Thuận Giuse

Thuận Giuse Với hi vọng mang Tin Mừng đến cho những ai cần, cháu mạo muội lập trang Fanpage này để chia sẻ những bài giảng, hi vọng sẽ hữu ích cho ai đó.

16/05/2026

Chúa nhật Thăng Thiên A
Bđ 1: Cv 1,1-11/ Bđ 2: Ep 1,17-23)/ PÂ: Mt 28,16-20

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ
Ngày xưa Liên Bang Nga là một nước cộng sản vô thần. Cho nên sau biến cố họ đưa được con người lên không gian, họ đã đả kích những người có tôn giáo rằng “chúng tôi đã lên trời mà chẳng thấy Thiên Chúa đâu cả”. Câu nói này trước hết phản ánh một quan niệm thông thường của con người khi nghĩ đến trời. Thật vậy, có lẽ phần lớn mọi người vẫn quan niệm rằng Thiên Chúa hay thần linh ở một nơi nào đó trên các tầng mây. Cho nên, những người cộng sản vô thần Nga kia thật có lí khi nói rằng chẳng có Chúa nào cả vì chúng tôi đã phóng phi thuyền qua hết các tầng mây mà chẳng thấy chúa mẹ nào cả.
Thế nhưng họ phạm phải một sai lầm nghiêm trọng khi dựa theo lối suy nghĩ bình dân của mọi người để công kích niềm tin của chúng ta. Thật vậy, thường thì mọi người vẫn nghĩ Thiên Chúa ở một tầng mây nào đó trong bầu khí quyển của trái đất. Thế nhưng, giáo lý Hội Thánh Công giáo không bao giờ dạy chúng ta rằng “trời” là một địa điểm nằm đâu đó trong trái đất. Giáo hội dạy chúng ta rằng Thiên Chúa là Đấng tạo thành cả vũ trụ vĩ đại với muôn muôn vàn tinh tú, chứ không chỉ tạo dựng mỗi trái đất hay hệ mặt trời này. Và nếu Thiên Chúa cần một nơi để cư ngụ thì chắc hẳn trái đất nhỏ bé của chúng ta cũng không chứa nổi một Đấng tạo dựng lên vũ trụ hùng vĩ này. Thế nhưng, Giáo Hội cũng không dạy chúng ta trời là một nơi nào đó ngoài vũ trụ xa xăm kia.
Khi mời gọi chúng ta hướng lòng trí và cuộc sống về trời, Giáo Hội cũng không mời gọi chúng ta hướng về một nơi nào đó trong vũ trụ, nhưng mời gọi chúng ta sống sao để có được tình trạng hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, để có được niềm vui và hạnh phúc vĩnh cửu. Hay có thể nói rằng bất cứ nơi nào khi con người hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, nơi đó chính là trời hay thiên đàng vậy. Đây là một chìa khóa quan trọng để chúng ta hiểu đúng biến cố Chúa Giêsu lên trời.
Khi nói về biến cố này, có phải mọi người sẽ nghĩ đến việc Chúa Giêsu rời bỏ thế gian này mà về với Thiên Chúa Cha, về thiên quốc, về một nơi nào đó trên các tầng mây kia phải không ạ? Cách nghĩ này có vẻ phù hợp với tường thuật mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc 1. Thật vậy, trong bài đọc 1, thánh Gioan cho chúng ta một tóm tắt những gì Chúa Giêsu đã làm sau khi Người phục sinh. Rồi thánh nhân còn cho chúng ta thấy Chúa Giêsu bay từ mặt đất lên cao, vượt qua mây rồi đi vào một nơi nào đó trên bầu trời.
Thế nhưng chúng ta vẫn không nên hiểu Chúa Giêsu lên trời là rời xa chúng ta và thế gian này bởi chính Chúa Giêsu đã nói trong bài Tin Mừng rằng: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Dựa vào lời hứa này cũng với các đoạn Kinh Thánh khác, nhất là trích đoạn chúng ta vừa nghe trong bài đọc 2, Giáo Hội dạy chúng ta rằng Chúa Giêsu lên trời là Chúa đi vào vinh quang của Thiên Chúa, chứ không phải đơn giản là lên một tầng mây nào đó hoặc bay sang một hành tinh khác.
Thật vậy, trong bài đọc 2 chúng ta vừa nghe, thánh Phaolô ước mong cho mọi Kitô hữu hiểu biết được những mầu nhiệm cao cả, nhất là hiểu được việc Thiên Chúa đã phục sinh Chúa Giêsu và đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời, vượt trên mọi cấp trật, các lãnh thần, quyền thần, dũng thần, và quản thần, vượt trên mọi danh hiệu được xưng hô cả đời này lẫn đời sau. Qua đó, thánh nhân cho chúng ta thấy bản chất của việc Chúa Giêsu lên trời là việc Chúa nhận lại vinh quang, danh dự Người đã từ bỏ xưa kia để xuống thế cứu chuộc chúng ta. Cho nên, sách giáo lý Hội Thánh Công giáo số 659 dạy chúng ta rằng: “Lần hiện ra cuối cùng của Chúa Giêsu được kết thúc bằng việc nhân tính của Người tiến vào vinh quang thần linh một cách vĩnh viễn; vinh quang này được tượng trưng bằng đám mây và trời, nơi từ nay Người ngự bên hữu Thiên Chúa”.
Thật ra biến cố Chúa Giêsu lên trời đánh dấu việc Chúa không còn hiện diện hữu hình nơi trần gian. Việc Ngài ẩn mình đi thì tốt cho các tông đồ và chúng ta như lời Ngài đã nói trong diễn từ ly biệt dành cho các tông đồ trước khi Ngài đi chịu nạn và chịu chết. Chúng ta đã suy niệm những điều đó qua lời Chúa từ Chúa nhật 5 mùa Phục sinh đến nay.
Tuy nhiên, khi nghĩ về biến cố Chúa Giêsu về trời, chúng ta liên tưởng đến một thế giới tươi đẹp nơi Thiên Chúa ngự trị cũng không hẳn là một lối suy nghĩ sai lầm. Chúng ta vẫn tin rằng bên cạnh và đàng sau cuộc đời này là vương quốc hạnh phúc do Thiên Chúa tạo dựng. Và tất cả chúng ta đều mơ ước về sống trong vương quốc đó. Và việc Chúa Giêsu lên trời là bảo chứng rằng niềm tin đó không hề hão huyền nhưng đầy thực tế.
Chính Chúa Chúa Giêsu đã lên trời để mở cửa Nước Trời cho tất cả chúng ta. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 666 dạy rằng: “Chúa Giêsu Kitô, là Đầu của Hội Thánh, đã đi trước chúng ta vào Nước vinh hiển của Chúa Cha, để chúng ta, là chi thể của Thân Thể Người, sống trong niềm hy vọng một ngày kia sẽ được vĩnh viễn ở với Người”. Lời nguyện nhập lễ cộng đoàn chúng ta vừa cầu nguyện cũng nhắc lại cho chúng ta chân lý đó. Chúng ta nên nghe lại lời nguyện rất đẹp đó. “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho cộng đoàn chúng con biết hoan hỷ vui mừng mà dâng lời cảm tạ, vì hôm nay, Con Một Chúa đã lên trời vinh hiển. Là thủ lãnh, Người đã đi trước mở đường dẫn chúng con vào Nước Chúa khiến chúng con là những chi thể của Người nắm chắc phần hy vọng sẽ cùng Người hưởng phúc vinh quang. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời”.
Tuy nhiên, Hội Thánh cũng nhắc nhở rằng khi trông đợi Nước Trời, chúng ta không được lơ là các bổn phận dưới thế; trái lại chúng ta còn phải cộng tác với những người khác biến đổi thế giới này nên ngày càng tốt đẹp hơn, theo khuôn mẫu của nước trời. Để làm được việc đó, Chúa đang mời gọi mỗi người chúng ta trở thành các môn đệ thừa sai, đi giảng dạy muôn dân, làm cho họ tuân giữ mọi điều Chúa đã truyền cho chúng ta bởi chỉ khi tất cả mọi người thực hành những lời Chúa dạy, khi đó chúng ta mới có thiên đàng và nước trời đích thực.
Tất nhiên, công cuộc này không dễ hoàn thành một sớm, một chiều bởi con người và cả chúng ta nữa thường vẫn thích những niềm vui trước mắt chứ nhiều khi không tha thiết với những hạnh phúc vĩnh cửu trong tương lai. Bởi đó, trong bài đọc 2 chúng ta vừa nghe, thánh Phaolô cầu chúc cho các tín hữu thành Êphêxô có được thần trí khôn ngoan và sáng suốt để nhận biết Thiên Chúa, để biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi, biết thế nào là sự phong phú gia nghiệp vinh quang nơi các thánh, và thế nào là quyền năng vô cùng lớn lao của Người đối với chúng ta.
Cho nên tiếp tục dâng thánh lễ chúng ta cùng cầu xin Chúa giúp chúng ta biết luôn hướng nhìn về những giá trị tốt đẹp trên trời để có động lực để hi sinh những niềm vui tạm bợ và sẵn sàng dấn thân để cho mình và tất cả mọi người một ngày nào đó được về trời với Chúa. Chớ gì được như vậy. Amen

09/05/2026

Bài Giảng Chúa Nhật 6 Phục Sinh Năm A
Bđ 1: Cv 8,5-8.14-17/Bđ 2: 1Pr 3,15-18/ PÂ: Ga 14,15-21
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ
Mở đầu nghi thức rửa tội cho người trưởng thành, sau khi hỏi và được biết người dự tòng muốn được sự sống đời đời, chủ sự sẽ hỏi người đó đã thực thi giáo huấn của Chúa, tuân giữ giới răn, sống tình huynh đệ và chăm chỉ cầu nguyện để xứng đáng trở thành Kitô hữu chưa.
Đây không phải là một câu hỏi mang tính hình thức, nhưng là những điều kiện buộc phải có để người dự tòng đó có đức tin thực sự và mạnh mẽ bởi chỉ khi con người cố gắng thực thi các điều Chúa dạy, Thiên Chúa sẽ tỏ mình thêm cho người ấy và làm cho người ấy thêm vững tin vào Ngài. Đây chính là những lời Chúa Giêsu nói với chúng ta cuối bài Tin Mừng. Người phán: “Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy. Và ai mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy sẽ yêu nó, và sẽ tỏ mình ra cho nó".
Câu nói trên của Chúa khiến con nghĩ ngay đến việc các cán bộ phụ trách tôn giáo học tập và có những nghiên cứu rất chuyên sâu về tôn giáo. Thậm chí họ có hiểu biết về các chân lý đức tin hơn rất nhiều người chúng ta đang ngồi ở đây. Thế nhưng họ không hề tin vào Thiên Chúa bởi họ không bao giờ tập sống và đem những chân lý đức tin đó ra thực hành.
Thực tế này cho chúng ta thấy câu nói ‘đạo tại tâm’ thật vô lý hết sức. Đây thực ra chỉ là câu nói mang tính ngụy biện của những người có đức tin yếu kém và lười lĩnh bởi nội tâm và hành động của con người có một mối liên hệ sâu sắc và không thể bị tách rời. Có ai ở đây chủ trương rằng: miễn là tôi yêu cô ấy hoặc anh ấy trong tim tôi là đủ, rồi chẳng bao giờ nói chuyện, chẳng bao giờ hẹn hò, cũng không thèm quà cáp cho người mình yêu không? Nếu có người sống như thế, thì theo cộng đoàn người đó có thể có một mối tương quan lâu dài với người kia không? Tất nhiên là không rồi, bởi tình cảm phải được thể hiện và lại cũng được nuôi dưỡng bởi các hành động bên ngoài. Chẳng hề có mối tương quan yêu thương hay gia đình nào mà không đòi hỏi trò chuyện, gặp gỡ, tặng quà, thăm hỏi cả. Và tất nhiên cũng chẳng có tương quan tin tưởng mặn nồng giữa những người không thường xuyên cầu nguyện, đi lễ hay lãnh nhận các bí tích thường xuyên với Thiên Chúa cả.
Tất nhiên, việc đi đạo và theo Chúa không dừng lại ở việc chu toàn vài bổn phận thiêng liêng vừa kể trên. Cốt lõi của việc theo Chúa là làm cho mình nên mến Chúa và yêu người. Mười điều răn tóm về hai điều này mà. Và chuyện này cũng không hề khó hiểu bởi như chúng ta đã nói nhiều lần với nhau rằng yếu tố chính yếu làm cho chúng ta hạnh phúc là tình thương mến với những người chung quanh chứ không phải là vật chất. Một gia đình chỉ có được hạnh phúc thực sự khi các thành viên yêu thương lẫn nhau. Cũng vậy chúng ta chỉ có được thiên đàng đích thực khi chúng ta có thể yêu mến Thiên Chúa và những người khác vậy.
Cho nên, chúng ta vẫn được thường được nhắc nhở rằng không nên chỉ coi việc sống đạo ở việc chu toàn một số bổn phận thiêng liêng. Chúng ta còn được mời gọi thực thi các điều Chúa dạy để Thiên Chúa có thể tiếp tục làm cho đức tin của chúng ta ngày càng trưởng thành hơn. Chúng ta cũng đã đề cập đến vấn đề này tuần trước khi nói rằng những người bỏ công sức, thời gian và tiền bạc để phục vụ Chúa và mọi người qua các chức việc của giáo xứ đã được Thiên Chúa biến đổi trở nên tự tin hơn, hiểu biết hơn, khiêm tốn hơn và nhất là đạo đức hơn.
Thế nhưng những điều này cũng có thể mất dần khi chính những quý chức ấy khi mãn khóa lại thôi không còn đi lễ và đến với Chúa thường xuyên nữa. Cho nên có thể nói, hành trình đức tin của chúng ta là một cuộc bơi ngược dòng. Nếu chúng ta cố gắng cộng tác với ơn Chúa để sống lời Ngài cách tích cực, đức tin của chúng ta sẽ ngày càng nên mạnh mẽ. Ngược lại, khi chúng ta buông xuôi hoặc giữ đạo cách tối thiểu, đức tin của chúng ta sẽ yếu dần, thậm chí mất hẳn nơi một số người.
Thế nên con vẫn thường đề nghị với các bạn trẻ khi con có dịp giúp các bạn học giáo lý rằng: mình rất thông cảm với các bạn vì thời bé các bạn chỉ đi đạo theo truyền thống gia đình nên không thực sự tin tưởng vào Thiên Chúa. Lớn lên một chút, sau khi các bạn lãnh nhận Bí tích Thêm sức, mà chúng con hay gọi vui là bí tích rời xa Giáo hội bởi sau đó các bạn thường không đi lễ và cầu nguyện nữa cho đến khi thực hiện các thủ tục hôn phối. Có những bạn khác thì vẫn còn đi lễ nhưng chỉ đi cho có, đi muộn về sớm, nói chuyện, lướt điện thoại, chơi game.
Với những bạn đó con đề nghị các bạn tích cực hơn trong việc tham dự thánh lễ, đi sớm, ngồi lên trên, chú ý nghe và đáp lại Thiên Chúa bằng các lời cầu nguyện… vì chỉ có làm như thế các bạn mới không thấy các thánh lễ mình tham dự khô khan, nhàm chán và dường như chẳng sinh ơn ích gì cho đời. Mọi người có để ý đến chi tiết những người ở Samari chú ý đến lời thánh Philípphê rao giảng và nhờ đó mà có được đức tin và được lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần không. Chúng ta cũng được mời gọi sống như họ.
Điều này rất quan trọng vì chỉ nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần chúng ta mới có đủ sự khôn ngoan và sức mạnh để trung thành làm việc thiện cho dù bị thế gian chê cười và chống đối. Đó là 1 trong những sứ điệp được gửi đến chúng ta qua bài Tin Mừng và bài đọc 2 chúng ta vừa nghe. Trong bài Tin Mừng Chúa Giêsu hứa sẽ không để các tông đồ và chúng ta mồ côi bởi Ngài đã ban Chúa Thánh Thần để trợ giúp chúng ta.
Chính Chúa Thánh Thần là Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết và cũng là Đấng ban sức mạnh cho các tín hữu có thể kiên trì làm việc thiện, đồng thời đủ khôn ngoan để dùng chính đời sống thánh thiện mà làm chứng cho đức tin cảu mình, đồng thời làm cho những người chống đối phải xấu hổ vì những kết án vô lý của họ. Đó là tư tưởng bài đọc 2 chúng ta vừa nghe.
Cho nên tiếp dâng thánh lễ, trước hết, chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa giúp tất các Kitô hữu ý thức được rằng chỉ khi họ cố gắng thực thi lời Chúa, đức tin của họ mới được tăng trưởng và dần đạt tới mức thành toàn. Chớ gì ý thức này làm cho mỗi người tín hữu chúng ta kiên trì gắn bó với Chúa nhờ các việc đạo đức thiêng liêng. Chúng ta cũng cầu xin Chúa giúp chúng ta ý thức được rằng Thiên Chúa hằng ban ơn trợ giúp con cái của Ngài qua Chúa Thánh Thần, Đấng ở ngay trong cung lòng mỗi người. Xin cho chúng ta biết tìm đến và cầu xin sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần để Ngài giúp chúng ta kiên trì thực hiện các việc lành và có đủ sự khôn ngoan cần thiết để sống ngay chính thánh thiện để nhờ đó không ai có thể bắt bẻ về niềm tin cảu chúng ta, thậm chí chính họ cũng được đánh động và cải hóa nhờ lối sống tốt lành của chúng ta. Chớ gì được như vậy. Amen

02/05/2026

Bài Giảng Chúa Nhật 5 Phục Sinh Năm A
Bài đọc 1: Cv 6,1-7/Bài đọc 2: 1Pr 2,4-9/Phúc Âm: Ga 14,1-12

Kính thưa cộng đoàn
Chúng ta đang đang ở tuần 5 mùa phục sinh. Chỉ một thời gian nữa là chúng ta sẽ mừng lễ Chúa lên trời. Không biết nhắc đến biến cố Chúa Giêsu lên trời, cộng đoàn có bao giờ đặt câu hỏi rằng tại sao Chúa Giêsu không tiếp tục ở dưới thế, đồng hành và giúp đỡ các tông đồ mà lại lên trời, dường như bỏ các môn đệ mồ côi không?
Thông thường thì mọi người sẽ quan niệm rằng việc Chúa Giêsu lên trời là một thiệt thòi cho các tông đồ. Và các tông đồ cũng cho là như thế. Cho nên, ngay đầu bài Tin Mừng, Chúa Giêsu đã có những lời lẽ trấn an các ông.
Thật vậy, trước hết, Chúa mời gọi các tông đồ đừng buồn sầu xao xuyến bởi việc Chúa sắp lên Giêrusalem chịu chết không phải là một sự ra đi vĩnh viễn, nhưng chỉ đơn giản là một cuộc hành trình về Nhà Cha trên trời để dọn chỗ cho các môn đệ và tất cả mọi người. Một ngày nào đó Chúa sẽ lại đến và đón các môn đệ và chúng ta về sống cùng với Thiên Chúa Cha.
Tiếp đến Chúa mặc khải cho các ông con cách thức và con đường để có thể đi về nhà Thiên Chúa Cha là cứ sống như Người đã sống bởi Người là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Cuối cùng, Chúa cho các ông biết lợi ích của việc Chúa rời xa trần gian mà về với Chúa Cha. Người phán: “Thật, Thầy bảo thật các con: ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm những việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha".
Cộng đoàn có thấy ngạc nhiên vì Chúa nói rằng những người tin Chúa cũng sẽ làm những việc Chúa đã làm, thậm chí còn làm được những việc lớn lao hơn không? Có người sẽ cảm thấy ngạc nhiên vì đời nào tôi có thể làm những việc như Chúa đã làm được. Thật ra làm những việc như Chúa đã làm, không có nghĩa làm thực hiện các phép lạ như Chúa bởi khi sống trên dương thế, công việc chính yếu của Chúa Giêsu không phải là làm phép lạ mà là rao giảng, đem người ta về với Chúa, phục vụ, yêu thương để người ta nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa. Và những người tin như chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện những việc này như Chúa đã làm.
Điều làm mọi người ngạc nhiên có lẽ không nằm ở các công việc mà chúng ta cảm thấy ngạc nhiên vì Chúa nói rằng những người tin Chúa còn làm được những việc lớn lao hơn Chúa nữa. Lớn lao hơn ở đây không có nghĩa là quyền năng hơn Chúa, mà là, trước hết, phạm vi rao giảng các môn đệ rộng lớn hơn và đạt được nhiều thành công hơn. Chúng ta biết, Chúa Giêsu chủ yếu rao giảng và hoạt động quanh vùng biển hồ và tại Giêrusalem và cũng không có mấy người tin vào Ngài cho dù Ngài đã làm rất nhiều các phép lạ khác nhau.
Còn sau khi Chúa về trời, các môn đệ đi rao giảng khắp nơi và đạt được nhiều thành công to lớn. Thật vậy, sau biến cố phục sinh và nhận được Thánh Thần, các tông đồ dũng cảm ra đi rao giảng. Và ngay bài giảng đầu tiên của thánh Phêrô, 3000 ngàn người đã tin theo. Rồi sau khi làm cho một người què từ thuở mới sinh đi được, bài giảng tiếp theo của ngài đã khiến 5000 người tin theo. Một thời gian sau đó, chúng ta lại thấy số các môn đồ ngày càng gia tăng mặc dù Giáo Hội và các tông đồ chịu rất nhiều cấm cản và bách hại từ phía những người Do thái và chính quyền.
Bài đọc 1 chúng ta vừa nghe, phần nào cũng cho chúng ta thấy sự lớn mạnh đó. Thật vậy, đoạn trích sách Công vụ tông đồ cho chúng ta thấy: "Lời Chúa lan tràn, và số môn đồ ở Giêrusalem gia tăng rất nhiều. Cũng có đám đông tư tế vâng phục đức tin". Thậm chí các tông đồ phải đặt thêm nhiều phó tế để lo các phận vụ khác như phân chia đồ ăn cho mọi người sao cho công bằng.
Đọc lịch sử Giáo hội, chúng ta còn biết thêm rằng trong giai đoạn tiếp theo, vì có những bách hại dữ dội ở Giêrusalem, các môn đệ phải lánh đi các vùng khác và đi đến đâu, các ngài cũng rao giảng Tin Mừng. Và nhờ ơn Chúa tác động Tin Mừng đã được loan đi khắp cùng thế giới cho dù đi đến đâu và ở thời đại nào Giáo Hội vẫn bị bách hại nặng nề.
Điều chúng ta thấy ngạc nhiên là trong những giai đoạn Giáo hội ở các nơi bị bách hại nặng nề nhất lại là những giai đoạn có nhiều người tin theo nhất. Thật vậy, thời các Kitô hữu đầu tiên dưới đế quốc Rôma, nhiều người bị bắt bớ, tử đạo, nhưng chính gương sống của họ lại làm cho Kitô giáo lan rộng khắp nơi. Và chúng ta vừa tìm hiểu lịch sử trong mùa Chay vừa qua, không biết có ai ở đây còn nhớ rằng trong giai đoạn giáo hội Việt Nam bị bách hại nặng nề nhất lại là giai đoạn có nhiều người tin theo và cũng là giai đoạn mà đức tin của các tín hữu lại mạnh mẽ nhất.
Thật vậy, chính gương sống can đảm của các vị tử đạo làm người khác xúc động. Người ta thấy họ không chối bỏ niềm tin, vẫn yêu thương và tha thứ, nên bắt đầu tìm hiểu đạo. Và kết quả là càng ngày càng có nhiều người tin theo đạo, kể cả những người xưa kia đã bách và giết hại những Kitô hữu. Thế nên, chúng ta mới thấy câu nói của Tertullian rằng ‘máu các vị tử đạo là hạt giống sinh ra các Kitô hữu mới’ thật là chính xác.
Đây không đơn giản là kết quả của con người, mà đến từ chính ân sủng của Chúa Thánh Thần ban cho Giáo hội. Thật vậy, sau khi Chúa Giêsu về trời, chính Chúa Thánh Thần đã đến và hoạt động trong Hội Thánh. Chính Ngài đã biến đổi các tông đồ từ những người nhút nhát, chậm tin, trình độ giới hạn nên những con người mạnh dạn, ăn nói lưu loát, lý luận sắc bén khiến mọi người, thậm chí cả những người bách hại cũng phải thán phục.
Đến đây chúng ta có thể tạm tóm tắt như sau: Mặc dù Chúa Giêsu không còn hiện diện hữu hình nơi Giáo hội nhưng qua sự phù trợ của Chúa Thánh Thần, các tông đồ dần trưởng thành và Giáo hội ngày càng phát triển mạnh mẽ cho dù Giáo hội luôn chịu bách hại ở mọi nơi và mọi thời. Cho nên chúng ta được mời gọi luôn tin tưởng và cộng tác với Chúa xây dựng Giáo hội và góp phần Tin Mừng hóa nhân loại. Chính thánh Phêrô, trong bài đọc 2 đã nhắc lại cho chúng ta vinh dự và trách nhiệm này.
Cách riêng, trong những ngày này, giáo phận chúng ta đang bầu lại ban chấp hành các cấp. Thế nhưng, một số những người được mời gọi lại từ chối, đưa các lý do như là không đủ trình độ, đạo đức, tài chính, thời gian… Những người đó không nhớ rằng chính Chúa Giêsu đã nói trong bài Tin Mừng hôm nay rằng: “Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm những việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha". Chúng ta không tin rằng dù Thiên Chúa không hiện diện hữu hình nhưng Ngài vẫn hằng đồng hành và ban ơn cho những ai cộng tác với Ngài sao.
Và nếu chúng ta quên hoặc chưa cảm nghiệm được, chúng ta hãy quan sát, nói chuyện với những người đã từng thực thi các công việc tông đồ trong các giáo xứ xem có phải trước khi làm những việc đó, họ cũng là một con người đầy giới hạn như bao nhiêu người khác, nhưng với sự cộng tác của bản thân và nhất là nhờ ơn Chúa biến đổi, hiện tại họ đã trở thành những con người mạnh dạn hơn, ăn nói lưu loát hơn, hiểu biết và khiêm tốn hơn, tự tin hơn và nhất là đạo đức hơn. Và quan trọng là gia đình họ cũng chẳng nghèo đi mà thậm chí lại còn sung túc và khỏe mạnh hơn sau bao nhiêu năm họ phải bỏ tiền bỏ của, bỏ công sức, thời gian và công việc nhà để gánh vác việc chung cho mọi người.
Cho nên, tiếp tục dâng thánh lễ chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa gia tăng đức tin, lòng nhiệt thành và sự khôn ngoan nơi những người được dân Chúa tín nhiệm vào ban chấp hành các cấp. Chúng ta cũng cầu xin Chúa giúp mỗi người chúng ta ý thức vai trò và sứ mạng của mình trong công cuộc xây dựng nước Chúa. Chớ gì nhờ ý thức đó, mỗi người chúng ta, dù ở cấp bậc nào cũng luôn tin tưởng cộng tác với ơn Chúa mà làm cho Giáo hội và xã hội ngày càng phát triển và sớm đạt đến mức thành toàn như Chúa và mọi người đều mong ước. Chớ gì được như vậy. Amen

25/04/2026

Bài Giảng Chúa Nhật 4 Phục Sinh Năm A
Bđ 1: Cv 2,14a.36-41/Bđ 2: 1Pr 2,20b-25/Phúc Âm: Ga 10,1-10
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ
Trên mạng có một video ghi lại buổi thuyết pháp của một nhà sư. Trong bài thuyết pháp đó, nhà sư so sánh hai cách tu thân của Phật giáo và Công giáo. Nhà sự nói rằng: nếu tu bên Phật giáo sẽ thành phật; còn tu bên Công giáo thì chỉ được làm chiên thôi. Làm con chiên thì buồn buồn bị nó đem vào chảo nó chiên. Nhà sư nói như thế này chứng tỏ ông không hiểu gì về khái niệm con chiên trong đạo Công giáo cả.
Ngay cả chúng ta, hình ảnh con chiên và người mục tử cũng khá là xa lạ; nhưng với người Do thái thì hình ảnh này rất quen thuộc và thường được dùng để nói về tương quan giữa Thiên Chúa và con người.
Thật vậy, tổ tiên của dân Do thái là những người du mục. Họ thường đưa chiên, dê, bò, cừu đi từ cánh đồng này sang cánh đồng khác, chứ không nuôi nhốt ở một chỗ cố định. Người mục tử sẽ đi tìm những nơi có cỏ và nước để chiên được nuôi dưỡng và phát triển. Đôi khi các mục tử phải đối diện với nguy hiểm để bảo vệ đàn chiên của mình khỏi thú hoang, nhất là chó sói tấn công và giết hại.
Còn con chiên là một loài vật khá hiền lành, thường đi theo bầy. Chúng thường nhận biết tiếng và đi bất cứ đâu chủ dẫn đi. Tuy nhiên, cũng có những con chiên ham chơi, tự tách mình ra khỏi đàn và đi lạc. Khi một con chiên thấy mình bị lạc, nó thường trốn vào một nơi nào đó và không chịu di chuyển. Kết quả là con chiên đó có thể bị chết đói, chết khát hoặc bị thú dữ ăn thịt nếu người mục tử không đi tìm và đưa về đàn.
Và để bảo vệ đàn chiên tốt hơn vào ban đêm, các mục tử thường tìm những hang hoặc dựng những hàng rào bằng cành cây hoặc đá, được gọi là các ràn chiên, để tránh cho chiên của mình bị giết hại. Đôi khi người ta đưa nhiều đàn chiên vào một ràn để tiện bề canh giữ. Sáng hôm sau, các mục tử sẽ đi trước và gọi các con chiên của mình và các con chiên thường cũng nhận ra được tiếng chủ của chúng nên không hề có chuyện chiên này đi lạc vào đàn khác.
Do đó, các tiên tri và các tác giả Thánh vịnh đã sử dụng hình ảnh người mục tử và đàn chiên để nói về tương quan giữa Thiên Chúa và dân Do thái. Họ đã được Chúa giải thoát, hướng dẫn, bảo vệ, chăm sóc và dẫn đưa đến vùng đất tràn trền sữa và mật. Tiếp nối truyền thống đó, Chúa Giêsu, trong bài Tin Mừng cũng tự giới thiệu Ngài là một Mục tử tốt lành, Ngài đến để cho con người được sống và được sống dồi dào. Ngài cũng giới thiệu Ngài là Cửa Chuồng Chiên; ai qua Ngài mà vào, thì sẽ được cứu rỗi và tìm thấy của nuôi thân, tức là Ngài giới thiệu Ngài là Đấng bảo vệ và chăm sóc con người.
Và để giúp con người tin tưởng và sống theo những hướng dẫn của mình, như những con chiên tin tưởng nghe và làm theo hướng dẫn của người mục tử, chính Ngài đã sống và thực hành tất cả các chân lý Ngài rao giảng. Đó là sứ điệp bài đọc 2 chúng ta vừa nghe. Cụ thể hơn, thánh Phêrô đã mời gọi mọi người sống ngay lành và sẵn sàng chịu đau khổ vì lối sống đó thì như vậy mới được ân phúc trước mặt Thiên Chúa.
Để giúp chúng ta sống lời mời gọi này, thánh nhân đã nhắc cho chúng ta biết rằng chính Ðức Kitô đã chịu đau khổ cho chúng ta, lưu lại cho chúng ta một gương mẫu để chúng ta theo vết chân Người. Người là Ðấng không hề phạm tội và gian trá. Bị phỉ báng, Người không phỉ báng lại; bị hành hạ, Người không ngăm đe. Thậm chí, Người đã chấp nhận để con cái, thần dân, những người Thiên Chúa đã hết tình chăm sóc, nuôi dưỡng và hướng dẫn phản bội, kết án và giết chết. Đây không phải là lối sống nhu nhược song Chúa Giêsu muốn chứng tỏ cho con người thấy rằng chính Thiên Chúa đã cũng đã phải chịu muôn vàn đau khổ khi yêu thương và chăm sóc con người.
Để hiểu được những điều này, chúng ta cần nhớ lại những khó khăn của các phụ huynh khi nuôi dưỡng và giáo dục con cháu mình. Ở đây cũng có nhiều bậc phụ huynh. Cho con hỏi: làm thế nào để con cháu sống theo những lời dạy bảo tốt lành của mình đây; việc này có đơn giản không? Con biết là không hề đơn giản đúng không, thậm chí còn rất khó là đàng khác.
Có khi nào, có bậc phụ huynh ở đây, muốn con cái ngoan ngoãn và vâng lời mà dạy mãi mà chúng cứ không chịu nghe không? Có khi nào các bậc phụ huynh cảm thấy con cháu mình nghe lời bạn bè xấu hơn nghe lời mình chưa? Rồi có bậc phụ huynh nào đã bị con cháu vùng vằng, chửi hoặc đánh lại khi chúng ta giáo dục chúng chưa? Những lúc đó, các bậc phụ huynh làm gì? Đánh chửi chúng à? Đã có ai muốn giết quách chúng đi cho rảnh nợ chưa? Nếu không, các bậc phụ huynh đã làm gì?
Con nghĩ các bậc phụ huynh sẽ có nhiều cách thức thích hợp với từng trường hợp nhưng cách chung, các bậc phụ huynh đều phải chấp nhận sự ngỗ nghịch và ương bướng của con cháu, giống như Chúa cũng phải chịu sự ương bướng của chúng ta vậy. Và chúng ta phải kiên nhẫn giáo dục chúng như Chúa cũng hằng kiên nhẫn với chúng ta thôi. Thêm vào đó có những bậc phụ huynh đã can đảm sửa đổi và hi sinh bản thân để có thể giáo dục con cháu vì họ biết rằng con cháu họ chỉ làm theo những hướng dẫn của họ khi chúng thấy bố mẹ chúng cũng làm như vậy mà thôi.
Có những bậc phụ huynh đã phải điều chỉnh lại cung cách đối xử và lời nói với người khác, nhất là với các bậc bề trên trong gia đình để dạy con cháu họ về sự tôn trọng và hiếu thảo. Có những bậc phụ huynh đã chịu khó học hiểu Kinh Thánh và giáo lý, chịu khó đi lễ và cầu nguyện để có thể dạy con cháu về đời sống thiêng liêng. Rồi còn có cả những bậc phụ huynh chấp nhận buông bỏ chiếc điện thoại và tivi để nêu gương cho con cái biết không quá ham chơi mà đánh rơi cuộc đời.
Thậm chí có những cụ ông, cụ bà đã gần đất xa trời mà vẫn còn cắp sách đến trường để nên gương sáng cho con cháu và thế hệ trẻ. Ở Việt Nam, chúng ta có thể kể đến bà Nguyễn Thị Kim Dung đi học đại học ở tuổi ngoài 60. Còn bà Nola Ochs, người Mỹ đã tốt nghiệp đại học ở tuổi 95. Rồi con cũng biết rằng ngay tại giáo xứ mình đây này, có rất nhiều ông nhiều bà vẫn cố tham gia và học giáo lý mùa Chay vừa qua mặc dù giáo trình cực kì khó học và họ cũng hầu như không còn khả năng để ghi nhớ nữa.
Chúng ta có thấy những bậc phụ huynh trên đây đang cư xử giống Chúa Giêsu Mục tử nhân lành hay không? Tất nhiên là có rồi! Và suy ngẫm những điều này để chúng ta cũng phần nào hiểu được tâm tư, tình cảm và ước mong của Chúa Giêsu dành cho mỗi người chúng ta. Thiên Chúa ao ước chúng ta hiểu được rằng Ngài hằng tha thứ và muốn chúng ta thay đổi đời sống. Đây là sứ điệp của bài đọc một chúng ta vừa nghe.
Tiếp tục dâng thánh lễ, chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa giúp chúng ta cảm nghiệm được rằng Thiên Chúa hằng yêu thương, chăm sóc, hướng dẫn và bảo vệ chúng ta như người mục tử chăm sóc đoàn chiên của mình. Chúng ta cũng hãy cầu xin Thiên Chúa tác động để chúng ta thực sự tin tưởng và sống theo những hướng dẫn của Ngài như con chiên hằng nghe và đi theo sự hướng dẫn của các mục tử. Chúng ta cũng cầu xin Chúa giúp chúng ta cảm nghiệm được những hi sinh và gương mẫu tốt lành của Chúa Giêsu để chúng ta tin tưởng sống như Ngài đã sống để một ngày nào cũng được phục sinh vinh hiển như Ngài vậy. Amen

18/04/2026

Chúa Nhật 3 Phục Sinh-Chúa Nhật Lời Chúa
Bđ 1: Cv 2,14.22-28/Bđ 2: 1Pr 1,17-21/ PÂ: Lc 24,13-35

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ
Bài Tin Mừng vừa thuật lại cho chúng ta cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu phục sinh của hai môn đệ trên đường về quê Emmau. Kết thúc cuộc gặp gỡ này, hai người tức tốc trở lại Giêrusalem trong đêm mặc cho họ vừa trải qua một hành trình dài vất vả. Theo cộng đoàn tại sao họ lại vội vã trở về Giêrusalem như vậy? Tất nhiên, có người sẽ bảo ngay là để báo tin cho các môn đệ khác Chúa đã sống lại. Điều này đúng vì Tin Mừng đã nói điều đó.
Nhưng điều con muốn biết ở đây là động lực sâu xa nào đã khiến họ làm việc đó cơ. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta thử đặt mình vào địa vị của hai môn đệ và tự hỏi xem trong hoàn cảnh ấy tôi có vội vã đi báo tin hay không. Có người sẽ bảo là có song theo con có nhiều người sẽ thấy việc ấy chẳng ích lợi gì cho tôi cả.
Thật vậy, chúng ta cần nhắc lại rằng lúc đầu các môn đệ này theo Chúa chỉ vì nghĩ rằng Chúa sẽ lên Giêrusalem lãnh đạo dân chúng lật đổ ách thống trị của quân xâm lược Rôma, lập lên một triều đại giàu có, thịnh vượng trong đó họ trở thành những công hầu khanh tướng với địa vị và tiền tài vật chất. Họ theo Chúa hoàn toàn vì vật chất chứ không phải vì phần rỗi linh hồn.
Nếu chúng ta trong hoàn cảnh như họ, liệu chúng ta có tha thiết với việc trở về Giêrusalem và báo tin phục sinh cho những người khác không? Như con nói ở trên rằng nếu trả lời thật tâm, có người sẽ thấy việc đó không cần thiết, vì việc đó sẽ đặt họ vào những tình huống hi sinh và nguy hiểm đến tính mạng. Con dám nói điều đó, vì con cảm thấy, với một số người, việc Chúa sống lại cũng chẳng liên quan gì đến tôi. Điều tôi quan tâm là vị Chúa đó có làm gì giúp tôi được thăng quan tiến chức, được giàu có và bình an thôi không mà thôi. Nếu vị Chúa phục sinh đó không ban cho tôi những sự đó, lại khiến tôi phải hi sinh và có thể nguy hiểm đến tính mạng thì chả dại gì mà tôi lại dấn thân đi loan báo Tin Mừng phục sinh đó cả.
Suy ngẫm những điều này để chúng ta nhận ra có một sự biến đổi cực kì quan trọng trong nội tâm hai môn đệ. Đúng là trước đây họ theo Chúa hoàn toàn vì những lợi lộc trần thế. Nhưng đến khi Chúa Giêsu bị bắt và bị giết chết thì giấc mơ này đã tan thành mây khói nên họ mới trở về quê hương trong sự buồn bã và ê chề. Trong hoàn cảnh đó, Chúa Giêsu phục sinh đã tiến đến đồng hành với họ. Rồi Chúa đã dùng Kinh Thánh mà mạc khải cho họ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, khiến lòng họ cảm thấy sốt sắng hơn.
Và khi chứng kiến Chúa thực hiện việc bẻ bánh, họ đã nhận ra người đã đồng hành cùng họ chính là Chúa Giêsu phục sinh, Đấng xưa kia đã thiết lập bí tích Thánh Thể trước mắt họ. Bây giờ, đối với họ, Chúa Giêsu phục sinh không chỉ là một con người trở về từ cõi chết mà còn là Đấng trung tín và chân thật, là chính Thiên Chúa bởi chính Người đã hiện thực hóa tất cả những gì Người đã loan báo.
Tất nhiên, đối với họ bây giờ, Chúa Giêsu phục sinh không đơn thuần là Đấng thỏa mãn khao khát hạnh phúc vật chất, mà còn là Đấng khả dĩ đem lại cho họ hạnh phúc đời đời và vĩnh cửu. Thế nên họ mới bất chấp vất vả quay về Giêrusalem để báo cho những người khác tin mừng trọng đại này. Đồng thời họ cũng muốn dấn thân bước theo con đường Chúa đã đi xưa để một ngày nào đó cũng được vinh quang như Người.
Sau khi suy ngẫm câu chuyện của hai môn đệ, không biết có ai ở đây muốn được biến đổi như họ không vậy? Nếu có, thiết nghĩ chúng ta nên bắt đầu bằng cách kiểm tra xem tôi đang ở trong tình trạng nào, tôi đang theo Chúa vì cái gì. Có khi nào, cũng giống như các môn đệ xưa kia, nhiều người trong chúng ta cũng đang theo Chúa vì những lợi lộc trần thế thôi chăng? Để kiểm tra điều đó, chúng ta thử nhớ lại những điều chúng ta hay cầu xin với Thiên Chúa liên quan đến phần hồn hay phần xác nhiều. Chúng ta cũng có thể kiểm chứng bằng cách tự hỏi xem tôi có thường xuyên gắn bó với Thiên Chúa qua việc cầu nguyện và thánh lễ cả khi đời sống tôi được yên hàn không. Hay tôi chỉ sốt sắng khi có những việc vượt quá tầm con người và lúc đó tôi mới chạy đến cầu xin Thiên Chúa giải gỡ cho tôi?
Nếu câu trả lời là có thì phải chăng tôi cũng đang theo Chúa vì Chúa khả dĩ ban cho tôi những thứ liên quan đến đời này là chính, chứ có phải vì phần rỗi linh hồn đâu. Và nếu vậy thì Thiên Chúa chỉ đóng vai trò như một ông chủ cửa hàng cao cấp, còn ông thần đích thực chúng ta đang theo đuổi là của cải vật chất cơ. Nhưng chúng ta hãy một lần bình tâm mà suy xét xem liệu của cải vật chất và những sự đời này có thực sự làm cho chúng ta hạnh phúc không. Thật ra, chúng ta vẫn biết rằng chúng chẳng đem lại cho tôi hạnh phúc đời đời nhưng trên thực tế, chúng ta vẫn đang phấn đấu để có thật nhiều, thật nhiều với ước mong chúng sẽ thỏa mãn các khát vọng của tôi.
Thế nên, chúng ta rất cần nghe lại những lời thánh Phêrô vừa nói với chúng ta trong bài đọc 2 rằng: “Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà anh em đã được cứu chuộc khỏi nếp sống phù phiếm tổ truyền, nhưng bằng máu châu báu của Ðức Kitô, Con Chiên tinh tuyền, không tì ố”.
Thực ra việc biến đổi của chúng ta không xảy ra một sớm một chiều đâu. Việc biến đổi của chúng ta chỉ thực sự xảy ra khi chúng ta đã trải sự đời và đã thực sự gặp được Thiên Chúa. Mà muốn gặp và nhận ra Thiên Chúa nơi cuộc đời của mình chúng ta cũng cần cố gắng và mở lòng ra như hai môn đệ trên đường về Emmau vậy.
Thật vậy, giả sử trước câu hỏi đầu tiên của Chúa Giêsu, họ không thèm trả lời vì cho rằng người này vô tâm vì không biết gì đến một biến cố lớn lao vừa xảy ra ở Giêrusalem. Thêm vào đó, trước lời trách móc rằng họ là những kẻ khờ dại chậm tin, họ có thể hoàn toàn tự ái mà không thèm đối thoại nữa. Họ cũng có quyền chẳng thèm nghe một người xem như bình thường, không có bằng cấp và địa cắt nghĩa Kinh Thánh cho họ. Rồi họ cũng không có nghĩa vụ phải mời người đồng hành ăn tối và nghỉ ngơi tại nhà họ. Thế nhưng, như chúng ta thấy họ đã khiêm tốn đối thoại, lắng nghe và quảng đại mời Chúa ở lại dùng bữa với họ cho nên họ mới có cơ hội gặp gỡ chính Đấng phục sinh mà họ không ngờ tới.
Chúng ta cũng có thể được biến đổi như họ nếu chúng ta kiên trì tham dự thánh lễ bởi nếu cộng đoàn để ý cuộc gặp gỡ của hai môn đệ với Chúa phục sinh có cấu trúc tương tự như thánh lễ chúng ta hay tham dự. Thật vậy, qua thánh lễ, chúng ta cũng được Chúa đồng hành, hỏi han nhưng biết đâu đã tham dự bao nhiêu thánh lễ, chúng ta chỉ tham dự cho có chứ không thực sự đi vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa thì làm sao Thiên Chúa có thể biến đổi chúng ta được. Nếu chúng ta không mở lòng, nếu chúng ta không khiêm tốn lắng nghe, nếu chúng ta không quảng đại dâng cho Chúa thời gian và sự tham dự tích cực, nếu chúng ta còn tính toán với Chúa, đi muộn, về sớm, nếu chúng ta không hát, không thưa đáp, ngồi ngoài nói chuyện, chơi game... thì đến bao giờ chúng ta mới nhận ra, gặp và được Chúa phục sinh biến đổi được?
Cho nên, tiếp tục dâng thánh lễ, chúng ta hãy cầu nguyện để xin Chúa giúp chúng ta biết khiêm tốn và dễ dạy như hai môn đệ trên đường về Emmau. Chúng ta cũng cầu xin Chúa giúp chúng ta biết lắng nghe, biết cầu nguyện, biết đối thoại với Thiên Chúa qua mỗi thánh lễ chúng ta tham dự. Chớ gì nhờ sự khiêm tốn, tích cực đối thoại và quảng đại mỗi người chúng ta cũng được gặp gỡ và được Thiên Chúa biến đổi ngõ hầu kết thúc mỗi thánh lễ chúng ta cũng được hân hoan lên đường loan báo Tin Mừng cho những người khác vậy.

Address

Nho Quan

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thuận Giuse posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share