Cái ao rộng có cây cậy trên một ụ đất ở giữa ao vẫn còn dấu tích xưa kia, ông nội tôi nuôi chim bồ câu. Đúng là làng tôi, không thể nào khác được!
Tin đồn có một anh bộ đội lưu lạc từ nhỏ nay tìm thấy quê, lan đi rất nhanh. Bà Tư là người đầu tiên đến nhận: “Đúng anh là con tôi rồi. Năm đói Ất Dậu ấy, bố anh chết đói, tôi không nuôi nổi nên đành phải giao anh cho một bà ở chợ Rồng trên thành phố Nam Định nuôi đấy”. “Không phải - Tôi trả lời bà Tư - bố cháu không chết đói. Bố cháu đi làm cách mạng, năm 1945 vẫn còn sống, sắp đến ngày khởi nghĩa, cháu vẫn còn gặp kia mà”.
Một ông, thân hình quắc thước, đôi mắt tinh nhanh nhìn tôi một lúc lâu rồi bỗng kêu lên:
- Đúng là con trai ông Lẫm rồi! Giống lắm! Cả cái dáng đi cũng giống!
Khốn một nỗi, tôi cũng không còn nhớ cả tên cha, tên mẹ mình. Ông ấy nói tiếp:
- Chú nào chạy đi tìm ông Cân, bảo ra mà nhận con cháu đây này!
Ít lâu sau, tôi mới biết ông Cân với bố tôi là anh em con chú con bác, tôi phải gọi ông ấy bằng chú. Nhưng ông Cân cũng không nhận ra tôi nên mới bảo phải cho người xuống Kim Sơn tìm bà Chinh về thì mới bảo đảm chắc chắn tôi có phải là con trai ông Lẫm không. Mẹ tôi cùng cơ quan tản cư vào Thanh Hóa, nhưng khi hồi cư lại về Kim Sơn làm ăn sinh sống. Mẹ tôi về cũng ngỡ ngàng nửa tin nửa ngờ. Vì tính ra đã gần ba chục năm trời, tất cả đều thay đổi. Bản thân tôi cũng không nhận ra hình dáng mẹ mình.
Một lúc lâu sau, bỗng bà như sực nhớ, vội vàng hỏi tôi:
- Anh bộ đội này! Mong anh thứ lỗi, cho tôi hỏi, ở chỗ xương hông của anh có vết sẹo gì không?
- Có ạ!
- Thôi đúng rồi! Mẹ tôi reo lên. Phạm Bá Cường, con của mẹ đây rồi! Hôm ấy mẹ cầm con dao phay đuổi gà vào ăn thóc, mẹ ném dao chẳng may văng vào con, máu me lội lụt. Mẹ phải khóc suốt đêm vì chuyện không may đó...
Thật là kì lạ. Điều không may từ trước đây lại trở thành điều may mắn để mẹ con nhận ra nhau sau gần ba mươi năm lưu lạc.
Cô giáo Phạm Minh Hằng kể tiếp: Tìm thấy Cường, nhất là sau này, thấy cậu ấy trưởng thành, ở bộ đội chuyển ngành về Bộ Xây dựng, cuối cùng làm Phó giám đốc công ty cấp thoát nước, là mẹ tôi mừng lắm.
Nhưng bà vẫn canh cánh bên lòng về số phận của cha tôi. Bởi thế, lời dặn dò cuối cùng và cũng là lời dặn dò duy nhất trước khi mẹ tôi nhắm mắt chỉ có một câu: Hai chị em phải cố gắng tìm ra tung tích của bố, đừng quên!
-- Chú Uẩn là em trai của cha tôi -- Cô giáo Phạm Minh hằng kể tiếp -- Chú vào Sài gòn làm ăn từ trước năm khởi nghĩa 1945. Sau ngày giải phóng miền Nam, mẹ tôi có vào thăm chú thím, cũng là để dò hỏi tin tức về cha tôi. Nhưng không kết quả gì. Thực ra chú thím tôi đã giấu không cho mẹ tôi biết mà thôi. Mãi tới năm 1994, sau khi mẹ tôi đã qua đời, con gái tôi, cháu Vũ Thu Hạnh, giáo viên Trường Đại học Luật mới có điều kiện vào thành phố Hồ Chí Minh làm tiếp công việc mà bà cháu dặn lại.
Thời gian này, chú Uẩn đã qua đời. Nhưng may sao, bà thím vẫn còn nhớ tất cả mọi chuyện và đã không giấu giếm cháu Thu Hạnh điều gì.
“Trước hết, bà phải nói ngay để cháu yên tâm rằng ông ngoại cháu là một cán bộ cách mạng kiên cường. Còn chuyện riêng tư thì âu cũng là do hoàn cảnh nó tạo nên mà thôi. Đúng là đầu năm 1955, ông ngoại cháu đã đến đây thăm ông bà. Ông đến cùng với giáo sư Nguyễn Thị Diệu và ba người con. Giáo sư Nguyễn Thị Diệu là Ủy viên ban chấp hành hội Liên hiệp phụ nữ Nam bộ, người dẫn đầu phong trào học sinh sinh viên đấu tranh đòi thi hành Hiệp đinh Genève thống nhất đất nước, bảo vệ hòa bình. Cuối năm 1955, bà ấy đã bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt và thủ tiêu. Ông bà liền cắt mẩu báo đăng tin về cái chết của bà Diệu cho vào hộp đặt lên bàn thờ để nhớ ngày cúng giỗ. Còn ông ngoại cháu vẫn tiếp tục hoạt động cho đến năm 1958 thì qua đời, ông bà lại cắt tiếp mẩu báo người ta đăng tin ông ngoại cháu chết, nhưng lại là chết trong xà lim, và cũng để chung trong cái hộp có mẩu tin về bà Diệu bị thủ tiêu. Hằng năm cứ đến ngày đó, ông bà lại làm mâm cơm cúng ông ngoại cháu và giáo sư Nguyễn Thi Diệu. Vì công việc của ông ngoại cháu bí mật lắm, nên ông bà cũng chỉ biết có thế thôi...”
Nguồn tin cháu Vũ Thu Hạnh mang về thật vô cùng giá trị. Như thế là cha tôi vẫn là người mà mẹ tôi đã đinh ninh trong dạ cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay rằng ông là một con người chân chính.