Nhà thờ họ Nguyễn Đại Tộc Hương Cát

Nhà thờ họ Nguyễn Đại Tộc Hương Cát Nhà thờ họ Nguyễn Đại Tộc Hương Cát, TT Cát Thành, Trực Ninh, Nam Định là nơi Thờ cúng Tổ Tiên dòng họ Nguyễn Cả thôn Hương Cát. Kết nối yêu thương

Tính từ cụ Nhất Tổ/Thuỷ Tổ đến năm 2017 được 19 thế hệ.

TỔ TÔNG THẬP BÁT ĐẠI ĐÍCH XƯNG HÔXưng hô theo tôn ti 18 đời (trước mình 9 đời và sau mình 9 đời).Danh xưng 9 đời Tổ tiên...
03/02/2026

TỔ TÔNG THẬP BÁT ĐẠI ĐÍCH XƯNG HÔ

Xưng hô theo tôn ti 18 đời (trước mình 9 đời và sau mình 9 đời).

Danh xưng 9 đời Tổ tiên trước mình là:

9. Tị tổ (鼻祖) / Thủy tổ: Tổ tiên khởi đầu dòng họ.
8. Viễn tổ (遠祖) / Viễn tổ phụ: Ông Viễn.
7. Thái tổ (太祖) / Thái tổ phụ: Ông Thái.
6. Liệt tổ (列祖) / Liệt tổ phụ: Ông Liệt.
5. Thiên tổ (千祖) / Thiên tổ phụ: Ông Thiên.
4. Cao tổ (高祖) / Cao tổ phụ: Ông kỵ (Cao).
3. Tằng tổ (曾祖) / Tằng tổ phụ: Ông cố (Cụ).
2. Tổ (祖) / Tổ phụ: Ông nội.
1. Phụ (父): Cha.
0- BẢN THÂN . Danh xưng 9 đời con cháu sau mình là:
1- Tử (子): Con.
2- Tôn (孫): Cháu.
3- Tằng tôn (曾孫): Chắt.
4- Huyền tôn (玄孫): Chút.
5- Lai tôn (來孫): Cháu đời thứ 5.
6- Côn tôn (昆孫): Cháu đời thứ 6.
7- Nhưng tôn (仍孫): Cháu đời thứ 7.
8- Vân tôn (雲孫): Cháu đời thứ 8.
9- Nhĩ tôn (耳孫): Cháu đời thứ 9.

07/12/2024

TOP 20 DÒNG HỌ LỚN NHẤT VIỆT NAM

1. Họ Nguyễn (chiếm 31,5%)
2. Họ Trần (chiếm 10,9%)
3. Họ Lê (chiếm 8,9%)
4. Họ Phạm (chiếm 5,9%)
5. Họ Hoàng/Huỳnh (chiếm 5,1%)
6. Họ Vũ/Võ (chiếm 3,9%)
7. Họ Phan (chiếm 2,8%)
8. Họ Trương (chiếm 2,2%)
9. Họ Bùi (chiếm 2,1%)
10. Họ Đặng (chiếm 1,9%)
11. Họ Đỗ (chiếm 1,9%)
12. Họ Ngô (chiếm 1,7%)
13. Họ Hồ (chiếm 1,5%)
14.Họ Dương (chiếm 1,4%)
15. Họ Đinh (chiếm 1%)
16. Họ Đoàn (chiếm 0,94%)
17. Họ Lâm (chiếm 0,92%)
18. Họ Mai (chiếm 0,86%)
19. Họ Trịnh (chiếm 0,82%)
20. Họ Đào (chiếm 0,76%)

Nguồn: Trang thông tin điện tử tổng hợp VNtre

19/02/2023

Sau 2 năm dịch bệnh Covid-19, các hậu duệ lại được trở về dâng hương Giỗ Tổ 28 tháng Giêng.
Hội đồng dòng tộc và các hậu duệ dâng hương tại Lăng các cụ Thủy Tổ và Tiên Tổ và mời các hương linh các cụ về Từ đường dòng họ để các hậu duệ tổ chức tế Tổ.

NGHI THỨC TẾ TỔ TIÊN DÒNG HỌI. CÁC TIẾN TRÌNH CỦA CÚNG TỔ:– Lễ Cáo yết (còn gọi là lễ Cáo tế): Là lễ trình với Tổ đường ...
07/09/2022

NGHI THỨC TẾ TỔ TIÊN DÒNG HỌ

I. CÁC TIẾN TRÌNH CỦA CÚNG TỔ:
– Lễ Cáo yết (còn gọi là lễ Cáo tế): Là lễ trình với Tổ đường về việc các thế thứ hậu duệ dòng họ sẽ tổ chức Tế lễ Tổ. Thường vào buổi chiều hoặc buổi đêm trước ngày Chính tế. Lễ thường chỉ có 1 tuần hương, 1 tuần rượu và sau đó là tuyên Chúc văn nói rõ lý do của cúng Tổ.
– Lễ Chính tế: Lễ tế vào ngày chính, ngày của công việc cúng Tổ. Để có một buổi tế, mỗi kỳ cúng giỗ Tổ, hội đồng dòng tộc phải họp để cử ra một Ban tế ( Đội tế), với các chức danh được của đội tế lễ.
II. NHỮNG THIẾT CHẾ HẠ TẦNG:
Các đồ tự khí: 2 cái Đẳng gỗ, đặt hai bên Đông xướng – Tây xướng có lọng che. Đẳng gỗ bên Đông đặt cây đèn, bình hương, bình hoa và Tam sơn đặt 3 đài rượu gọi là bàn Đông bình. Người Đông xướng đứng xướng tế ở đây. Trống hiệu đặt bên bàn Đông bình.
Trên cái Đẳng gỗ bên Tây đặt cây đèn hoặc nến, bình hoa, đĩa trầu cau gọi là bàn Tây quả. Người Tây xướng đứng ở đây. Chiêng hiệu đặt bên Tây, trống đặt bên Đông. Hai cây đèn hoặc nến dùng để dẫn khi lên hương, lên rượu.
Cây quán tẩy: Là cái giá để đựng chậu nước cho Chủ tế, Bồi tế, Chấp sự rửa tay sạch sẽ khi vào hành tế.
Lỗ bộ (chấp kích, bát bửu): trưng bày hai bên Đông – Tây xướng cho uy nghi.
Bảng chúc: Mộc bảng có dạng hình chữ nhật nằm ngang, đặt đứng nghiêng, trên cái giá đỡ là thân hai con ly đứng hai bên, mặt bảng ngửa về phía sau. Ngày tế lễ, bài văn chúc dán lên bảng chúc. Còn có một miếng vải thêu hình hổ phù che lấy bài văn chúc, khi đọc mở ra, thể hiện sự tôn kính Tổ Tiên.
Ngoài ra còn một số đồ dùng khác như: Bốn chiếc chiếu cói mới dùng cho hành lễ, trải thành hàng dọc trước án thờ. Chủ tế và Bồi tế thực hiện nghi lễ trên đó. Mỗi kỳ tế lễ lại thay mới một lần cho tinh khiết.
Y phục của các người tế: Thường dùng trong vài hoặc 10 năm thay mới 1 lần cho sang trọng. Chủ tế: Riêng một màu, thường là màu đỏ, có cân đai, bối tử. Các viên Bồi tế: Dùng chung một màu cho mũ áo, thường là màu tím. Các Chấp sự: Dùng chung một màu, thường là màu xanh lam. Tất cả đều đội mũ kiểu phốc đầu, áo tay thụng, quần màu trắng kiểu ống sớ, chân đi hia. Các quần áo này dùng xong giặt phơi khô đóng hòm, bảo quản ở Từ đường.
Chiếu tế: Khi vào cuộc tế, trải 4 chiếc chiếu theo hàng dọc trước án: Chiếu thứ nhất: Gọi là chiếu Nghinh Tổ dành riêng chỉ khi làm lễ nghinh Tổ, đọc chúc, vị Chủ lễ đứng hiến lễ ở đây. Chiếu thứ 2: Gọi là chiếu Thụ tộ tức là nơi Chủ tế lên hưởng lộc của Tổ Tiên ban cho (thụ rượu thịt, ăn miếng trầu cau đã tế lễ). Chiếu thứ 3: Gọi là chiếu Phục vị hay chiếu Tế chủ là chiếu giành riêng cho Chủ tế trở về (điểm xuất phát). Chiếu thứ tư: Gọi là chiếu Bồi tế, chiếu giành riêng cho các vị Bồi tế hành lễ.
Âm nhạc dùng trong lễ tế: Âm nhạc tế được dùng theo một quy chế nhất định, có thể thức với thiết chế Lên âm, Xuống nhạc. Lên là khi dâng hương, hiến lễ. Xuống là trở về vị trí khi công việc hoàn thành. Các loại âm nhạc dùng có tính chất lễ nghi, thờ cúng trong việc tế lễ nơi Từ đường đều thuộc phạm trù nhạc lễ.
Nhạc cụ: Bộ gõ gồm các loại trống, chiêng, Sênh tiền (3 loại). Sênh tiền dùng trong lễ tế (cả lễ rước kiệu) là để điểm nhịp trong hành lễ, múa theo vị Chủ tế hoặc các Chấp sự lên hương, lên rượu. Bộ hơi gồm Kèn và sáo. Bộ dây gồm Nhị và Đàn bầu. Nhạc gồm bài Lưu thuỷ dùng khi tiến tước, gọi là Lên âm, bài Ngũ đối dùng khi tiến tước hoàn thành, gọi là Xuống nhạc.
III. THÀNH PHẦN BAN TẾ:
Đội tế là một nhóm gồm khoảng 11-15 người. Thông thường Tế Tổ Tiên là đàn ông (gọi là đội Tế ông), ngày nay đàn bà cũng được vào tế Tổ Tiên (gọi là đội Tế bà). Đội tế gồm:
Chủ tế: Còn gọi là mạnh bái, là người đứng vái lạy Tổ Tiên. Chủ tế là người có thứ bậc trong dòng họ. Về nhân thân, Chủ tế là Trưởng Tộc (Trưởng Chi). Thường là bậc cao niên, khoẻ mạnh, vóc dáng phương phi, thê vinh, tử vượng. Các tiêu chí làng xã đều xếp bậc cao.
Bồi tế: 2- 4 người, là người đứng, đứng hàng chiếu dưới của Chủ tế giúp Chủ tế và trông theo người Chủ tế mà làm lễ, lễ theo Chủ tế. Thường bầu 2 Bồi tế, tối đa là 4 Bồi tế đều thuộc hàng số chẵn, đứng 2 bên.
Nội tán: 2 người phụ Chủ tế. 1 đứng đằng Đông, 1 đứng đằng Tây để dẫn Chủ tế ra, vào chiễu tế khi hành lễ và trợ xướng khi Chủ tế vào chiếu trong (chiếu nghinh Tổ Tiên) và chuyển chúc.
Đông xướng: 1 người, đứng ở bàn bên Đông, ngang với chiếu phục vị, làm phận sự xướng tế, điều hành cuộc tế theo nghi thức có trong bài tế đã định sẵn. Bàn có lọng che, Đông xướng đứng dưới lọng. Trên bàn bày đèn hương, bình rượu tế, cái Đẳng rượu, trong đài đựng các chén rượu, nên bàn Đông xướng còn gọi là Đông bình.
Tây xướng: Người này đứng ở bàn bên Tây đối xứng với bàn Đông xướng cũng làm phận sự xướng tế, phụ giúp cho người Đông xướng. Bàn có lọng che, Tây xướng đứng dưới lọng. Trên bàn bày cây đèn, đĩa trầu cau nên còn gọi là Tây quả.
Chấp sự: Là người giúp việc ở 2 bàn Đông – Tây xướng, chia đứng 2 bên, mỗi bên 1-2 người, giúp việc dâng hương, dâng rượu.
Thủ hiệu: 2 người. Bên trống: Điều hành cuộc tế bằng trống cái. Bên chiêng: đánh chiêng theo lệnh của trống cái.
Đọc chúc: 1 người thông văn tự theo âm điệu, có giọng đọc sang sảng vang xa, gây truyền cảm và xúc động.
Ngoài ra còn có phường Bát âm, …
IV. THIẾT CHẾ CỦA MỘT LỄ TẾ – QUI TRÌNH TẾ
Khởi sự tế, phải chuẩn bị đồ Tế, Hương án. Thắp hương xong, một người đánh lên 3 hồi trống cái, trống trước, chiêng sau. Thường thì người Đông xướng xướng hoặc người Đông xướng, người Tây xướng thay nhau xướng (nếu có một người thì xướng từ đầu đến cuối). Xướng lần lượt (phần chữ đậm). Lễ Tế gồm 35 bước như sau:
1. Khởi chinh cổ (Nổi chiêng, trống): 2 Chấp sự làm phận sự của Thủ hiệu (đánh trống, chiêng, cầm hiệu lệnh dẫn tế) đứng ở 2 bàn Đông – Tây, đi vào chỗ đặt giá trống, giá chiêng cùng đánh 3 hồi, 3 tiếng nữa, rồi vái đi ra.
2. Nhạc sinh tựu vị (Ban nhạc vào vị trí): Phường Bát âm tấu nhạc và chiêng, trống.
3. Củ soát Tế vật (Kiểm soát lễ vật dâng Tế): Một vị Chấp sự bưng cây đèn dẫn Chủ tế từ bàn Đông xướng đi lên theo hướng Đông, đến bên bàn để tế vật, xem xét lại đồ lễ có đầy đủ, tinh khiết hay không rồi trở về theo bên Tây gọi là Thăng đông, Giáng tây. (Hoặc 2 Chấp sự, 1 người cầm nến, 1 người cầm ống hương cắm bó hương dẫn Chủ tế.
4. Chấp sự giả các ty kỳ sự (những Chấp sự vào vị trí): Những Chấp sự ai được cắt cử phụ trách gì thì vào vị trí ấy thành 2 hàng.
5. Tế chủ dữ Chấp sự giả các nghệ quán tẩy sở (Chủ tế và những Chấp sự vào chỗ rửa tay): Chủ tế và những Chấp sự vào chỗ rửa tay cạnh hương án có một chiếc kỷ, trên đặt một châu nước và treo một cái khăn.
6. Quán tẩy (Rửa tay): Chủ tế rửa tay ở chậu nước.
7. Thuế cân (Lau tay): Chủ tế lấy khăn lau tay.
8. Bồi tế viên tựu vị (Bồi tế vào vị trí): Các vị Bồi tế bước vào đứng ở chiếu thứ 4 (chiếu dưới cùng).
9. Chủ tế viên tại vị (Chủ tế vào vị trí): Chủ tế bước vào chiếu của mình, chiếu Phục vị (thứ 3), đi từ bên Đông vào theo hình chữ Ất (乙) gọi là Nhập ất (để không quay đằng lưng vào ban thờ). Trong cùng lúc đó, các Chấp sự viên cũng về đúng chỗ của mình. Đến đây, cuộc hành lễ bắt đầu. Đi thì có nhiều cách tùy theo chân phải hay chân trái trước. 2 cách bước 1 chân còn chân kia kéo lên bằng chân bước tức là 1 bước 1, 2 cách bước 2 bước 1. Tuy nhiên cách bước thẳng (lùi hoặc tiến hoặc sang trái) bằng chân trái và kéo chân phải theo (trừ khi bước ngang sang phải) là đúng nhất.
10. Thượng hương (Dâng hương): Hai Chấp sự: 1 người bưng hương, 1 người bưng đèn nến đem đến trước mặt Chủ tế. Chủ tế đốt lên rồi 2 tay nâng nén hương dâng cắm ở bát hương.
11. Nghinh Thần cúc Cung bái (Chủ tế và Bồi tế bái): Chủ tế và Bồi tế đều bái lạy lần thứ nhất (đầu gối quỳ, mặt sát đất, 2 bàn tay ngửa đan vào nhau). Chủ tế theo 2 Nội tán (theo sau viên bên Đông) dẫn lên chiếu thứ nhất rồi quỳ xuống, các Bồi tế quỳ theo.
Khi bước đi cũng theo nghi thức riêng gọi là Xuất Á (亞 – để không quay đằng lưng vào ban thờ).
Xuất Á là đi hình chữ (亞): Khi trong chiếu bước ra thì đi ngang sang phải (phía Đông) và tiến thẳng vào cửa bên phải, cửa bên vào hậu cung Từ Đường; người đứng ở cửa thì lại đi ngang sang trái (phía Tây) rồi tiến thẳng vào Hậu cung. Hoặc từ giữa chiếu đi thẳng sang phải (phía Đông) và rồi rẽ trái tiến thẳng vào cửa bên phải của hậu cung Từ Đường… Từ trong Từ Đường quay lại rồi mới đi thẳng vào chiếu thứ nhất theo lối Nhập Ất (乙).
Trong khi ấy các Chấp sự 2 bên bàn Đông – Tây cử hành Dâng hương vào Thượng điện theo nhịp trống khẩu điều hành và tấu bài nhạc lễ Lưu thuỷ (gọi là Lên âm). Khi đoàn Chấp sự hoàn thành việc dâng hương trở về bàn của mình. (tiếp là 4 lễ nghinh Tổ Tiên)
– Tây xướng – xướng: Hưng (đứng dậy): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy.
– Đông xướng – xướng: Bái (lạy): Chủ tế và Bồi tế đều bái lạy lần thứ 2.
– Tây xướng – xướng: Hưng (đứng dậy): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy.
– Đông xướng – xướng: Bái (lạy): Chủ tế và Bồi tế đều bái lạy lần thứ 3.
– Tây xướng – xướng: Hưng (đứng dậy): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy.
– Đông xướng – xướng: Bái (lạy): Chủ tế và Bồi tế đều bái lạy lần thứ 4.
– Tây xướng – xướng: Hưng (đứng dậy): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy.
12. Đông xướng – xướng: Bình thân (đứng dậy tại vị trí cũ).
13. Đông xướng – xướng: Hành sơ Hiến lễ (dâng rượu lần đầu): Chuẩn bị dâng rượu.
14. Nội tán xướng: Nghệ tửu Tôn sở – Tư tôn giá cử mịch (xem lại bình rượu quí – mở đài rượu, bình rượu): Chủ tế đi đến chỗ Hương án để bình rượu, vào vị trí rót rượu. Chấp sự mở cái miếng phủ trên mâm đài, đài rượu, bình rượu. Chủ tế bước tới chỗ án để rượu, Chấp sự mở nắp đài ra.
15. Đông xướng – xướng: Chước tửu (rót rượu): Chấp sự rót rượu vào 2 chén ở Đài rượu.
16. Đông xướng – xướng: Nghệ Tổ Tiên vị tiền (hướng trước Tổ Tiên): Hiệu lệnh để nhắc nhở vị Chủ tế, 2 người Nội tán. 2 Nội tán dẫn Chủ tế lên chiếu nhất.
17. Nội tán xướng: Quỵ (Chủ tế và Bồi tế đều quỳ): Chủ tế và Bồi tế đều quỳ xuống
18. Đông xướng – xướng: Tiến tửu (hoặc Tiến tước là rước rượu): Chấp sự dâng đài rượu cho Chủ tế để Chủ tế vái một vái, xong lại giao cho Chấp sự.
19. Đông xướng – xướng: Hiến tửu (dâng rượu lên Tổ Tiên): Chấp sự đi thành 2 hàng (mỗi hàng 1 Đài rượu), 2 tay nâng 2 Đài rượu (rước rượu) đi vào ban thờ trong Từ đường đi theo nghi thức Xuất Á. Đến ban thờ thì Quỳ dâng rượu lên Tổ Tiên.
20. Đông xướng – xướng: Hưng (đứng dậy): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy.
Đông xướng – xướng: Bình thân (đứng dậy về vị trí cũ): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy về vị trí cũ.
Đông xướng – xướng: Phục vị (về vị trí cũ): Chủ tế và Bồi tế quay về chỗ cũ ở chiếu tế theo nghi thức Nhập Ất.
21. Đông xướng – xướng: Độc Chúc (dâng Văn tế): 2 Chấp sự vào trong hậu cung Từ Đường cẩn rước Văn tế ra.
22. Nội tán xướng: Nghệ độc Chúc vị (chuẩn bị đọc Chúc): 2 người Nội tán dẫn Chủ tế lên chiếu nhất.
23. Đông xướng – xướng: Giai quỵ (đều quỳ): Chủ tế, Bồi tế, hai Chấp sự bưng Chúc – Văn tế cùng quỳ.
24. Đông xướng – xướng: Chuyển Chúc (chuyển Văn tế): 2 Chấp sự bưng trao bảng Văn tế cho Chủ tế. Chủ tế cầm Chúc – Văn tế, vái một vái rồi đưa cho người đọc Chúc - Văn tế.
25. Đông xướng – xướng: Tuyên Chúc (đọc Chúc): Đọc Văn tế, đọc xong Chủ tế lạy 2 lạy rồi lui ra chiếu của mình.
Đông xướng – xướng: Hưng (đứng dậy): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy.
Đông xướng – xướng: Bái (lạy): Chủ tế và Bồi tế đều bái lạy.
Đông xướng – xướng: Bình thân (đứng dậy về vị trí cũ): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy về vị trí cũ.
Đông xướng – xướng: Phục vị (về vị trí cũ): Chủ tế và Bồi tế quay về chỗ cũ ở chiếu tế.
26. Á hiến lễ (dâng rượu tuần thứ 2):
– Đông xướng – xướng: Nghệ tửu tôn sở (xem lại bình rượu quí): Chủ tế đi đến chỗ án để rượu, vào vị trí rót riệu.
– Đông xướng – xướng: Tư tôn giá cử mịch (mở đài riệu, bình riệu): Chấp sự mở cái miếng phủ trên mâm đài, đài riệu, bình riệu. Chủ tế bước tới chỗ án để rượu, Chấp sự mở nắp đài ra.
– Đông xướng – xướng: Chước tửu (Rót rượu): Chấp sự rót riệu vào 2 chén.
– Đông xướng – xướng: Nghệ Đại vương Thần vị tiền (hướng trước Uy thần Thành Hoàng): Hiệu lệnh để nhắc nhở vị Chủ tế, 2 người Nội tán.
– Nội tán xướng: Quỵ (Chủ tế và Bồi tế đều quỳ xuống)
– Đông xướng – xướng: Tiến tửu (hoặc Tiến tước là rước riệu): Chấp sự dâng đài rượu cho Chủ tế để Chủ tế vái một vái, xong lại giao cho Chấp sự.
– Đông xướng – xướng: Hiến tửu (dâng rượu lên Thành Hoàng): Chấp sự đi thành 2 hàng (mỗi hàng 1 Đài riệu), 2 tay nâng 2 Đài rượu (rước riệu) đi vào ban thờ trong Đền đình đi theo nghi thức Xuất Á. Đến ban thờ thì Quỳ dâng rượu lên Thành Hoàng.
– Đông xướng – xướng: Hưng (đứng dậy): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy.
– Đông xướng – xướng: Bình thân (đứng dậy về vị trí cũ): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy về vị trí cũ.
– Đông xướng – xướng: Phục vị (về vị trí cũ): Chủ tế và Bồi tế quay về chỗ cũ ở chiếu tế theo nghi thức Nhập Ất.
27. Chung hiến lễ (dâng rượu tuần thứ 3):
– Đông xướng – xướng: Nghệ tửu tôn sở (xem lại bình rượu quí): Chủ tế đi đến chỗ án để rượu, vào vị trí rót rượu.
– Đông xướng – xướng: Tư tôn giá cử mịch (mở đài rượu, bình rượu): Chấp sự mở cái miếng phủ trên mâm đài, đài rượu, bình rượu. Chủ tế bước tới chỗ án để rượu, Chấp sự mở nắp đài ra.
– Đông xướng – xướng: Chước tửu (Rót rượu): Chấp sự rót rượu vào 2 chén.
– Đông xướng – xướng: Nghệ Tổ Tiên vị tiền (hướng trước Tổ Tiên): Hiệu lệnh để nhắc nhở vị Chủ tế, 2 người Nội tán.
– Nội tán xướng: Quỵ (Chủ tế và Bồi tế đều quỳ xuống)
– Đông xướng – xướng: Tiến tửu (hoặc Tiến tước là rước rượu): Chấp sự dâng đài rượu cho Chủ tế để Chủ tế vái một vái, xong lại giao cho Chấp sự.
– Đông xướng – xướng: Hiến tửu (dâng rượu lên Tổ Tiên): Chấp sự đi thành 2 hàng (mỗi hàng 1 Đài rượu), 2 tay nâng 2 Đài rượu (rước rượu) đi vào ban thờ trong Từ Đường đi theo nghi thức Xuất Á. Đến ban thờ thì Quỳ dâng rượu lên Tổ Tiên.
– Đông xướng – xướng: Hưng (đứng dậy): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy.
– Đông xướng – xướng: Bình thân (đứng dậy về vị trí cũ): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy về vị trí cũ.
– Đông xướng – xướng: Phục vị (về vị trí cũ): Chủ tế và Bồi tế quay về chỗ cũ ở chiếu tế theo nghi thức Nhập Ất.
28. Ẩm phúc (hưởng rượu dâng Tổ Tiên): 2 Chấp sự vào nội điện bưng ra 1 chén rượu và một Đài trầu).
29. Nghệ ẩm Phúc vị (vào vị trí hưởng rượu): Chủ tế vào chiếu thứ 2 – chiếu Thụ tộ.
30. Quỵ (quỳ): Chủ tế quỳ xuống. 2 Chấp sự đưa chén rượu, Đài trầu cho Chủ tế)
31. Ẩm phúc (hưởng rượu lộc Tổ Tiên): Chủ tế bưng lấy chén rượu vái, lấy tay áo che mồm uống 1 hơi hết ngay.
32. Thụ tộ (hưởng lộc Tổ Tiên ban): Chủ tế cầm Đài trầu hoặc bánh hoặc miếng thịt, vái xong rồi ăn 1 miếng.
33. Tạ lễ cúc cung bái (Bái lạy tạ lễ): Chủ tế và Bồi tế đều bái lạy lần thứ nhất.
– Tây xướng – xướng: Hưng (đứng dậy): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy.
– Đông xướng – xướng: Bái (lạy): Chủ tế và Bồi tế đều bái lạy lần thứ 2.
– Tây xướng – xướng: Hưng (đứng dậy): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy.
– Đông xướng – xướng: Bái (lạy): Chủ tế và Bồi tế đều bái lạy lần thứ 3.
– Tây xướng – xướng: Hưng (đứng dậy): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy.
– Đông xướng – xướng: Bái (lạy): Chủ tế và Bồi tế đều bái lạy lần thứ 4.
– Tây xướng – xướng: Hưng (đứng dậy): Chủ tế và Bồi tế đứng dậy.
34. Phần chúc (hóa Chúc): Đem Chúc đi hóa.
35. Lễ tất (Lễ tế xong): Hậu duệ, thế thứ, khách thập phương dự lễ vào trong Từ Đường dâng hương, dâng lễ, cúng Tổ Tiên.

Lễ tế Tổ rằm tháng 7-2019Các thế thứ tham dự lễ tế Tổ:Đời thứ 14: Gồm Cụ: Trung - Thiệu (Trưởng tộc) - Khiêm (phó chi) -...
18/08/2019

Lễ tế Tổ rằm tháng 7-2019
Các thế thứ tham dự lễ tế Tổ:
Đời thứ 14: Gồm Cụ: Trung - Thiệu (Trưởng tộc) - Khiêm (phó chi) - Năm (Trưởng Chi)
Đời thứ 15: Gồm các ông: Đát- Phồn - Thăng - Tiến - Đóa - Thắng - Duyên - Dũng - Tạm - Đán
Đời thứ 16: Gồm các ông Quang - Thăng - Đính

Giỗ Thủy Tổ Nguyễn Hướng Thiện 28-Giêng - 2019 - Tế Cáo tối 27-Giêng - do Đội tế Nữ của dòng họ thực hiện
21/03/2019

Giỗ Thủy Tổ Nguyễn Hướng Thiện 28-Giêng - 2019 - Tế Cáo tối 27-Giêng - do Đội tế Nữ của dòng họ thực hiện

Address

Làng Hương Cát, TT Cát Thành, Trực Ninh
Nam Định
084

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nhà thờ họ Nguyễn Đại Tộc Hương Cát posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category