Họ Bùi Chiếm xạ Nộn Khê

Họ Bùi Chiếm xạ Nộn Khê Trang lưu giữ thông tin dòng họ Bùi Chiếm xạ làng Nộn Khê, Yên Từ, Yên Mô, Ninh Bình

Họ Bùi Chiếm xạ Nộn Khê di cư từ thôn Lục Nộn, Duy Tiên, Hà Nam từ đời Lê Hồng Đức.

Thông báo quan trọng về việc giỗ cụ Thuỷ tổ Bùi Công Mẫn tại Hà Nội ngày 17/5/2026. Địa điểm số 2 ngõ 31 Hoàng Cầu, Hà N...
13/05/2026

Thông báo quan trọng về việc giỗ cụ Thuỷ tổ Bùi Công Mẫn tại Hà Nội ngày 17/5/2026. Địa điểm số 2 ngõ 31 Hoàng Cầu, Hà Nội.

08/04/2026

Tình cờ đọc Đại Việt sử ký thấy một số sự kiện lặp đi lặp lại nhiều quá, nên rất chú ý. Hoá ra đó là việc sử chép các chúa Trịnh rất hay đem quân đi đánh họ Mạc rồi đánh võng ở Yên Mô kiếm thóc lúa trâu bò lợn gà. Bảo sao họ Bùi ta ở đất Yên Mô xưa kia có nhiều đất đai, học hành đỗ đạt mà từ những năm loạn lạc trở về sau gia sản suy sút hẳn. Người đi học cũng thưa dần.
Có lẽ ít vùng nào mà trong 50 năm lại có đến hàng chục cuộc càn quét cướp bóc của chính quyền đến như vậy.

(Từ năm 1533 đến 1592 gọi là thời Nam Bắc Triều, họ Mạc nắm quyền từ Ninh Bình trở ra Bắc. Họ Trịnh cùng vua Lê nắm quyền từ Thanh Hoá trở vào)

1. Năm Ất Tỵ - 1545, Mạc Quảng Hoà năm thứ 5; Tháng 4, vua lấy Thiếu uý Hùng quốc công Đinh Công làm thái uý, sai coi giữ ngự dinh. Vua thân hành đem các tướng đi đánh miền Sơn Nam, đến huyện Yên Mô đóng dinh.
2. Năm Đinh Tỵ, Thiên Hựu năm thứ 1 [1557]. Tháng 7, họ Mạc sai Kính Điển đem quân xâm phạm Thanh Hoa, đến sông Thần Phù và vùng Tống Sơn, Nga Sơn, đốt phá cầu phao. Thái sư Lượng quốc công Trịnh Kiểm sai Thanh quận công giữ Nga Sơn, Thuỵ quận công Hà Thọ Tường giữ Tống Sơn, ai nấy đều đem tinh binh đi chống giữ, quân Mạc không tiến lên được. Thái sư đích thân chỉ huy binh tượng, ngầm tiến đến chân núi Yên Mô thẳng tới cửa biển, gặp giặc, tung quân ra đánh, lại đánh úp phía sau, tiếng súng liên hồi, trên dưới đánh kẹp vào. Thái sư sai người huyện Hoằng Hoá là Vũ Lăng hầu lao thuyền xông vào đánh, gặp thuyền Mạc Kinh Điển, Vũ Lăng hầu tung người nhảy qua, vung gươm chém người cầm dù đứt làm hai đoạn rớt xuống sông. Kinh Điển trở tay không kịp, nhảy xuống sông trốn thoát. Quân Mạc đại bại, bỏ thuyền chạy trốn vào núi rừng. Kính Điển chỉ thoát được thân, vào hang núi ẩn náu 3 ngày, đói quá, ban đêm thấy cây chuối trôi qua cửa hang, liền ôm chuối trôi theo dòng để tìm đường về. Vài ngày sau, đến sông Yên Mô, gặp người đánh cá ở xã Trà Tu cứu thoát. Đến khi về, Kính Điển bảo cử người ấy làm Phù Nghĩa hầu.
3. Năm Giáp Tý, [Chính Trị] năm thứ 7 [1564] , Tháng 4, thái sư đốc quân đánh ra miền giữa lộ Sơn Nam, Thế tử Trịnh Cối, Trịnh Tùng cùng đi theo. Quân đến phủ Trường Yên, đánh phá các huyện Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khang.
4. Năm Mậu Thìn, [Chính Trị] năm thứ 11 [1568]. Mùa hạ, tháng 4, Thái sư đương ốm, cố gượng ra trận, đánh phá các huyện Yên Mô, Yên Khang, Phụng Hoá, Gia Viễn, hạ lệnh thu thóc lúa rồi về.
5. Năm Quý Mùi, [Quang Hưng] năm thứ 6 [1583] Tháng 10, Tiết chế Trịnh Tùng đốc suất đại quân ra vùng Sơn Nam Hạ lộ, đánh dẹp các huyện Yên Mô, Yên Khang, thu lấy thóc lúa rồi rút về.
6. Năm Giáp Thân, [Quang Hưng] năm thứ 7 [1584]. Tháng giêng, Phủ tiết chế lại xuất quân đánh dẹp các huyện Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khang, lại tiến quân đi tuần huyện Phụng Hoá, phủ Thiên Quan.
7. Năm Mậu Tý, [Quang Hưng] năm thứ 11 [1588] Tháng 4, Phủ tiết chế đem quân ra đánh các huyện Yên Mô, Yên Khang, dẹp yên dân miền ấy rồi về.
8. Năm Mậu Tý, [Quang Hưng] năm thứ 11 [1588] Tháng 11, Tiết chế Trịnh Tùng bàn đem đại binh ra ải Phố Cát, đánh các huyện của phủ Trường Yên và Thiên Quan. Quân tới Yên Mô, Yên Khang, thu được rất nhiều trâu bò, gia súc và của cải của giặc rồi vượt sông Chính Đại, đến luỹ trại Dương Vũ đóng quân.
9. Năm Kỷ Sửu, [Quang Hưng] năm thứ 12 [1589]. Bấy giờ, họ Mạc lại bàn cử binh, sai Mạc Đôn Nhượng thống suất vệ sĩ và quân bốn trấn, định ngày cùng tiến đến địa phận Yên Mô, hẹn giao chiến với quan quân.
10. Năm Bính Thân, [Quang Hưng] năm thứ 19 [1596] Mùa đông, tháng 11, ngày 25, Phạm Hàng, người xã Thi Vụ, huyện Đại Yên, tự xưng là Thiên Nam chiêu thảo đô nguyên suý, ngày 27 vào chiếm giữ núi Đam Khê, huyện Yên Mô, đánh phá các xã gần đấy, đến đâu mọi người đều theo phục, hơn 1 tháng đã được hơn 1 vạn quân. Từ đó các phủ Trường Yên, Lỵ Nhân, giặc cướp đều nổi dậy, trở ngại nhiều cho người qua lại mà dân binh các xã Đồi Thượng phần nhiều theo đảng giặc. Cha con Lễ Giang hầu cũng dốc lòng theo phục. Tiết chế Trịnh Tùng sai Mỹ quận công Bùi Văn Khuê đem quân cùng với viên thổ quan Yên Mô là Lương quận công Nguyễn Thể đi đánh bắt được Phạm Hàng giải về Kinh chém.

13/09/2024

nguồn gốc từ "báo bản" (lấy trong sách Tam quốc).

Báo Bản là tên hội làng Nộn Khê. Đối với người học Hán Nôm thì nghĩa chữ này rất đơn giản, nhưng phân tích từng chữ thì lại gây rối cho người không thạo chữ Hán. Nay thấy trong Tam quốc diễn nghĩa có chữ này. Dịch thoát ý thì chỉ đơn giản là

Những nguyên tắc của câu đốiKhi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối được gọi là...
11/07/2024

Những nguyên tắc của câu đối
Khi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối được gọi là chỉnh đối hay đối cân.
Đối ý và đối chữ
• Đối ý: hai ý đối phải cân nhau mà đặt thành 2 câu sóng nhau.
• Đối chữ: phải xét 2 phương diện thanh và loại.
- Về thanh: thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại.
- Về loại: thực tự (hay chữ nặng như: trời, đất, cây...) phải đối với thực tự; hư tự (chữ nhẹ như: thì, mà, vậy, ru...) phải đối với hư tự; danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ; nếu vế đối này có đặt chữ Nho thì vế kia cũng phải đặt chữ Nho...
Số chữ và các thể câu đối
Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau:
• Câu tiểu đối: là những câu 4 chữ trở xuống.
• Câu đối thơ: là những câu làm theo lối đặt câu của thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.
• Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, gồm có:
- Lối câu song quan: là những câu 6 đến 9 chữ, đặt thành một đoạn liền
- Lối câu cách cú: là những câu mà mỗi vế chia làm 2 đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài
- Lối câu gối hạc hay hạc tất: là những câu mỗi vế có 3 đoạn trở lên.
Luật bằng trắc
• Câu tiểu đối:
o Vế phải: trắc-trắc-trắc
o Vế trái: bằng-bằng-bằng
• Câu đối thơ: phải theo đúng luật bằng trắc của hai câu thực và câu luận trong lối thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.
• Câu đối phú: Chữ cuối mỗi vế và chữ cuối mỗi đoạn phải bằng đối với trắc hoặc trắc đối với bằng. Khi mỗi vế đối có từ 2 đoạn trở lên thì nếu chữ cuối vế là trắc, các chữ cuối các đoạn trên phải là bằng và ngược lại. Nếu đoạn đầu hoặc đoạn dưới có đúng 7 chữ thì đoạn ấy thường theo luật thơ thất ngôn.

HÀNH ĐỘNG ĐÚNG SAI, DO TIM HAY NÃO?Bùi Đức Huyên Lương tâm là một từ có sức mạnh mơ hồ huyền bí, có khả năng xáo trộn su...
10/01/2024

HÀNH ĐỘNG ĐÚNG SAI, DO TIM HAY NÃO?
Bùi Đức Huyên

Lương tâm là một từ có sức mạnh mơ hồ huyền bí, có khả năng xáo trộn suy nghĩ của một con người, xáo trộn mọi hành động trong quá khứ và tượng lai, nó có tính tự vấn xem hành động nào của ta là có lương tâm hay không.
Bản chất về mặt ngôn ngữ thì chữ "lương tâm" là gì mà lại ghê gớm như vậy? Xét trong tiếng Anh, lương tâm được dịch là "conscience". Mà conscience là anh em gần với consciousness – sự ý thức, vậy có lẽ nó liên quan đến "ý thức" chăng? Đúng vậy! "Conscience" được từ điển Cambridge định nghĩa là khả năng kiểm soát kiến thức và phân biệt đúng sai của trí não, hay là "sự ý thức về đúng sai" và "sự biết" nói chung. Nhưng đó chỉ là cách mà người ta dịch từ "lương tâm" sang "conscience" hay là ngược lại khi làm từ điển mà thôi. Dịch là chuyển ngữ, chuyển hết ý được thì ít khi lắm, cùng lắm là tải được 70% ý nghĩa của từ nguyên gốc là tốt lắm rồi.
Cũng theo từ điển Cambridge thì lại có ví dụ minh họa từ conscience bằng câu She had a guilty conscience about the injured man - Cô ấy nhận thức được về sự tội lỗi đối với người đàn ông bị thương. Như vậy thì có cả lương tâm tội lỗi và lương tâm bình thường hay sao? Không ổn rồi. Vậy "conscience" chỉ là khả năng nhận biết tốt-xấu, đúng-sai, chứ chưa phải là "khả năng tốt".
Vì sao hành động đúng hay sai lại có liên quan đến trái tim?
Theo chữ Hán, "lương tâm" được viết là "良心" và được định nghĩa là "cái lòng tốt sẵn có mà trời phú cho mỗi người – từ điển Nguyễn Quốc Hùng". Chữ "tâm-心" nghĩa là quả tim - khá quen thuộc với người học chữ Hán thì chữ "lương-良" cũng là từ hay gặp như trong các từ "lương thiện", "hiền lương"… Vậy hiểu nôm na lương tâm là "trái tim tốt lành".
Chúng ta đều biết não óc có vai trò suy nghĩ, tính toán, ngôn ngữ, phê bình... và như vậy não óc có vai trò trong việc phân biệt phải-trái đúng-sai. Vậy trái tim có vai trò gì trong việc thể hiện lòng tốt và sự phân biệt đúng-sai, phải-trái mà người phương Đông lại dùng trái tim để phân biệt phải trái đúng sai? Ta thường nghe nói: người ấy có tâm tốt, tâm tính tốt, có trái tim nhân ái, "con tim", tâm trạng,.. Tất cả đều vì rằng: tuy não biết đúng sai nhưng trong cơ thể lại có một hệ thần kinh chỉ đạo các phản ứng của cơ thể (nó gồm hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm – hệ thần kinh tự chủ hoặc còn gọi là tự luật – theo Wikipedia), hệ thần kinh này sẽ phản ứng trước các vấn đề đúng-sai, phản đối-ủng hộ,… nhằm cân bằng tối ưu cho cơ thể. Vậy cơ thể, khi đứng trước một vấn đề có tính lựa chọn: làm hay không làm, tốt hay xấu, sẽ được quyết định bởi hệ thần kinh trên. Não óc chỉ có vai trò nhận tín hiệu âm thanh từ tai nghe truyền về, tính hiệu hình ảnh của mắt mang lại và trích xuất các thông tin cũ. Hệ thần kinh sẽ phản ứng với các tín hiệu nhận được. Và cơ thể chúng ta thường cảm nhận các nỗi sợ, vui mừng,… qua nhịp đập của quả tim, của huyết áp vì tim và máu chịu sự ảnh hưởng của hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Điều này lý giải vì sao những người chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lại cho rằng mọi tình cảm đều liên quan đến "tim" và trong chữ Hán, các từ ngữ liên quan đến tình cảm, cảm xúc con người lại có bộ tâm -心忄(tim) đứng bên cạnh. Vậy não óc biết đúng sai nhưng hệ thần kinh mới là kẻ gây ra cảm xúc của con người – thông qua tim. (Trong văn hóa phương Tây cũng đề cao vai trò của trái tim như hình ảnh trái tim Đức mẹ trong Thiên chúa giáo)
Vậy chúng ta hãy quay lại vấn đề "lương tâm" hay nói đúng hơn là quay về nghĩa nguyên gốc của từ "lương tâm" được diễn giải bằng tiếng Việt. Ta có thể định nghĩa nó lại như sau: "lương tâm là khả năng nhận biết đúng sai, tốt xấu v.v. của hệ thần kinh ".
Vậy con người ta đứng trước một vấn đề có tính lựa chọn. Ví dụ ta đứng trước quyết định phản ứng thế nào đối với kẻ đã gây cho ta sự khốn khổ nào đó. Trí não ta nhận những thông tin của kẻ đó: xấu xa, tàn ác, phản đối của kẻ đó đối với ta… và các thông tin đó khiến cho hệ thần kinh của ta kích hoạt. Lúc ấy lương tâm sẽ xuất hiện và làm vai trò của mình. Người "có lương tâm" sẽ không phản ứng hoặc chỉ phản ứng nhẹ, người "không có lương tâm" sẽ phản ứng mạnh, thậm chí tàn ác. Vậy để "có lương tâm", ta phải biết kiểm soát hệ thần kinh: thấy điều chướng tai g*i mắt, thấy mối thù, sự khó chịu ta không căng thẳng dẫn đến các hành động thiếu kiểm soát (có thể dễ đến các hành động vô lương tâm) ta phải kiểm soát được gốc rễ của các cảm xúc được thể hiện qua nhịp tim, mạch máu: đó là phản ứng của hệ thần kinh.
Làm thế nào kiểm soát được các cảm xúc không thân thiện đó?
Trong cuốn Khí công thiền pháp (của 2 tác giả Trung Quốc: Tế Văn và Viên Thông) và nhiều cuốn sách khác như Luyện thở dưỡng sinh (Nguyễn Minh Kính), Phương pháp Dưỡng sinh (Nguyễn Văn Hưởng), … đều có hướng dẫn cách hô hấp để điều hòa cảm xúc. Vì như cuốn Khí công Thiền pháp đã nói "chỉ có hô hấp mới khống chế được hệ thần kinh". Hô hấp là quan trọng nhất hay nói cách khác, ô-xy là quan trọng nhất đối với sự sống.
Vậy người có lương tâm là gì?
Đó là người biết kiểm soát lại các cảm xúc thái quá (cả tiêu cực và tích cực) do trí não khơi gợi mỗi khi có điều kiện phù hợp để mà hành động đúng (nói văn vẻ là theo đạo lý đã được công nhận và được đúc kết qua kinh nghiệm của quá khứ của mỗi một nền văn hóa.). Nói rộng ra, khi bạn hay nói rằng nói bạn là người tốt, không nghĩ xấu về ai bao giờ… nhưng khi xảy ra việc, con ma hệ thần kinh nó xúi bản thân bản khiến bạn không kiểm soát được hành vi, và bạn trở thành người không có lương tâm. Đơn giản vậy thôi. Vậy, hãy chú ý vào hành động (lúc có vấn đề), đừng tin vào lời nói (lúc bình thường). Hơn nữa, khi nhận xét một hành động của ai đó có lương tâm hay không, đừng dựa vào trình độ của anh ta. Bạn hãy đừng quan tâm anh ta là tiến sĩ hay bộ trưởng và và cũng đừng cho rằng người có trình độ như thế thì phải biết cách cư xử đúng? Không, hoàn toàn không, hãy dựa vào phản ứng của họ khi "vào việc" sẽ đoán ra đặc tính hành động của anh ta. Và bạn có thể biết được anh ta sẽ là kẻ nhận hối lộ, đạp đầu dân đen, cư xử không đúng mực với gia đình, bạn bè v.v. thông qua những phản ứng như vậy. Vậy ta cũng dễ dàng lý giải được câu thơ gtrong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du:"chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" .
Tôi tạm dựa vào tiêu đề của cuốn sách "Những tấm lòng cao cả" - một cuốn tiểu thuyết trẻ em của nhà văn người Ý Edmondo De Amicis mà tiêu đề nguyên bản tiếng Ý của nó là Cuore – nghĩa là trái tim để kết thúc bài viết này. Bản dịch sang tiếng Pháp thì được đặt tiêu đề là Grand Coeurs - Những trái tim vĩ đại. Trước năm 1945 ở Việt Nam có bản dịch từ bản tiếng Pháp và đặt tên là Những tâm hồn cao thượng. Năm 1977, Giáo sư Hoàng Thiếu Sơn dịch và đặt tên là Những tấm lòng cao cả. Năm 1995 tôi có dịp được nghe giáo sư nói chuyện về cuốn sách tại Thư viện Hà Nội và còn nhớ rõ giáo sư có đề cập đến tên của cuốn sách rằng bản dịch tiếng Anh lấy tên là Heart – trái tim. Cuốn tiểu thuyết nói về cuộc sống ở gia đình, học đường, thành phố của cậu bé Enrico Bottini mà nhà khoa học Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã kể trong tự truyện rằng cuốn sách đã cho ông "…nhiều bài học về lòng thương người, phương cách cư xử chung thủy với bè bạn, và hiếu kính với mẹ cha... ". Trong truyện có kể lại việc Vottini ghen tỵ với Rossi – một cậu bé thông minh và học giỏi khiến cho thầy giáo phải nói với cậu ta rằng "đừng để con rắn ghen tị luồn vào trái tim, đó là một con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim." Vâng! Vẫn là trái tim và mọi điều đều xuất phát từ trái tim.

Một vài vấn đề mới về làng Lục Nộn xưa kia - nơi gốc của họ Bùi Chiếm xạ và một số họ khác của làng Nộn Khê ngày nay.Vừa...
18/06/2023

Một vài vấn đề mới về làng Lục Nộn xưa kia - nơi gốc của họ Bùi Chiếm xạ và một số họ khác của làng Nộn Khê ngày nay.
Vừa rồi nhân đọc cuốn Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ (trích tư tủ sách Viễn Đông Bác Cổ) được giới thiệu trên nhóm Kể sử làng, tôi có lưu được bản đồ huyện Duy Tiên (Hà Nam). Nhân xem bản đồ thấy làng Lục Nộn nằm trong Tổng Tiên Xá bèn tìm hiểu thêm về khu vực này nói chung và làng Lục Nộn. Xin lưu ý ngày trước, chữ xã được coi như một làng. Thôn được coi như xóm. Thôn nào to thì "nhất xã nhất thôn", còn thôn nhỏ thì nhiều thôn cộng lại thành xã (làng) - như câu thơ của Nguyễn Bính: Hai thôn chung lại một làng.
Người viết nhận thấy rằng tên xã (làng) Lục Nộn xưa kia còn tồn tại đến thời Pháp, thậm chí đến thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau khi thay đổi cơ cấu hành chính, tỉnh Hà Nam thành lập huyện Duy Tiên, hình thành các xã trong huyện, lấy chữ Tiên để thành tên xã, trong các xã mới thành lập có xã Tiên Ngoại. Xã Tiên Ngoại ngày nay bao gồm 6 thôn Minh Lương Nội, Doãn, Thượng, Trung Liêu, Yên Bảo, Yên Nội.
Đối chiếu lại trong cuốn sách người viết đọc ở trên thì xã Lục Nộn xưa kia chỉ gồm 2 thôn là Doãn Xá (Doãn) và Thượng Thôn (Thượng) - xem ảnh đính kèm. Như vậy xã Tiên Ngoại ngày này bao gồm nhiều thôn của các làng khác nữa. Lục Nộn xưa kia là một làng gồm 2 thôn giờ đây được nằm trong xã Tiên Ngoại.
Cách đây vài chục năm, họ Bùi Chiếm Xạ ta đã về tìm lại cội nguồn ở vùng này. Tuy nhiên theo những gì ghi lại trong gia phả in những năm đó thì ngày đó các cụ đến tìm ở thôn Trúc Sơn - xã Tiên Tân - huyện Duy Tiên (????). Ngày nay Tiên Tân là một xã thuộc thành phố Phủ Lý. Và Tiên Tân cũng không có liên quan gì đến làng Lục Nộn xưa kia (?). Vậy chúng ta có nên xem lại sự "chênh lệch" về địa danh này không?
Ta tạm có thể giả định rằng làng Lục Nộn xưa kia không còn giữ địa danh cũ nhưng 2 thôn Thượng và Doãn của làng vẫn còn tồn tại trong xã Tiên Ngoại ngày nay.
Vậy nếu chúng ta có lòng thì việc tìm về cội nguồn hoàn toàn có thể thực hiện được.

Lễ Báo Bản 2007 - một thời đã xưa.
20/03/2023

Lễ Báo Bản 2007 - một thời đã xưa.

Vừa rồi, trên group Làng Nộn Khê có người comment một câu trong một status về làng rất “có vấn đề”: Phải viết là xóm Chu...
15/01/2022

Vừa rồi, trên group Làng Nộn Khê có người comment một câu trong một status về làng rất “có vấn đề”: Phải viết là xóm Chung chứ không được viết là Trung.
Vậy đúng ra là viết Trung hay Chung?
Làng Nộn Khê kể từ khi lập làng khoảng những năm 1470 đã được hơn 600 năm. Bao công sức tiền nhân bồi đắp còn hiển hiện trong từng con đường, cánh đồng… và trong cả tên gọi các địa danh nữa: xóm Chùa có chùa Nghiêm Khánh, xóm Cầu có chiếc cầu đá bắc qua sông đào sang làng Bình Hải, mả Cả, mả Nuốn (Nộn), xứ vườn Táo, xứ vườn Hồng, đồng Kênh, Đồng Vòng, mũi A, ngòi Kim….
Trong gia phả chữ Hán của họ Bùi Chiếm Xạ còn lưu thì tên xóm kéo từ đình làng xuống nghĩa trang (hiện nay) được viết là Trung (中 nghĩa là ở giữa trung tâm) chứ không phải Chung (終 – nghĩa là cuối, kết thúc). Trong ảnh kèm theo có chữ Trung thôn xứ (khu xóm Trung). Xét về mặt thực địa, cách đây mấy trăm năm thì cái xóm mà ta vẫn gọi là xóm Trung ấy chắc chỉ có vài chục nếp nhà chạy theo đường gạch mà thôi. Nguồn gốc có thể hiểu như sau: khi cụ thuỷ tổ họ Bùi cùng các họ khác về lập làng Nộn Khê thì bắt đầu dựng nhà trên nền đất nhà thờ họ Bùi Chiếm xạ hiện nay. Khu đất sử hữu riêng này xưa kia rất rộng mà dấu vết sở hữu có thể còn thấy hiện này ở các gia đình thuộc chi 1 chi 3 của họ Bùi Chiếm xạ. Và các cụ đã gọi nơi mà mình dựng nhà, sinh sống là thôn Trung (xóm giữa). Hơn nữa, theo nghĩa chữ Hán, không ai gọi là thôn Chung, nghĩa là cuối, là kết thúc. (Nếu để đối với xóm Thượng, thì phải đặt là xóm Hạ mới là hợp lý.)
Trên đây là vài lời giải thích về một địa danh quan trong của làng. Tên xóm cũng là nỗi băn khoăn của người viết từ nhỏ.

27/05/2021

Chuyện về Liệt sĩ Phạm Ngọc Lẫm – người Nộn Khê

Ông Lẫm hồi trẻ đẹp trai nhất làng, tính tình vui vẻ xởi lởi, nói chuyện có duyên, luôn tươi cười hòa nhã với mọi người mà lại rất can trường. Ở làng tôi có ông (Phạm) * Tụy đi cày nhưng lại hay làm thơ, làm vè. Nhân việc bác Lựu bị lí trưởng bấy giờ là ông cửu Mỵ đánh ba roi, ông liền vận luôn thành thơ:

Có mấy lời hỏi thăm bác Lựu:
Cớ làm sao bác chịu ba roi?
Nhiêu thì bác đã mua rồi,
Được lên chức sắc, được ngồi cỗ ba,
Mà sao ông lí làng ta
Lại coi ông chẳng khác là bạch đinh?
Chậm chân trống thúc ra đình,
Cũng ba roi, thật tội tình cho ông!

Chả là ở làng tôi hồi đó, ông cửu Mỵ thấy ai có máu mặt là bắt phải mua nhiêu mua xã. Tục lệ đề ra là mua nhiêu bảy đồng ăn vọng cỗ ba, khi trong làng có việc đình đám thì không phải đi vác cờ khiêng kiệu. Chưa là chức sắc, có trống gọi ra đình mà ra chậm là bị cửu Mỵ hạ lệnh cho tuần đinh nọc đánh liền. Bán ruộng sâu cầu miếng chín, ông Lựu chật vật mãi mới lo được cái chức nhiêu ăn vọng cỗ ba. Nhưng nhiêu vẫn còn kém xã chính xã sử, ăn vọng cỗ hai. Cửu Mỵ bảo mua xã chính, ông không mua. Ông ta thấy ông đi buôn bán lời lãi chắc cũng khá, muốn moi tiền ông mà không được, nên thù. Thấy ông ra đình chậm, ông ta vẫn phạt, ý chừng bảo rằng nếu mua tiếp xã chính xã sử ăn vọng cỗ hai thì mới thoát cái “vòng kim cô” đó.

Bác Lẫm khen ông Tụy làm thơ châm biếm đả kích như thế cũng tốt, nhưng lịa bảo là chưa đủ, cần phải cho cửu Mỵ mấy quả đấm vào giữa mặt thì mới chặn được cái thói hống hách của ông ta.

Bác Lẫm biết rõ bọn cường hào quen thói đục khoét của dân vì chưa bị cảnh cáo nên càng ngày càng làm càn như thế. Đã nhiều lần, hễ thù ghét nhà ai, chúng lại cho người đem rượu lậu bỏ và vườn nhà người đó, rồi cho tuần đinh đến khám xét, bắt phạt. Thu thuế thì khỏan phụ thu lạm bổ lại nặng hơn là thuế chánh tang. Có lần bác Lẫm tập hợp nông dân lại, bảo chờ huyện Tước về rồi vạch tội bọn cường hào, sau đó hãy nộp thuế.

Bác Lẫm nói thẳng cho mọi người trong nhà biết là nhất định sẽ cho cửu Mỵ một trận. Bà nội chúng tôi lại là cô ông cửu Mỵ nghe thấy thế liền can “Tao còn sống đây thì đừng có làm thế. Mày để tao chết rồi mày hãy đánh nó”.
Bác Lẫm không nghe bà nội, vẫn đón cửu Mỵ ở chỗ trường học đầu làng, nay là cửa hàng bán bách hóa, nói rõ tội lỗi của ông ta rồi mới cho mấy cái bạt tai. Cửu Mỵ sợ khiếp vía. Từ đó ông ta không dám hống hách như trước nữa.

Bác Lẫm thường hay ra thành phố Nam Định làm gì đó nhiều ngày rồi mới về. Sau hôm đánh cửu Mỵ một thời gian dài, bác đi đâu xa cũng không ai rõ.

Một hôm vào đầu năm Canh Ngọ (1930), bỗng gia đình được tin bác Lẫm bị bắt, rồi sau đó lại bị kết án hai mươi năm tù khổ sai và mười lăm năm quản thúc. Đến bấy giờ, dân làng mới hay bác Lẫm hoạt động trong hội kín từ hồi còn học ở Nam Định nên mới vắng nhà luôn như vậy.

Thế rồi, sau đó bác Lẫm lại được bảo lãnh ra. Đây là chuyện nhân duyên tình nghĩa hiếm có trên đời, rất là cảm động.

Thì ra ở Nam Định, bác Lẫm hoạt động cùng với các bạn học trường thành chung những năm trước và thường họp hành trong nhà một cô bạn tên là Chính, bố mẹ rất giàu, có những cửa hàng tấm lớn nhất nhì thành phố, bán đủ các loại vải. Tuy giàu có nhưnggia đình cô Chính không ai ưa gì bọn Pháp, nên sẵn sàng giúp đỡ những người có lòng yêu nước. Ông cụ quyết tâm cho con đi học chữ Quốc ngữ, chữ Tây, nhưng lòng ông vẫn không quên chữ thánh hiền, trân trọng đạo Nho có một không hai.
Chả vậy mà cụ giao cho bác Hiền là quản gia một công việc rất đặc biệt là hằng ngày phải đi quanh phố thấy giấy chữ Nho thì nhặt về đốt đi, không để cho người qua lại dẫm lên hoặc làm ô uế. Cụ rất hài lòng khi thấy con cái mình cũng có chí hướng cứu nước, nen việc bác Lẫm ở trong nhà, ciuj cảm thấy là dịp tốt để con cái mình mau chóng trưởng thành.

Hôm bọn mật thám đưa lính về nhà cô Chính khám xét tìm bắt bác Lẫm, bác Lẫm được gia đình chỉ chỗ nấp ở sau ban công rất kín đáo. Nhưng khi nghe thấy chúng tra tấn mọi người trong nhà, đạp bà cụ ngã lăn xuống vầy thang kêu thất thanh và nghe chúng chỉ hỏi “Phạm Văn Lẫm đâu?”, bác Lẫm, hẳn là không đành lòng để liên lụy đến gia đình cô Chính nên phải ra nhận “Tôi đây!”.

Gia đình cô Chính càng cảm kích cái chí khí của bác Lẫm nên đã quyết định bán tài sản nộp tiền xin bảo lãnh cho bác Lẫm ra. Thời ấy cứ có tiền là xong hết, dù là trọng án. Kết quả phải bán gần hết mấy cửa hàng mới lo xong.

Bác Lẫm ra tù. Người đẹp trai thế mà ở tù có ít ngày ra trông như ông lão, xanh xao vàng võ, đầu trọc lốc như củ chuối. Cảm tạ tấm lòng nhân hậu của gia đình cô Chính, bác Lẫm đã xin với hai cụ được làm con cái trong nhà tức là được làm rể hai cụ, được lấy cô Chính làm vợ. Các cụ chấp thuận ngay vì đã sẵn có cảm tình với cậu học trò thông minh và rất can trường này.

Chỉ có điều, thời gian đó bác Lẫm đã có người yêu ở dưới Bình Hải tên là Thúy. So sánh giữa hai cô, thì cô Thúy đẹp hơn nhiều lại còn ít tuổi, da trắng, tóc dài, mắt bồ câu. Còn cô Chính, ngược lại, hơn bác Lẫm ba tuổi, da ngăm ngăm, mi mắt sập xuống như là bị đau mắt hột. Nếu có hơn chỉ là ở trình độ văn hóa, cô Thúy mới học xong tiểu học, cô Chính đã có bằng thành chung, nói chuyện với bác Lẫm toàn nói bằng tiếng Pháp.

Bác Lẫm phải tạ lỗi với cô Thúy và gia đình bên đó, bởi cái ơn nghĩa với gia đình cô Chính nó nặng quá, nó lớn quá, chỉ có cách như thế mới đền đáp được.

Chia tay nhau, nhưng xem ra cô Thúy còn vương vấn tơ lòng nên bức thư cuối cùng gửi cho bác Lẫm, cô ấy đã có mấy câu vận Kiều rất hay. Bác Lẫm lại cho tôi đọc thư, nên tôi vẫn còn nhớ mấy câu như thế này:

Có cây có lá sẵn sàng,
Có hiên Lãm Thúy nét vàng chưa phai.
Mừng rằng chốn ấy chữ bài,
Mà ba sinh hẳn duyên trời chưa cân.
Trăm năm trong cõi hồng trần,
Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi!...

Đặc biệt sau này hai cô lại quý nhau lắm. Cứ vài tháng một lần, cô Thúy lại gánh sang cho cô Chính một gánh gạo vừa nếp vừa tẻ, rồi chị em tâm sự xem vẻ rất là thân mật.

Bà Phạm Minh Hằng, con gái đầu lòng của ông Phạm Văn Lẫm và bà Lê Thị Chính năm nay đã 58 tuổi. Cô kể lại rằng, từ khi cô lên năm, cô không thấy cha ở nhà mấy khi. Năm đó cậu em trai của cô, cậu Phạm Bá Cường mới được hai tuổi. Năm cô lên bảy, thì cha đi biệt không thấy về, ba mẹ con dắt díu nhau ra thành phố Nam Định sinh sống. Cô có nghe mẹ nói là một lần ông Hào ở phố Hàng Tiện cùng hoạt động với cha cô đến nhà báo tin là thượng cấp định cho bà sang Trung Quốc học, nhưng bà từ chối, “Anh ấy đi xa rồi, tôi ở nhà nuôi con và công tác ở địa phương thôi”. Mẹ tôi trả lời ông Hào như vậy.

Trước ngày khởi nghĩa tháng 8-1945, cha tôi có về rất đột ngột song tỏ ra mừng rỡ và có nói với mẹ con tôi rằng: “Ta sắp khởi nghĩa giành lại chính quyền. Mẹ con ở nhà cứ yên tâm. Nước nhà độc lập, anh sẽ về đón cả ba mẹ con vào Huế”. Nhưng từ sau ngày đó là bặt tin tức, suôt bốn mươi chín năm không còn biết cha tôi hoạt động ở địa bàn nào, sống chết ra sao? Mẹ tôi nghĩ nhiều về những chuyện rủi ro hơn là những điều may mắn đối với cha tôi. Bởi vì bà đoán rằng, ông đã được Trung ương điều vào công tác ở phía nam từ mấy năm trước đó.

Giá mà cha tôi hi sinh có giấy báo về thì đã đành một lẽ. Đằng này bặt tin tức, không biết ông ở đâu, làm gì mà chẳng có thư từ về nhà nên dư luận lại cho rằng, có thể ông đi với Quốc dân đảng hoặc là đi theo địch cũng nên. Mẹ tôi rất khổ tâm nên trước khi qua đời đã dặn đi dặn lại chị em tôi phải gắng tìm tung tích xem bố làm gì, ở đâu, “mẹ tin rằng, bố con không bao giờ phản dân, phản nước”. Mẹ tôi khẳng định như thế.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, mẹ tôi còn có một điều phải day dứt không yên chẳng kém gì việc cha tôi biệt vô âm tín. Đó là chuyện em trai tôi, em Phạm Bá Cường, giữa những ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bị cuốn theo dòng người tản cư lạc đi phương nào cũng mất tích luôn. Năm đó, em tôi mới lên chín tuổi. Bố mẹ tôi chỉ sinh được có hai chị em tôi. Em Cường là niềm an ủi không thể lấy gì bù đắp được đối với mẹ tôi, nhất là khi cha tôi đi xa. Vậy mà...

Nhưng rồi, rất tình cờ, mẹ con, chị em tôi lại gặp được nhau, khi đó em tôi đã là một sĩ quan Quân đội nhân dân. Chuyện là như thế này:

Ông Phạm Bá Cường kể:
Khi đó tôi còn nhỏ mà người tản cư già trẻ lớn bé thì đông, kẻ gồng người gánh xô đẩy nhau, ai cũng lo quân giặc nó đuổi tới sau lưng. Sau khi lạc gia đình, thì tôi chỉ còn biết theo người lớn đi mãi, đi mãi. Thế là cuối cùng phiêu bạt lên tận huyện Thạch Thất, Sơn Tây, làm con nuôi một bà mẹ hiếm con ở thôn Cầu, xã Hạ Bằng. Bà đón tôi về khi tôi đang ngồi co ro ở góc chợ. Tôi coi bà như người mẹ thứ hai của mình bởi thật sự bà cũng thương tôi như con. Bà cho tôi ăn học đến nơi đến chốn. Lớn lên, tôi muốn đi bộ đội. Bà bảo hãy cưới vợ đi đã để rồi con có đi xa, con cũng được yêm tâm mà mẹ ở nhà, mẹ sẽ không phải lo gì vất vả. Thế là bà cưới vợ cho tôi. Đám cưới linh đình. Vợ tôi là em gái anh Nguyễn Văn Châu, anh hùng quân đội. Công dưỡng dục của mẹ nuôi tôi đối với tôi không thể nào tính đếm được. Nó lớn lắm!

Những năm ở bộ đội, tôi chỉ nhớ quê gốc của mình có chữ “Bình” nên nghĩ nhiều đến Thái Bình. Vì thế, một lần nghỉ phép, tôi về Thái Bình tìm quê hương gia đình. Nhưng không có kết quả gì. Ít lâu sau, đơn vị tôi chuyển về đóng quân và tập luyện ở một vùng thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.Tôi chợt nhận ra nơi đây có những hình ảnh quen quen. Lật lại trí nhớ tuổi thơ, tôi cảm thấy hình như đã có những lần tôi đi trên con đường có rặng nhãn giông giống như thế này. Chỉ khác là những gốc nhãn bây giờ có lớn hơn, sần sùi hơn một chút. Tôi nói với một số anh em trong đơn vị rằng, có thể đây chính là quê tôi. Các đồng chí ấy khuyến khích tôi đi sâu vào trong từng thôn xóm. Cuối cùng tôi nhận ra cái phiến đá lớn ở cầu ao nhà tôi mà thuở nhỏ chúng tôi thường ngồi tắm. Cái ao rộng có cây cậy trên một ụ đất ở giữa ao vẫn còn dấu tích xưa kia, ông nội tôi nuôi chim bồ câu. Đúng là làng tôi, không thể nào khác được!

Tin đồn có một anh bộ đội lưu lạc từ nhỏ nay tìm thấy quê, lan đi rất nhanh. Bà Tư là người đầu tiên đến nhận: “Đúng anh là con tôi rồi. Năm đói Ất Dậu ấy, bố anh chết đói, tôi không nuôi nổi nên đành phải giao anh cho một bà ở chợ Rồng trên thành phố Nam Định nuôi đấy”. “Không phải - Tôi trả lời bà Tư - bố cháu không chết đói. Bố cháu đi làm cách mạng, năm 1945 vẫn còn sống, sắp đến ngày khởi nghĩa, cháu vẫn còn gặp kia mà”.

Một ông, thân hình quắc thước, đôi mắt tinh nhanh nhìn tôi một lúc lâu rồi bỗng kêu lên:
- Đúng là con trai ông Lẫm rồi! Giống lắm! Cả cái dáng đi cũng giống!
Khốn một nỗi, tôi cũng không còn nhớ cả tên cha, tên mẹ mình. Ông ấy nói tiếp:
- Chú nào chạy đi tìm ông Cân, bảo ra mà nhận con cháu đây này!
Ít lâu sau, tôi mới biết ông Cân với bố tôi là anh em con chú con bác, tôi phải gọi ông ấy bằng chú. Nhưng ông Cân cũng không nhận ra tôi nên mới bảo phải cho người xuống Kim Sơn tìm bà Chinh về thì mới bảo đảm chắc chắn tôi có phải là con trai ông Lẫm không. Mẹ tôi cùng cơ quan tản cư vào Thanh Hóa, nhưng khi hồi cư lại về Kim Sơn làm ăn sinh sống. Mẹ tôi về cũng ngỡ ngàng nửa tin nửa ngờ. Vì tính ra đã gần ba chục năm trời, tất cả đều thay đổi. Bản thân tôi cũng không nhận ra hình dáng mẹ mình.

Một lúc lâu sau, bỗng bà như sực nhớ, vội vàng hỏi tôi:
- Anh bộ đội này! Mong anh thứ lỗi, cho tôi hỏi, ở chỗ xương hông của anh có vết sẹo gì không?
- Có ạ!
- Thôi đúng rồi! Mẹ tôi reo lên. Phạm Bá Cường, con của mẹ đây rồi! Hôm ấy mẹ cầm con dao phay đuổi gà vào ăn thóc, mẹ ném dao chẳng may văng vào con, máu me lội lụt. Mẹ phải khóc suốt đêm vì chuyện không may đó...

Thật là kì lạ. Điều không may từ trước đây lại trở thành điều may mắn để mẹ con nhận ra nhau sau gần ba mươi năm lưu lạc.

Cô giáo Phạm Minh Hằng kể tiếp: Tìm thấy Cường, nhất là sau này, thấy cậu ấy trưởng thành, ở bộ đội chuyển ngành về Bộ Xây dựng, cuối cùng làm Phó giám đốc công ty cấp thoát nước, là mẹ tôi mừng lắm.

Nhưng bà vẫn canh cánh bên lòng về số phận của cha tôi. Bởi thế, lời dặn dò cuối cùng và cũng là lời dặn dò duy nhất trước khi mẹ tôi nhắm mắt chỉ có một câu: Hai chị em phải cố gắng tìm ra tung tích của bố, đừng quên!

-- Chú Uẩn là em trai của cha tôi -- Cô giáo Phạm Minh hằng kể tiếp -- Chú vào Sài gòn làm ăn từ trước năm khởi nghĩa 1945. Sau ngày giải phóng miền Nam, mẹ tôi có vào thăm chú thím, cũng là để dò hỏi tin tức về cha tôi. Nhưng không kết quả gì. Thực ra chú thím tôi đã giấu không cho mẹ tôi biết mà thôi. Mãi tới năm 1994, sau khi mẹ tôi đã qua đời, con gái tôi, cháu Vũ Thu Hạnh, giáo viên Trường Đại học Luật mới có điều kiện vào thành phố Hồ Chí Minh làm tiếp công việc mà bà cháu dặn lại.

Thời gian này, chú Uẩn đã qua đời. Nhưng may sao, bà thím vẫn còn nhớ tất cả mọi chuyện và đã không giấu giếm cháu Thu Hạnh điều gì.

“Trước hết, bà phải nói ngay để cháu yên tâm rằng ông ngoại cháu là một cán bộ cách mạng kiên cường. Còn chuyện riêng tư thì âu cũng là do hoàn cảnh nó tạo nên mà thôi. Đúng là đầu năm 1955, ông ngoại cháu đã đến đây thăm ông bà. Ông đến cùng với giáo sư Nguyễn Thị Diệu và ba người con. Giáo sư Nguyễn Thị Diệu là Ủy viên ban chấp hành hội Liên hiệp phụ nữ Nam bộ, người dẫn đầu phong trào học sinh sinh viên đấu tranh đòi thi hành Hiệp đinh Genève thống nhất đất nước, bảo vệ hòa bình. Cuối năm 1955, bà ấy đã bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt và thủ tiêu. Ông bà liền cắt mẩu báo đăng tin về cái chết của bà Diệu cho vào hộp đặt lên bàn thờ để nhớ ngày cúng giỗ. Còn ông ngoại cháu vẫn tiếp tục hoạt động cho đến năm 1958 thì qua đời, ông bà lại cắt tiếp mẩu báo người ta đăng tin ông ngoại cháu chết, nhưng lại là chết trong xà lim, và cũng để chung trong cái hộp có mẩu tin về bà Diệu bị thủ tiêu. Hằng năm cứ đến ngày đó, ông bà lại làm mâm cơm cúng ông ngoại cháu và giáo sư Nguyễn Thi Diệu. Vì công việc của ông ngoại cháu bí mật lắm, nên ông bà cũng chỉ biết có thế thôi...”

Nguồn tin cháu Vũ Thu Hạnh mang về thật vô cùng giá trị. Như thế là cha tôi vẫn là người mà mẹ tôi đã đinh ninh trong dạ cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay rằng ông là một con người chân chính.

Address

Nộn Khê , Yên Từ
Ninh Bình

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Họ Bùi Chiếm xạ Nộn Khê posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share