Pháp Hội Thủ Lăng Nghiêm

Pháp Hội Thủ Lăng Nghiêm Hòa thượng TUYÊN HOÁ :

Nếu không còn kinh Thủ Lăng Nghiêm nữa, có nghĩa đã đến thời mạt pháp.

Do vậy, người Phật tử chúng ta, mỗi người cũng như tất cả, phải đem hết sức lực, đem hết tâm huyết, đem hết mồ hôi nước mắt để giữ gìn kinh Thủ Lăng Nghiêm ✅

Lộ trình tu – hành trì Thủ Lăng Nghiêm từ căn bản đến nâng cao, được sắp xếp đúng chánh kiến, an toàn, và đi từ dễ đến s...
12/02/2026

Lộ trình tu – hành trì Thủ Lăng Nghiêm từ căn bản đến nâng cao, được sắp xếp đúng chánh kiến, an toàn, và đi từ dễ đến sâu, phù hợp với người muốn tu lâu dài
I. GIAI ĐOẠN CĂN BẢN – DỰNG CHÁNH KIẾN (0–3 THÁNG)
Mục tiêu: Không tu sai, không rơi vào tà kiến, không cầu cảm ứng.
1. Quy y – giữ nền tảng đạo đức
Quy y Tam Bảo (chính thức hoặc tự phát tâm).
Giữ Ngũ Giới (tối thiểu: không sát sinh – không tà dâm – không vọng ngữ).
Tránh các pháp cầu tài, cầu linh ứng, trấn yểm, pha tạp.
👉 Nếu giới không vững → trì Chú Lăng Nghiêm sẽ không phát lực.
2. Hiểu đúng tinh thần Kinh Thủ Lăng Nghiêm
Cần nắm 3 trục chính:
Phá vọng tâm (7 chỗ vọng tâm, 10 lần hiển chân tâm).
Ngũ ấm là gốc sinh tử (50 ấm ma).
Giới – Định – Tuệ là xương sống, Chú chỉ là hộ pháp.
👉 Giai đoạn này phải học kinh, chưa vội cầu trì nhiều.
3. Bắt đầu trì chú ở mức tối thiểu
Mỗi ngày:
Chú Lăng Nghiêm: 7 biến
Chú Đại Bi: 3–7 biến
Trì chậm – rõ – không gấp.
Không cầu cảm giác, chỉ cầu thanh tịnh và chánh niệm.
II. GIAI ĐOẠN TRUNG CẤP – ĐỊNH TÂM & THANH LỌC (3–12 THÁNG)
Mục tiêu: Dùng Chú Lăng Nghiêm để hộ tâm – phá chướng – không bị ma sự.
4. Tăng dần công phu trì Chú Lăng Nghiêm
Mỗi ngày:
7- 14 biến Chú Lăng Nghiêm
Trì buổi sáng là chính (5–7h).
Giữ thời khóa cố định, không thất thường.
👉 Lúc này chú bắt đầu tịnh hóa nghiệp sâu → dễ:
Mộng nhiều
Phiền não nổi lên
Việc đời thử thách
➡️ Đây là tốt, không phải xấu.
5. Kết hợp Giới – Định song hành
Giảm:
Dục
Sân
Tham cầu cảm ứng
Không bàn luận thần thông, không khoe công phu.
👉 Càng khiêm → lực chú càng mạnh.
6. Bắt đầu học sâu các phần nguy hiểm trong kinh
50 ngũ ấm ma (để biết mà tránh).
Tà định – vọng cảnh – chấp quang, chấp linh.
Hiểu rõ:
Thấy cảnh ≠ chứng đạo
III. GIAI ĐOẠN NÂNG CAO – HỘ TRÌ CHÁNH PHÁP (1–3 NĂM)
Mục tiêu: Trì Chú Lăng Nghiêm để giữ mạng mạch Phật pháp, không vì bản ngã.
7. Trì Chú Lăng Nghiêm như “hơi thở”
7 – 21 biến/ngày (tùy duyên, không ép).
Trì:
Khi đi đường
Trước ngủ
Khi tâm loạn
Không cần đếm nhiều, tâm tương ưng là chính.
8. Trì chú để phá ngã – không cầu phước
Không cầu:
Tài lộc
Linh ứng
Bảo vệ cá nhân
Chỉ nguyện:
“Nguyện chánh pháp trụ lâu, con không lạc tà kiến.”
👉 Người tu đến đây chú hộ mình mà mình không biết.
9. Hồi hướng đúng pháp
Sau mỗi thời:
“Nguyện đem công đức này
Trang nghiêm Phật Tịnh Độ
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ ba đường…”
Không hồi hướng riêng cho dục cầu cá nhân.
IV. NHỮNG ĐIỀU TUYỆT ĐỐI TRÁNH
❌ Trì chú khi:
Tâm tà dâm mạnh
Nuôi ý trả thù
Cầu linh, cầu quyền lực
❌ Lẫn lộn:
Thủ Lăng Nghiêm + pháp ngoại đạo
Thủ Lăng Nghiêm + bùa chú dân gian
👉 Chú Lăng Nghiêm là Phật đảnh, không dung tạp.

22/11/2025

🙏 10 CÁCH ĐƠN GIẢN TẠO 3000 VIỆC THIỆN GIÚP THAY ĐỔI VẬN MỆNH.

1. Lễ Phật 3000 lạy. Dễ nhất là theo kinh Hồng Danh Tam Thiên Phật.

2. Lễ Pháp, tức lạy Kinh Pháp Hoa. Kinh Pháp Hoa bản Việt dịch do Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch (từ bản Hán của Ngài Cưu Ma La Thập)

3. Lễ Tăng, lễ chư đại Bồ tát như Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Âm Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát 3000 lạy; hoặc phát nguyện đến các pháp hội trai Tăng đảnh lễ hay cúng dường 3000 vị Tăng.

4. Ấn tống hình, tượng Phật, bằng cách đăng lên các nền tảng xã hội 3000 hình Phật.

5. Ấn tống kinh Phật, bằng cách cúng dường file hoặc trích dẫn kinh điển, rộng kết thiện duyên đến 3000 người.

6. Phát nguyện dâng 3000 ngọn đèn lên chư Phật.

7. Hoặc dâng hương cúng dường 3000 nén trầm lên chư Phật.

8. Hay dâng trà/nước cúng dường trước tượng Phật 3000 chung.

9. Phóng sanh 3000 con vật, nhất là các loài cá chép có bầu, ốc, sẽ nhanh chóng thành tựu.

10. Khuyến hoá 3000 người làm các việc công đức.

Thật ra, quý vị muốn phát tâm làm 3000 việc lành rất dễ. CHỈ CẦN CÓ TRÍ TUỆ, TÙY THEO HOÀN CẢNH MÀ THỰC HIỆN. KHÔNG ĐỢI CÓ TIỀN MỚI LO LÀM PHƯỚC. CHỈ CẦN CHÍ THÀNH, THÌ NHẤT ĐỊNH SẼ CẢM ỨNG. Được vậy, số phận quý vị sẽ chuyển biến tốt đẹp.

• Nguồn: Thầy Thích Như Dũng

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 🙏
Nam Mô A Di Đà Phật 🙏
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát 🙏

PT kết bạn hoặc gọi cho con theo số 0936635998 để xác nhận đăng ký tham gia pháp hội ạ (con ko kết bạn và có số của PT)....
17/11/2025

PT kết bạn hoặc gọi cho con theo số 0936635998 để xác nhận đăng ký tham gia pháp hội ạ (con ko kết bạn và có số của PT). KHUYẾN PHÁT BỒ ĐỀ TÂM
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch chư Tôn đức Tăng Ni,
Ban Tổ Chức Pháp hội Lăng Nghiêm xin được thông tri đến toàn thể đại chúng:
Do số lượng chư Tăng Ni và Phật tử đăng ký tham dự pháp hội vượt ngoài dự kiến, nhằm đảm bảo chất lượng tu học, an toàn và sự trang nghiêm của đạo tràng, Ban Tổ Chức xin phép được thay đổi địa điểm tổ chức như sau:
Địa điểm mới: VẠN PHẬT QUANG ĐẠI TÙNG LÂM (Vũng Tàu)
Thời gian: Giữ nguyên như thông báo trước đây.
Chúng con thành tâm cáo lỗi cùng quý chư Tôn đức và toàn thể Phật tử vì sự thay đổi ngoài ý muốn này.
Rất mong quý vị hoan hỷ, thông cảm và tiếp tục đồng hành, trợ duyên cho Pháp hội được thành tựu viên mãn.
Nam mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.

CHÚ LĂNG NGHIÊM ĐỘ THOÁT CHA MẸ Cư sĩ Thông Hoa: Khi chúng tôi trì tụng đến câu mà Lão Hòa Thượng khai thị là để báo đáp...
14/11/2025

CHÚ LĂNG NGHIÊM ĐỘ THOÁT CHA MẸ

Cư sĩ Thông Hoa:

Khi chúng tôi trì tụng đến câu mà Lão Hòa Thượng khai thị là để báo đáp ân đức của bảy đời cha mẹ quá khứ, trời đất bắt đầu rung chuyển. Lúc đó, tôi còn nghĩ rằng có ai đó đang làm việc hoặc đá từ đâu đó sụp đổ. Tôi nhìn thấy ánh sáng Phật mạnh mẽ chiếu xuống mặt đất, xuyên thấu đến các cõi dưới, nơi chúng sinh chịu khổ. Những luồng nghiệp lực trên mặt đất được ánh sáng Phật thanh tịnh hóa thành những luồng khí trong lành. Ngay lúc đó, tôi hiểu rằng câu chú này chính là để báo đáp ân đức của cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp. Lão Hòa Thượng từng khai thị rằng đây là chú ngữ báo đáp công ơn của các đời cha mẹ. Khi một ý nghĩ thoáng qua, tôi để một vị Phật tử tụng chú, còn tôi quan sát. Tôi thấy các bậc cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp của người đó đang xếp hàng ngay ngắn, được ánh sáng Phật gia trì, cơ thể họ dần dần thải ra những luồng khí đen, là những nghiệp chướng. Họ ở rải rác trong sáu cõi luân hồi khác nhau, và tất cả đều mang tâm trạng vừa buồn vừa vui, hy vọng chúng tôi đến để cứu độ họ. Khi tôi chứng kiến cảnh này, nước mắt không ngừng chảy, vòng luân hồi thật sự quá khổ. Đức Phật từ bi đã để lại Lăng Nghiêm Thần Chú, một pháp môn vi diệu như vậy cho chúng sinh trong thời mạt pháp yếu kém này, khiến tôi vô cùng cảm động.

(Ghi chú:
HT Phổ Quang khai thị: Niệm "Xá Kê Dã Mẫu Na Duệ" là báo đáp ân đức mẹ trong bảy đời. Niệm "Lặc Đát Na Kê Đô Ra Xà Da" là báo đáp ân đức cha trong bảy đời.)

Hòa thượng Phổ Quang,:

Vì sao tôi tụng "Nam mô Bà Già Bà Đế Xá Kỳ Dạ Mẫu Na Dạ Đà Tha Già Đa Da A La Hán Đế Tam Miệu Tam Bồ Đà Da" ba lần?

Vì mẹ chúng ta đã cho chúng ta thân thể bằng máu thịt. Không có mẹ mang thai 10 tháng 116 năm trước, làm sao chúng ta có mặt trên đời? Câu này là để báo đáp ân đức của mẹ bảy đời.

Vì sao mỗi lần tôi tụng chú Lăng Nghiêm, tôi đều tụng (Nam mô Bà Già Bà Đế Lạt Đát Na Kê Đô La Xá Da Đà Tha Già Đa Da A La Hán Đế Tam Miệu Tam Bồ Đà Da) ba lần?

Vì xương cốt của chúng ta là do cha ban cho, không có xương của cha thì làm sao tôi có thể sống trên đời 116 năm? Câu này chính là để báo đáp ân đức của người cha trong bảy đời.

Cho nên, tụng chú Lăng Nghiêm tốt là vẹn toàn cả trung hiếu. Tụng chú Lăng Nghiêm tốt, công phu thâm sâu, không chỉ tự độ bản thân, mà cha mẹ cũng được độ thoát. Nếu cha mẹ nhiều đời trong quá khứ đang chịu khổ trong địa ngục, cũng có thể được cứu thoát, chuyển sinh vào đường lành.

NÊN VIỆC THƯƠNG XUYÊN TRÌ CHÚ CŨNG LÀ ĐANG GIÚP CHA MẸ ĐƯỢC TIÊU TRỪ NGHIỆP CHƯỚNG, CÁC SƯ HUYNH HÃY VÌ CHA MẸ MÀ ĐỌC NHÉ 🌷🌷🌷

Con Cháu Của Ma VươngKhai Thị Về Kinh Và Chú Thủ Lăng Nghiêm-Hoà Thượng Tuyên HoáĐức Phật đã dùng định lực để thắng lực ...
12/11/2025

Con Cháu Của Ma Vương
Khai Thị Về Kinh Và Chú Thủ Lăng Nghiêm-Hoà Thượng Tuyên Hoá

Đức Phật đã dùng định lực để thắng lực thần thông của ma vương trong khi đấu pháp với chúng. Lúc đó ma vương bèn nói với Phật rằng: “Bây giờ tôi không có cách gì để thắng được ông, nhưng chờ đến tương lai sau nầy,

khi đệ tử của ông không có đủ định lực, tri kiến lại bất chánh, lúc đó tôi sẽ đục cửa chui vào nhà ông mà mặc áo của ông, ăn cơm của ông, sau đó tôi lại còn tiểu tiện vào trong bát của ông, thử xem ông sẽ làm sao!” Đức Phật Thích Ca điềm nhiên nói: “Thế thì ta không có cách gì cả.”

Rõ ràng hiện nay, đã có người xuất gia công khai nói Kinh A Di Đà là giả, với lý do là trong kinh có những câu không có căn cứ để khảo chứng như: “Từ đây đi về phương tây, trải qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc.”

Ông ấy hỏi rằng: “Vị quan địa phương nào đo vậy? So ra khoảng cách của mười vạn ức cõi Phật có lẽ là nhiều hơn một chút, hoặc cũng có lẽ là ít hơn một chút. Thế thì có chắc là mười vạn ức cõi Phật không?” Đúng là những lời lý luận ngu si xằng bậy, chỉ làm trò cười cho thiên hạ!

Gần đây, lại có vị xuất gia tuyên bố với mọi người rằng Kinh Lăng Nghiêm là ngụy tạo, đừng nên tin. Bởi căn cứ vào đoạn kinh văn: “Nhân ngày húy kỵ của vua cha, vua Ba Tư Nặc thiết trai thỉnh Phật vào cung điện.

Nhà vua đích thân nghênh đón đức Như Lai, và thiết bày đầy cả thức ăn quý,” vị đó cho rằng đoạn văn nầy không phù hợp với phong tục Ấn Độ lúc đương thời – bởi ở Ấn Độ không giảng về đạo hiếu. Nhân đó ông quyết đoán rằng Kinh Lăng Nghiêm là ngụy tạo, không phải do Phật thuyết giảng.

Đó chính là hành vi hủy kinh báng Phật, và quả báo của sự hủy báng nầy khó mà tưởng tượng nổi. Tư tưởng của sư nầy thật quá ấu trỉ! Tâm sư ở đâu, quý vị có thể suy ra thì biết!

Trong Kinh Pháp Diệt Tận nói rằng: “Tương lai khi đến thời kỳ Mạt Pháp, bộ kinh Lăng Nghiêm sẽ bị hủy diệt trước hết.” Bởi vì Kinh Lăng Nghiêm là đại biểu cho thời đại Chánh Pháp.

Nếu không có kinh Lăng Nghiêm, tức là không có Chánh Pháp. Hiện nay có rất nhiều sơn yêu thủy quái, chúng chủ trương là Kinh Lăng Nghiêm không phải do Phật nói, và muốn mọi người đừng tin.

Nếu không tin Kinh Lăng Nghiêm, vậy bao nhiêu Kinh điển khác đều có thể lấy bút quẹt bỏ hết mà không tin luôn à! Vì sao? Bởi không có căn cứ chăng! Cho nên quý vị có thể thấy rằng tâm địa của ma vương quả thật quá cay độc!

Đây cũng bởi vì Kinh Lăng Nghiêm nói lên sự thật quá rõ ràng. Trong khi ma vương lại không thể giữ được Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối tức bốn lời răn dạy thanh tịnh, cũng không thể tu được Pháp Môn Viên Thông của hai mươi lăm vị Thánh, và càng không dám đọc về cảnh giới của Năm Mươi Loại Ấm Ma.

Vì nó sợ bại lộ nguyên hình, khiến cho người ta biết được bộ mặt thật của nó, cho nên nó mới tìm cách hủy diệt Kinh Lăng Nghiêm. Hủy diệt đây không phải là đốt kinh điển, mà là hủy diệt kinh từ trong tâm chúng sanh, khiến cho mọi người mất lòng tin đối với Kinh Lăng Nghiêm.

Chuyện trên đời là kỳ diệu như thế đấy. Thật rất ít có ai nhận biết được. Cũng giống như nghề buôn, người bán thuốc giả thì rất đắc hàng, trong khi người bán thuốc thật lại chẳng có ai mua. Tại sao? Bởi không có người chân chánh nhận biết được giá trị của nó. Cho nên tôi bảo là sự thật thì không ai nhận biết, còn giả thì lại làm cho mọi người say mê. Đó là đạo lý rất dễ hiểu thôi!

Hiện nay là thời kỳ Mạt Pháp, có nhiều người phỉ báng và không tin các vị thầy chân chánh tu trì Phật Pháp. Nhưng các thầy giả, bởi giảng pháp quá náo nhiệt nên có rất nhiều người đến nghe Pháp, đến nỗi trong giảng đường không còn chỗ chứa, người ta chen chúc như hộp cá mồi, chật thở không ra hơi.

Thế mà lại có người xuất gia đề xướng khẩu hiệu không ăn chay. Ông thầy nầy nói với mọi người rằng: “Phàm hễ là người ăn chay đều có tâm tham; còn người không ăn chay mới không có tâm tham.” Lý luận như vậy thật là chọc cười cho cả thiên hạ, là làm mù mắt người, khiến cho người ta hồ đồ – hồ đồ qua, hồ đồ lại, hồ đồ cho đến lúc xuống địa ngục, vĩnh viễn không bao giờ thoát khỏi.

Cho nên khi học Phật Pháp, chúng ta cần nên có trạch pháp nhãn, con mắt biết chọn lựa Pháp thì mới có thể phân biệt được phải hay trái, đúng hay sai và thiện hay ác một cách rõ ràng.

Nếu không vậy, chúng ta chẳng khác gì như người mù sờ voi, mò không ra được đạo lý chân chánh. Người ta nói sao thì mình lập lại y như vậy, nghe rồi phụ họa theo. Người ta nói con voi như bức tường, mình cũng nói theo là voi như bức tường.

Người ta nói con voi giống như cây cột, mình cũng phụ họa nói voi giống cây cột. Rốt cuộc thì con voi giống như cái gì? Chúng ta đều chẳng biết. Khi học Phật Pháp, chúng ta phải hiểu cho được đạo lý, chứ đừng đi theo một cách mù quáng. Mọi người nên đặc biệt chú ý điểm nầy!

Giảng ngày 17 tháng 4 năm 1984

Trích Khai Thị 6

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.Kính bạch chư Tôn đức Tăng Ni,Ban Tổ Chức Pháp hội Lăng Nghiêm xin được thông tri đến...
11/11/2025

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch chư Tôn đức Tăng Ni,
Ban Tổ Chức Pháp hội Lăng Nghiêm xin được thông tri đến toàn thể đại chúng:
Do số lượng chư Tăng Ni và Phật tử đăng ký tham dự pháp hội vượt ngoài dự kiến, nhằm đảm bảo chất lượng tu học, an toàn và sự trang nghiêm của đạo tràng, Ban Tổ Chức xin phép được thay đổi địa điểm tổ chức như sau:
Địa điểm mới: VẠN PHẬT QUANG ĐẠI TÙNG LÂM (Vũng Tàu)
Thời gian: Giữ nguyên như thông báo trước đây.
Chúng con thành tâm cáo lỗi cùng quý chư Tôn đức và toàn thể Phật tử vì sự thay đổi ngoài ý muốn này.
Rất mong quý vị hoan hỷ, thông cảm và tiếp tục đồng hành, trợ duyên cho Pháp hội được thành tựu viên mãn.
Nam mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.

🪷 THÔNG BÁO KHÓA TU 1 NGÀY LĂNG NGHIÊM 🪷Chùa Vũ Dương (phường Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh) trân trọng thông báo:📅 Thời gi...
11/11/2025

🪷 THÔNG BÁO KHÓA TU 1 NGÀY LĂNG NGHIÊM 🪷

Chùa Vũ Dương (phường Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh) trân trọng thông báo:

📅 Thời gian: Chủ nhật, 16/11/2025 (tức 26/9/Ất Tỵ âm lịch)
👳‍♂️ Trưởng ban tổ chức: Sư Thích Vạn Định
🌼 Đồng hành: Sư Cô Thích Nữ Diệu Hằng – 0974 429 866

Quế Phương: 0936635998

🕰️ Chương trình tu học

07h: Khai đàn Lăng Nghiêm
08h: Trì chú Thủ Lăng Nghiêm
09h: Chia sẻ kinh nghiệm tu học
10h: Trì 108 biến Tâm chú Lăng Nghiêm
11h: Thọ trai – nghỉ trưa
13h30: Khai tĩnh
14h: Tụng Kinh Thủ Lăng Nghiêm
15h30: Trì 7 biến Chú Lăng Nghiêm
16h30: Cúng hồi hướng – Hoàn mãn khóa tu

🌺 Ý nghĩa:
Khóa tu giúp hành giả lắng tâm, tăng trưởng định huệ, gieo duyên sâu dày với pháp môn Lăng Nghiêm.

https://goo.gl/maps/FMKkgUocasW6RGTi8

🙏 Kính mời quý Phật tử hữu duyện cùng tham dự trong trang nghiêm, thanh tịnh.
Nam Mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát. 🙏🙏🙏

Nếu bạn muốn học thuộc Chú Lăng Nghiêmhttps://zalo.me/g/hnuepk691 một cách CHUYÊN SÂU, thì việc học thuộc không chỉ là n...
12/08/2025

Nếu bạn muốn học thuộc Chú Lăng Nghiêm
https://zalo.me/g/hnuepk691
một cách CHUYÊN SÂU, thì việc học thuộc không chỉ là nhớ chữ mà còn phải hiểu năng lực thần chú, cách vận dụng, và thiết lập tâm pháp khi hành trì. Dưới đây là hướng chuyên sâu dành riêng cho Chú Lăng Nghiêm:

---

🌕 MỤC TIÊU CHUYÊN SÂU:

Biến Chú Lăng Nghiêm thành "tâm ấn" trong đời sống tu hành và hộ trì tâm linh.

---

🪷 I. TƯ THẾ – TÂM PHÁP – GIỚI LUẬT KHI HỌC CHÚ

1. Giới luật thanh tịnh

> Chú Lăng Nghiêm là "thần chú phá ma", nếu người học không giữ giới, tâm nhiễm dâm, tà kiến, thì càng học càng chướng.

Bắt buộc:

Tránh tà dâm, giữ miệng thanh tịnh, không vọng ngữ, giảm tiếp xúc mạng xã hội.

Hành trì ngũ giới tối thiểu, hoặc Bát Quan Trai giới nếu có thể.

---

2. Tâm pháp khi học thuộc

Trước khi học chú, nên:

Lạy Phật 3 lạy, khấn nguyện:

> “Nguyện nhờ oai lực của Như Lai và Thánh chúng, cho con học thuộc và trì tụng Chú Lăng Nghiêm đúng pháp, không lầm sai, hộ trì thân tâm, phá chướng ngại.”

Đốt trầm hoặc hương sạch, giữ thân – khẩu – ý thanh tịnh.

Ngồi thẳng, miệng đọc – tai nghe – tâm ghi nhận. Đó là Tam nghiệp tương ưng khi học.

---

📖 II. PHƯƠNG PHÁP CHUYÊN SÂU ĐỂ HỌC THUỘC

1. Học theo "âm lực" thay vì chỉ chữ

Chú Lăng Nghiêm là Phạn ngữ chuyển sang Hán âm, vì thế:

Nên học bằng nghe – tụng – thấm âm, không học kiểu dịch nghĩa như văn thường.

Tụng thành nhịp điệu giúp chú “găm” sâu vào tàng thức.

📌 Gợi ý:

Tụng theo băng HT Tuyên Hóa hoặc băng tụng chậm, rõ, đúng âm.

Nghe đi nghe lại, nghe khi đi bộ, lúc rửa bát, ngồi thiền, trước khi ngủ.

---

2. Chia theo cấu trúc chú – học có hệ thống

Chú Lăng Nghiêm gồm khoảng 554 câu chú, có thể chia làm:

Phần mở đầu (Nam mô Tát Đát Tha...): khai tâm, nguyện lực.

Phần Chánh Chú: bao gồm nhiều câu thần chú ứng với các vị Kim Cang, Thiên Vương, Bồ Tát...

Phần kết thúc (Phổ diệc kiến văn...): hồi hướng.

📌 Gợi ý chia học:

Ngày Phần học Số câu Ghi chú

1–7 Mở đầu (Nam mô Tát Đát Tha...) 7–10 câu Rất quan trọng, nên học chắc
8–30 Chánh chú phần 1 150 câu Mỗi ngày học 5–10 câu
31–60 Chánh chú phần 2 200 câu Kết hợp ôn cũ
61–80 Chánh chú phần 3 + đoạn kết 204 câu Học 10–12 câu/ngày
81–90 Ôn toàn bộ & tụng thuộc 1 biến/ngày - Hoàn thiện trí nhớ

👉 Nếu bạn cần, mình có thể chia file PDF lịch học từng ngày kèm nội dung cụ thể.

---

3. Tụng chậm, tụng đều, đừng vội thuộc

Đừng học thuộc vội. Hãy:

Tụng chậm và đều, để ý âm thanh và nhịp chú đi vào tâm bạn như thiền định.

Sau khoảng 20–30 ngày, bạn sẽ tự nhiên nhớ mà không cố gắng.

---

4. Kết hợp Viết – Tụng – Thiền

Khi não tiếp xúc 3 chiều:

Viết chú ra giấy mỗi ngày 1 lần.

Tụng miệng, nghe tai.

Ngồi thiền 15 phút sau khi tụng → tâm lắng, chú đi vào sâu hơn.

---

🔥 III. CẢNH GIỚI – CHƯỚNG NGẠI CÓ THỂ GẶP

❗ Những biểu hiện:

Mơ thấy ma quỷ, giấc ngủ chập chờn.

Căng thẳng, bực tức vô cớ.

Thấy khó nhớ, học hoài không vào.

✅ Đây là bình thường khi bạn bước vào năng lực “chú Vương”. Đừng sợ.

📌 Cách hóa giải:

Trì thêm Chú Đại Bi hoặc hồi hướng sau mỗi lần học.

Kiểm tra lại giới hạnh và đời sống hằng ngày.

Giữ tâm khiêm cung – không cầu thần thông – không vọng tưởng.

---

📿 IV. HÀNH TRÌ ĐÚNG SAU KHI HỌC THUỘC

Sau khi học thuộc, mỗi ngày tụng 1 biến để duy trì.

Có thể tụng trong thời khóa sớm (3h – 5h sáng) hoặc tối.

Sau mỗi lần tụng: hồi hướng cho chúng sanh – phá trừ nghiệp chướng – hộ pháp gia trì.

TỤNG CHÚ LĂNG NGHIÊM: HUẤN LUYỆN TÂM TRỞ VỀ NHẤT NIỆM HIỆN TIỀNI. Chú Lăng Nghiêm – Phương tiện tối thắng để huấn luyện ...
04/08/2025

TỤNG CHÚ LĂNG NGHIÊM: HUẤN LUYỆN TÂM TRỞ VỀ NHẤT NIỆM HIỆN TIỀN
I. Chú Lăng Nghiêm – Phương tiện tối thắng để huấn luyện tâm:
Chú Lăng Nghiêm (Śūraṅgama Mantra) không chỉ là một thần chú hộ thân siêu việt, mà còn là pháp bảo tối thượng giúp hành giả huấn luyện tâm trở về trạng thái Nhất Niệm Hiện Tiền – nơi tâm không còn tán loạn theo vọng tưởng, mà an trụ trong chân tâm thanh tịnh, minh triết và sáng suốt. Đây là con đường dẫn đến định lực, khai mở trí huệ và chứng ngộ chân lý.

II. Nhất Niệm Hiện Tiền:
“Nhất Niệm Hiện Tiền” là khái niệm cốt lõi trong Thiền tông và Đại thừa Mật giáo, mang ý nghĩa:
Tâm thức hiện tại thuần khiết: Tâm an trú ngay tại khoảnh khắc hiện tại, không dính mắc vọng tưởng, không chấp trước quá khứ hay tương lai.
Cái thấy-biết trực tiếp: Nhận biết rõ ràng ngay đây và bây giờ, không qua đối đãi phân biệt hay so đo tạo tác.
Bản tâm thường trụ: Là chân như, Như Lai Tạng, Phật tánh - Vốn luôn hiện hữu nhưng bị vô minh che khuất.
"Trở về Nhất Niệm Hiện Tiền là trở về với bản tâm thanh tịnh, nơi mọi vọng động đều tan biến, chỉ còn lại sự sáng tỏ, tịch nhiên và an lạc chân thật."
III. Vì sao cần huấn luyện tâm?
Tâm phàm phu giống như con vượn, nhảy nhót không ngừng, chạy theo ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) và lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Tâm tán loạn khiến con người bị cuốn trôi trong vòng luân hồi. Vì vậy, cần một pháp môn mạnh mẽ để:
Ngăn chặn vọng niệm: Phá tan tâm tán loạn, ngừng truy cầu đối cảnh.
An trụ tâm thức: Đưa tâm trở về một điểm trung tâm tịch chiếu, vững chãi.
Khai mở trí huệ: Từ định lực, trí huệ bừng sáng, dẫn đến chứng ngộ chân tâm.
Chú Lăng Nghiêm chính là pháp môn thù thắng, giúp hành giả thực hiện hành trình này.
IV. Chú Lăng Nghiêm huấn luyện tâm như thế nào?
1. Thu nhiếp lục căn qua sự hộ trì của chư Bồ Tát:
Ngay từ đoạn đầu chú Lăng Nghiêm, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát – biểu tượng của trí huệ đại giác khởi phát tâm hộ trì, kích hoạt bản giác trong tâm hành giả. Các vị Bồ Tát khác trấn giữ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), giúp:
Thu nhiếp lục căn: Ngăn tâm phóng ra ngoài, chạy theo trần cảnh.
Tịch nhiên thanh tịnh: Tâm quay về chính mình, không còn lăng xăng theo duyên ngoại cảnh.
Kết quả: Tâm bắt đầu an trụ, định lực dần sinh khởi, tạo nền tảng cho sự tỉnh thức.
2. Phá tan vọng niệm vi tế bằng năng lực chú Lăng Nghiêm:
Mỗi âm tiết trong Chú Lăng Nghiêm là một mật ngữ, mang tần số rung động mạnh mẽ, như chày Kim Cương đập tan cấu trúc vọng tưởng và nghiệp thức tích lũy qua nhiều kiếp “ Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng”
Chuyên chú vào âm thanh: Khi trì chú, tâm buộc phải tập trung vào từng âm tiết, không còn chỗ cho vọng niệm chen vào.
Phá tan nghiệp thức vi tế: Những tập khí ẩn sâu kín trong tầng ý thức, vốn không thể phá bằng tư duy hay phân tích lý luận, bị rung động mạnh bởi thần lực của của chú ngữ làm tan rã
Giống như siêu âm tần số cao làm vỡ cấu trúc vật thể, mật chú là dòng âm thanh siêu việt, phá tan cấu trúc vi tế của nghiệp tâm.
Kết quả:
Tâm từ trạng thái tán loạn dần được điều hướng, trở về thực tại.
Định lực tự nhiên phát sinh, không cần cưỡng ép.
Ý căn (ý thức thứ sáu) sinh ra một nội lực vi tế, là nền tảng cho trí huệ.
3. Từ định lực đến khai mở trí huệ
Khi hành giả kiên trì trì tụng Chú Lăng Nghiêm mỗi ngày:
Nhất tâm hình thành: Tâm dần an trụ, không còn phóng dật hay mệt mỏi ( Tâm càng vọng tưởng thể xác càng mệt mỏi rã rời, bởi cơ thể phải tiêu hao sinh lực để nuôi sống vọng tưởng)
Trí huệ bừng sáng: Trí huệ không còn dựa vào phân biệt hay vọng tưởng, mà phát sinh từ bản giác vốn có.
Đây chính là trạng thái Nhất Niệm Hiện Tiền, nơi tâm thanh tịnh, tròn đầy và sáng tỏ.

V. Thực hành trì chú Lăng Nghiêm để trở về Nhất Niệm Hiện Tiền
Thực tế tụng 1 Chú Lăng Nghiêm hết khoảng 8 - 10 phút (Trường hợp đã thuộc lòng, tụng không cần sách):
1. Chánh niệm trên từng âm thanh
Tập trung tuyệt đối: Dính sát tâm vào từng chữ, từng âm của chú.
Lắng nghe chú: Nghe âm thanh mình tụng ra như thể đang “lắng nghe” hơn là “đọc”.
Hợp nhất Thân - Khẩu - Ý:
Thân: Tư thế nghiêm trang (trong mọi tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi).
Khẩu: Tụng rõ ràng, to hoặc nhỏ vừa đủ để tai nghe hoặc tâm cảm nhận.
Ý: Ý thức rõ từng âm tiết, không để vọng tưởng xen vào.
Khi ba nghiệp hợp nhất, vọng tưởng không còn chỗ chen lấn, như dòng nước mạnh cuốn trôi mọi rác rưởi, ô uế tạp nham gây loạn tâm.
2. Không chống vọng tưởng – để chú tự chảy
Không dằn ép vọng tưởng: Càng cố xua đuổi, vọng tưởng càng bám chặt. Thay vào đó, để chú chảy như dòng suối, vọng tưởng sẽ tự tan trong sóng âm.
Tụng sai không sao: Nếu vấp hoặc quên câu từ, nhẹ nhàng tụng lại, không tự trách mình.
Tụng chậm, khắc sâu:
Tụng từng âm như mài ngọc, như khắc tên chư Phật, Bồ Tát vào trong tâm.
Mỗi âm là một bước chân chậm rãi trên Bồ Đề Đạo Tràng.
Có thể kết hợp nhịp thở (tụng một đoạn khi thở ra, hít vào) hoặc dùng mỏ, chuông để giữ nhịp.
Nếu một đoạn chú hay bị vọng tưởng chen vào, hãy tụng riêng đoạn đó 21 lần/ngày trong 3-7 ngày. Vùng vọng tưởng sẽ dần tan rã.
3. Quán tưởng âm chú bằng ánh sáng
Khi đã học thuộc lòng trì tụng, hành giả có thể quán tưởng:
Từng câu chú hiện ra như ánh sáng rực rỡ trong tâm đó là Ánh sáng Chú Lăng Nghiêm (Bạch Tản Cái Đại Phật Đỉnh) Quán chữ của Chân Ngôn này sinh ra từ miệng tràn khắp 10 phương Pháp Giới đều thành Thân Phật, mỗi một thân Phật phóng ra vô lượng ánh sáng gia trì Người Niệm Tụng. Bấy giờ thân tâm của Hành Giả an vui, tội chướng vô lượng kiếp được tiêu trừ.
Kết quả: Khoảnh khắc tâm an trụ trong dòng âm thanh chân ngôn chính là Nhất Niệm Hiện Tiền. Tâm không còn động theo vọng, không dính vào chú, cũng không lìa khỏi chú.
VI. Khoảnh khắc Nhất Niệm Hiện Tiền
Khi hành giả đạt đến trạng thái này:
Tâm thanh tịnh : Không còn người trì, không còn chú trì, chỉ còn một niệm thanh tịnh, tròn đầy, sáng tỏ.
Chạm đến Tâm Phật: Đây là khoảnh khắc bản tâm vốn có hiện tiền, không còn bị vô minh che lấp.
Trạng thái vượt Hai đầu nhị nguyên trọng chướng:
Trong thực hành Chú Lăng Nghiêm, hành giả từng bước tiến vào trạng thái vượt khỏi mọi đối đãi nhị nguyên, hành giả vượt thoát khỏi các cặp đối lập nhị nguyên như Tâm & Cảnh; Ngã & Tha; Thủ & Xả; Vọng tưởng & Sở đắc. Đây là trạng thái nơi mọi phân biệt, chấp trước đều tan biến, và tâm thức trở nên thanh tịnh.
Chú Lăng Nghiêm là pháp môn vi diệu, không chỉ bảo hộ hành giả mà còn là chìa khóa để huấn luyện tâm, từ tán loạn trở về Nhất Niệm Hiện Tiền. Qua trì tụng kiên trì, hành giả sẽ trải nghiệm sự an lạc, định lực và trí huệ bừng sáng, chạm đến bản tâm thanh tịnh vốn sẵn có.
Lưu ý khi thực hành Chú Lăng Nghiêm:
• Kiên trì tụng mỗi ngày, dù chỉ một biến Trường chú, để nuôi dưỡng thói quen, duy trì sự kết nối với lực gia trì, đồng thời tích lũy định lực và công đức không gián đoạn.
• Tuyệt đối không bỏ ngày. Dù quá bận rộn không thể tụng 5 hội trường chú, cũng nên tụng ít nhất 7 đến 21 biến Tâm chú ngắn để giữ tần suất lực trì thường trực của Chư Phật tới người trì tụng. Nếu bỏ quên một ngày, chuỗi lực gia trì sẽ bị gián đoạn, hậu quả nghỉ có 1 ngày sẽ phải mất cả tuần cả tháng để phục hồi lực.
• Nên kết hợp với quán chủng tự ‘’Lam’’ của chú Lăng Nghiêm, để hỗ trợ nhiếp tâm, tăng trưởng trí huệ và công năng chuyển hóa nội tâm từ ô uế sang thanh tịnh, và tăng trưởng gần gũi thân và tâm với Bổn tôn
• Nếu có thể, tụng chú vào giờ cố định mỗi ngày (ví dụ sáng sớm hoặc trước khi ngủ) sẽ giúp hình thành thói quen có điều kiện, thuận lợi cho sự an trụ và thâm nhập.
• Thân – Khẩu – Ý thanh tịnh trong khi trì chú là điều quan trọng. Không tụng chú trong trạng thái tán loạn, xao nhãng, hoặc thiếu tôn kính – vì Chú Lăng Nghiêm là mật chú tối thắng, đòi hỏi sự thành kính và tập trung sâu xa.
Chúc bạn an lạc trên con đường trở về Nhất Niệm Hiện Tiền!

08/02/2025

LƯỢC GIẢI THÍCH TÊN CỦA 89 ĐỨC PHẬT TRONG HỒNG DANH BẢO SÁM
Hán Văn: Trích trong Đại Sám Hối Văn Lược Giải của Sa Môn THƯ NGỌC -Việt dịch: Huyền Thanh
Nguồn: Facebook Tại đây và bây giờ
---🍀🔥🍀---

1_ Nam mô Phổ Quang Phật (Samanta-prabha Buddha)
Nam Mô (Namo) là Quy mệnh xưng lễ
Phật (Buddha) là một trong mười Hiệu
Phổ Quang (Samanta-prabha) là tên riêng của Đức Phật, đều có xưng, cho nên phần sau đều dựa theo điều này.
Nói Phổ Quang: Ấy là Hóa Thân trăm ức, ánh sáng chiếu soi Đại Thiên

2_ Nam mô Phổ Minh Phật (Samanta-prabhāsa Buddha)
Phổ Minh (Samantābhāsa): ấy là tướng tốt đẹp của Báo Thân tướng tốt đẹp phóng vô biên ánh sáng, sáng tỏ như mặt trời sáng rực.

3_ Nam mô Phổ Tịnh Phật (Samanta-śuddha Buddha)
Phổ Tịnh (Samanta-śuddha): Ấy là một Chân Pháp Thân giống như hư không, xưa nay trong sạch.

4_ Nam mô Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Phật (Tāmala-patra-candanagandha Buddha)
Đa Ma La Bạt (Tāmala-patra) là lìa dơ (ly cấu), tên gọi của núi Ngưu Đầu
Chiên Đàn (Candana) là ban cho thuốc Hương (Gandha) hay trừ nhóm bệnh phong nhiệt, dùng ví dụ cho hương thơm màu nhiệm thuộc mọi Đức của Như Lai, xông ướp khắp tất cả. Chúng sinh biết được sẽ lìa dơ bẩn được trong sạch, cho nên gọi là Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương (Tāmala-patra-candana-gandha).

5_ Nam mô Chiên Đàn Quang Phật (Candana-prabha Buddha)
Chiên Đàn Quang (Candana-prabha). Kinh Lăng Nghiêm nói là “Tự được Tâm khai mở như người nhiễm dính hương, nên thân có mùi thơm”. Do con mắt Tâm được mở sáng, nên gọi là Chiên Đàn Quang.

6_ Nam mô Ma Ni Tràng Phật (Maṇi-paṭāka Buddha: Ma Ni Phan)
Ma Ni Tràng (Maṇi-paṭāka). Tràng (Paṭāka: cây phan, cây phướng) là dáng mạo cao hiển của Công Đức, ấy là Như Lai lợi sinh. Nơi nơi nhìn thấy cây phướng Pháp to lớn, như viên ngọc Ma Ni tùy theo phương hiện màu sắc, tồi phục quân Ma, phá các hắc ám. Phàm người nhìn thấy, không có ai chẳng quy kính, cho nên gọi là Ma Ni Tràng.

7_ Nam mô Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật (Pramudita-garbha-maṇiratna-kuṭa Buddha)
Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích (Pramudita-garbha-maṇi-ratna-kuṭa). Pháp Hỷ (Pramudita) không cùng tận của Như Lai gọi là Tạng (Garbha). Chúng sinh biết được sẽ lìa khổ được vui, giống như viên ngọc báu Như Ý lợi ích không cùng tận, cho nên gọi là Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích.

8_ Nam mô Nhất Thiết Thế Gian Lạc Kiến Thượng Đại Tinh Tiến Phật (Sarva-loka-priya-darśanottara-mahā-vīrya Buddha)
Nhất Thiết Thế Gian (Pramudita-garbha-maṇi-ratna-kuṭa) mới là Từ phổ cập
Lạc Kiến (Priya-darśana) là ý mừng vui ưa thích
Thượng Đại Tinh Tiến (Uttara-mahā-vīrya) là kén chọn Hành chẳng phải là Quyền Tiểu, ấy là: Trong Nhân của Như Lai, phát Tâm tối thượng, tu Hạnh rộng lớn, tinh tiến không dời đổi, cho nên đối với Quả còn cảm được Thân mà tất cả chúng sinh đã yêu thích, hay khiến cho người thấy nghe, đều phát Bồ Đề.

Câu bên trên gọi là Giác Tha, là Công vậy. Câu bên dưới hiển Tự Giác, là Đức Công thành Đức Mãn cho nên gọi là Thượng Đại Tinh Tiến. Điều này quy ước Nhân Quả đồng tròn trịa, hiển Đức làm tên hiệu.

9_ Nam mô Ma Ni Tràng Đăng Quang Phật (Maṇi-dhvaja-pradīpa Buddha:Mani Tràng Thắng Đăng)
Ma Ni Tràng Đăng Quang (Maṇi-dhvaja-pradīpa: Ma Ni Tràng Thắng Đăng) là dùng Thật Trí chứng Lý, ví như cây phướng ngọc Ma Ni. Quyền Trí soi điều thiết yếu (quyền trí giám cơ) ví như ánh đèn soi chiếu khắp, Quyền Thật song song rực rỡ, cho nên gọi là Ma Ni Tràng Đăng Quang

10_ Nam mô Tuệ Cự Chiếu Phật (Jñānāloka Buddha)
Tuệ Cự Chiếu (Jñānāloka) là dùng lửa của ba Tuệ Văn, Tư, Tu chiếu phá ba Hoặc Kiến Tư, Trần Sa, Vô Minh như đèn sáng thì dứt hết ám tối, Tuệ dấy lên thì trừ bỏ Hoặc, cho nên gọi là Tuệ Cự Chiếu
Hai Đức Như Lai này biểu hiện cho Pháp Dụ.

11_ Nam mô Hải Đức Quang Minh Phật (Sāgara-guṇa-prabha Buddha)
Hải Đức Quang Minh (Sāgara-guṇa-prabha). Quang Minh (Prabha) biểu thị cho Trí Đức (Jñāna-gu,na), là Trí Đức không cùng tận của Như Lai, dùng ví dụ như biển cả (Sāgara), cho nên nói là Hải Đức Quang Minh.

12_ Nam mô Kim Cương Lao Cường Phổ Tán Kim Quang Phật (Vajradhṛtiabhikīrṇa-suvarṇa-prabha Buddha)
Kim Cương Lao Cường Phổ Tán Kim Quang (Vajradhṛti-abhikīrṇa-suvarṇaprabha
Kim Cương (Vajra) có tính rất bền chắc sắc bén, chẳng bị vật gây hoại mà hay tồi hoại được tất cả vật, ví dụ cho Đức Phật chẳng bị phiền não phá hoại mà hay phá hoại tất cả phiền não, cho nên gọi là Kim Cương Lao Cường (Vajradhṛti).
Thể của vàng cực sáng chẳng bị vật soi chiếu mà hay chiếu soi tất cả vật, ví dụ cho Đức Phật chẳng bị Vô Minh che mờ mà hay chiếu phá Vô Minh, cho nên gọi là Phổ Tán Kim Quang (Abhikīrṇa-suvarṇa-prabha)

13_ Nam mô Đại Cường Tinh Tiến Thông Mãnh Phật (Mahā-vīryavat Buddha)
Đại Cường Tinh Tiến Dũng Mãnh (Mahā-vīryavat). Chẳng tạp thì nói là Tinh, chẳng lùi thì nói là Tiến, chẳng khiếp nhược thì nói là Dũng, chẳng sợ hãi thì nói là Mãnh. Ấy là Đức Thế Tôn từ vô lượng kiếp đến nay, đối với các Pháp tốt lành (Thiện Pháp) chẳng tạp, chẳng lùi, cho nên xưng là Đại. Đối với các đường ác thì chẳng sợ chẳng khiếp nhược, cho nên xưng là Cường. Do Đại Cường cho nên chẳng ngừng ngừng chẳng nghỉ, chặt đứt được ba Chướng, chứng Tam Bồ Đề (Saṃbodhi) cho nên gọi là Đại Cường Tinh Tiến Dũng Mãnh

14_ Nam mô Đại Bi Quang Phật (Mahā-kāruṇi-prabha Buddha)
Đại Bi Quang (Mahā-kāruṇi-prabha): Ấy là dọc thì cùng tận, ngang thì tràn khắp nên nói là Đại (Mahā), tức Đức của Pháp Thân. Vận Tâm nhổ bứt khổ nên nói là Bi (Kāruṇi), tức Đức của Giải Thoát. Lặng lẽ soi chiếu chẳng hai nên nói là Quang (Prabha) tức là Đức của Bát Nhã. Ba Đức viên dung nên gọi là Đại Bi Quang.

15_ Nam mô Từ Lực Vương Phật (Maitri-bala-rāja Buddha)
Từ Lực Vương (Maitri-bala-rāja). Lực (Bala) là thắng, Vương (Rāja) là qua lại (vãng) nghĩa là Đức Phật nhớ chúng sinh. Từ (Maitri) là không thể thắng (vô năng thắng) hay khiến cho Người, Trời đều cùng về đến, cho nên gọi là Từ Lực Vương.

16_ Nam mô Từ Tạng Phật (Maitri-garbha Buddha)
Từ Tạng (Maitri-garbha) ấy là Nhất Cực Từ Tâm (Tâm Từ là con đường dẫn đến sự chân thật cùng cực) nhiếp quy vạn điều tốt lành, Pháp Giới đều dung chứa, sinh ra không cùng tận, cho nên nói là Từ Tạng.

17_Nam mô Chiên Đàn Quật Trang Nghiêm Thắng Phật (Candanagahābhibhū Buddha)
Chiên Đàn Quật Trang Nghiêm Thắng (Candana-gahābhibhū) là nơi mà mùi thơm màu nhiệm đã thành, nghĩa là tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông của Như Lai đều tuôn ra mùi thơm màu nhiệm giống như Chiên Đàn (Candana) xông ướp khắp tất cả.
Dùng cái hang Pháp Diệu Bảo Trang Nghiêm này thời tối thắng không có gì sánh được, cho nên gọi là Chiên Đàn Quật Trang Nghiêm.

18_ Nam mô Hiền Thiện Thủ Phật (Bhadra-subha-sīrṣa Buddha)
Hiền Thiện Thủ (Bhadra-subha-sīrṣa: cái đầu hiền thiện). Như Lai Đạo cao Đức trọng, cho nên xưng là Hiền (Bhadra). Đột nhiên ra khỏi chín cõi, cho nên xưng là
Thiện (Subha:an vui, hạnh phúc). Là Trời trong Trời, Thánh trong Thánh cho nên gọi là Hiền Thiện Thủ

19_ Nam mô Thiện Ý Phật (Sumati Buddha)
Thiện Ý (Sumati) là Đức Như Lai yêu thương giúp đỡ nhớ tất cả chúng sinh giống như con đỏ, từ sinh đến sinh, tiếp dẫn không có mệt mỏi, cho nên gọi là Thiện Ý.

20_ Nam mô Quảng Trang Nghiêm Vương Phật (Vaipulya-bhūṣaṇa-rāja Buddha)
Quảng Trang Nghiêm Vương (Vaipulya-bhūṣaṇa-rāja) là Sắc tướng của Đức Như Lai do vạn Đức trang nghiêm cho nên xưng là Quảng (Vaipulya). Từ vô lượng kiếp đến nay, tự tại an nhiên chẳng bị vật chuyển, cho nên xưng là Quảng Trang Nghiêm Vương.

21_ Nam mô Kim Cương Hoa Phật (Suvarṇa-kusuma-prabha Buddha: Kim Hoa Quang)
Kim Hoa Quang (Suvarṇa-kusuma-prabha) là Tâm Giới (Śīla) phát Hạnh (Caryā) ví như bông hoa vàng ròng (Suvarṇa-kusuma: Kim Hoa). Lìa Dục trong sạch ví như ánh sáng vàng ròng (Suvarṇa-prabha:Kim Quang). Vàng (Suvarṇa) biểu thị cho Pháp Thân (Dharma-kāya), Hoa (Kusuma) biểu thị cho Giải Thoát (Mokṣa), Quang
(Prabha:ánh sáng) biểu thị cho Bát Nhã (Prajña). Lý của ba Đức tròn trịa cho nên gọi là Kim Hoa Quang. Điều này hiển bày ánh sáng trong sạch, vô biên tướng tốt của Đức Như Lai đều do Trì Giới mà được thành tựu trang nghiêm. Cho nên Luật (Vinaya) nói rằng: “Chư Phật chứng Bồ Đề, Độc Giác thân tâm trong sạch cùng với A La Hán đều do Luật Hạnh (thực hành Luật) mà thành”

22_ Nam mô Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương Phật (Ratna-chatra Prākāśeśvara-bala-rāja Buddha)
Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương (Ratna-chatra Prākāśeśvara-balarāja).
Dùng niềm tin làm sự thật, bảy phần Bồ Đề làm cái lọng chiếu sáng hư không khiến cho các chúng sinh được lợi lạc lớn, tự tại vô ngại, cho nên gọi là Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương

23_ Nam mô Hư Không Bảo Hoa Quang Phật (Ākāśa-ratna-puṣpa-prabha Buddha)
Hư Không Bảo Hoa Quang (Ākāśa-ratna-puṣpa-prabha). Pháp Thân không có tướng giống như hư không, cho nên xưng là Bảo (Ratna: vật báu). Hoa của Tâm phát ánh lửa chiếu Chân Pháp Giới cho nên gọi là Hư Không Bảo Hoa Quang

24_ Nam mô Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật (Vaiḍurya-vyūha-rāja Buddha)
Lưu Ly Trang Nghiêm Vương (Vaiḍurya-vyūha-rāja). Tiến Phạn Lưu Ly (Vaiḍurya) là loại báu có màu xanh, là vật tối thắng trong bảy báu. Thân Phật trong sạch nên nói là Lưu Ly. Trong ngoài chiếu sáng nên nói là Trang Nghiêm (Vyūha).
Chặng bị quân Ma gây che chướng cho nên gọi là Lưu Ly Trang Nghiêm Vương

25_ Nam mô Phổ Hiện Sắc Thân Quang Phật (Samantodaya-rūpa-kāya-prabha Buddha)
Phổ Hiện Sắc Thân Quang (Samantodaya-rūpa-kāya-prabha). Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: “Thân Phật tràn đầy ở Pháp Giới, hiện khắp hào quang tròn trịa trước mặt tất cả quần sinh, chiếu khắp mười phương, hiện bày mọi loại việc đã thực hành, cho nên gọi là Phổ Hiện Sắc Thân Quang

26_ Nam mô Bất Động Trí Quang Phật (Acala-jñāna-prabha Buddha)
Bất Động Trí Quang (Acala-jñāna-prabha). Trí Bất Động (Acala-jñāna) tức là Thể của Trí căn bản, nghĩa là Pháp Thân của Bản Phật như như chẳng động. Quang (Prabha) tức Trí sai biệt, là dụng, nghĩa là từ Thể dấy lên Dụng như mặt trăn in bóng trên ngàn con sông, cho nên gọi là Bất Động Trí Quang

27_ Nam mô Giáng Phục Chư Ma Vương Phật (Sarva-māra-rāja-pramardana Buddha)
Giáng Phục Chúng Ma Vương (Sarva-māra-rāja-pramardana) là Đức Như Lai dùng sức Tuệ Vô Lậu giáng phục các Ma Ba Tuần chịu nhận sự hóa độ nơi Pháp tự tại, cho nên gọi là Giáng Phục Chúng Ma Vương

28_ Nam mô Tài Quang Minh Phật (Dhana-prabhāsa Buddha)
Tài Quang Minh (Dhana-prabhāsa) là dùng Trí Tuệ vô ngại chiếu thấu các Pháp, phá các phiền não, lợi ích chúng sinh, cho nên gọi là Tài Quang Minh

29_ Nam mô Trí Tuệ Thắng Phật (Jñānāgra Buddha)
Trí Tuệ Thắng (Jñānāgra). Thắng (Agra) là sức mạnh, nghĩa là dùng sức của Nhất Thiết Trí phá Kiến Tư Hoặc. Dùng sức của Đạo Chủng Trí phá Vô Minh Hoặc. Ba Hoặc đã trừ thì Giác Thể thường chiếu, công mạnh mẽ nơi ấy, cho nên gọi là Trí Tuệ Thắng

30_ Nam mô Di Lặc Tiên Quang Phật (Maitreya-deva-prabha Buddha: Di Lặc Thiên Quang)
Di Lặc Tiên Quang (Maitreya-deva-prabha:Di Lặc Thiên Quang). Di Lặc (Maitreya), đây nói là Từ Thị, là họ. Tiên (Deva:Thiên) là Giác nghĩa là từ lúc phát Tâm Bồ Đề trở đi, chưa từng nhập vào Tục cho nên dùng làm họ. Tiên Quang (Devaprabha: Thiên Quang) là ánh sáng trong sạch lìa dơ bẩn. Đức Phật là Đại Từ Kim Tiên dùng ánh sáng của Trí trong sạch không có dơ bẩn chiếu khắp các cõi (chư hữu) lìa khổ được vui, cho nên gọi là Di Lặc Tiên Quang

31_ Nam mô Thế Tịnh Quang Phật (Loka-śuddha-pratibhāsa Buddha)
Thế Tịnh Quang (Loka-śuddha-pratibhāsa) là Đức Như Lai hiện ra ở đời, dùng các Đạo Pháp giáo hóa chúng sinh, thân tâm trong sạch, lìa hẳn sự đen tối cho nên gọi là Thế Tịnh Quang

32_ Nam mô Thiện Tịch Nguyệt Âm Diệu Tôn Trí Vương Phật (Suyogacandra-ghoṣa-jñānāgra-rāja Buddha)
Thiện Tịch Nguyệt Âm Diệu Tôn Trí Vương (Suyoga-candra-ghoṣa-jñānāgrarāja) là Trí chiếu soi như mặt trăng, hiểu biết Nhã Âm màu nhiệm.
Kinh nói rằng: “Mặt trăng trong mát của Bồ Tát thường dạo Tất Cánh Không (cái Không rốt ráo) là Thiện Tịch Nguyệt Âm (Suyoga-candra-ghoṣa:âm thanh của mặt trăng khéo vắng lặng)”
Lại nói rằng: “Tâm của chúng sinh như nước trong, ảnh Bồ Đề hiện trong đó là Diệu Tôn Trí Vương (jñānāgra-rāja) vậy”
Câu bên trên là ví dụ, câu bên dưới là Pháp. Nghĩa là dùng ánh sáng Trí Quyền Thật hiểu biết Pháp tự tại, như hình ảnh của mặt trăng, tiếng dội lại của âm thanh, tất cả song vong song chiếu (cả hai cùng quên, cả hai cùng chiếu) cho nên gọi là Thiện Tịch Nguyệt Âm Diệu Tôn Trí Vương

33_ Nam mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật (Nāgagotrodara-rāja Buddha)
Long Chủng Thượng Tôn Vương (Nāgagotrodara-rāja). Nói Long Chủng (loài Rồng) là hàng rất ư tôn thượng của Thế Gian, nghe Phật Âm giao cảm mà phát Tâm tin, quy đầu nơi Phật mà được tự tại, cho nên gọi là Long Chủng Thượng Tôn Vương

34_ Nam mô Nhật Nguyệt Quang Phật (Candra-sūrya-prabha Buddha)
Nhật Nguyệt Quang (Candra-sūrya-prabha) là dùng Trí căn bản chứng Lý, dùng Trí Hậu Đắc chặt đức Hoặc, Tình quên Lý hiển, đất Tâm bừng sáng, ánh sáng đồng với mặt trời, mặt trăng cho nên gọi là Nhật Nguyệt Quang

35_ Nam mô Nhật Nguyệt Châu Quang Phật (Candra-sūrya-maṇi-prabha Buddha)
Nhật Nguyệt Châu Quang (Candra-sūrya-maṇi-prabha) là Đức Như Lai dùng ánh sáng của ba Giác Trí chiếu phá Hoặc Nghiệp vô minh, chẳng hiểu biết của tất cả chúng sinh cho nên gọi là Nhật Nguyệt Châu Quang

36_ Nam mô Tuệ Tràng Thắng Vương Phật (Jñāna-dhvajābhibhū-rāja Buddha)
Tuệ Tràng Thắng Vương (Jñāna-dhvajābhibhū-rāja) là Đức Như Lai dựng phướng phan Đại Trí Tuệ giáng phục quân Ma, công lực thù thắng cho nên gọi là Tuệ Tràng Thắng Vương

37_ Nam mô Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương Phật (Siṃha-nādeśvara-bala-rāja Buddha)
Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương (Siṃha-nādeśvara-bala-rāja). Sư Tử (Siṃha) là vua trong loài thú, phát ra tiếng gầm rống (Nāda) khiến trăm loài thù ẩn nấp. Pháp Âm của Đức Như Lai rung động đồng với sư tử. Trí Tuệ, Uy Đức, Lực Thắng như vua cho nên nói là Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương
Người xưa nói: “Đức Phật phát ra tiếng rống của sư tử thì Ma Ngoại chắp tay, bốn Chúng nghe thấy liền được Đại Vô Úy vậy”

38_ Nam mô Diệu Âm Thắng Phật (Mañjusvarābhibhū Buddha)
Diệu Âm Thắng (Mañjusvarābhibhū) là Đức Như Lai nói Pháp chẳng động âm thanh, hình sắc mà vòng khắp mười phương, cho nên nói là Diệu Âm (Mañjusvara).
Chúng sinh nghe thấy tùy theo loại được hiểu biết, cuối cùng thành Chủng Trí cho nên gọi là Diệu Âm Thắng

39_ Nam mô Thường Quang Tràng Phật (Nitya-sṛṣṭa-prabha-dhvaja Buddha)
Thường Quang Tràng (Nitya-sṛṣṭa-prabha-dhvaja) là Đức Như Lai thường dựng cây phướng Đại Quang Minh thảy đều tiêu diệt Vô Minh đen tối, cho nên gọi là Thường Quang Tràng.

40_ Nam mô Quán Thế Đăng Phật (Avalokite-pradīpa Buddha)
Quán Thế Đăng (Avalokite-pradīpa) là Đức Như Lai quán chúng sinh của Thế Giới ấy từ mờ tối đi vào mờ tối, chẳng chịu suy nghĩ soi chiếu ngược lại, thế nên dùng cây đèn Đại Pháp dẫn về nơi chốn báu, cho nên gọi là Quán Thế Đăng

41_ Nam mô Tuệ Uy Đăng Vương Phật (Jñāna-bhīṣma-pradīpa-rāja Buddha)
Tuệ Uy Đăng Vương (Jñāna-bhīṣma-pradīpa Rāja). Dùng Trí căn bản dấy lên Trí Hậu Đắc hiện Đại Pháp Uy cho nên gọi là Tuệ Uy (Jñāna-bhīṣma) giống như vua đèn (đăng vương) truyền ánh sáng không cùng tận, chúng sinh nương theo ánh sáng mà được tự tại, cho nên gọi là Tuệ Uy Đăng Vương

42_ Nam mô Pháp Thắng Vương Phật (Dharma-vijaya-rāja Buddha)
Pháp Thắng Vương (Dharma-vijaya-rāja). Kinh nói rằng: “Ta làm Pháp Vương ở Pháp tự tại” cho nên gọi là Pháp Thắng Vương

43_ Nam mô Tu Di Quang Phật (Sumeru-prabha Buddha)
Tu Di Quang (Sumeru-prabha). Tu Di (Sumeru) đây là núi Diệu Cao, tên gọi của núi vua. Nói là bốn báu tạo thành cho nên xưng là vi diệu, đột nhiên rời khỏi đám núi cho nên xưng là cao, đã cao mà lại diệu nên xưng là Sơn Vương (núi vua) chiếu sáng bốn phương nên gọi là Quang (Prabha) dùng ví dụ cho bốn Trí của Đức Như Lai chuyển thành quả Phật diệu giác, cao hơn Người, Trời…ánh sáng chiếu khắp cho nên gọi là Tu Di Quang

44_ Nam mô Tu Mạn Na Hoa Quang Phật (Sumana-prabha Buddha)
Tu Mạn Na Hoa Quang (Sumana-prabha). Tu Ma Na (Sumana) đây là tên gọi của hoa Xứng Ý màu trắng vàng có mùi thơm lan tỏa xa, dùng ví dụ cho Giới Thiện Hương Quang của Đức Như Lai, không có gì chẳng vừa ý cho nên gọi là Tu Ma Na Hoa Quang

45_ Nam mô Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương Phật (Udumbara Jayottama-rāja Buddha)
Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương (Udumbara- jayottama-rāja). Ưu Đàm Bát La (Udumbara) đây gọi là Linh Thụy (điềm linh thiêng), lại là tên gọi của hoa Thụy Ứng, ba ngàn năm hiện ra một lần, khi hiện ra thì có Kim Luân Vương ra đời, cho nên gọi là thù thắng, dùng ví dụ cho sự hiếm có dịp gặp được Đức Như Lai, cho nên gọi là Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương
Kinh nói rằng: “Chư Phật ra đời, khoảng cách rất xa, thật là khó gặp ví như hoa Ưu Đàm thường chỉ hiện một lần vậy”

46_ Nam mô Đại Tuệ Lực Vương Phật (Mahā-mati-bala-rāja Buddha)
Đại Tuệ Lực Vương (Mahā-mati-bala-rāja) hiển sức của Phi Quyền tiểu Trí Tuệ, nghĩa là Đức Như Lai Pháp Vương dùng sức của Đại Trí Tuệ dẫn đường cho chúng sinh đến thẳng bờ bên kia của Niết Bàn, cho nên gọi là Đại Tuệ Lực Vương.

47_ Nam mô A Súc Tỳ Hoan Hỷ Quang Phật (Akṣobhya-pramudita-prabha Buddha)
A Súc Tỳ Hoan Hỷ Quang (Akṣobhya-pramudita-prabha). A Súc Tỳ (Akṣobhya) đây nói là Bất Động, tên gọi của Đức Phật như như chẳng động, cõi nước hiệu là Hoan Hỷ (Pramudita) người Trời vui vẻ yêu mến. Quang (Prabha) là hai Báo Y Báo, Chính Báo đều phóng ánh sáng, chẳng lay động thường vắng lặng chiếu khắp mười phương, tất cả Người, Trời không có ai chẳng vui vẻ, cho nên gọi là A Súc Tỳ Hoan Hỷ Quang.

48_ Nam mô Vô Lượng Âm Thanh Vương Phật (Amitasvara-rāja Buddha)
Vô Lượng Âm Thanh Vương (Amitasvara-rāja) là Đức Như Lai dùng âm thanh không có cùng tận, nói Diệu Pháp không có cùng tận, tự tại vô ngại cho nên gọi là Vô Lượng Âm Thanh

49_ Nam mô Tài Quang Phật (Dhanāloka Buddha)
Tài Quang (Dhanāloka). Tài (Dhana) là biện tài. Quang (Āloka) là ánh sáng Trí.
Nghĩa là Đức Như Lai đầy đủ vô lượng biện tài, ánh sáng của Trí Tuệ lợi khắp cho tất cả, cho nên gọi là Tài Quang

50_ Nam mô Kim Hải Quang Phật (Suvarṇa-sāgara-prabha Buddha)
Kim Hải Quang (Suvarṇa-sāgara-prabha) là thân Phật lớn như biển cả, ánh sáng vàng ròng tỏa màu đỏ tía chiếu sáng vô cùng, dùng ví dụ cho Hải Ấn Tam Muội, biểu thị cho Pháp thù thắng. Cho nên Lăng Nghiêm nói rằng: “Như Ta ấn ngón tay thì Hải Ấn phát ra ánh sáng” cho nên gọi là Kim Hải Quang

51_ Nam mô Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Phật (Sāgara-vāridharabuddhi-vikṛditābhijñā-rāja Buddha:Hải Vân Giác Tuệ Thần Biến Vương)
Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương (Sāgara-vāridhara-buddhi-vikṛditābhijñārāja:
Hải Vân Giác Tuệ Thần Biến Vương) là Tuệ chân thật như ngọn núi (?mây), Tuệ phương tiện như biển cả nên gọi là Sơn Hải Tuệ (Sāgara-vāridhara-buddhi). Tự Tại Thông Vương (Vikṛditābhijñā-rāja:Thần Biến Vương). Tục Đế nói là Tự Tại, Chân Đế nói là Thông (thần thông, thần biến), Trung Đạo Đế nói là Vương. Dùng ba loại Đại Trí Tuệ này hội nhập Lý của ba Đế cho nên gọi là Tự Tại Thông Vương

52_ Nam mô Đại Thông Quang Phật (Mahābhijña-prabha Buddha)
Đại Thông Quang (Mahābhijña-prabha). Thể của Giác nói là Đại (Mahā:to lớn) là Đức của Pháp Thân. Dụng của Giác nói là Thông (Abhijña) là Đức của Giải Thoát.
Tướng của Giác nói là Quang (Prabha:ánh sáng) là Đức của Bát Nhã. Ba Đức viên dung chẳng thể nghĩ bàn cho nên gọi là Đại Thông Quang

53_ Nam mô Nhất Thiết Pháp Tràng Mãn Vương Phật (Sarva dharma-ketupūrṇa-rāja Buddha)
Nhất Thiết Pháp Tràng Mãn Vương (Sarva dharma-ketu-pūrṇa-rāja) là năm Giáo, ba Thừa gọi là sự dựng bày (tiêu thị) của tất cả Pháp (Sarva dharma). Người, Trời nói là Tràng (Ketu: cây phướng). Vòng khắp Pháp Giới gọi là Mãn (Pūrṇa:tràn đầy). Pháp Pháp tự tại nói là Vương (rāja: vua). Dùng tất cả Pháp: dọc thì cùng tận, ngang thì viên dung không có ngăn ngại…cho nên gọi là Nhất Thiết Pháp Tràng Mãn Vương.

54_ Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật (Śākya-muṇi Buddha)
Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi). Thích Ca (Śākya) là Năng Nhân, là Tính (họ), từ Từ Bi lợi vật đã lập nên tên gọi. Mâu Ni (Muṇi) là Tịch Mặc, là Chữ. Y theo Trí Tuệ biết rõ Lý nên có hiệu là Năng Nhân cho nên chẳng trụ ở Niết Bàn. Do Tịch Mặc cho nên chẳng trụ ở sinh tử. Bi Trí kèm vận, Chân Tục song dung cho nên gọi là Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật này theo Tính (họ) với Chữ mà hợp xưng

55_ Nam mô Kim Cương Bất Hoại Phật (Vajra-pramardi Buddha)
Kim Cương Bất Hoại (Vajra-pramardi:Kim Cương năng đoạn)
Tịnh Danh nói là: “Thân của Như Lai, Thể của Kim Cương, vật chẳng thể hoại, các ác đã bị chặt đứt, mọi Thiện tập hội khắp thời bệnh gì, phiền não gì ? !..cho nên gọi là Kim Cương Bất Hoại

56_ Nam mô Bảo Quang Phật (Ratnārcis Buddha)
Bảo Quang (Ratnārcis). Lăng Nghiêm nói rằng: “Từ trong Nhục Kế phun ra ánh sáng trăm báu, trong ánh sáng hiện ra Đức Phật tuyên nói Thần Chú”, cho nên gọi là Bảo Quang

57_ Nam mô Long Tôn Vương Phật (Nāgeśvara-rāja Buddha)
Long Tôn Vương (Nāgeśvara-rāja: Long Tự Tại Vương) là bậc tối tôn trong loài Rồng, cho nên xưng là vua (vương), dùng ví dụ Như Lai Pháp Vương là Tôn trong chúng Thánh, nên gọi là Long Tôn Vương

58_ Nam mô Tinh Tiến Quân Phật (Vīrasena Buddha)
Tinh Tiến Quân (Vīrasena) là bậc Thế Quân dũng mãnh tinh tiến, hay đẩy lui Oán Địch. Đức Như Lai là vị Tướng của Đại Pháp, giáng phục quân Ma, cho nên gọi là Tinh Tiến Quân

59_ Nam mô Tinh Tiến Hỷ Phật (Vīra-nandin Buddha)
Tinh Tiến Hỷ (Vīra-nandin) là tinh tiến tu tập báu của Đạo. Do tinh tiến cho nên chuyên Tâm hướng về Đạo, được sự vui thích của Pháp, viên thành Phật Quả, nên gọi là Tinh Tiến Hỷ

60_ Nam mô Bảo Hỏa Phật (Ratnāgni Buddha)
Bảo Hỏa (Ratnāgni) hiển lửa chẳng phải thuộc Thế Gian, có bốn nghĩa:
1_Nghĩa thiêu đốt dùng ví dụ cho sự thiêu đốt phiền não
2_ Nghĩa chiếu soi rốt ráo dùng ví dụ cho ánh sáng của Đức Phật chiếu soi khắp cả
3_ Nghĩa nướng ướp dùng ví dụ cho sự xông ướp bên trong Chân Như
4_ Nghĩa thành thục dùng ví dụ cho thành thục căn lành
Đủ 4 nghĩa này cho nên gọi là Bảo Hỏa. Như Lăng Nghiêm nói rằng: “Trong Như Lai Tạng, lửa chân thật của Tính Không, trong sạch vốn đang như thế. Vòng khắp Pháp Giới, tùy theo Tâm của chúng sinh, ứng theo chỗ biết lượng là vậy”. Đây ví dụ cho thân Như Như Phật

61_ Nam mô Bảo Nguyệt Quang Phật (Ratna-candra-prabha Buddha)
Bảo Nguyệt Quang (Ratna-candra-prabha). Bảo (Ratna) là Thể dùng biểu thị cho Pháp Thân. Nguyệt (Candra) là Tướng dùng biểu thị cho Giải Thoát. Quang (Prabha) là Dụng, dùng biểu thị cho Bát Nhã. Hiển Thể Tướng Dụng cho nên gọi là Bảo Nguyệt Quang. Điều này ví dụ cho thân Công Đức Phật của Như Lai.

62_ Nam mô Hiện Vô Ngu Phật (Amogha-darśi Buddha)
Hiện Vô Ngu (Amogha-darśi:Bất Không Kiến) là ánh sáng Trí một lần phát ra thì Si Chướng bị tiêu tan hoàn toàn, cho nên gọi là Hiện Vô Ngu. Như Kinh Viên Giác nói: “Trí Tuệ, ngu si thông là Bát Nhã”. Đây ví dụ cho thân Trí Tuệ Phật của Như Lai

63_ Nam mô Bảo Nguyệt Phật (Ratna-candra Buddha)
Bảo Nguyệt (Ratna-candra). Bảo (Ratna) nghĩa là cứu giúp khổ đau. Nguyệt (Candra) nghĩa là trong mát. Ấy là dùng báu trong mát cứu giúp khắp chúng sinh, trừ diệt khổ nóng bức, cho nên gọi là Bảo Nguyệt. Đây ví dụ cho thân Ứng Hóa Phật của Như Lai.

64_ Nam mô Vô Cấu Phật (Nirmala Buddha)
Vô Cấu (Amala, hay Nirmala) là Tự Tính của Như Lai trong sạch, vốn không có nhiễm dơ cho nên gọi là Vô Cấu.
Như Pháp Giới Luận nói: “Tự Tính trong sạch không có nhiễm dính, cho nên gọi là Như Lai”

65_ Nam mô Ly Cấu Phật (Vimala Buddha)
Ly Cấu (Vimala) là Giác Thể của Như Lai từ vô lượng kiếp đến nay, lìa hẳng bụi dơ phiền não, cho nên gọi là Ly Cấu.
Như Pháp Giới Luận nói: “Cõi chúng sinh chẳng trong sạch, Bồ Tát trong sạch trong sự nhiễm, bậc tối cực thanh tịnh được nói là Như Lai. Trước kia là Tại Triền Như Lai Tạng (Tâm Tự Tính thanh tịnh của Như Lai Tạng ẩn tàng trong phiền não trói buộc) là Bản Giác Tính Tịnh. Sau này là Xuất Triền Như Lai Tạng (Tâm Tự Tính thanh tịnh của Như Lai Tạng vuợt khỏi sự trói buộc, hiển hiện Pháp Thân) là Viên Giác Cứu Tịnh

66_ Nam mô Dũng Thí Phật (Sūradatta Buddha)
Dũng Thí (Sūradatta) là dùng ba loại Tài Thí, Pháp Thí, Vô Úy Thí ban cho chúng sinh không có giải thoát, cho nên gọi là Dũng Thí

67_ Nam mô Thanh Tịnh Phật (Brahma Buddha)
Thanh Tịnh (Brahma) là Tự Tính của Đức Nhu Lai vốn thanh tịnh, lìa các bụi nhiễm, trong ngoài trong suốt, không có tối tăm chẳng có đuốc soi, cho nên gọi là Thanh Tịnh

68_ Nam mô Thanh Tịnh Thí Phật (Brahmadatta Buddha)
Thanh Tịnh Thí (Brahmadatta) là dùng Chính trợ giúp Đạo Pháp, giáo hóa chúng sinh, Thể của ba Luân trống rỗng, chẳng dính Năng Sở, cho nên gọi là Thanh Tịnh Thí

69_ Nam mô Sa Lưu Na Phật (Varuṇa Buddha)
Sa Lưu Na (Varuṇa) Đây nói là nước Cam Lộ nghĩa là Cam Lộ có công năng cải tử hoàn sinh, Phật Pháp có Đức chuyển Phàm thành Thánh. Có công năng này, cho nên gọi là Sa Lưu Na

70_ Nam mô Thủy Thiên Phật (Varuṇa-deva Buddha)
Thủy Thiên (Varuṇa-deva) là dùng nước Thiên Lý của Tính nuôi dưỡng mầm Tâm, tu tập Quán Hạnh thành quả Chính Giác, cho nên gọi là Thủy Thiên.

71_ Nam mô Kiên Đức Phật (Bhadra-śrī Buddha)
Kiên Đức (Bhadra-śrī:Hiền Đức) là dùng Pháp của Giới không chảy rỉ (vô lậu giới) tu nhiếp Tâm ấy, như ôm giữ cái phao nổi (vật dụng giúp cho người khỏi bị chết chìm), giữ gìn bền chắc chẳng bị phá hoại. Dùng Đức làm rạng danh, cho nên gọi là Kiên Đức

72_ Nam mô Chiên Đàn Công Đức Phật (Candana-śrī Buddha)
Chiên Đàn Công Đức (Candana-śrī) là có ích nơi việc nên nói là Công. Cứu độ tất cả nên nói là Đức. Nghĩa là Đức Như Lai nói Pháp chẳng thể nghĩ bàn. Chúng sinh nghe thấy như được Chiên Đàn (Candana), bệnh liền trừ khỏi. Đủ Lực Dụng này cho nên nói là Chiên Đàn Công Đức

73_ Nam mô Vô Lượng Cúc Quang Phật (Ananta-ujjvalana Buddha)
Vô Lượng Cúc Quang (Ananta-ujjvalana). Cúc là tụm lại. Nghĩa là Diệu Tướng của Đức Như Lai tụm lại phát ra ánh sáng trùng trùng không tận, cho nên gọi là vô Lượng Cúc Quang

74_ Nam mô Quang Đức Phật (Prabhasa-śrī Buddha)
Quang Đức (Prabhasa-śrī) là Từ Quang soi chiếu khắp, lợi ích hữu tình, Ân Đức không tận cho nên gọi là Quang Đức

75_ Nam mô Vô Ưu Đức Phật (Aśoka-śrī Buddha)
Vô Ưu Đức (Aśoka-śrī) là Đức Như Lai chứng Đại Niết Bàn (Mahā-nirvāṇa), lìa hẳn các Lậu (Āsrava: tên khác của phiền não) không có ưu não. Đủ Công Đức này cho nên gọi là Vô Ưu Đức

76_ Nam mô Na La Diên Phật (Nārāyaṇa Buddha)
Na La Diên (Nārāyaṇa) Đây nói là bền chắc, nghĩa là thân Phật bền chắc giống như Kim Cương không gì có thể làm cho tan hoại, cho nên gọi là Na La Diên

77_ Nam mô Công Đức Hoa Phật (Kusuma-śrī Buddha)
Công Đức Hoa (Kusuma-śrī) là Đức Như Lai công thành Diệu Trí, ngộ thấu Chân Thường, Hoa của nhân vạn Hạnh trang nghiêm quả Đức cho nên gọi là Công Đức Hoa

78_ Nam mô Liên Hoa Quang Du Hý Thần Thông Phật (Padma-jyotirvikṛditābhijñā Buddha)
Liên Hoa Quang Du Hý Thần Thông (Padma-jyotir-vikṛditābhijñā). Liên Hoa Quang (Padma-jyotir) biểu thị cho Phật Trí là ánh sáng tuy chiếu xa nhưng vốn chẳng dời đổi, dùng ví dụ cho Đức Như Lai du hóa mười phương, chẳng lìa Hoa Quang Tam Muội đều dùng Thần Thông biến hiện, cho nên gọi là Liên Hoa Quang Du Hý Thần Thông

79_ Nam mô Tài Công Đức Phật (Dhana-śrī Buddha)
Tài Công Đức (Padma-jyotir-vikṛditābhijñā) là Đức Như Lai dùng Công Đức Pháp Tài cứu giúp khắp chúng sinh chứng Đại Bồ Đề cho nên gọi là Tài Công Đức

80_ Nam mô Đức Niệm Phật (Smṛti-śrī Buddha)
Đức Niệm (Smṛti-śrī). Đức (Śrī) là gốc của thành Phật, Tâm của niệm lợi sinh.
Dùng Đức cho nên bên trên hoằng dương Phật Đạo, bên dưới hóa độ chúng sinh. Hai Lợi đồng tròn cho nên gọi là Đức Niệm

81_ Nam mô Thiện Danh Xưng Công Đức Phật (Suparikirtita-nāmadheya-śrī Buddha)
Thiện Danh Xưng Công Đức (Suparikirtita-nāmadheya-śrī). Thiện là khen ngợi sự tốt đẹp. Nghĩa là Đức Như Lai đã tu Công Đức lợi sinh, khen ngợi chẳng thể cùng tận, thấy Tướng nghe Tên đều thấm ngấm lợi lạc, cho nên gọi là Thiện Danh Xưng Công Đức

82_ Nam mô Hồng Diệm Đế Tràng Vương Phật (Indra-ketu-dhavaja-rāja Buddha)
Hồng Diệm Đế Tràng Vương (Indra-ketu-dhavaja-rāja). Hồng Diệm tức là ánh sáng của cây phướng (ketu) ngọc màu đỏ trong cung Thiên Đế (Indra) cho nên nói là Hồng Diệm. Cây phướng này chỉ được sở hữu trong cung Thiên Đế, cho nên xưng là Vương (rāja) dùng ví dụ cho lửa ánh sáng vàng tía của thân tướng Như Lai. Đại Thiên quốc thổ chỉ có Đức Phật là tối tôn cho nên gọi là Hồng Diệm Đề Tràng Vương

83_ Nam mô Thiện Du Bộ Công Đức Phật (Vikrānta-gamin-śrī Buddha:Du Bộ Công Đức)
Thiện Du Bộ Công Đức (Vikrānta-gamin-śrī) là Đức Như Lai bước đi giống như con voi chúa, chẳng phải như loại người khác nhẹ nâng vọng động. Phàm nơi thi hành đều hay cảm phát tất cả chúng sinh phát Tâm Bồ Đề, tăng trưởng Công Đức, cho nên gọi là Thiện Du Bộ
Lại đủ ba loại Ý Sinh Thân. Thiện Du Bộ là Chủng Loại Ý Thân, Công là Tam Muội Ý Thân, Đức là Giác Pháp Ý Thân …rõ ràng như Kinh Lăng Già nói

84_ Nam mô Đấu Chiến Thắng Phật (Vijitasaṃgrama Buddha)
Đấu Chiến Thắng (Vijitasaṃgrama) là Đức Phật cùng mũi tên Trí, cây cung Thiền, cây kiếm Quang Minh Tuệ cùng đấu với Uẩn Ma, Phiền Não Ma. Sức chiến đấu của các Thiên Ma, Ngoại Đạo chẳng bằng nên thảy đều chịu nhận sự hóa độ, cho nên gọi là Đấu Chiến Thắng

85_ Nam mô Thiện Du Bộ Phật (Suvikrānta Buddha)
Thiện Du Bộ (Suvikrānta) là Đức Như Lai dùng sức Thần Túc vòng khắp mười phương, du hành tự tại, cảm hóa các cõi cho nên gọi là Thiện Du Bộ.

86_ Nam mô Chu Táp Trang Nghiêm Công Đức Phật (Samantāvabhāsa-vyūhaśrī Buddha)
Chu Táp Trang Nghiêm Công Đức (Samantāvabhāsa-vyūha-śrī) là mười phương ba mé sinh Phật y theo Chính đều dùng Công Đức, Pháp Hành tịnh diệu trang nghiêm chẳng phải là loại Thế Gian, vật Hữu Vi so sánh được, cho nên gọi là Chu Táp Trang Nghiêm Công Đức

87_ Nam mô Bảo Hoa Du Bộ Phật (Ratna-padma-vikramin Buddha)
Bảo Hoa Du Bộ (Ratna-padma-vikramin) có hai ý
Một là chất đầy mọi hoa màu nhiệm cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác, tức xong một bữa ăn liền quay trở về nước của mình, ăn cơm đi Kinh Hành
Hai là dưới bàn chân của Đức Như Lai có tướng bánh xe ngàn căm, phàm nơi du hành có hoa báu nâng đỡ bàn chân.
Cho nên gọi là Bảo Hoa Du Bộ

88_ Nam mô Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Sa La Thọ Vương Phật (Ratna padmasupratiṣṭhita-śālendra-rāja Buddha)
Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Sa La Thọ Vương (Ratna-padma-supratiṣṭhitaśālendra-rāja). Bảo Liên (Ratna-padma) là hoa thanh tịnh không dơ bẩn. Thiện Trụ (Suoratiṣṭhita) đây nói là tối thắng, cũng nói là bền chắc. Đã thắng mà còn bền chắc cho nên gọi là Thọ Vương. Nghĩa là Đức Như Lai ở dưới cây này, an trụ thân tâm, khởi Trí chặt đứt Hoặc (phiền não), Tâm như hoa sen báu lìa hẳn các dơ bẩn, giống như cây vua tối thắng bền chắc, cho nên gọi là Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Sa La Thọ Vương

89_ Nam mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật (Namo Dharma-dhātugarbha-kāya- Amitābha-buddha)
Pháp Giới Tạng Thân (Dharma-dhātu-garbha-kāya) có hai ý
Một là Nhân là tên gọi của Tỳ Kheo Pháp Tạng (Dharmakāra-bhikṣu), Quả là thành Báo của Pháp Giới Tạng Thân
Hai là như Quán Kinh nói: “Chư Phật Như Lai là Pháp Giới Thân (Dharmakāya) nhập vào trong Tâm Tưởng của tất cả chúng sinh. Nay Di Đà (Amitābha) cũng là Pháp Giới Thân ở trong khắp cõi nước nhiều như hạt bụi nhỏ thuộc hư không Pháp Giới của mười phương”
A Di Đà. Phiên dịch này có hai ý: Một là Vô Lượng Thọ (Amitāyus) là Đức Phật ấy có thọ mệnh vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp. Hai là Vô Lượng Quang (Amitābha) là Đức Phật có ánh sáng chiếu soi cõi nước mười phương không có chướng ngại. Song Lý Thật, Thân Tướng, Công Đức Y Báo, Chính Báo đều có vô lượng cho nên xưng là A Di Đà. Đây cũng đơn điệu thuận theo Pháp nói Tưởng như Kinh của các Tịnh Thổ.
_Kinh Bảo Tích nói rằng: “Tất cả chúng sinh, nếu có tội năm Nghịch, mười ác mà vạn kiếp chẳng thông Sám Hối thì nên đỉnh lễ 35 Đức Phật, chí Tâm Sám Hối ắt tất cả tội chướng liền đều trừ diệt”
Song, sau 35 Đức Phật này gia thêm Đức Phật Di Đà thì có bốn Ý:

1_ Tên của Đức Phật Di Đà, một lần xưng lễ thời hay diệt tội nặng sinh tử trong 84 ức kiếp. Đều siêu thoát được năm Nghịch, ba đường.

2_ Di Đà là đấng Hóa Chủ tuy ở tại Tây Phương, nhưng phát Nguyện đi đến cứu độ chúng sinh của Thế Giới Sa Bà (Sāha-loka), tiếp dẫn mười niệm, sinh về chín Phẩm.

3_ Từ khi thành Phật đến nay đã mười kiếp, hiện tại nói Pháp độ khắp các chúng sinh ở mười phương

4_ Đức Thích Ca Như Lai cùng với chư Phật mười phương đều khen ngợi Đức Phật A Di Đà.

Có bốn Ý này cho nên gia thêm vậy.
_ Lại có hai nghĩa:

1_ Danh Hiệu của chư Phật không có nhất định. Hoặc y theo Tính lập như Thích Ca, Di Lặc.
Hoặc tự xưng như Vô Cấu, Ly Cấu
Hoặc Y Báo, hoặc Chính Báo như Chiên Đàn Quật, A Súc Tỳ
Hoặc ví dụ, hoặc Pháp như: Sơn Hải Tuệ, Kim Hải Quang
Nhân Quả như Di Đà, Công Đức như Dũng Thí
Tên gọi tuy đều khác nhau nhưng Nghĩa thì trợ nhau thông suốt. Cho nên Pháp Uyển nói rằng: “Như Thích Ca phiên dịch là Năng Nhân, lại khởi có một Đức Phật chẳng phải là Năng Nhân. A Di Đà nói là Vô Lượng Thọ thì khởi có một Đức Phật chẳng phải là Trường Thọ….chỉ dùng hợp Cơ bày Hóa, tùy theo đời mà dựng lập

2_Danh Hiệu của chư Phật đồng thông với một.
Hoa Nghiêm nói: “Các Như Lai mười phương đồng chung một Pháp Thân, một Tâm, một Trí Tuệ, sức vô úy cũng thế”
Lăng Già nói: “Tất cả chư Phật có bốn loại đều ngang bằng
Một là tên chữ ngang bằng như mười Hiệu của Phật
Hai là Ngữ ngang bằng: 64 loại ngôn ngữ của Phạn Âm
Ba là Thân ngang bằng: Pháp với Sắc Thân
Bốn là Pháp ngang bằng: Phẩm Chính Trợ Đạo
Dựa theo nghĩa của hai Kinh này, ắt Danh Đức của 89 Đức Phật, một nhiều dung thông khắp cả, đó đây giao nhiếp, đề cử một Phật liền thông tất cả Phật, giải thích một nghĩa liền hiển vô lượng nghĩa, có tăng giảm nào mà chẳng viên dung chăng?!…
---🍀🔥🍀---
(Xin hoan hỷ và hồi hướng tất cả công đức)

Address

17C Ấp Mỹ Thạnh Xã Mỹ Phong TP Mỹ Tho Tiền Giang
My Tho

Telephone

+84778111517

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Pháp Hội Thủ Lăng Nghiêm posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Pháp Hội Thủ Lăng Nghiêm:

Share