Nhựt Lâm-Chánh Đẳng

Nhựt Lâm-Chánh Đẳng Chia sẻ kiến thức

🍀Mở sáu nút - chiếc khăn hoa kiếp-ba-la do chư thiên dâng cúng🍀A-Nan chắp tay đảnh lễ bạch Phật: “Con nay nghe Phật mở l...
02/04/2026

🍀Mở sáu nút - chiếc khăn hoa kiếp-ba-la do chư thiên dâng cúng🍀

A-Nan chắp tay đảnh lễ bạch Phật: “Con nay nghe Phật mở lòng vô giá đại bi dạy cho chúng con những lời pháp chân thật, thanh tịnh diệu thường. Nhưng tâm chúng con còn chưa được rõ mở từng nút theo thứ lớp, chưa rõ mở sáu nút thì một cũng không còn. Xin Đức Phật lại mở lòng từ bi, thương xót hội chúng nầy và những chúng sinh trong đời sau, mà ban bố cho pháp âm, để rửa sạch những cấu nhiễm sâu dày của chúng con.”

Liền khi ấy từ toà sư tử, Như Lai chỉnh y niết-bàn tăng, vén y tăng-già-lê, vịn vào bàn thất bảo, tay cầm lên chiếc khăn hoa kiếp-ba-la do chư thiên dâng cúng.

Đức Phật ở trước đại chúng, (từ chiếc khăn) cột thành một nút, đưa cho A-Nan xem và Phật hỏi rằng: “Đây là cái gì?”

A-Nan và đại chúng đồng bạch Phật rằng: “Đó gọi là nút thắt.”

Đức Phật cột nút khác và hỏi A-Nan, “Đây là cái gì?”

A-Nan và đại chúng lại đồng bạch Phật rằng, “Đó gọi là nút thắt.”

Đức Phật tuần tự cột từng nút như vậy trên chiếc khăn hoa, tổng cộng thành sáu nút. Mỗi khi cột xong một nút, đều đưa lên hỏi A-Nan rằng Đây là cái gì?”

A-Nan và đại chúng cũng tuần tự đồng bạch Phật rằng, “Đó gọi là nút thắt.”

Đức Phật bảo A-Nan: “Khi Như Lai mới cột khăn lại thì ông gọi là nút, cái khăn hoa nầy, trước đây chỉ một cái, tại sao lần thứ hai, thứ ba, ông vẫn gọi là nút.”

A-Nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, chiếc khăn hoa thêu quý báu nầy vốn chỉ một thể, song theo ý con, khi Như Lai cột một lần thì gọi là một nút, nếu cột 100 lần, thì thành 100 nút. Huống chi khăn nầy chỉ có sáu nút, không đến bảy, cũng không dừng ở năm. Sao Như Lai chỉ gọi cái đầu tiên là nút, mà cái thứ hai thứ ba thì không gọi là nút?”

Đức Phật bảo A-Nan, “Cái khăn hoa báu nầy, ông biết nó vốn chỉ là một, khi Như Lai thắt sáu lần thì ông gọi là sáu nút. Ông quán sát kỹ, thấy thể của khăn nầy là đồng, do vì các nút mà thành ra khác.”

Ý ông nghĩ sao? Khi mới cột nút lần đầu thì gọi là nút thứ nhất, như thế cho đến nút thứ sáu. Nay Như Lai muốn gọi nút thứ sáu là nút thứ nhất có được không?

A-Nan: Bạch Thế Tôn. Không. Nếu còn sáu nút, thì cái gọi là thứ sáu, rốt cuộc chẳng phải là cái thứ nhất. Dù con có biện bạch hết đời, làm sao có thể lộn lạo tên gọi của sáu nút kia được?

Đức Phật dạy: “Đúng vậy, sáu nút không đồng nhau, Xét về căn gốc, vẫn do một cái khăn mà ra. Nhưng làm cho nó đảo lộn thứ tự thì rốt ráo không thể được.”

Sáu căn của ông cũng giống như vậy. Trong thể tánh tuyệt đối giống nhau, lại sinh ra cái tuyệt đối khác nhau.

Đức Phật bảo A-Nan: ‘Ông chắc không muốn có sáu nút nầy, mà chỉ muốn thành một thể, việc ấy phải làm sao?’

A-Nan thưa rằng: ‘Nếu còn những nút đó, thì điều thị phi sẽ nổi dậy, trong đó sẽ tự cho rằng nút nầy chẳng phải là nút kia, nút kia chẳng phải là nút nầy. Nhưng nay Như Lai giải trừ tất cả. Các nút đã không sinh ra thì không có bỉ thử. Đã không có một thì sáu làm sao thành? ’

Đức Phật bảo: ‘Nghĩa mở được sáu, một không còn cũng như vậy.’

Do từ vô thuỷ, tâm ông điên loạn. Tri kiến vọng phát mãi mãi không dừng, làm cho tri kiến sinh mệt nhọc. Như khi con mắt mỏi mệt thì thấy như có hoa đốm không có nguyên nhân gì, hỗn loạn khởi lên trong thể tánh sáng suốt rỗng lặng.

Tất cả các tướng trong thế gian, núi sông đất liền, sinh tử niết-bàn, đều là tướng hoa đốm điên đảo, do bệnh mê lầm mà phát ra.

A-Nan thưa: “Bệnh mê lầm nầy cũng giống như các nút thắt, làm sao để giải trừ?”

Đức Phật dùng tay cầm cái khăn có nút, kéo mối bên trái, hỏi A-Nan rằng, “Thế này có cởi được không?”

A-Nan đáp: “Bạch Thế Tôn. Không.”

Đức Phật dùng tay kéo riêng mối bên phải, rồi hỏi A-Nan rằng, “Thế này có cởi được không?”

A-Nan đáp: “Bạch Thế Tôn. Không.”

Đức Phật bảo A-Nan: “Nay Như Lai dùng tay kéo mối bên phải rồi bên trái, rốt cuộc vẫn không cởi được. Vậy ông dùng phương tiện nào mà mở ra được?

A-Nan bạch Phật ngôn: “Bạch Thế Tôn, ngài phải cởi từ chính giữa, các nút sẽ được mở ra.”

Đức Phật bảo A-Nan: “Đúng vậy, đúng vậy. Nếu ông muốn mở nút, ông phải mở từ chính giữa.”

A-Nan, Như Lai nói Phật pháp do nhân duyên sinh, chẳng phải là căn cứ vào những tướng hoà hiệp thô trọng của thế gian. Như Lai nhận ra các tướng thế gian và xuất thế gian, biết rõ bản nhân của chúng do nhân duyên gì mà phát sinh ra.

Như thế cho đến một giọt mưa ngoài hằng sa thế giới, (Như Lai) cũng đều biết số mục. Cũng như nay trước mắt ông, các thứ cây tùng thẳng, cây g*i cong, chim hộc trắng, chim quạ đen, (Như Lai) đều biết nguyên do.

Vậy nên A-Nan, tùy tâm ông lựa chọn trong sáu căn, nếu trừ được nút thắt trong căn ấy rồi, thì trần tướng tự diệt. Các vọng đã tiêu, đó chẳng phải chân thì là gì? A-Nan, nay Như Lai hỏi ông: “Cái khăn hoa nầy hiện có sáu nút, nếu đồng thời cởi ra, thì có thể cùng lúc trừ hết được chăng?”

A-Nan: “Bạch Thế Tôn. Không. Những nút nầy khi cột lại, vốn có thứ tự. Nay cũng phải theo thứ lớp mà mở. Sáu nút tuy đồng một thể, nhưng cột lại không đồng thời, thì khi mở nút, làm sao cùng một lúc mà mở hết được?”

Đức Phật dạy rằng, “Việc giải trừ các nút nơi sáu căn cũng như vậy. Khi các căn bắt đầu được mở, trước hết sẽ được nhân không. Đến khi tánh không viên mãn sáng suốt, thì giải thoát được pháp chấp. Pháp chấp được giải thoát rồi, thì cả nhân không lẫn pháp không đều chẳng sanh khởi.”

Đó gọi là Bồ Tát do tam-ma-điạ mà chứng được vô sanh nhẫn.

(KINH ĐẠI PHẬT ĐẢNH NHƯ LAI
MẬT NHƠN TU CHỨNG LIỄU NGHĨA
CHƯ BỒ TÁT VẠN HẠNH THỦ LĂNG NGHIÊM, QUYỂN 5: MỞ SÁU NÚT)

🍀ẤN CHÚ LÀ GÌ?🍀Ấn là tay tiêu biểu, Chú là miệng diễn tả.Ấn sử dụng hai bàn tay, mỗi bàn có năm ngón, từ nhỏ đến lớn the...
26/02/2026

🍀ẤN CHÚ LÀ GÌ?🍀

Ấn là tay tiêu biểu,
Chú là miệng diễn tả.

Ấn sử dụng hai bàn tay, mỗi bàn có năm ngón, từ nhỏ đến lớn theo thứ tự tiêu biểu năm nguyên tố lớn (ngũ đại) là đất, nước, lửa, gió, không (cố thể, dịch thể, nhiệt lực, động lực, không khí). Tay trái là Định, tay phải là Tuệ. Nói giản dị, với mười ngón của hai bàn tay, Ấn vận dụng toàn bộ tâm lý vật lý của Tâm, tĩnh cũng như động, để tiêu biểu diệu dụng của Tâm mà ở đàn chẩn tế là diệu dụng cứu độ của đàn này.

Như đã nói ở trên, có thể nói nôm na, rằng Ấn là tay chỉ, Chú là miệng nói. Không có sự hội ý thì không biết được ý nghĩa của Ấn Chú. May mà có tiểu đề (và hình vẽ), nên ý nghĩa ấy cũng hình dung được. Ấy thế, Ấn Chú là hai mặt của một ý : ý của Phật, của Tâm.
(Tỳ kheo Trí Quang, Để hiểu đàn Chẩn Tế, Nxb Tổng hợp Tp. HCM, 2013, tr. 16)

Sở dĩ tâm phóng dật và ý tán loạn là vì uế trược chưa được khai thông. Nếu tìm về chỗ thanh vắng để thực tập cho tâm lắn...
18/02/2026

Sở dĩ tâm phóng dật và ý tán loạn là vì uế trược chưa được khai thông. Nếu tìm về chỗ thanh vắng để thực tập cho tâm lắng đọng và ý không còn bị những tà dục lôi kéo thì lúc ấy lắng tai ta có thể nghe rõ được cả vạn lời, không có lời nào bị bỏ sót. Tâm tĩnh và ý trong thì có thể làm được như vậy.

(Trích: Thích Nhất Hạnh, Thiền sư Khương Tăng Hội, Nxb Phương Đông, 2009, tr. 189)

☘️BA HẠNH CỦA SA MÔN☘️Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?- Thọ trì tăng thượn...
20/12/2025

☘️BA HẠNH CỦA SA MÔN☘️

Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?

- Thọ trì tăng thượng giới học,
- Thọ trì tăng thượng tâm học,
- Thọ trì tăng thượng tuệ học.

Đây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò, nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: Ta cũng là Tỷ-kheo, Ta cũng là Tỷ-kheo. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tâm học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỷ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta thọ trì tăng thượng tâm học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta thọ trì tăng thượng tuệ học. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

(Trích: Kinh Tăng Chi Bộ 1, Chương III Ba Pháp IX. Phẩm Sa-Môn, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, 1996, Tr. 416.)

🍀Đức Phật dạy về bảy loại phước thế gian và xuất thế gian🍀👉BẢY LOẠI PHƯỚC THẾ GIAN:Tôn giả Ma-ha Châu-na từ chỗ ngồi đứn...
04/11/2025

🍀Đức Phật dạy về bảy loại phước thế gian và xuất thế gian🍀

👉BẢY LOẠI PHƯỚC THẾ GIAN:

Tôn giả Ma-ha Châu-na từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên hữu, gối phải sát đất, quỳ dài, chắp tay, bạch rằng: Bạch Thế Tôn, có thể thi thiết phước thế gian được chăng?

Đức Phật dạy: Có bảy loại phước thế gian, có phước hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức lớn. Những gì là bảy?

1- Tộc tánh nam hay tộc tánh nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân) có tín tâm cúng thí phòng xá, nhà gác cho đại chúng Tỳ-kheo. Đó là loại phước thế gian thứ nhất.

2- Tộc tánh nam hay tộc tánh nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân) có tín tâm, ở trong các phòng xá, cúng thí giường nằm, đồ ngồi, đệm lông, thảm dệt, chăn len, ngọa cụ trong các phòng xá. Đó là loại thế gian phước thứ hai.

3- Tộc tánh nam hay tộc tánh nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân) có tín tâm, ở trong các phòng xá, cúng thí y phục mới mẽ, sạch sẽ, đẹp đẽ. Đó là loại thế gian phước thứ ba.

4- Tộc tánh nam hay tộc tánh nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân) có tín tâm, ở trong các phòng xá, thường xuyên cúng thí chúng Tăng cháo buổi sáng, thức ăn buổi trưa, lại cung cấp người làm vườn để sai bảo; hoặc gió, mưa, tuyết, lạnh, tự mình thân đến khu vườn mà cúng thí chu cấp thêm. Các Tỳ-kheo sau khi ăn, không lo gió, mưa, tuyết lạnh khiến y phục bị ướt át, mà ngày đêm yên vui, tư duy thiền tọa vắng lặng. Đó là loại thế gian phước thứ bảy.

Tôn giả Ma-ha Châu-na có tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm, nếu đã tạo được bảy loại phước thế gian này rồi, hoặc đi, hoặc đến, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc ngủ, hoặc thức, hoặc ngày, hoặc đêm, phước đức ấy thường xuyên phát sinh, càng lúc càng thêm, càng lúc càng rộng.

Tôn giả Ma-ha Châu-na, ví như nước sông Hằng-già từ nguồn chảy ra, tuôn vào đại hải, ở vào khoảng giữa càng lúc càng sâu, càng lúc càng rộng. Cũng vậy, Châu-na, tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm ấy, đã tạo được bảy loại phước thế gian này rồi thì hoặc đi, hoặc đến, hoặc ngồi, hoặc ngủ, hoặc thức, hoặc ngày, hoặc đêm, phước đức ấy càng sinh, càng lúc càng thêm, càng lúc càng rộng.

👉BẢY LOẠI PHƯỚC XUẤT THẾ GIAN:

Tôn giả Ma-ha Châu-na từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên hữu, gối phải sát đất, quỳ dài, chắp tay, bạch rằng: Bạch Thế Tôn, có thể thi thiết phước xuất thế gian được chăng?

Đức Thế Tôn dạy về bảy loại phước xuất thế gian, có phước hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức lớn. Những gì là bảy?

1- Tộc tánh nam hay tộc tánh nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân) có tín tâm, nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai đang trú ở nơi nào đó. Sau khi nghe, liền hoan hỷ, trong lòng rất phấn khởi. Đó là loại phước xuất thế gian thứ nhất.

2- Tộc tánh nam hay tộc tánh nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân) có tín tâm, nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai sẽ từ nơi kia đến đây, nghe rồi vui vẻ, trong lòng rất phấn khởi. Đó là loại phước xuất thế gian thứ hai.

3- Tộc tánh nam hay tộc tánh nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân) có tín tâm, nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai sẽ từ nơi kia đến đây, nghe rồi vui vẻ, trong lòng rất phấn khởi. Với tâm thanh tịnh, đích thân tới thăm viếng. Đó là loại phước xuất thế gian thứ ba.

4- Tộc tánh nam hay tộc tánh nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân) có tín tâm, nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai sẽ từ nơi kia đến đây, nghe rồi vui vẻ, trong lòng rất phấn khởi. Với tâm thanh tịnh, đích thân tới thăm viếng, lễ kính. Đó là loại phước xuất thế gian thứ tư.

5- Tộc tánh nam hay tộc tánh nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân) có tín tâm, nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai sẽ từ nơi kia đến đây, nghe rồi vui vẻ, trong lòng rất phấn khởi. Với tâm thanh tịnh, đích thân tới thăm viếng, lễ kính, cúng dường. Đó là loại phước xuất thế gian thứ năm.

6- Tộc tánh nam hay tộc tánh nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân) có tín tâm, nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai sẽ từ nơi kia đến đây, nghe rồi vui vẻ, trong lòng rất phấn khởi. Với tâm thanh tịnh, đích thân tới thăm viếng, lễ kính, cúng dường, thọ pháp ba tự quy, đối với Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Đó là loại phước xuất thế gian thứ sáu.

7- Tộc tánh nam hay tộc tánh nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân) có tín tâm, nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai sẽ từ nơi kia đến đây, nghe rồi vui vẻ, trong lòng rất phấn khởi. Với tâm thanh tịnh, đích thân tới thăm viếng, lễ kính, cúng dường, thọ pháp ba tự quy, đối với Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo và thọ giới cấm. Đó là loại phước xuất thế gian thứ bảy.

Tôn giả Ma-ha Châu-na, tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm, nếu tạo được bảy loại phước thế gian này và lại có bảy loại phước xuất thế gian, thì phước của người kia không thế tính được, có chừng ấy phước, có chừng ấy kết quả của phước, có chừng ấy phước báo. Chỉ có thể nói là không thể hạn, không thể lượng, và không thể biết được con số đại phước.

Tôn giả Ma-ha Châu-na, ví như từ châu Diêm-phù có năm con sông: Một là Hằng-già, hai là Dao-vưu-a, ba là Xá-lao-phù, bốn là A-di-la-bà-đề và năm là Ma-xí, đều chảy về đại hải. Ở khoảng giữa của chúng, không thể tính được số nước của bao nhiêu thăng hộc. Chỉ có thể nói là số nước nhiều không thể hạn, không thể lượng, và không thể biết được.

Cũng vậy, Châu-na, tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm, nếu tạo được bảy loại phước thế gian này và lại có bảy loại phước xuất thế gian, thì phước của người kia không thế tính được, có chừng ấy phước, có chừng ấy kết quả của phước, có chừng ấy phước báo. Chỉ có thể nói là không thể hạn, không thể lượng, và không thể biết được con số đại phước.

(Lược đại ý từ: Kinh Trung A Hàm (中 阿 含 經), 1. Phẩm Bảy Pháp, 7. Kinh Thế Gian Phước, Hán dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm, Việt dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ).

🍀NGÃ và NGÃ SỞ🍀👉Thế nào gọi là ngã? Vì chấp trước chẳng đúng thật, ở nơi các thú vọng tưởng tạo những nghiệp thế gian. N...
26/10/2025

🍀NGÃ và NGÃ SỞ🍀

👉Thế nào gọi là ngã?

Vì chấp trước chẳng đúng thật, ở nơi các thú vọng tưởng tạo những nghiệp thế gian. Nơi đây họ chấp ngã tướng cho là ngã.

👉Thế nào là ngã sở?

Chính do tham dục gọi là ngã sở. Do các cảnh dục hòa hiệp với thân mà có tâm tham. Đã có tâm tham thì hư hoại giới tụ. Do đây sanh tâm chẳng lành đối với sở hữu của người khác. Do giận hờn mà khinh khi hủy báng lẫn nhau. Thâu lấy tài vật làm sở hữu của mình rồi ôm ấp giữ gìn, chính đây gọi là ngã sở.

Người có ngã sở thì có lưu chuyển. Đã có lưu chuyển thì có mê lầm. Đã có mê làm thì có phỉ báng. Đã có phỉ báng thì có giận hờn. Đã có giận hờn thì có giết hại. Đã có hại nhau thì bị sự hại này đốt cháy. Đã bị đốt cháy thì có khắp đốt cháy. Những lỗi trên đây đều do lòng tham dục nơi sở hữu, nên gọi là ngã sở.

Do những nghĩa trên đây nên nói ngã sở thì đã là mắng nhiếc thân mình. Kẻ ngu si vì chấp ngã mà thành ngu phu, cho nên gọi đó là ngã sở.

(Trích: Kinh Đại Bảo Tích, pháp hội tam tụ luật nghi thứ nhứt,
Hán dịch: Nhà Đường, Tam tạng pháp sư Bồ Đề Lưu Chi,
Việt dịch: Việt Nam, Sa môn Thích Trí Tịnh,
Nxb Tôn Giáo, 2014, tr.19)

🍀Người học đạo thì giữ gìn tùng lâm, tùng lâm thì giữ gìn đạo đức🍀Phật Trí bảo Thủy Am: Thực thể của trụ trì có bốn điều...
30/09/2025

🍀Người học đạo thì giữ gìn tùng lâm, tùng lâm thì giữ gìn đạo đức🍀

Phật Trí bảo Thủy Am: Thực thể của trụ trì có bốn điều: Ðạo đức, ngôn hành, nhân nghĩa và lễ pháp. Ðạo đức và ngôn hành là gốc của sự giáo hóa, nhân nghĩa và lễ pháp là ngọn của sự giáo hóa. Không có gốc thì chẳng hay đứng được, không có ngọn thì chẳng hay thành được.

Bậc tiên thánh thấy người học đạo không tự trị được, nên mới kiến lập tùng lâm để họ có chỗ an trụ, suy cử người trụ trì để thống lĩnh họ, nhưng vì cái tôn của tùng lâm không phải vì trụ trì. Cơm ăn, áo mặc, đồ dùng, thuốc thang đầy đủ, không phải vì người học đạo, mà đều là vì cái đạo của Phật Tổ.

Bởi thế, người khéo trụ trì trước hết phải tôn đạo đức, giữ ngôn hành, người khéo học đạo, tất nhiên phải giữ nhân nghĩa tuân đạo đức. Cho nên, nếu trụ trì không có người học đạo thì không thể thành lập. Trụ trì và người học đạo cũng như thân mình với cánh tay, đầu và chân, lớn nhỏ phải thích ứng mà không trái nhau mới có thể cùng nương vào nhau mà làm việc. Nên nói: “Người học đạo thì giữ gìn tùng lâm, tùng lâm thì giữ gìn đạo đức”. Người trụ trì nếu không có đạo đức thì tùng lâm cũng hầu như tàn phế vậy.
Thực Lục

(佛智謂水菴曰。住持之體有四焉。一道德。二言行。三仁義。四禮法。道德言行乃教之本也。仁義禮法乃教之末也。無本不能立。無末不能成。先聖見學者不能自治。故建叢林以安之。立住持以統之。然則叢林之尊非為住持。四事豐美非為學者。皆以佛祖之道故。是以善為住持者。
必先尊道德守言行。能為學者必先存仁義遵禮法。故住持非學者不立。學者非住持不成。住持與學者。猶身之與臂。頭之與足。大小適稱而不悖。乃相須而行也。故曰。學者保於叢林。叢林保於道德。住持人無道德。則叢林將見其廢矣。
實錄
Phật Trí vị Thủy Am viết: Trụ trì chi thể hữu tứ yên: Nhất đạo đức, nhị ngôn hành, tam nhân nghĩa, tứ lễ pháp. Ðạo đức ngôn hành nãi giáo chi bản dã, nhân nghĩa lễ pháp nãi giáo chi mạt dã. Vô bản bất năng lập, vô mạt bất năng thành. Tiên thánh kiến học giả bất năng tự trị, cố kiến tùng lâm dĩ an chi, lập trụ trì dĩ thống chi. Nhiên tắc tùng lâm chi tôn, phi vị trụ trì. Tứ sự phong mỹ phi vị học giả, giai dĩ Phật Tổ chi đạo cố. Thị dĩ thiện vi trụ trì giả, tất tiên tôn đạo đức thủ ngôn hành. Năng vi học giả tất tiên tồn nhân nghĩa tuân lễ pháp. Cố trụ trì phi học giả bất lập. Học giả phi trụ trì bất thành. Trụ trì dữ học giả, do thân chi dữ tý, đầu chi dữ túc, đại tiểu thích xứng nhi bất bội, nãi tương tu nhi hành dã. Cố viết: “Học giả bảo ư tùng lâm, tùng lâm bảo ư đạo đức!”. Trụ trì nhân vô đạo đức, tắc tùng lâm tương kiến kỳ phế hỹ.
Thực Lục)

[THIỀN LÂM BẢO HUẤN, quyển 4, bài 229
(Tác giả: HT. Thích Thanh Kiểm - Nxb Thanh Niên, 2020, Tr. 413).

🍀CÓ SINH TỬ ĐỜI SAU KHÔNG🍀Một thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá. Khi ấy, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp...
27/07/2025

🍀CÓ SINH TỬ ĐỜI SAU KHÔNG🍀

Một thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá. Khi ấy, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp và Tôn giả Xá-lợi-phất ở trong núi Kỳ-xà-quật. Bấy giờ có nhiều chúng xuất gia ngoại đạo đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất. Sau khi cùng Tôn giả thăm hỏi nhau, rồi ngồi lui qua một bên, nói với Tôn giả Xá-lợi-phất rằng:

“Thế nào, Xá-lợi-phất, Như Lai có sanh tử đời sau không?”

Xá-lợi-phất nói:

“Này các ngoại đạo, Thế Tôn nói rằng: ‘Điều này không ký thuyết.”

Lại hỏi:

“Thế nào, Xá-lợi-phất! Như Lai không có sanh tử đời sau phải chăng?”

Xá-lợi-phất đáp rằng:

“Này các ngoại đạo, Thế Tôn nói rằng: ‘Điều này không ký thuyết.’”

Lại hỏi Xá-lợi-phất:

“Như Lai vừa có sanh tử đời sau, vừa không có sanh tử đời sau chăng?”

Xá-lợi-phất đáp rằng:

“Thế Tôn nói rằng: ‘Điều này không ký thuyết.’”

Lại hỏi Xá-lợi-phất:

“Như Lai vừa chẳng phải có sanh tử đời sau, vừa chẳng phải không có sanh tử đời sau chăng?”

Xá-lợi-phất đáp rằng:

“Này các ngoại đạo, Thế Tôn nói rằng: ‘Điều này không ký thuyết’”

Các xuất gia ngoại đạo lại hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

“Thế nào, những điều chúng tôi hỏi, Như Lai có sanh tử đời sau; không có sanh tử đời sau; vừa có đời sau, vừa không có đời sau; vừa chẳng phải có đời sau, vừa chẳng phải không có đời sau. Tất cả đều đáp, Thế Tôn nói rằng: ‘Điều này không ký thuyết.’ Tại sao là một Thượng tọa mà như ngu, như si, không khéo, không biết, như trẻ thơ không có trí tự tánh? Sau khi nói xong những lời này, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.”

Lúc ấy, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp và Tôn giả Xá-lợi-phất ở cách nhau không xa, cả hai ban ngày ngồi thiền tư dưới bóng cây. Sau khi Tôn giả Xá-lợi-phất biết các xuất gia ngoại đạo đã đi rồi, đến chỗ Tôn giả Ma-ha Ca-diếp, cùng nhau thăm hỏi khích lệ, rồi ngồi qua một bên, đem những việc bàn luận vừa rồi cùng các xuất gia ngoại đạo thưa lại đầy đủ cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp:

“Thưa Tôn giả Ma-ha Ca-diếp, vì nhân gì, duyên gì mà Thế Tôn không ký thuyết đời sau có sanh tử; đời sau không có sanh tử; đời sau vừa có đời sau vừa không; chẳng phải có chẳng phải không sanh tử?”

Tôn giả Ma-ha Ca-diếp bảo Xá-lợi-phất rằng:

“Nếu nói Như Lai đời sau có sanh tử, thì đó là sắc. Nếu nói Như Lai đời sau không có sanh tử, thì đó là sắc. Nếu nói Như Lai đời sau vừa có sanh tử, đời sau vừa không có sanh tử, thì đó là sắc. Nếu nói Như Lai đời sau chẳng phải có, đời sau chẳng phải không sanh tử, thì đó là sắc. Vì Như Lai, sắc đã dứt hết, tâm khéo giải thoát, nên bảo có sanh tử đời sau, thì đây là điều không đúng; hoặc đời sau không sanh tử; hoặc đời sau vừa có, đời sau vừa không; hay đời sau chẳng phải có, đời sau chẳng phải không sanh tử, thì điều này cũng không đúng. Vì Như Lai, đã dứt hết sắc, tâm khéo giải thoát sâu xa, rộng lớn vô lượng, vô số, Niết-bàn vắng lặng.

“Tôn giả Xá-lợi-phất, nếu nói Như Lai có sanh tử đời sau, thì đó là thọ, là tưởng, là hành, là thức, là động, là tư lự, là hư dối, là hữu vi, là ái,… cho đến, chẳng phải có chẳng phải không có sanh tử đời sau cũng nói như vậy. Vì Như Lai, đã diệt tận ái, tâm khéo giải thoát, nên nói có sanh tử đời sau là không đúng; hoặc không đời sau; hoặc đời sau vừa có, đời sau vừa không; hay chẳng phải có, chẳng phải không đời sau, thì cũng không đúng. Vì Như Lai, đã diệt tận ái, nên tâm khéo giải thoát sâu xa, rộng lớn vô lượng, vô số, Niết-bàn vắng lặng.

“Tôn giả Xá-lợi-phất, vì nhân như vậy, duyên như vậy, cho nên có người hỏi Thế Tôn: ‘Như Lai hoặc có hoặc không, hoặc vừa có vừa không, chẳng phải có chẳng phải không sanh tử đời sau.’ Ngài đã không thể ký thuyết.”

Sau khi hai vị Chánh sĩ cùng bàn luận với nhau xong, cả hai trở về chỗ của mình.

(Trích: Kinh Tạp A-hàm 雜阿含經 [T2n99], quyển 32, kinh Ngoại Đạo, Hán dịch: Tống, Tam tạng Cầu-na-bạt-đà-la, Việt dịch: Thích Đức Thắng, Hiệu đính & Chú thích: Tuệ Sỹ)

☸️NĂM YẾU TỐ ĐỂ BẢO VỆ MÌNH☸️Một thời, Đức Bạc-già-phạm ngụ tại vườn Cấp-cô-độc, rừng Thệ đa, thuộc thành Thất-la-phiệt....
31/05/2025

☸️NĂM YẾU TỐ ĐỂ BẢO VỆ MÌNH☸️

Một thời, Đức Bạc-già-phạm ngụ tại vườn Cấp-cô-độc, rừng Thệ đa, thuộc thành Thất-la-phiệt. Khi ấy Đức Thế Tôn bảo với chúng Bí sô: Có nhiều người phạm năm thứ tội oán sau đây, nên không được trong sạch yên lành. Ở đời hiện tại họ bị các bậc Hiền Thánh chê trách, gọi là kẻ phạm giới tự gây hại mình. Vì gây tội ác nên bị chê bai ghét bỏ, bị nhiều tai họa, không có phước đức. Khi chết rồi thì bị đọa vào đường ác, sinh trong địa ngục.

Năm thứ tội ác đó là gì?

1. Lỗi thứ nhất là giết hại. Do điều kiện giết hại nên sinh ra tội lỗi, oán thù, sợ hãi và cứ quen thói không từ bỏ việc giết hại.

2. Lỗi thứ hai là không cho mà lấy. Do điều kiện trộm lấy cướp giựt này nên sinh ra tội lỗi, oán thù, sợ sệt và quen thói không từ bỏ trộm cướp.

3. Lỗi thứ ba là dâm dục tà hạnh. Do điều kiện dâm dục tà hạnh nên sinh ra tội lỗi, oán thù, sợ sệt và quen thói không từ bỏ việc dâm dục tà hạnh.

4. Lỗi thứ tư là nói dối. Do điều kiện nói dối nên sinh ra tội lỗi, oán thù, sợ sệt và quen thói không từ bỏ việc nói dối.

5. Lỗi thứ năm là uống rượu chơi bời. Do điều kiện uống rượu lêu lổng nên sinh ra tội lỗi, oán thù, sợ sệt và quen thói không từ bỏ việc uống rượu phóng dật.

Những ai gây ra năm tội lỗi nói trên thì luôn bị oán thù sợ hãi mà không được yên lành trong sạch. Ở đời hiện tại bị các bậc Hiền Thánh chê trách, gọi là kẻ phạm giới tự làm hại mình. Vì gây tội đó nên bị chê bai ghét bỏ, bị nhiều tai họa, không có phước đức. Khi chết rồi sẽ bị đọa vào các đường dữ sinh trong địa ngục.

Lại có những người luôn được yên lành không phạm năm tội lỗi. Ở đời hiện tại họ được các bậc Hiền Thánh cùng sống chung, khen ngợi, khâm phục, gọi là người giữ giới hạnh tự bảo vệ mình.

Do không gây tội ác, nên không bị ai chê bai ghét bỏ, lại được nhiều phước đức. Khi chết rồi sẽ được sinh lên các cõi thiện, ở chốn thiên cung. Đó là năm điều gì?

1. Điều thứ nhất là từ bỏ giết hại. Do điều kiện lìa bỏ giết hại, nên không có lỗi lầm, oán thù, sợ hãi và giỏi lìa bỏ việc giết hại.

2. Điều thứ hai là từ bỏ việc không cho mà lấy. Do điều kiện từ bỏ trộm cướp nên không có tội lỗi, oán thù sợ hãi và giỏi lìa bỏ trộm cắp.

3. Điều thứ ba là lìa dục tà hạnh. Do điều kiện lìa bỏ tà hạnh nên diệt tội, hết thù oán và giỏi lìa tà hạnh.

4. Điều thứ tư là lìa bỏ nói dối. Do điều kiện không nói dối, nên không có tội lỗi, oán thù sợ hãi và giỏi lìa bỏ sự nói dối.

5. Điều thứ năm là từ bỏ việc uống rượu, phóng dật. Do điều kiện không uống rượu chơi bời lêu lổng nên không có tội lỗi oán thù sợ hãi, lại giỏi từ bỏ chơi bời, uống rượu.

Có những người luôn yên lành không phạm năm điều lỗi đó nên họ ở đời này được các bậc Hiền Thánh cùng sống chung khen ngợi, khâm phục, gọi là người giữ giới hạnh tự bảo vệ mình. Do không gây tội ác nên không bị ai chê bai ghét bỏ, lại được nhiều phước đức. Khi chết rồi sẽ được sinh lên các cõi thiện, ở chốn thiên cung.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tóm tắt các nghĩa vừa nói trên nên nói kệ tụng:

Những hành giết, trộm, dâm,
Nói dối, mê uống rượu,
Bị năm lỗi trói chặt,
Hiền Thánh đều chê trách.
Phạm giới tự hại mình,
Gây tội, không được phước,
Chết đọa vào đường dữ,
Bị nhốt trong địa ngục.
Lìa bỏ giết, trộm, dâm,
Nói dối, mê uống rượu,
Vượt thoát năm điều lỗi,
Hiền Thánh đều khen phục.
Giữ giới tự phòng thân,
Không tội, nên được phước,
Chết rồi sinh cõi thiện,
Sống ở chốn thiên cung.

(Nguồn: LUẬN A TỲ ĐẠT MA PHÁP UẨN TÚC, phẩm 1: Học xứ, Tác giả: Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng, Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh)

Ai tỳ kheo còn trẻChuyên tâm hành Phật dạyChói sáng thế gian nàyNhư trăng thoát mây che.(Tiểu bộ kinh, Trưởng lão tăng k...
29/04/2025

Ai tỳ kheo còn trẻ
Chuyên tâm hành Phật dạy
Chói sáng thế gian này
Như trăng thoát mây che.
(Tiểu bộ kinh, Trưởng lão tăng kệ, số 873)

Quan Vân Trường sau khi bị thiết dưới tay Lữ Mông, thần hồn không siêu, hằng ngày kêu lên: Trả đầu lại cho ta! Trả đầu l...
11/04/2025

Quan Vân Trường sau khi bị thiết dưới tay Lữ Mông, thần hồn không siêu, hằng ngày kêu lên: Trả đầu lại cho ta! Trả đầu lại cho ta! Sau đó gặp thiền sư Trí Giả ở núi Thiên Thai, ngài nói: Ngươi đã chém Nhan Lương, Tru Văn Xú, đầu của họ ngươi trả thế nào? Thần hồn của Quan Vân Trường hiểu ra và quy y với Đại sư Trí Giả và trở thành hộ pháp trong già lam.
------------
👉Trích: Sớ Quan Thánh.
Trong TỔNG TẬP VĂN SỚ PHẬT GIÁO BÌNH ĐỊNH ghi rằng:

Kính nghe rằng:
Thần lực nâng đỡ vạc vàng,
Nghĩa lớn che trùm trời đất.
Thân ngự nơi núi Ngọc Tuyền linh thiêng,
Chân linh nguyện gửi mình vào cửa Phật.
Nguyện một lòng hộ quốc hộ dân,
Lấy Đại bi, Đại nguyện làm gốc.

Kính lạy:

Tam Giới Phục Ma, Hiệp Thiên Đại Đế, Quan Thánh Đế Quân, Già Lam Chơn Tể Bồ Tát.

Ngự tiền:

Tả, Quan Bình Hộ Giá Tướng Quân.
Hữu, Chu Thương Huy Hạ Tướng Quân.

Đồng xin chứng giám.

Kính nguyện:

Mày cong vút tợ tơ tằm,
Mắt phượng khẽ nghiêng rủ xuống.
Treo đèn Từ, soi tỏ đường lui tới.
Vung kiếm Từ, dứt trừ mọi phiền não.
Lòng Từ rộng ban, che chở muôn phương,
Gia chủ môn nhơn, đều hưởng phúc lành.

Address

Nha Trang

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nhựt Lâm-Chánh Đẳng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Nhựt Lâm-Chánh Đẳng:

Share