Gia đình ông bà Martin sống ở trung tâm thành phố Alecon thuộc miền Bắc nước Pháp. Trước khi lập gia đình cả hai ông bà đã ôm mộng trở thành tu sĩ. Nhưng ông Martin bị nhà dòng Thánh Benađô từ chối vì ông kém La tinh quá, còn bà thì thiếu sức khoẻ không thể theo đuổi đời tu được. Có lẽ Chúa đã định như thế và Ngài muốn hai tâm hồn thánh đức đó kết hợp với nhau để sinh sản và đào tạo cho Ngài những vị nữ tu khả kính, trong đó Têrêsa nổi bật hơn cả.
Khi Têrêsa chào đời, 02📷/01/1873, ông Martin đã 50 tuổi và vợ đã được 42. Đó là một đêm đông giá lạnh. Hai chị em Léonie và Céline đã ngủ yên ắn. Hai người con gái Marie và Pauline đang nghỉ hè ở miền quê. Người ta nghe thấy tiếng reo mừng: “Các con ơi, các con đã có một em gái nhỏ.”
Ngày mồng 4 tháng đó quả là ngày đại lễ của gia đình Martin. Mọi người hớn hở vui mừng lễ rửa tội cho em nhỏ và bà Martin rất lo lắng cho đứa con vừa mới sinh, vì trước đây đã có bốn đứa con của bà (hai trai, hai gái) sớm về chầu Chúa. Bà dâng con cho Chúa và Đức Mẹ, xin cho em thoát khỏi mọi tai nạn.
Phải nói thêm rằng bà rất vui mừng khi thấy mặt Têrêsa. Bà viết cho một người bạn: “Cháu Têrêsa có lẽ là đứa con sau cùng của tôi. Ai cũng bảo cháu rất xinh và đã biết cười. Ngày hôm thứ ba tôi đã thấy cháu cười, nhưng tôi ngỡ nhìn nhầm, hôm qua tôi mới biết là thực. Cháu nhìn tôi và mỉm cười, trông đáng yêu quá.”
Ít ngày sau gia đình Martin trải qua cơn lo âu ghê gớm, Têrêsa bị sưng ruột và người con cả là Marie mắc chứng thương hàn, còn Léonie tự dưng đâm ra dữ tợn lầm lì. Cả nhà đượm màu tang tóc, nhưng nhờ ơn Chúa, mọi khốn khổ đều qua khỏi và Têrêsa lại chịu ăn, chơi như thường. Têrêsa là nguồn an ủi cho cả nhà. Léonie và Céline thường bảo em là “con búp bê sống”. Những chiều rỗi rãi, ông Martin thường đặt “bà hoàng” (đó là tên quen gọi của Têrêsa) của ông trên chiếc ủng lớn tướng và đem di quanh nhà, vừa đi vừa hát ồm ồm. Nhất là khi Têrêsa đã biết đi, các cô chị vứt hết cả đồ chơi đi để vây quanh em bé và reo hò mỗi khi em chập chững đi từ tay người này tới tay người khác.
Vào mùa xuân, vườn nhỏ sau nhà nở hoa rực rở. Em bé Têrêsa coi đó như địa đàng vậy. Những ngày đẹp trời em thường chơi dưới vòm cây lớn gần bếp, bập bẹ gọi những con gà mái trắng đẹp, hay leo lên chiếc đu xinh xinh mà cha đã làm. Ngay từ những năm hai tuổi lúc Têrêsa mới chỉ cao gần bằng cây hoa hồng, em đã bảo mẹ em sẽ là một chị nữ tu, nhưng chắc lúc đó em chưa hiểu tiếng đó nghĩa là gì.
Mỗi sáng Chúa nhật, ông Martin dắt tay Têrêsa, bà mẹ và bốn cô con gái theo sau, cả gia đình đi dự lễ ở nhà thơ ngoài cổng thành phố. Đó là dịp tốt để Têrêsa có thể tiếp xúc với thế giới bên ngoài mà em cho là lạ lùng, bí mật lắm.
Bảo rằng Alencon là quê hương của Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu thì thực là quá sớm. Lúc đó chưa có ai nghĩ được như thế, kể cả cha mẹ và các chị của Têrêsa.
BÀ MẸ LÌA TRẦN
Têrêsa rất yêu quý mẹ. Từ lúc em đi vững, không bao giờ em chịu rời mẹ, nhất là khi bà làm lụng ngoài vườn, em cứ quấn lấy bà. Thỉnh thoảng Têrêsa giật mình thức dậy sau một giấc ngủ ngắn, tìm không thấy mẹ đâu em khóc ầm ĩ, bao giờ mẹ chạy tới mới nín. Mỗi khi Têrêsa phải leo cầu thang để lên với mẹ cứ bước một bước em lại gọi “Mẹ ơi”, nếu mẹ không trả lời “ơi” thì nhất định em không chịu bước lên. Bà Martin rất vui khi thấy Têrêsa yêu mình, tuy lắm khi thật là vướng víu. Một hôm, Têrêsa thì thầm với mẹ: “Mẹ ơi con mong cho mẹ chết đi”. Bà ngạc nhiên nhìn em, thì em tiếp: “Vì mẹ bảo có chết mới được lên thiên đàng….” Một lần khác Têrêsa hỏi mẹ:
– Mẹ ơi, con có lên trời không? Nếu con không ngoan con sẽ xuống hoả ngục phải không mẹ? Nhưng con không xuống đâu, con sẽ bay thẳng lên trời với mẹ rồi mẹ ôm chặt lấy con. Chẳng lẽ Chúa nhân từ lại đuổi con đi sao?
Với trí óc của đứa trẻ ba tuổi rưỡi, Têrêsa nghĩ rằng tình mẫu tử mạnh hơn ý chí Thiên Chúa. Nhưng em có ngờ đâu, một năm sau mẹ em đã xa em về trời.
Mấy năm về trước, bà Martin có bị xô mạnh vào ngực, nay đột nhiên lại đau ở vết thương cũ. Những chiếc hạch sưng lên làm bà nóng rát và phải nằm liệt giường. Bà thường ước ao sẽ được sống một đời tu hành mai ẩn khi các con đã khôn lớn, nhưng thấy bệnh tật của mình làm cho cả gia đình chồng và các con phải buồn bã, bà rất đau lòng. Tháng 6 năm đó (1877), bà Martin bằng lòng viếng Đức Mẹ Lộ Đức, Marie, Pauline và Léonie cũng xin đi theo. Bà đi vì chiều lòng gia đình, chứ bà cảm thấy cái chết đã đến gần lắm rồi. Bà muốn dâng những đau khổ trên quãng đường xa đó cho Chúa để cầu cho các con, mong sao chúng đỡ buồn khi lìa xa mẹ. Bà tắm nước suối nhưng không công hiệu gì và cứ tiếp tục chịu bệnh mãi. Đêm hôm 28 tháng 8, bà thở hơi cuối cùng, lúc ấy Têrêsa mới được bốn tuổi rưỡi.
Sáng hôm đó, lúc Têrêsa vừa thức dậy thì ông Martin vào phòng, bế em lại giường người chết và nói trong nước mắt: “Con hãy hôn mẹ của con lần cuối cùng”, và Têrêsa im lặng áp môi mình trên trán giá lạnh của người mẹ thân yêu. Hình ảnh mẹ nhợt nhạt với cái trán giá lạnh đó ghi sâu trong tâm hồn non nớt của Têrêsa mãi mãi. Em thấy đau lòng vô cùng trước cái chết của mẹ. Ngoài những rung cảm mà gia đình tạo ra cho em, Têrêsa như đã có được một ý niệm mơ hồ về vĩnh cửu. Về sau Têrêsa viết: “Tôi không nói cho ai biết những tình cảm thầm kín chan chứa trong trái tim tôi lúc ấy.”
Từ ngày mẹ chết, Têrêsa mất hẳn bản tính vui tươi, trở nên dễ cảm dễ khóc, tâm tình em bị xáo trộn mãnh liệt. Mãi tới mười năm sau, cơn khủng hoảng đó mới giảm bớt.
Buổi chiều sau đám tang bà Martin, nhà cửa trở nên hoang vắng lạ thường. Ông Martin ngồi một mình trong phòng riêng, năm chị em Têrêsa nhìn nhau im lặng buồn bã không có chuyện gì để nói với nhau cả. Ta hãy nghe Têrêsa kể lại: Thấy chúng tôi như vậy, vú già cảm động quá nói với tôi và Céline:
– Khốn cho các em, các em không còn mẹ nữa.
Bấy giờ Céline ôm chầm lấy Marie và kêu lên:
– Chị sẽ là mẹ của em.
Mọi khi tôi (Têrêsa) vẫn thường bắt chước Céline, hôm nay tôi cũng định làm theo Céline trong công việc chính đáng này. Nhưng nghĩ rằng có lẽ chị Pauline sẽ buồn khi bị bỏ rơi nên tôi quay về phía chị, dựa đầu vào ngực chị và nói:
– Còn em, em nhận chị Pauline làm mẹ.
Sau khi người mẹ lìa trần, ông Martin đem gia đình về Lisieux để ở với ông anh rể. Têrêsa rất sung sướng được bỏ Alencon, nơi luôn nhắc nhở những kỷ niệm tươi đẹp của người mẹ đã mất, những ngày sung sướng của Têrêsa không còn nữa. Em cảm thấy lòng mình trống trải vô cùng, một niềm trống trải chỉ có Chúa mới bù đắp được.
CÔ BÉ TÊRÊSA
📷Têrêsa được hết mọi người trong nhà yêu mến, bởi vì em có đủ đức tính đáng yêu, em yêu mến hết mọi người trong gia đình. Em yêu mẹ, yêu cha, yêu các chị bằng một tình yêu tha thiết và chân thành. Trong các chị, Têrêsa yêu mến Céline hơn cả, vì hai chị em trạc tuổi nhau. Một sáng nọ, người vú tới giường Têrêsa không thấy em đâu, nhìn sang bên cạnh thì thấy em đang lách mình chui vào chăn Céline. Em nói với vú:
– Vú xem, chúng cháu như hai con gà con, không thể nào phân rẽ ra được.
Từ nhỏ Têrêsa đã thích đi lễ. Một lần mẹ không cho theo, em khóc hằng giờ. Trong một bức thư viết cho Pauline, bà Martin có kể: “Cả ngày Têrêsa chỉ nói về Thiên Chúa nhân từ, và rất thích đọc kinh. Giá như con được xem em đọc những ngụ ngôn ngắn trong kinh bổn, con sẹ thấy em xinh đến thế nào, nhất là khi em đọc:
Hỡi em nhỏ có mái tóc nâu
Đố em biết Thiên Chúa ở đâu?
Chúa ở kia, ở trên trời cao thẳm.
Ở khắp nơi rừng rậm, biển sâu.
Khi đọc tới tiếng “trời”, em ngước mặt nhìn lên, ngây thơ như thiên thần, cả nhà thích em đọc bài đó mãi.”
Đã hẳn Têrêsa cũng có những tính xấu của trẻ nhỏ. Em ham thích làm dáng, ưa mặc áo hở tay dù chưa biết thế nào là đẹp là xấu. Ngay năm Têrêsa mới ba tuổi, một lần bà Martin bảo: “Này Têrêsa, nếu con hôn đất, má sẽ cho con 3 xu”. Lúc ấy 3 xu đã to lắm, mà Têrêsa chỉ cao bằng cái ghế, có cúi xuống cũng chẳng khó gì. Nhưng em không chịu và nói: “Thôi mẹ ạ, thà không có xu nào còn hơn.” Têrêsa cũng tinh ranh và tham lam nữa. Một hôm Léonie chán chơi búp bê, cô bưng một thùng nhỏ có những bộ quần áo tí xíu, những vụn vải màu và một chú búp bê xinh xắn đi tìm Céline và Têrêsa, cô nói:
– Đây, các em thích cái gì chị cho.
Céline lục lọi và lấy một cuộn vải nhỏ, Têrêsa nghĩ ngợi một lúc rồi bảo:
– Em lấy hết! Nói xong em bê cả thùng cất đi. Về sau, khi đã vào tu trong dòng kín, Têrêsa còn thích kể lại câu truyện đó và thêm: “Lạy Chúa, con luôn chọn tất cả, con không muốn làm thánh nửa chừng. Con nhận tất cả những gì Chúa muốn dù buồn phiền đau khổ.”
Nhưng những thói xấu tự nhiên đó đã biến mất vì Têrêsa biết nhận lỗi và cố gắng sửa mình. Một lần em đang ngồi trên xích đu nhỏ ngoài vườn thì ông Martin gọi em tới. Têrêsa thưa:
– Con đang mắc việc ba ạ, ba tới đây mà hôn con.
Ông Martin đứng im có ý cảnh cáo Têrêsa, thấy thế em vội vàng nhảy xuống, chạy đến ôm lấy cổ cha mà xin lỗi. Chính Marie kễ lại câu chuyện này: “Một hôm, tôi thấy Têrêsa mở cửa phòng tôi, em nhỏ quá nên không với tới quả nắm. Tôi đợi xem em làm gì, chắc em sắp sửa khóc hay gọi ai mở hộ. Nhưng không, em lầm lì nằm ngay xuống đất trước cửa. Hôm sau cảnh đó lại xảy ra, tôi bảo em: “Têrêsa này, em làm Chúa Giêsu buồn đấy”, Têrêsa chăm chú lắng nghe và không bao giờ làm thế nữa…”
Têrêsa hiểu rất nhanh những điều giáo lý mà các chị dạy. Một chiều kia Céline hỏi:
– Làm sao Chúa có ở trong Mình Thánh nhỏ như thế được? Têrêsa trả lời:
– Được chứ vì Chúa rất có quyền phép.
– Rất quyền phép là thế nào?
– Nghĩa là Người làm gì cũng được.
Thời đó các gia đình thường đem bánh tới nhà thờ để linh mục làm phép. Sáng nào Têrêsa cũng ra đón Céline và đòi bánh. Têrêsa coi việc ăn Bánh Thánh như chịu lễ vậy. Một hôm, Céline quên không đem bánh về. “Làm thế nào bây giờ?” Têrêsa nghĩ ngợi một lát rồi bảo: “Chị không có bánh phép à, thì chị làm ra vậy”. Céline mở tủ lấy một mẩu bánh mì, cúi xuống nghiêm trang đọc một Kinh Kính Mừng rồi đưa cho Têrêsa, em làm dấu và ăn một cách cung kính.
Têrêsa cũng thích đọc kinh trước bàn thờ và thi đua làm việc hy sinh. Em có một tràng hạt nhỏ như kiểu các hướng đạo. Mỗi lần có một việc hy sinh nào em lại kéo xuống một hạt và cả nhà thấy em cho tay vào trong áo luôn, hàng trăm lần mỗi ngày. Trong cuốn tự truyện, Têrêsa viết: “Lúc đó việc đạo đức này rất quyến rũ tôi. Tôi nín lặng khi bị mắng oan, hay không khóc khi người ta lấy của tôi cái gì.”
Từ ngày về Lisieux, gia đình Martin sống yên tĩnh hơn. Pauline săn sóc cho Têrêsa như một người mẹ trẻ, cô cố sức làm cho Têrêsa vui vẻ để quên những kỷ niệm buồn thảm về cái chết của mẹ. Cô khuyến khích Têrêsa làm những việc hy sinh nhỏ hay đọc những kinh ngắn tỏ lòng mến Chúa. Têrêsa thường theo sát lời khuyên của chị, nhiều khi còn đi quá nữa. Thí dụ một hôm trời rất nắng, hai chị em chơi nhảy dây đến mệt nhừ, mồ hôi đổ ra như tắm. Pauline rót hai ly nước lạnh và đưa cho Têrêsa một ly, em không cầm, Pauline nói: “Em uống đi, Chúa Giêsu đã nhận sự hy sinh của em rồi. Bây giờ em dâng cho Ngài một sự hy sinh khác là vâng lời mà uống ly này.”
Từ khi mẹ chết, Têrêsa luôn theo cha. Ông Martin thường dẫn Têrêsa tới nhà thờ dòng kín gần đấy, vì ông muốn yên tĩnh để cầu nguyện. Lúc ra về ông thường chỉ qua phía dậu sắt và bảo Têrêsa: “Trong kia, những nữ tu thánh thiện luôn luôn cầu nguyện cùng Chúa nhân từ”. Lúc ấy, Têrêsa chưa nghĩ rằng 9 năm nữa mình cũng ở đó, nhưng em thường nói với cha: “Ở trong đó thật sung sướng”.
Những ngày đẹp trời, Têrêsa theo cha đi câu cá. Em cũng cầm theo một cần câu nhỏ, mắc mồi thả xuống nước như cha, thỉnh thoảng được một con cá thì thích thú lắm. Nhưng Têrêsa không cần câu được cá cho bằng có dịp ngồi yên lặng dưới đám cỏ non, và để mặc cho hồn phiêu diêu trong gió nhẹ. Những cảm giác lúc đó, mãi sau này Têrêsa vẫn còn nhớ và ghi lại: “Tôi suy nghĩ nhiều lắm, tôi bắt đầu câu chuyện thật sự mà không ngờ, tôi nghe ngóng tiếng động mơ hồ xa xa, lời thì thầm của gió, thỉnh thoảng mấy điệu nhạc nhà binh vang tới làm cho tôi buồn buồn. Thế trần thật là một chốn đày ải và lúc đó tôi đã mơ tưởng quê trời”. Tư tưởng quê trời luôn ám ảnh Têrêsa. Những buổi tối đi về nhà với cha, em thường nắm chặt tay cha rồi ngẩng mặt nhìn lên trời, mặc cha muốn dắt đi đâu thì dắt. Một hôm, em chỉ cho cha xem những ngôi sao xếp thành hình chử T và nói: “Ba này, tên con đã khắc ở trên trời rồi.”
Buổi tối, cả nhà họp nhau lại đọc kinh. Têrêsa thường quỳ chăm chú nhình cha, em bảo: “Để con xem các vị thánh cầu nguyện như thế nào”. Mỗi tối lúc Pauline dắt Têrêsa vào giường, em thường nắm lấy tay Pauline và hỏi: “Hôm nay em có ngoan không? Chúa có bằng lòng với em không?” Nếu Pauline trả lời: “Không”, Têrêsa sẽ khóc suốt đêm.
Khi Têrêsa đã lớn, em thường đi nhà thờ với Céline. Hai chị em hay thi nhau xem ai nhắm mắt lâu mà không vấp, nhiều lúc xô vào người đi đường, các em cười ầm lên rồi bỏ chạy. Một hôm, Têrêsa nhờ cha xứ làm phép một cỗ tràng hạt, khi về, cứ lúc lúc em lại lấy ra xem, Céline hỏi:
– Em xem gì vậy?
– Em xem cỗ tràng hạt làm phép có khác đi không.
Năm lên tám tuổi, Têrêsa trọ học ở nữ tu viện Bénedictine. Em nhỏ nhất lớp nhưng thường đứng đầu về mọi môn, là cho các học trò lớn ghen tị và làm khổ em rất nhiều. Về phần Têrêsa, em thường mỉm cười rất xinh, nếu không cười thì em lại khóc, mà có lẽ em khóc nhiều hơn. Em rất dịu dàng đáng yêu, rất nhân đức và rất vâng lời, em không ưa đông người và thường tránh xa những trò chơi ồn nhộn. Em thường giấu kín những cãm xúc của em vì em rất đa cảm và nhút nhát. Một năm sau, Pauline vào tu trong nhà kín Lisieux, Têrêsa bỡ ngỡ nhìn cánh cửa sắt đóng lại ngậm kín lấy người mẹ bé nhỏ của mình rồi oà lên khóc. Em tưởng như mình lại phải mồ côi một lần nữa. Em muốn theo chị Pauline vì em vẫn ước ao vào đó; nhưng dòng kín không nhận trẻ con, nên lại lủi thủi ra về. Từ lúc ấy, Têrêsa luôn mơ tưởng đến hàng rào sắt của dòng kín như một nơi đẹp đẽ sung sướng lắm.
Têrêsa thường đăm chiêu nghĩ ngợi có ai hỏi, em bảo: “Em nghĩ tới chị Pauline.” Nhiều khi em còn thắc mắc về những vấn đề cao siêu hơn nữa. Một hôm thấy Têrêsa đang đọc thư, các bạn xúm lại hỏi thư viết gì, em đáp:
– Bí mật, bao giờ lên trời các cô sẽ biết. Lần khác người ta hỏi Têrêsa:
– Em làm gì trong những ngày nghỉ. Em đáp:
– Em vào phòng kéo chăn lại rồi suy nghĩ.
Các bạn cười rũ rượi và hỏi:
– Suy nghĩ cái gì?
– Về Chúa nhân từ, về đời sống ngắn ngủi và về sự sống đời đời.
Nguon : Conggiaovietnam