Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Giác

Call Directions Website Contact the place of worship

Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Giác Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên tử do Hòa thượng

Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác có quy mô thuộc loại lớn nhất nước với tổng diện tích là 30ha. Thiền viện được xây dựng theo mô hình truyền thống của các thiền viện thuộc hệ phái Trúc Lâm Yên Tử, với 2 khu vực biệt lập là nội viện và ngoại viện. Ngoài khu nội viện Tăng, Thiền viện cũng dành một khu đất khá rộng (gần 19 ngàn mét vuông) để làm nhà khách nữ. Theo quy hoạch tổng mặt bằng đã được cấp thẩm quyền phê duyệt, thiền viện có 26 hạng mục, bao gồm các hạng mục như Chánh Điện, Tổ Đường, Giảng Đường, Khu nội viện Tăng, Nhà Tăng ngoại viện, Trai đường, Lầu chuông, Lầu trống… với tổng diện tích xây dựng hơn 8000m2. Điều hết sức đặc biệt là trong bản quy hoạch, một khu vực rộng lớn được bố trí để xây dựng Tứ Động Tâm (Lâm Tì Ni – nơi Phật Thích Ca đản sinh; Bồ Đề Đạo Tràng – nơi Phật thành đạo; Lộc Uyển – nơi Phật chuyển pháp luân và Câu Thi Na – nơi Phật nhập diệt) theo đúng nguyên mẫu với tỉ lệ 6-10. Theo tỉ lệ này thì tháp Đại Giác (Maha Bodhi Gaya) sẽ có chiều cao khoảng hơn 31m. Đây có lẽ là điểm rất riêng của Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác mà không có một Thiền viện hoặc tự viện nào trong cả nước, thậm chí cả khu vực Đông Nam Á, có được. Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Giác sau khi hoàn thành sẽ là nơi hoạt động văn hoá tâm linh và giải trí lành mạnh cho người dân trên địa bàn huyện Tân Phước, là nơi tu tập cho Tăng Ni, Phật tử của tỉnh và các tỉnh thành lân cận. Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Giác là nơi giúp cho mọi người khi đến tu tập biết hướng thiện, hiếu thảo với ông bà cha mẹ, có lòng khoan dung, hòa nhã với mọi người, sống tinh thần tương thân và tương trợ. Công trình này sẽ có ý nghĩa hết sức to lớn về du lịch tâm linh, góp phần bảo vệ và phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc và văn hóa Phật giáo. Tỉnh Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung với đại đa số là Phật tử, nên nhu cầu về nơi chốn tu tập để tìm kiếm sự an tĩnh tâm hồn là nhu cầu thiết thực. Vì vậy sau khi hoàn thành, hàng năm Thiền Viện sẽ đón hàng vạn lượt Phật tử cũng như khách thập phương về đây chiêm bái và tham quan du lịch. Mặt khác công trình còn có ý nghĩa đặc biệt về giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc cho các thế hệ tương lai.

HT Viện Chủ TVTL Chánh Giác kệ:
28/09/2026

HT Viện Chủ TVTL Chánh Giác kệ:

31/08/2026

" TỨ - ÂN" LÀ GÌ ?

Hòa Thượng , Thiền Sư Thích Thanh Từ .

Kế đến tôi nói về Tứ ân.

1. ❤️ Một là ân cha mẹ, vì có cha mẹ mới có thân ta. ❤️

Chúng ta tu được, tạo duyên cho cha mẹ biết qui y Tam bảo, đó là đền ân cha mẹ.
Ta tu không được thì không thể đền ân cha mẹ.
Vì vậy thương cha mẹ, quí kính cha mẹ chừng nào chúng ta ráng tu chừng ấy.
Làm sao nhờ đức của mình mà cha mẹ mất đi, sanh ra gặp Phật pháp, đời sau tu hành.
Tôi nhớ trong sử có câu chuyện kể về một vị tu sĩ, vì đọc lâu tôi không nhớ tên, chỉ nhớ đại khái thế này:
Vị ấy lúc đầu mới xuất gia, tu hành rất tinh tấn, khiến mọi người đều quí trọng. Bà mẫu của vị đó mất đọa vào đường xấu nhưng không bị tra tấn gì hết. Họ nói rằng bà có đứa con tu hành tinh tấn quá, nên không dám động tới mẹ vị tăng kia.
Nhưng thời gian sau, không biết vì duyên cớ gì ông thối Bồ-đề tâm, tu yếu ớt. Bấy giờ sống trong cảnh khổ, người mẹ bị tra tấn quá chừng.
Chịu hết nổi bà mới xin “cho tôi về nhắc con tôi một chút”. Khi đó người giữ ngục cũng khoan dung cho bà đi.
Bà về báo mộng với con rằng:
“Mấy năm trước nhờ con tinh tấn tu hành, nên mẹ tuy đọa địa ngục nhưng không ai hành phạt. Bây giờ con tu hành bê bối quá, vì vậy người ta hành phạt mẹ đau khổ vô cùng."
Nói rồi bà khóc và bỏ đi.
Khi đó vị tăng giật mình thức dậy, kiểm lại thấy quả nhiên mình đang thối tâm.
Từ đó nghĩ muốn cứu mẹ, nên vị tăng cố gắng tu hành tinh tấn như xưa. Nhờ thế bà mẹ cũng được an ổn, không bị tra tấn nữa.
Tôi kể lại câu chuyện này để nhắc nhở quí vị cố gắng tu hầu mong đền ân cha mẹ.

🟣 Không phải ở chùa lâu năm, được thăng chức từ Sa-di lên Tỳ-kheo, rồi Đại đức, Thượng tọa, Hòa thượng mà không tu, dù cho chức gì đi nữa cũng không cứu được cha mẹ đâu.

🩷 Chúng ta muốn đền ân cha mẹ phải cố gắng tu, làm sao đời này mình giải thoát được những khổ đau của bản thân, đồng thời trợ lực cho cha mẹ khỏi phải khổ đau nơi này nơi nọ.

2. ❤️ Thứ hai là ân Thầy Tổ. ❤️

Như tôi đã kể ở trên, nếu không có Thầy Tổ, thì ai mở con mắt trí tuệ cho mình?
Cha mẹ sanh thân chúng ta chỉ có một đời, còn Thầy Tổ sanh giới thân huệ mạng cho chúng ta đời đời.
Tu hành được giác ngộ giải thoát, vĩnh viễn vượt ra ba cõi, chấm dứt khổ đau muôn kiếp, đều nhờ ân Phật tổ hay Thầy Tổ.
Cho nên công ân này không thể tính kể, ngôn ngữ lời lẽ chẳng thể nói hết được.
🩷 Chỉ có tu hành đạt được kết quả viên mãn, sau đó cứu giúp chúng sanh cùng thoát khổ trầm luân mới mong đền đáp được thâm ân vô lượng này.

3. ❤️ Thứ ba là ân đàn na thí chủ. ❤️

Nhờ có đàn tín ủng hộ, giúp đỡ tài vật, tạo điều kiện cho Tăng Ni yên tâm tu hành, chúng ta mới chuyên tâm tiến đạo.
Chúng ta tu được mới có thể làm lợi ích chúng sanh, đền ân đàn na thí chủ.
💜 Nếu tu không được thì hư hết một đời, cuối cùng ta phải chuốt quả khổ vì mang nặng ân đàn na tín thí mà không đền trả được.

Trong luật Sa-di có câu chuyện về một Tỳ-kheo thọ nhận của ông Trưởng giả rất nhiều, tu hành cũng có đức hạnh nhưng không thông suốt lý đạo.
Sau khi chết, vị này biến thành cây, mọc nấm cho Trưởng giả ăn suốt đời.
Khi Trưởng giả chết, cây mới hết ra nấm.
Đó là cách đền ân thí chủ bằng hoa báo, tức mọc nấm trên cây để trả lại công của thí chủ.
Cho nên đâu phải chúng ta được đàn na thí chủ thương giúp nhiều là có phước !

🔴 Phật tử cúng dường cho chúng ta đều nghĩ gieo duyên với mình, để sau được hóa độ, chớ không phải cúng dường cho chúng ta xài tùy ý.

🍁 Nếu mình tu hành không có đức hạnh, tiền bạc của cải ấy phải trả, chớ không thể nào không trả.

Tôi thường nói người tu trả ân đàn na thí chủ bằng hai cách:

🟥 Một là nếu có đạo đức, ngay trong đời này chúng ta giáo hóa chỉ dạy cho Phật tử hiểu đạo.
Nhờ hiểu đạo, họ tiến tu, đó là ta làm thầy để đền ân thí chủ.

🟥 Hai là nếu nhận của thí chủ rồi ăn xài phung phí, không chịu tu hành, nhất định sau khi nhắm mắt sẽ làm trâu cày, ngựa cỡi hoặc nhẹ là hoa báo như câu chuyện ở trên, trả suốt đời chớ không được rảnh rang đâu.
🩷 Tôi thường nói, tôi nợ thí chủ ngập đầu.
Bởi vì ai cũng muốn gieo duyên với tôi, nên giúp tôi làm được nhiều Phật sự.
🧡 Tôi không dám hãnh diện mình có phước, mà tôi thấy chính mình thiếu nợ nhiều nhất với đàn na thí chủ.

Vì vậy ngoài bổn phận tôi phải cố gắng tu, tôi còn khuyên Tăng Ni hàng đệ tử cũng cố gắng tu, để thầy trò hợp sức nhau trả nợ cho đàn na thí chủ.
Chúng ta tu được, đem công đức ấy giáo hóa cho mọi người được an vui bớt khổ trong đời này và những đời về sau.
Đó là chúng ta chọn cách trả nợ thứ nhất.

❤️ Nên nhớ chỉ là trả nợ thôi, chớ đừng hãnh diện mình làm thầy thiên hạ.❤️

Tôi thường ví dụ như ở thế gian, nếu có một giáo chức mượn nợ mà không có tiền trả.
Chủ nợ có mấy đứa con đi học, biết vị ấy không có tiền trả nên nhờ về dạy kèm con họ.
Đó là lấy công để trả nợ, trả bằng cách làm thầy của con họ.
Chúng ta cũng thế, trả nợ nhưng mà trả bằng cách làm thầy.
Nếu người dốt nát không học hành gì, mượn nợ không có tiền trả thì phải đi làm thuê làm mướn để trả nợ, chớ đâu thể mượn mà không trả được.
🔴 Rõ ràng ở thế gian cũng như trong đạo, chúng ta không thể tự hào rằng tôi được Phật tử cúng nhiều là có phước, rồi tha hồ ăn xài tự do.
🟣 Nếu vậy e rằng mai kia không biết mấy trăm lần phải trở đi, trở lại để đền trả nợ trước.

🔺 Vì vậy tôi nhắc cho tất cả Tăng Ni hiểu hai chữ cúng dường Tam bảo để gieo duyên là nói nghe cho đẹp.

💝 Chớ nói thẳng ra là Phật tử cho Tăng Ni vay nợ.
Chúng ta nghe cúng dường thấy cao quí, chớ không ngờ là nhận nợ, mà nhận nợ thì phải trả nợ.
Bởi vậy tôi thấm nhất là ngày xưa đức Phật bắt Tăng Ni phải đi khất thực.
Đi khất thực để làm gì?
Làm kẻ ăn mày tới xin người ta.

🍁 Phật tử cho mình gọi là gieo duyên, tức cho vay nợ.
🙏 Họ cho vay bằng cơm thì ta trả lại bằng pháp.
Trả ngay tức thì, không để thiếu nợ.
Đức Phật quả thật quá hay!
Phật tử trao tài vật cho tôi là trao nợ, nợ lớn hoặc nợ nhỏ.
Nếu nợ lớn thì tôi phải trả nhiều trả lâu, nợ nhỏ thì tôi trả ít trả mau.
Cho nên tới tuổi này mà tôi vẫn còn giảng.
Bởi vì trao đổi hai chiều mà, Phật tử trao cho tôi cái này, tôi phải trao lại cái khác.
Chẳng lẽ tôi để nợ cho tới chết mang theo?
Cho nên luôn luôn phải giảng, phải dạy cho Phật tử hiểu đạo, tu hành được an vui.
Đó là bổn phận, là trách nhiệm tôi phải trả.
Tăng Ni chúng ta ý thức được việc làm, bổn phận của mình thì không bao giờ có thể thờ ơ, lãnh đạm với tinh thần mộ đạo kính tăng của Phật tử.
Phật tử vì muốn gieo duyên với Tam bảo, muốn tiến lên trên con đường đạo đức mà chưa đủ điều kiện, nên gieo duyên với chúng ta.
Nói cách khác như họ muốn có tiền để dành, nhưng sợ xài hết nên bây giờ đem gởi ngân hàng.
Gởi ngân hàng mỗi tháng chút chút, lâu ngày dồn lại cất được cái nhà.
Cho nên gởi ngân hàng không có nghĩa là đem tiền bỏ, mà còn tính có lời nữa.
Cũng vậy, Phật tử muốn tu, muốn tiến trên đường đạo đức mà bây giờ chưa tiến được, nên làm có chút ít gởi thầy.
Thầy thiếu nợ mình, mai mốt có đủ điều kiện thầy độ mình tu.

🧡 Đó là lý do Phật tử vì muốn tu, vì muốn tiến trên đường đạo nên mới cúng dường Tăng Ni.
Ý nghĩa ân đàn na thí chủ là như vậy.

4.❤️ Thứ tư là ân quốc gia hay ân chánh quyền.❤️

Nhờ có những vị này giữ gìn đất nước thanh bình, chúng ta mới được an ổn tu hành, an ổn hoằng pháp lợi sanh.

🔴 Đây là ân rất lớn, trong nhà Phật còn gọi là ân hộ pháp.
Nếu không có những vị này đứng ra chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh, giữ gìn xứ sở thì chúng ta đâu có yên mà tu.
Vì vậy ân quốc gia hay ân chính quyền đối với chúng ta rất nặng.
Do đó chúng ta ráng tu cho có đức hạnh.
Nhờ công đức này mình mới khuyên dạy những người Phật tử chung quanh, bảo họ tránh điều ác làm điều lành, giúp cho xã hội ngày càng tốt đẹp, văn minh.
Đó là cách đền ân chánh quyền của người tu chúng ta.

💜 Nếu không tu, bản thân chúng ta không có đạo đức, nhiều khi bịa ra những chuyện huyền bí, mê tín dị đoan làm hại dân phiền lụy cho chính quyền nữa.🟣

🙏🙏🙏 Vì vậy tu đúng với chánh pháp là nhu cầu không thể thiếu được đối với hàng tăng sĩ chúng ta.

Hòa Thượng , Thiền Sư Thích Thanh Từ.
Trích trong : TỨ ÂN TRONG Ý CHÍ HIẾU TU.
( Lễ khánh thành chùa Phật Quang - Trà Ôn - 1995).

Kính mời quý Phật tử về dự Lễ Vu Lan- Thắp Hoa Đăng
26/08/2026

Kính mời quý Phật tử về dự Lễ Vu Lan- Thắp Hoa Đăng

27/07/2026
18/07/2026

Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Giác

Kính thông báo: Đồng Nai: Ni Trưởng Trụ Trì Thiền Viện Linh Chiếu tân viên tịch
15/07/2026

Kính thông báo: Đồng Nai: Ni Trưởng Trụ Trì Thiền Viện Linh Chiếu tân viên tịch

12/07/2026

TIỂU SỬ CỐ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH PHƯỚC TÚ (1948 – 2026)

Hôm nay, trong niềm tiếc thương vô hạn, trước Giác linh đài của cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước Tú, chúng ta thành kính ôn lại cuộc đời, đạo nghiệp và công hạnh của một bậc Thiền đức, một vị Trưởng lão của Giáo hội, một hành giả trọn đời lấy giới đức làm nền, Thiền học làm mạch sống, hoằng pháp làm sự nghiệp và phụng sự chúng sinh làm hạnh nguyện.

Một đời người hữu hạn.
Một kiếp đạo vô cùng

Thân tứ đại rồi trở về với đất nước gió lửa.

Nhưng giới hạnh, đạo phong và công đức của bậc long tượng vẫn còn mãi với Thiền phái Trúc Lâm, với Giáo hội Phật giáo Việt Nam và với bao thế hệ Tăng Ni, Phật tử.

I. THIỆN CĂN SÂU DÀY – CHÍ NGUYỆN SỚM THÀNH

Trưởng lão Hòa thượng thế danh Trương Quốc Tuấn, pháp danh Như Phước Tú, pháp tự Đắc Huyền, sinh ngày 29 tháng 3 năm 1948 (Mậu Tý), tại ấp An Hòa, xã Bình Ninh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình nhiều đời kính tin Tam bảo.

Ông ngoại là một danh y nổi tiếng, tinh thông Hán học và Đông y; thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Hoa, người phụ nữ hiền đức, một lòng hướng Phật. Ngay từ khi còn trong thai mẹ, Ngài đã theo mẹ lễ Phật tại chùa Phước Hậu. Sau này, chính Hòa thượng từng xúc động kể rằng: "Từ đây, tôi xem chùa Phước Hậu là quê hương thứ hai của mình."

Năm năm tuổi, Ngài được Tổ Khánh Anh truyền Tam quy, ban pháp danh Như Phước Tú. Từ mái già-lam ấy, cậu bé Trương Quốc Tuấn lớn lên trong tiếng chuông chùa, trong những thời kinh sớm tối, trong tình thương của chư Tôn đức và nếp sống thanh tịnh của cửa Thiền.

Tuổi thơ ấy không chỉ được nuôi dưỡng bởi gia đình, mà còn được trưởng dưỡng trong lòng Tam bảo.

II. XUẤT GIA CẦU ĐẠO – GẶP MINH SƯ THIỆN HỮU

Năm 1967, Ngài phát tâm xuất gia với Hòa thượng Hoàn Phú tại chùa Phước Hậu. Năm tròn 20 tuổi, Ngài đăng đàn thọ Cụ túc giới Tỳ-kheo.

Với chí cầu đạo mãnh liệt, Ngài từng phát nguyện đốt một ngón tay cúng dường chư Phật, nguyện hiến trọn cuộc đời cho con đường giác ngộ và lợi lạc quần sinh.

Bước ngoặt lớn nhất của đời tu đến khi Ngài gặp Hòa thượng Thích Thanh Từ và được tiếp xúc với Thiền tông. Chính Hòa thượng từng tâm sự:

"Thiền tông đã mở cánh cửa cho tôi đi vào Phật pháp, rút ngắn con đường tu học và giúp tôi hiểu được giá trị chân thật của giáo lý Đức Phật."

Từ đó, Thiền trở thành mạch sống, Bát Nhã trở thành con mắt, Chánh pháp trở thành lý tưởng phụng sự suốt cuộc đời của Ngài.

III. THUỘC THẾ HỆ ĐÓNG GÓP VÀO VIỆC TIẾP NỐI THIỀN PHÁI TRÚC LÂM VIỆT NAM

Năm 1971, Hòa thượng được tuyển chọn vào khóa Thiền sinh đầu tiên của Thiền viện Chơn Không, gồm mười Thiền sinh do Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Từ trực tiếp hướng dẫn. Đó không chỉ là một khóa học. Đó là thế hệ đặt nền móng cho công cuộc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam trong thời hiện đại.

Trong những năm đầu tại Thiền viện Chơn Không, Ngài đảm nhiệm nhiều Phật sự như phụ Tri khách, Tri khố. Sau một lần tự xét thấy bản thân còn nhiều thiếu sót, Ngài thành tâm sám hối, tự nguyện đảm nhận việc nhà bếp suốt ba năm để rèn luyện, thành toàn hạnh tu và phụng sự.

Chính từ những công việc âm thầm ấy đã hun đúc nên đạo phong của một bậc Thiền tăng với phương châm Hoà thượng Tông chủ đã chỉ dạy: “Tu như thở, học như uống nước, lao tác như ăn cơm” mà Thiền tâm rực sáng.

Năm 1974, khi Hòa thượng Thích Thanh Từ quyết định khai sáng Thiền viện Thường Chiếu, Hòa thượng là một trong những vị tôn túc được Hoà thượng Tông chủ giao trọng trách đến vùng Quán Chim, Long Thành, Đồng Nai để kiến thiết đạo tràng.

Giữa lúc chiến tranh chưa chấm dứt, giữa vùng đất còn nhiều bom mìn và hoang vu, Ngài cùng chư huynh đệ khai hoang, dựng thất, để chuẩn bị cho việc thành lập Thiền viện sau này. Từ những mái lá đơn sơ của buổi đầu, Thiền viện Thường Chiếu dần trở thành một trong những trung tâm Thiền học lớn của cả nước.

Cũng vậy năm 1987, Hoà thượng là một trong những vị đặt những viên gạch đầu tiên để sau này hình thành Thiền viện Chân Nguyên dưới sự chỉ dạy của Hoà thượng Tông chủ.

Trên tinh thần tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, năm 1989, Ngài đã vì hàng hậu học thế phát xuất gia cho những đệ tử đầu tiên, để từ đó tiếp nối cho hàngmôn đồ pháp quyến ngày càng hưng thịnh.

IV. KIẾN LẬP ĐẠO TRÀNG – PHỤNG SỰ GIÁO HỘI

Năm 1991, Ngài trở về chùa Phước Hậu để nhập thất hành Thiền
Năm 1993, Ngài được cung thỉnh đảm nhiệm Trụ trì chùa Giác Thiên.
Năm 1996, đại trùng tu chùa Giác Thiên, thành một già-lam trang nghiêm giữa lòng tỉnh Vĩnh Long.

Năm 2004, phát tâm xây dựng Văn phòng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Vĩnh Long, góp phần củng cố cơ sở vật chất và tổ chức Phật sự của Giáo hội.

Năm 2008, phát tâm trùng kiến chùa Đồng Đế, nơi Tổ Khánh Anh viên tịch, như một công trình tri ân Tổ sư và gìn giữ di tích lịch sử của Phật giáo Nam Bộ.

Trong nhiều nhiệm kỳ, Hòa thượng đảm nhiệm các trọng trách: Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Vĩnh Long; nguyên Phó Trưởng ban Trị sự; nguyên Trưởng ban Hoằng pháp; nguyên Trưởng ban Giáo dục Phật giáo; nguyên Trưởng ban Thông tin Truyền thông; nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học Vĩnh Long.

Dù ở cương vị nào, Ngài vẫn luôn lấy sự phát triển chung của Giáo hội và việc làm thành cho thế hệ kế thừa trực nhận nguồn chơn làm mục tiêu phụng sự.

V. MỘT ĐỜI HOẰNG PHÁP – MỘT ĐỜI TRUYỀN ĐĂNG

Nếu kiến lập đạo tràng là sự nghiệp, thì hoằng pháp chính là hạnh nguyện lớn nhất của Hòa thượng. Ngài từng phát nguyện: "Chỉ ngừng giảng pháp khi viên tịch trên pháp tòa." Từ lời nguyện ấy, suốt hơn nửa thế kỷ, dấu chân hoằng hóa của Ngài đã in khắp mọi miền đất nước và nhiều quốc gia trên thế giới.

Năm 2005, lần đầu tiên hoằng pháp tại Campuchia.
Năm 2007, lần đầu tiên hoằng pháp tại Hoa Kỳ.

Những năm tiếp theo, Ngài tiếp tục giảng dạy tại nhiều đạo tràng trong và ngoài nước, không quản tuổi cao hay sức yếu. Ba lần đối diện ranh giới sinh tử, Hòa thượng đều vượt qua và thường nhắc rằng chính Phật pháp đã nâng đỡ mình trong những thời khắc hiểm nghèo. Từ trải nghiệm ấy, Ngài càng tin sâu Tam bảo và thường nhắn nhủ: “Phật pháp là chiếc phao an toàn nhất giữa biển đời.”

VI. NHÀ GIÁO DỤC – NHÀ TRƯỚC TÁC

Trong sự nghiệp giáo dục, Hòa thượng trực tiếp thế phát xuất gia cho hơn ba trăm Tăng Ni, đào tạo nhiều thế hệ kế thừa cho Giáo hội và Thiền phái Trúc Lâm. Song song đó, Ngài dành trọn tâm lực cho nghiên cứu, dịch thuật và trước tác.

Suốt cuộc đời hành đạo, Hòa thượng để lại gần hai trăm công trình gồm giảng giải Kinh Luận, Thiền học, giáo trình, hồi ký và nhiều tác phẩm nghiên cứu Phật học, trong đó có các bản dịch như Kinh Pháp Bảo Đàn, Kinh Viên Giác, Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Kinh A Di Đà, Tín Tâm Minh, Khúc Ca Chứng Đạo cùng nhiều tác phẩm khác. Đó không chỉ là di sản học thuật của riêng Ngài, mà còn là nguồn tư liệu quý cho nhiều thế hệ Tăng Ni và Phật tử trên con đường học Phật và hành Thiền.

VII. ĐẠO NGHIỆP VIÊN THÀNH – ĐẠO PHONG CÒN MÃI

Đến 13 giờ 20 phút, ngày 10 tháng 7 năm 2026 (nhằm ngày 26 tháng 5 năm Bính Ngọ), Trưởng lão Hòa thượng an nhiên thu thần thị tịch tại chùa Giác Thiên, trụ thế 79 năm, hạ lạp 59 năm.

Nhìn lại gần sáu thập niên hành đạo, Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước Tú đã để lại dấu ấn sâu đậm trên nhiều phương diện của Phật giáo Việt Nam đương đại.

Là một trong mười Thiền sinh đầu tiên của Thiền viện Chơn Không, Ngài thuộc thế hệ đóng góp vào việc phục hưng Thiền phái Trúc Lâm của Hòa thượng Thích Thanh Từ.

Là người kiến lập và phát triển nhiều đạo tràng, nhà hoằng pháp bền bỉ, nhà giáo dục tận tụy, nhà trước tác uyên bác với gần hai trăm công trình, người trực tiếp thế phát cho hơn ba trăm Tăng Ni, Ngài đã hiến trọn cuộc đời cho Tam bảo, cho Giáo hội Phật Giáo Việt Nam và Thiền phái Trúc Lâm.

Đạo phong thanh bần, giới hạnh nghiêm cẩn, tinh thần Thiền học thực chứng cùng hạnh nguyện phụng sự không mỏi mệt của Hòa thượng sẽ mãi là tấm gương sáng để hàng hậu học noi theo.

Thân tứ đại tuy thuận lẽ vô thường.
Đạo nghiệp vẫn còn với tông môn.
Giới hạnh vẫn còn với hậu học.
Pháp âm vẫn còn trong lòng người học Phật.

Và hình ảnh của một bậc long tượng Thiền môn, một thiền gia lỗi lạc, một Trưởng lão khả kính của Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ còn mãi trong lịch sử Phật giáo nước nhà.

Phụng vị Trúc Lâm Việt Nam Thiền Phái Môn Hạ, Giác Thiên Đường Thượng, húy Phước Tú, tự Đắc Huyền, Trưởng lão Hòa thượng Giác linh tác đại chứng minh.

Theo/Phật Sự Online.

11/07/2026
Lễ nhập kim quan HT thượng Phước hạ Tú chùa Giác Thiên, Vĩnh Long
11/07/2026

Lễ nhập kim quan HT thượng Phước hạ Tú chùa Giác Thiên, Vĩnh Long

Address

My Tho
TỈNHTIỀNGIANG

Opening Hours

Monday 05:30 - 18:00
Tuesday 05:30 - 18:00
Wednesday 05:30 - 18:00
Thursday 05:30 - 18:00
Friday 05:30 - 18:00
Saturday 05:30 - 18:00
Sunday 05:30 - 18:00

Telephone

+842733643643

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Giác posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Giác:

Shortcuts

Share