Chùa Linh Sơn Phước Huệ

Chùa Linh Sơn Phước Huệ Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Chùa Linh Sơn Phước Huệ, Buddhist Temple, Thôn Phước Lộc, Xã Phước Đồng, Nha Trang.

19/02/2025

Cách đoạn tận sân si
Sân si là trạng thái tâm lý tiêu cực gồm sự tức giận (sân) và sự si mê, chấp trước (si). Để đoạn tận sân si, bạn cần thực hành các phương pháp sau:
1. Hiểu rõ bản chất của sân si
Sân phát sinh khi bạn gặp điều trái ý, bị xúc phạm, mất mát…
Si là vô minh, không thấy rõ sự thật, dính mắc vào tham vọng, chấp niệm.
Nhận diện được sân si là bước đầu để buông bỏ.
2. Thực hành chánh niệm và tỉnh giác
Khi cơn giận nổi lên, hãy quan sát nó thay vì phản ứng ngay.
Hít thở sâu, nhận biết cảm xúc mà không để nó chi phối.
3. Rèn luyện tâm từ bi
Nuôi dưỡng lòng từ (Metta) giúp giảm sân hận, nhìn người khác với sự bao dung.
Thực hành "Hỷ Xả" – vui với hạnh phúc của người khác, buông bỏ chấp niệm.
4. Thực hành vô thường và vô ngã
Mọi thứ trên đời đều thay đổi, sân giận cũng không tồn tại mãi.
Hiểu rằng không có ai là kẻ thù thật sự, chỉ là duyên nghiệp chi phối.
5. Thiền định và tu tập trí tuệ
Ngồi thiền giúp tâm an tịnh, giảm phiền não.
Học Phật pháp để hiểu sâu về nhân quả, vô thường, bớt cố chấp.
6. Chuyển hóa suy nghĩ và lời nói
Trước khi nói điều gì, hãy tự hỏi: "Nó có cần thiết không? Có tốt đẹp không?"
Tránh môi trường tiêu cực, thực hành lời nói hòa nhã.
7. Thực hành hạnh buông xả
Không dính mắc vào đúng – sai, hơn – thua.
Nhìn nhận mọi chuyện với tâm rộng mở, không để sân si điều khiển.
👉 Kiên trì thực hành, tâm sẽ an nhiên, hạnh phúc hơn! 🌿

19/02/2025

Buông Sân Bỏ Si
Sân si như lửa cháy bùng,
Thiêu tâm hờn giận, não nung tháng ngày.
Lời đau tựa lưỡi dao gài,
Hại người chưa thấm, đọa đày thân ta.

Sân từ chấp ngã sinh ra,
Thấy mình là đúng, người là sai sai.
Giữ lòng nóng giận chẳng hay,
Khác nào ôm lửa trong tay thiêu mình.

Si mê chẳng rõ nhân sinh,
Vướng trong ảo vọng, tâm tình đảo điên.
Trăm năm như giấc mộng huyền,
Được, thua, hơn, thiệt... có bền lâu đâu?

Buông sân giữ dạ nhu hòa,
Nhìn nhau ánh mắt nở hoa ân tình.
Lòng từ trải khắp nhân sinh,
Nhẹ nhàng tha thứ, tâm mình thảnh thơi.

Học buông, học xả, học cười,
Học quên thù hận, đổi đời an nhiên.
Trời cao mây trắng bình yên,
Thong d**g bước nhẹ giữa miền thảnh thơi.

🙏 Tâm an, đời sẽ an vui,
Buông sân, bỏ si, rạng ngời từ tâm. 💖

19/02/2025

Dứt Trừ Dục Vọng
Dục tâm như lửa bập bùng,
Nuôi hoài thiêu đốt muôn trùng khổ đau.
Tham cầu mãi chẳng đủ đâu,
Được rồi lại mất, trước sau lụi tàn.
Biết thân tạm bợ thế gian,
Sắc, danh, tài, lạc hợp tan vô thường.
Tĩnh tâm quán chiếu đoạn đường,
Thấy sâu nhân quả, tỏ tường thị phi.
Chớ ham mộng đẹp huyền vi,
Hoa thơm đến lúc sớm thì phai nhanh.
Gạn lòng như nước giếng lành,
Lắng trong không đục, tâm thanh nhẹ nhàng.
Thiền tâm thắp sáng đèn vàng,
Chiếu soi vọng tưởng, mơ màng dứt tan.
Bớt đi ái luyến mê man,
Sống đời tiết chế, an nhàn thân tâm.
Dục kia nếu dưỡng thêm mầm,
Mọc thành rễ lớn trăm năm khó rời.
Cắt đi từ thuở mới khơi,
Đừng gieo hạt ác, đừng mời lửa thiêu.
Sống thanh đạm, nghĩa cao siêu,
Lòng không vướng bận, tiêu diêu tháng ngày.
Buông đi ái dục đọa đày,
Nhẹ như mây trắng, về Tây AN LÀNH

19/02/2025

LÀM SAO DỨT TRỪ DỤC VỌNG
Dứt trừ dục vọng là một quá trình rèn luyện tinh thần và ý chí, không thể thực hiện ngay lập tức mà cần có sự kiên trì và phương pháp đúng đắn. Dưới đây là một số cách giúp bạn kiểm soát và giảm bớt dục vọng:
1. Nhận thức rõ bản chất của dục vọng
Hiểu rằng dục vọng là một phần tự nhiên của con người, nhưng nếu không kiểm soát, nó có thể gây ra đau khổ.
Quan sát những tác động tiêu cực mà dục vọng mang lại để có động lực buông bỏ.
2. Rèn luyện chánh niệm (mindfulness)
Thực hành thiền định giúp quan sát và không bị cuốn theo dục vọng.
Khi dục vọng khởi lên, hãy ý thức được nó mà không chạy theo hoặc kìm nén, chỉ đơn giản quan sát như một người ngoài cuộc.
3. Tìm hiểu về vô thường và nhân quả
Nhận thức rằng dục vọng chỉ là cảm giác nhất thời, nếu không nuôi dưỡng, nó sẽ tự tan biến.
Hiểu rằng chạy theo dục vọng thường dẫn đến khổ đau và hệ lụy không mong muốn.
4. Kiểm soát các tác nhân kích thích
Hạn chế tiếp xúc với nội dung gợi dục trên internet, phim ảnh, mạng xã hội.
Tránh môi trường và các mối quan hệ dễ kích thích dục vọng.
5. Chuyển hóa năng lượng dục vọng
Thay vì kìm nén, hãy chuyển hóa năng lượng đó thành những hoạt động tích cực như tập thể dục, sáng tạo nghệ thuật, hoặc học tập.
Nuôi dưỡng tâm từ bi và tình yêu thương vô điều kiện để hướng bản thân đến điều thiện lành.
6. Sống đơn giản, tiết chế ham muốn
Học cách hài lòng với những gì mình có, không chạy theo vật chất hay khoái lạc tạm thời.
Thực hành ăn uống điều độ, ngủ nghỉ hợp lý để không tạo điều kiện cho dục vọng khởi lên.
7. Tìm một mục tiêu cao cả hơn
Khi bạn có một lý tưởng lớn (tu tập tâm linh, giúp đỡ người khác, phát triển bản thân...), dục vọng sẽ dần mất đi sức hấp dẫn.
Hãy dành thời gian đọc sách đạo đức, triết học hoặc kinh điển Phật giáo để mở rộng trí tuệ.
Dứt trừ dục vọng không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn nó mà là học cách kiểm soát và hướng nó vào những điều có ích. Nếu bạn kiên trì rèn luyện, tâm trí sẽ ngày càng thanh tịnh và an lạc hơn.

Đức Phật Dạy Về Pháp Khai Thị Khi Người Thân Sắp Qua Đời.Một hôm có người bà con là người Chú họ đến hỏi Đức Thế Tôn: Bạ...
12/08/2024

Đức Phật Dạy Về Pháp Khai Thị Khi Người Thân Sắp Qua Đời.
Một hôm có người bà con là người Chú họ đến hỏi Đức Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, nếu mà phải chăm sóc một người thân lúc sắp chết thì chúng con phải làm gì cho đúng tinh thần của một Phật tử, tinh thần Chánh Pháp ?
Đức Phật dạy hãy đến bên Cha Mẹ, người thân và nói thế này : Việc nhà đã có người lo. Chết không phải là kết thúc mà nó là sự bắt đầu. Cái tấm thân này chỉ là một chén đất đã mẻ, cũ. Người có Công Đức, bỏ nó đi để kiếm một cái bát bằng vàng ở chỗ khác. Nó bây giờ đã già và đã xấu, nó đã đau đớn, nó đã nhăn nheo thế này mà tiếc gì nữa!
Tại sao không nghĩ đến một chỗ khác tốt hơn ? Cõi nhân loại này mệt mỏi lắm. Hãy nghĩ đến các cõi Trời : Ở đó không có đau, không có bệnh, không có hờn giận, không có sợ hãi, không có đấu tranh, không có máu và nước mắt, có điều kiện tu học tốt hơn.
Nhưng hễ còn Tái sanh thì còn Khổ. Ở cõi nào đi nữa thì cũng có lúc quay về chỗ Khổ nhất. Cho nên hãy nghĩ đến Tam Tướng (Khổ, vô thường, vô ngã) , nghĩ đến sự lìa bỏ thân Ngũ Uẩn để đừng có Tái Sanh nữa. Đừng mong đợi Tái Sanh nữa mà hãy tác ý đến Niết-Bàn.
Vậy mà hiện nay, có rất nhiều người khi Bố Mẹ đang hấp hối chuẩn bị ra đi, con cái chỉ biết bu lại khóc than, thậm chí có nơi còn mướn người phụ khóc trong đám tang của người thân. Các vị nên biết, khi mà ra đi trong tiếng khóc của người thân thì người sắp mất bị hoảng loạn hoặc tiếc thương, không đành lòng ra đi nhưng đâu thể được. Mình biết Đạo không có hành động kỳ cục như vậy. Mình phải giúp cho họ ra đi thanh thản.
Cho nên chúng ta muốn người thân mình ra đi được thanh thản thì hàng ngày phải hướng dẫn họ tu học theo giáo Pháp chân chánh của Đức Phật, phải giúp họ thấy rõ như thật thân này vốn chỉ là giả tạm, cuộc đời vốn là vô thường, đồng thời phải hướng dẫn họ tạo thật nhiều công đức, tránh xa các tội lỗi, có như thế đến giờ phút lâm chung, họ mới có thể thanh thản ra đi chẳng có chút sợ hãi nào và nếu không đạt được Niết-bàn vắng lặng thì cũng có thể sanh về các cõi Phật như Tây Phương Cực Lạc, hoặc những cảnh giới an lành.

Chương Trình Đại Lễ Vu Lan Tại Chùa Linh Sơn Phước Huệ năm Giáp Thìn (2024)18h45 các ngày 25 đến ngày 29/6/al tụng Mục L...
30/07/2024

Chương Trình Đại Lễ Vu Lan Tại Chùa Linh Sơn Phước Huệ năm Giáp Thìn (2024)
18h45 các ngày 25 đến ngày 29/6/al tụng Mục Liên Sám Pháp
18h45 ngày 1/7/al Khai Kinh Vu Lan
18h 45 các ngày Mùng 6, 8,10, 12, 14 tháng 7 al tuyên sớ cầu siêu
9h sáng 14/7/al trai tăng mãn hạ
14h ngày 15/7/al lễ cúng Linh và cúng thí thực

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỦA LỄ TẮM PHẬT1. Nguồn gốc của lễ tắm Phật.Khi đức Phật đản sinh, trên trời có chín rồng phun hai ...
12/05/2024

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỦA LỄ TẮM PHẬT
1. Nguồn gốc của lễ tắm Phật.
Khi đức Phật đản sinh, trên trời có chín rồng phun hai dòng nước ấm mát tắm rửa cho Ngài, cùng lúc ấy, chư thiên tung hoa trời, trổi nhạc trời chúc mừng thái tử. Dựa vào sự kiện này mà người con Phật hàng năm vào dịp lễ Phật đản người con Phật đều tổ chức lễ tắm Phật. Nghi thức tắm Phật đã có từ xa xưa ở Ấn Độ. Tắm Phật là nghi thức tưới nước thơm lên tượng Phật sơ sinh, ngoài mục đích kỹ niệm đức Phật Đản sinh còn mang ý nghĩa sâu sắc là tẩy trừ phiền não, hướng đến làm thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý. Khi tiến hành lễ tắm Phật, bài kệ tắm Phật được xướng tụng là:

我今灌沐諸如來

淨智莊嚴功德聚

五濁眾生令離垢

同證如來淨法身

毘耶城裏不曾生

娑羅樹間不曾滅

不生不滅老瞿曇

眼中看見重添節

今朝正是四月八

淨飯王宮生悉達

噴水九龍天外來

捧足蓮花隨地發

唵,牟尼,牟尼,三牟尼,薩婆訶.

Âm Hán:

Ngã kim quán mộc chư Như Lai

Tịnh trí trang nghiêm công đức tụ

Ngũ trược chúng sanh linh ly cấu

Đồng chứng Như Lai tịnh pháp thân.

Tỳ Gia thành lý bất tằng sinh

Sa La thọ gian bất tằng diệt

Bất sanh bất diệt lão Cồ Đàm

Nhãn trung khán kiến trùng thiêm tiết.

Kim triêu chính thị tứ ngoạt bát

Tịnh Phạn vương cung sinh Tất Đạt

Phún thủy cửu long thiên ngoại lai

Bỗng túc liên hoa tùng địa phát.

Án mâu ni, mâu ni, tam mâu ni, tát bà ha.

Dịch nghĩa:

Con nay rưới tắm các Như Lai

Trí sạch trang nghiêm công đức lớn

Chúng sanh năm trược rời cấu trần

Cùng chứng Như Lai tịnh pháp thân.

Trong thành Tỳ Gia chưa từng sinh

Giữa cây Sa La chưa từng diệt

Bất sinh bất diệt đức Cồ Đàm

Trong mắt nhìn xem càng thêm bớt.

Sáng nay là mồng tám tháng tư

Cung vua Tịnh Phạn sinh Tất Đạt

Chín rồng phun nước ngoài trời đến

Hoa sen đỡ bước theo đất mọc.

Án mâu ni, mâu ni, tam mâu ni, tát bà ha.

2. Ý nghĩa nghi thức tắm Phật
Lễ tắm Phật hàm chứa một ý nghĩa vô cùng cao siêu. Pháp thân thanh tịnh, Phật tánh luôn tiềm ẩn trong mỗi người, thế nhưng vì phiền não, tham sân si mà bị che lấp khiến cho Phật tánh không được lộ ra. Muốn lộ Phật tánh, chúng ta phải mượn nước thơm để tẩy rửa bụi trần.
Lễ tắm Phật cũng là một hành động để mỗi người liên tưởng tới việc gột rửa thân tâm của bản thân mình nhằm tìm lại sự thanh tịnh vốn có.
Khi múc gáo nước đầu tiên, tắm bên vai phải của tôn tượng Đức Phật đản sanh nhỏ nhắn, chúng ta tâm nguyện rằng: dù trên đời có gặp việc phải, vừa ý, gọi là thuận cảnh, tâm của chúng ta vẫn bình tĩnh thản nhiên. Khi múc gáo nước thứ hai, tắm bên vai trái của tôn tượng xinh xắn, chúng ta tâm nguyện rằng: dù trên đời có gặp việc trái ý, gọi là nghịch cảnh, tâm của chúng ta vẫn bình tĩnh thản nhiên.
Đối với người Phật tử, sự tôn kính, lòng nhiệt thành đối với Đức Phật trên nền tảng của chánh kiến mới thực sự mang lại cho họ một niềm tin trong sáng và sự an lạc đích thực, lâu dài. Mỗi khi dâng một nén hương, một đóa hoa, một phẩm vật lên Đức Phật, hay khi rưới những dòng nước tinh khiết lên tôn tượng của Ngài, đó chính là nhân duyên thù thắng để mỗi người quay về với chính mình, hầu tự sách tấn, tự trang nghiêm cho bản thân bằng hương đức hạnh, bằng hoa trí tuệ, và bằng nước nhẫn nhục, từ ái, tùy thuận thích ứng với mọi nhân duyên, ngay cả chướng duyên để hướng đến một nếp sống hướng thượng, tỉnh giác. (Sưu tầm)

Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày kỷ niệm Đức Phật Đản Sanh, mỗi người con Phật đều cảm thấy lòng mình nao nao khó tả. Ơn...
09/05/2024

Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày kỷ niệm Đức Phật Đản Sanh, mỗi người con Phật đều cảm thấy lòng mình nao nao khó tả. Ơn Phật quá to lớn chúng ta không biết làm sao báo đáp. Chỉ biết tự hứa với lòng mình sẽ nỗ lực học và hành theo gương của Đức Từ Phụ để đem lại sự an lạc và hạnh phúc cho bản thân và cho những người có nhân duyên. Giờ đây chúng ta cùng nhau tìm hiểu đôi điều về Ngày Lễ Đản Sanh và Ý Nghĩa của ngày lễ này.

I. PHẬT ĐẢN SINH NGÀY NÀO VÀ Ý NGHĨA CỦA TỪ “ĐẢN SINH”
1. Phật đản sanh vào ngày nào?
Đức Phật đản sanh vào ngày rằm tháng Vesak nhằm tháng 5 tây lịch. Theo Phật giáo bắc tông, ba sự kiện đản sanh, thành đạo, niết bàn rơi vào 3 tháng khác nhau, đó là đản sanh ngày 8/4/al , thành đạo vào ngày 8/12/al và niết bàn vào ngày 15/2/al trong khi theo Phật giáo nam tông ba sự kiện này xảy ra chung một ngày gọi là tam hợp.
Trước năm 1950, các nước theo Phật giáo Bắc tông tổ chức Lễ Phật đản vào ngày mùng 8/4 âm lịch. Từ sau Đại hội Phật giáo thế giới đầu tiên được tổ chức tại Colombo, Srilanka từ ngày 25/5-8/6/1950, các đại biểu đến từ 26 quốc gia đã thống nhất ngày Phật đản là ngày rằm tháng tư âm lịch.
Đến ngày 15/12/1999, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại phiên họp thứ 54 đã chính thức công nhận đại lễ Vesak là Lễ Vesak Liên Hợp Quốc (United Nations day of Vesak) và được tổ chức hàng năm tại các trụ sở liên hợp quốc vào ngày trăng tròn đầu tiên của tháng 5 dương lịch thường là nhằm ngày 15/4/al (Có những năm có 2 ngày trăng tròn trong tháng 5 dương lịch như năm 2007, có nơi tổ chức ngày Vesak vào ngày trăng tròn đầu tiên (ngày 1 tháng 5) trong khi tại nơi khác lại kỷ niệm vào ngày trăng tròn thứ 2 (ngày 31 tháng 5).
2. Ý nghĩa của từ Đản Sanh.
Thường trong danh từ nhà Phật, khi nói đến sự hiện diện của Đức Phật Thích Ca trong cõi đời này, người ta thường dùng đến những thuật ngữ như: Đản sinh, Thị hiện hoặc Giáng sinh.
- Đản sinh: nghĩa là một sự ra đời vui vẻ, làm hân hoan, xán lạn cho cõi đời.
- Thị hiện: nghĩa là hiện ra bằng xương bằng thịt, cho con mắt trần của chúng ta thấy được.
- Giáng sinh: nghĩa là từ một chỗ cao mà xuống một chỗ thấp để sinh ra.
Ba thuật ngữ ấy đều có ý nghĩa khác nhau: Đản sinh dùng để ca tụng một Bậc tôn quí ra đời; Thị hiện hàm ý Phật bao giờ cũng có cả, nhưng vì mắt người không thấy được, phải hiện rõ ràng ra mới thấy; Giáng sinh hàm ý Đức Phật ở một cảnh giới cao hơn, tốt đẹp hơn mà hạ xuống cảnh giới phàm trần này.
Ba thuật ngữ ấy mặc dù khác nhau, nhưng đều có thể dùng để chỉ sự ra đời của Đức Phật. Trái lại, khi một người phàm ra đời thì gọi là “đầu thai”. Ðầu thai có nghĩa là bị nghiệp báo thiện hay ác bắt buộc phải luân hồi để chịu quả báo lành hay dữ. Còn Đản sinh, Giáng sinh hay Thị hiện thì không hàm nghĩa bị nghiệp nhân câu thúc, mà do nơi lòng Từ Bi, muốn làm lợi ích cho chúng sinh, nên tự nguyện ứng thân xuất hiện ra đời trong một thời gian để cứu độ chúng sinh.
II. DUYÊN KHỞI BỒ TÁT HỘ MINH GIÁNG THẾ
Ma Da hoàng hậu ngủ say
Nằm mơ chợt thấy sắc mây rạng ngời
Một luồng ánh sáng từ trời
Lung linh chiếu xuống tận nơi giường bà
Trong hào quang bỗng hiện ra
Voi to, màu trắng, sáu ngà đẹp thay,
Voi và ánh sáng cùng bay
Tới gần hoàng hậu nhập ngay vào bà.
Sáng hôm sau tỉnh giấc ra
Trong lòng hoàng hậu chan hòa niềm vui

Căn cứ theo Kinh Phật Bản Hạnh, Bồ tát Hộ Minh từ cung trời Đâu Suất, vì lòng từ bi thương tưởng đến nhân loại đang khổ đau và cũng vì hạnh nguyện độ tha của mình nên Ngài đã thị hiện nhập thai nơi Hoàng hậu Ma Da.
Truyện kể rằng: Tại một vương quốc nhỏ ở phía Bắc Ấn Ðộ, một hôm vào lễ vía Tinh Tú, vua Tịnh Phạn mở tiệc vui chơi trong thành Ca-tỳ-la-vệ. Sau khi dâng hương hoa cúng kiến trong cung điện xong, Hoàng Hậu Ma Da cùng gia đình ra ngoài thành để bố thí thức ăn và quần áo cho dân nghèo. Khi trở về cung an giấc, bà mơ thấy một luồng ánh sáng trắng từ bầu trời chiếu xuống thân thể mình, theo luồng ánh sáng này là một con voi trắng sáu ngà từ trên không trung bay xuống và sau đó lấy ngà khai hông bên hữu của bà mà chui vào. Lúc bấy giờ bà nghe trong người bỗng nhiên thật thanh thoát, nhẹ nhàng, chẳng còn biết sầu lo oán hận gì cả. Hoàng Hậu bèn đem điềm chiêm bao này thuật lại cho vua Tịnh Phạn nghe, vừa nghe xong, nhà vua lấy làm lạ bèn cho mời các nhà tiên tri lỗi lạc đến để đoán mộng. Các nhà tiên tri đoán rằng: “Hoàng Hậu sẽ sinh ra một quý tử có tài đức song toàn”. Nghe điều này, Vua Tịnh Phạn rất vui mừng, vì từ nay ngôi báu đã có người truyền thừa.
III. NGÀY PHẬT ĐẢN SINH
Hoàng Hậu Ma Da mang thai đến thời khai hoa nở nhụy, theo tục lệ thời bấy giờ, Hoàng hậu phải trở về quê mẹ ở nước Koly (Câu Ly) để an dưỡng, chờ ngày lâm bồn. Trên đường đi, Hoàng hậu Ma Da vào vườn Lumbini thưởng ngoạn mùa hoa đang đua nở. Bên tàng cây Vô Ưu che rợp mát, sắc màu tươi sáng, hương thoảng nhẹ bay, Hoàng hậu đưa cánh tay vịn lấy cành hoa Vô Ưu thì hạ sinh Thái tử Tất Đạt Đa. Tin lành Thái tử chào đời nhanh chóng được loan truyền trong dân chúng. Tất cả thần dân trong vương quốc đều vui mừng không xiết kể. Thái tử ra đời đúng với ý nghĩa:“Một chúng sinh duy nhất, một con người phi thường, xuất hiện trong thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người.”
“Nhè nhẹ tay trên níu lấy cành,
Nhiệm màu hương ngát tỏa hồn thanh,
Trời rung đất chuyển trăm điều lạ,
Hớn hở chào mừng Thái tử sinh”.
Ngày Đản sinh Thái tử, khắp xứ Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ, cây cối xanh tươi, sông ngòi mương giếng trong đầy, chim chóc reo vang, hào quang tỏa khắp. Lúc ấy khắp địa cầu tràn ngập niềm an lạc và hạnh phúc. Mọi người quên hết lo âu, xóa mọi hận thù, thương yêu lẫn nhau. Đó là ngày hội của toàn cõi nhân thiên.
Thái tử giáng sinh vào ngày trăng tròn tháng vesak tương đương với tháng 5 dương lịch năm 624 BC tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni), cách thành Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ) khoảng 15 cây số. Người là con của vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da.
IV. Đức Phật Đản Sanh Đã Giúp Được Gì Cho Nhân Loại.
1. Phật khai mở tuệ giác cho hết thảy chúng sinh
Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều có trí tuệ, nhưng trí tuệ đã bị chôn vùi bởi hàng hàng, lớp lớp vô minh. Do đó, sự xuất hiện Đức Phật trong cõi đời này là để khai mở trí tuệ cho hết thảy chúng sinh, phá trừ màn vô minh, để nhân loại nhận ra được Phật tính ở nơi tự thân của chính mình và Ngài khẳng định rằng: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”.
Qua lời khẳng định đó, cho chúng ta thấy là tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Đức Phật nêu cao tinh thần tự lực sẵn có nơi mỗi người, khuyến khích mọi người không nên nương vào một sức mạnh siêu hình, mà hãy nương vào chính bản thân mình. Cho nên, trong phần cuối các thời kinh tụng của Tịnh Độ tông luôn có câu là “Tự quy y Phật,…. Tự quy y Pháp,… Tự quy y Tăng,….”
Tự quy y Phật là mình tự trở về với Phật tính sáng suốt của tâm mình. Tự quy y Pháp là vâng theo Pháp tính của mình. Trong tâm của mỗi người đều có đủ pháp Từ Bi, Hỷ Xả, Trí Tuệ, Bình Đẳng, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn... Chúng ta cần phát huy những đức tính ấy. Tự quy y Tăng chính là quay trở về với đức tính thanh tịnh, hòa hợp của chính mình.

2. Phật chỉ bày con đường hạnh phúc an lạc
Đức Phật ra đời là để chỉ bày cho chúng sinh nhận diện được đâu là con đường hạnh phúc an lạc và đâu là con đường khổ đau luân hồi; đâu là giá trị cao quý trong cuộc sống của chúng ta. Ngài cũng chỉ cho chúng ta thấy rằng, một đời sống có thể trở thành cao quý khi lời nói, hành động, việc làm của họ được phát xuất từ một tâm hồn cao quý. Nếu lời nói tầm thường, hành động tầm thường, việc làm tầm thường thì có gốc rễ từ nơi một tâm hồn tầm thường. Tâm hồn tầm thường chính là tâm hồn ích kỷ, tham lam, sân si, cố chấp, kiêu ngạo. Lời nói nào phát xuất từ tâm hồn kiêu ngạo, ích kỷ, hẹp hòi... lẽ đương nhiên lời nói đó có khả năng làm phá hoại hết thảy hạnh phúc, an lạc của chúng ta, có khả năng tàn phá hết đời sống cao quý và làm mất hết công đức lành của chúng ta.
Muốn có được hạnh phúc, an lạc, chúng ta phải nuôi dưỡng tâm hồn Từ, Bi, Hỷ, Xả. Chúng ta muốn sống một đời sống cao thượng mà không biết nuôi dưỡng và phát triển tâm hồn Từ, Bi, Hỷ, Xả, chuyên trì giới, thiền định .v.v… thì chúng ta không thể nào có đời sống cao thượng, hạnh phúc và an lạc được.
3. Tu tập và thành tựu giác ngộ an lạc ngay trong đời sống hiện tại
Đức Phật ra đời hướng dẫn cho chúng sinh thành tựu được giác ngộ ngay ở trong đời sống của chính mình, ngoài đời sống của chính mình ra không có đời sống giác ngộ nào để cho chúng ta đi tìm kiếm.
Một người đau khổ tột cùng cũng có thể vươn mình đi đến đời sống hạnh phúc, an lạc nếu người đó biết chuyển hóa. Dù một kẻ rất tầm thường cũng có thể vươn mình đi đến đời sống thánh thiện, cao thượng. Bao nhiêu kẻ bất hiếu với cha mẹ, nhưng khi gặp thầy hiền, bạn tốt, sống trong một khung cảnh dễ thương, họ trở thành một con người hiếu kính, một con người thuần thiện. Điều đó đã chứng tỏ rằng, chúng ta có thể giác ngộ được, nhận ra được cái tính chất cao thượng của chúng ta ngay trong đời sống của mình.
Ngày xưa, khi Vua A Dục chưa gặp Phật pháp thì ông là một vị vua hết sức tàn ác. Thế mà khi vua A Dục có duyên gặp được một vị Thánh Tăng giáo hóa, thì ông đã chuyển hóa hoàn toàn và trở thành một vị hộ Pháp đắc lực và góp công lao rất lớn trong việc hoằng truyền và xiển dương chánh pháp.
Cho nên lời chư Tổ dạy rằng:“Bất úy tham sân khởi. Duy khủng tự giác trì”. Nghĩa là:“Không sợ tham sân khởi dậy, mà chỉ sợ mình giác ngộ chậm”. Nếu mình hiểu được đạo, giác ngộ được đạo, thì bao nhiêu xấu xa, bao nhiêu cái tầm thường ở trong đời sống của mình cũng được chuyển hóa thành cái cao thượng, chuyển thành những điều có ý nghĩa.

4. Hiển lộ tính Phật trong chúng ta
Chúng ta làm lễ Đức Phật đản sinh, nghĩa là chúng ta có khả năng làm cho Đức Phật trong ta Đản sinh mỗi ngày. Chúng ta làm lễ kỷ niệm ngày Đản sinh của Đức Phật thì phải cố gắng tu tập để chuyển hóa những điều xấu thành tốt, để Đức Phật trong chúng ta được đản sinh, chứ không đợi 365 ngày mới đến Chùa làm lễ Đản Sinh. Đạt được như thế thì ta mới có khả năng một ngày nào đó ta sẽ đi những bước vững chãi trên những đóa hoa sen thanh tịnh và vô nhiễm.

Lễ kỷ niệm ngày Đản sinh của Đức Từ Phụ là nhằm nhắc nhở những người con của Đức Phật hãy nhìn lại những đức tính cao cả của Ngài để mỗi người chúng ta tự phát huy những đức tính đó trong tự thân của chính mình. Ngài là kết tinh của muôn ngàn hương hoa Bi, Trí, Dũng; là hiện thân của chân lý giải thoát, là điềm lành cho hết thảy chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới. Ngài ra đời vì một mục đích trọng đại là chỉ bày cho chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến của chính mình, "vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng thương tưởng cho hết thảy hữu tình". (SƯU TẦM)

Chương Trình Hành Lễ Đầu Năm Giáp Thìn Tại Chùa Linh Sơn Phước Huệ.-Ngày 1/1/Giáp Thìn. 0h00 Lễ Đón Giao Thừa-Ngày 1 đến...
09/02/2024

Chương Trình Hành Lễ Đầu Năm Giáp Thìn Tại Chùa Linh Sơn Phước Huệ.
-Ngày 1/1/Giáp Thìn. 0h00 Lễ Đón Giao Thừa
-Ngày 1 đến ngày 3/1/Giáp Thìn.
+9h30 cúng ngọ, tiến linh
+18h45 tụng Phẩm Phổ Môn (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa)
-Ngày 4/1/ Giáp Thìn. 18h45 khai kinh Dược Sư
-Ngày 6/1/ Giáp Thìn. 18h45 Tuyên Sớ cầu an đầu năm
-Ngày 8/1/ Giáp Thìn. 18h45 Tuyên Sớ cầu an đầu năm
-Ngày 10/1/ Giáp Thìn. 18h45 Tuyên Sớ cầu an đầu năm
-Ngày 12/1/ Giáp Thìn. 18h45 Tuyên Sớ cầu an đầu năm
-Ngày 14/1/ Giáp Thìn. 18h45 Tuyên Sớ cầu an đầu năm
-Ngày 15/1/Giáp Thìn
+9h Cúng ngọ-Tuyên Sớ cầu an đầu năm
+14h Truyền giới Quy y Tam Bảo
+14h 30 Phóng sanh, Cúng Linh và cúng thí thực cô hồn
+18h45 Tuyên sớ cầu an đầu năm.

08/02/2024

Này các Tỷ-kheo,

nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này,
không đâm vào bờ bên kia,
không chìm giữa dòng,
không mắc cạn trên miếng đất nổi,
không bị loài Người nhặt lấy,
không bị phi nhân nhặt lấy,
không bị mắc vào xoáy nước,
không bị mục bên trong;
như vậy, này các Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ về đến biển.

Vì sao?
Vì rằng, này các Tỷ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn.
Vì sao?
Vì rằng, này các Tỷ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.

4) Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

— Bạch Thế Tôn,

Bờ bên này là gì?
Bờ bên kia là gì?
Thế nào là chìm giữa dòng?
Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi?
Thế nào là bị loài Người nhặt lấy?
Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy?
Thế nào là bị mắc vào xoáy nước?
Thế nào là bị mục nát bên trong?

5) Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân & ý.

6) Bờ bên kia, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ (sáu trần) là sắc, thanh, hương, vị, xúc & pháp.

7) Bị chìm giữa dòng, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với hỷ tham.

8) Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.

9) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỷ-kheo bị loài Người nhặt lấy.

10) Và thế nào, này Tỷ-kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: “Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!” Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị phi nhân nhặt lấy.

11) Bị mắc vào xoáy nước, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục tài, sắc, danh, thực, thùy.

12) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỷ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong.
Nguồn trích dẫn: Tương Ưng Bộ – Samyutta Nikaya, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, Tập IV – Thiên Sáu

08/02/2024

Này các Tỷ-kheo,

nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này,
không đâm vào bờ bên kia,
không chìm giữa dòng,
không mắc cạn trên miếng đất nổi,
không bị loài Người nhặt lấy,
không bị phi nhân nhặt lấy,
không bị mắc vào xoáy nước,
không bị mục bên trong;
như vậy, này các Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ về đến biển.

Vì sao?
Vì rằng, này các Tỷ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn.
Vì sao?
Vì rằng, này các Tỷ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.

4) Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

— Bạch Thế Tôn,

Bờ bên này là gì?
Bờ bên kia là gì?
Thế nào là chìm giữa dòng?
Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi?
Thế nào là bị loài Người nhặt lấy?
Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy?
Thế nào là bị mắc vào xoáy nước?
Thế nào là bị mục nát bên trong?
5) Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ Này các Tỷ-kheo,

nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này,
không đâm vào bờ bên kia,
không chìm giữa dòng,
không mắc cạn trên miếng đất nổi,
không bị loài Người nhặt lấy,
không bị phi nhân nhặt lấy,
không bị mắc vào xoáy nước,
không bị mục bên trong;
như vậy, này các Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển.

Vì sao?
Vì rằng, này các Tỷ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn.
Vì sao?
Vì rằng, này các Tỷ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.

4) Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

— Bạch Thế Tôn,

Bờ bên này là gì?
Bờ bên kia là gì?
Thế nào là chìm giữa dòng?
Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi?
Thế nào là bị loài Người nhặt lấy?
Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy?
Thế nào là bị mắc vào xoáy nước?
Thế nào là bị mục nát bên trong?
5) Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ Này các Tỷ-kheo,

nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này,
không đâm vào bờ bên kia,
không chìm giữa dòng,
không mắc cạn trên miếng đất nổi,
không bị loài Người nhặt lấy,
không bị phi nhân nhặt lấy,
không bị mắc vào xoáy nước,
không bị mục bên trong;
như vậy, này các Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển.

Vì sao?
Vì rằng, này các Tỷ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn.
Vì sao?
Vì rằng, này các Tỷ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.

4) Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

— Bạch Thế Tôn,

Bờ bên này là gì?
Bờ bên kia là gì?
Thế nào là chìm giữa dòng?
Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi?
Thế nào là bị loài Người nhặt lấy?
Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy?
Thế nào là bị mắc vào xoáy nước?
Thế nào là bị mục nát bên trong?
5) Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân & ý.

6) Bờ bên kia, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ (sáu trần) là sắc, thanh, hương, vị, xúc & pháp.

7) Bị chìm giữa dòng, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với hỷ tham.

8) Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.

9) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỷ-kheo bị loài Người nhặt lấy.

10) Và thế nào, này Tỷ-kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: “Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!” Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị phi nhân nhặt lấy.

11) Bị mắc vào xoáy nước, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục tài, sắc, danh, thực, thùy.

12) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỷ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong.
Nguồn trích dẫn: Tương Ưng Bộ – Samyutta Nikaya, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, Tập IV – Thiên Sáu

Address

Thôn Phước Lộc, Xã Phước Đồng
Nha Trang
650000

Telephone

+84386589836

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Linh Sơn Phước Huệ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Chùa Linh Sơn Phước Huệ:

Share