CHÙA LONG PHƯỚC THỌ

CHÙA LONG PHƯỚC THỌ Trang giới thiệu các Phật sự, khoá tu và hoạt động nhập thế của Chùa LONG PHƯỚC THỌ
(1)

TA LÀ BẬC TÔN QUÝ Ở ĐỜI“Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” là Phật ngôn quen thuộc mà chúng ta thường nghe mỗi khi ...
27/05/2026

TA LÀ BẬC TÔN QUÝ Ở ĐỜI

“Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” là Phật ngôn quen thuộc mà chúng ta thường nghe mỗi khi mùa Đản sanh về. Có điều, Phật ngôn này được hiểu và giải thích khác nhau. Chính cụm từ “duy ngã độc tôn” đã khiến cho một số người phân vân vì dường như vẫn còn cái tôi, thậm chí là chất ngất tự ngã.
Tìm trong kinh tạng thấy nhiều bản kinh chép “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn”, tạm dịch: Ta là bậc tôn quý ở đời. Phật ngôn này khá dễ hiểu, dễ đồng cảm và nhất là thể hiện trọn vẹn phẩm tính vô ngã của bậc Giác ngộ. Đức Phật nói về mình một cách vô tư rằng Ngài “không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang bằng, chẳng thể bắt chước” và nhất là “Chư Thiên và loài người không thể sánh kịp” với Ngài.
Như vậy thì đích thực Ngài đã vượt thoát thế gian, ra khỏi luân hồi sanh tử, ba cõi không ai bằng nên thực sự tôn quý trong đời.
Kinh Tăng nhất A-hàm (tập I, phẩm A-tu-la) ghi rằng: “Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu có một người xuất hiện ở đời không có ai bằng, chẳng thể bắt chước, đi một mình không bè bạn, không cùng ai trang lứa. Chư Thiên và loài Người không thể sánh kịp, tín, giới, văn, thí, tuệ cũng không có ai có thể sánh kịp. Thế nào là một người? Nghĩa là Đức Như Lai Chí Chân Đẳng Chánh Giác. Đó là một người xuất hiện ở đời, không có ai bằng, chẳng thể bắt chước, đi một mình không bè bạn, không cùng ai trang lứa. Chư Thiên và loài người không thể sánh kịp, tín, giới, văn, thí, tuệ đều đầy đủ cả. Thế nên, này các Tỳ-kheo, hãy tín kính Phật. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.
Đức Phật nói về mình, đúng như những gì Ngài đang có, không một chút thêm bớt. Một bậc thành tựu đại Giác ngộ, chứng đắc giải thoát tối hậu với đầy đủ Tam minh, Lục thông, Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng… thấy rõ ràng “không có ai bằng; chẳng thể bắt chước; đi một mình không bè bạn, không cùng ai trang lứa; chư Thiên và loài Người không thể sánh kịp; tín, giới, văn, thí, tuệ đều đầy đủ” là chân thật tri và chân thật ngữ.
Thấy như thế nào thì nói như thế ấy. Ngài thấy trong thế gian này không ai bằng Ngài, không ai có thể sánh với Ngài về phương diện giác ngộ và giải thoát nên nói “Ta là bậc tôn quý ở đời”. Đó là sự thật! Không hề có chút biểu hiện, dù là nhỏ nhất của bản ngã, tự tôn, tự cao, tự mãn ở đây. Thậm chí chữ “Ta” cũng là cách nói tự xưng, tạm nương theo ngôn ngữ của thế gian để diễn đạt mà chẳng hề có bóng dáng nào của tự ngã trong đó. Nếu Ngài không dùng chữ “Ta” thì xưng là Như Lai, mà Như Lai thì chỉ là bậc đã đến như vậy, không từ đâu đến và cũng chẳng sanh về đâu.
Như hoa sen, ở trong bùn rồi vươn lên khỏi nước mà tỏa ngát hương. Phật sanh ra giữa cuộc đời, ở trong cuộc đời mà chẳng nhuốm bụi trần. Thành tựu giác ngộ tối thượng, bi và trí viên mãn, tự tại vô ngại ở trần gian để làm đẹp cho đời nên Ngài là bậc tôn quý. Vì lẽ ấy mà Đức Phật được ba cõi xưng tôn, trời người đều cung kính. “Độc tôn” hay “vi tôn” cũng không ngoài ý nghĩa bậc tôn quý ở đời.
TT- Quảng Tánh

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN & LỄ MỘC DỤCPL: 2570 - DL: 2026Tại CHÙA LONG PHƯỚC THỌNgày : 24/05/2026 ( Nhằm ngày 08/04/ Bính Ngọ)
24/05/2026

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN & LỄ MỘC DỤC
PL: 2570 - DL: 2026
Tại CHÙA LONG PHƯỚC THỌ
Ngày : 24/05/2026 ( Nhằm ngày 08/04/ Bính Ngọ)

XE HOA RƯỚC PHẬTHỎI :Xin cho biết truyền thống Xe hoa rước Phật trong Đại lễ Phật đản có từ thời nào? Hình thức và quy m...
23/05/2026

XE HOA RƯỚC PHẬT
HỎI :
Xin cho biết truyền thống Xe hoa rước Phật trong Đại lễ Phật đản có từ thời nào? Hình thức và quy mô ở các nước, mỗi thời kỳ ra sao?
ĐÁP :
Chúng ta đều biết Thái tử Tất Đạt Đa đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni. Sau khi đản sinh, đoàn xa giá được lệnh hồi cung, đưa Thái tử sơ sinh từ Lâm Tỳ Ni trở về thành Ca Tỳ La Vệ. Sự kiện lịch sử này về sau được hàng đệ tử Phật tái hiện để tưởng niệm trong Đại lễ Phật đản, gọi là Lễ hội rước Phật.
Tại Ấn Độ, cứ các sử liệu Phật giáo thì từ thời A Dục vương (thế kỷ thứ 3 trước TL), việc tổ chức rước Phật trong ngày Phật đản đã rất thịnh hành. Ngự chỉ số Bốn, được các nhà khảo cổ tìm thấy ở Kandahar ghi lời vua A Dục truyền dạy dân chúng vào ngày lễ Đản sanh mỗi năm phải tổ chức trọng thể, thiết lập lễ hội rước Phật.
Theo Pháp Hiển Cao Tăng Truyện (Phật Quốc Ký), Tây du Ấn Độ khoảng 16 năm (399-414 TL), khi đến nước Vu Điền (Khotan), lễ rước Phật ở nước này bắt đầu từ mùng Một cho đến hết tháng Tư. Lễ rước rất long trọng, xe kiệu nghinh Phật sơ sinh cao hơn 3 truợng, trang hoàng lộng lẫy, đích thân quốc vương và hoàng hậu nghinh giá. Tại Ma Kiệt Đà (Maghada), lễ rước tượng Phật lại càng long trọng hơn, có đến 20 cỗ xe trang hoàng bằng bảy báu được thiết kế theo hình tháp, bên trong thờ Phật diễu hành trong kinh đô cùng với sự tưng bừng của những hội diễn kịch nhạc, treo đèn, kết hoa cúng dường.
Sách Đại Đường Tây Vực Ký của ngài Huyền Trang chép, lễ rước Phật được tổ chức tại nước Dao Tần (Kucha) cực kỳ hoành tráng, có đến 1000 xe hoa nghinh Phật sơ sinh diễu hành để toàn thể dân chúng được chiêm ngưỡng và lễ bái Phật.
Ở Trung Quốc, lễ rước Phật cũng rất thịnh hành. Theo sách Pháp Uyển Châu Lâm, vào thời Đông Tấn (318- 420) đã đúc 5 tượng đồng Phật sơ sinh để nghinh thờ trong lễ rước Phật. Thời Nam Bắc triều, Thái Võ đế nhà Nguỵ (408-452) đã có chỉ thiết lễ rước kiệu Phật. Chính vua và hoàng hậu rải hoa cúng dường đoàn xe kiệu rước Phật sơ sinh. Theo sách Phật Tổ Thống Ký, Hiếu Võ đế nhà Tây Ngụy (467-499) hạ chỉ vào ngày Đản sanh, các ngôi chùa lớn ở Lạc Dương phải trần thiết xe kiệu rước Phật vào cung đình đồng thời chiếu chỉ quy định mỗi năm phải thiết lễ Phật đản long trọng như thế. Không khí lễ hội trong ngày Phật đản thật hùng vĩ và tưng bừng, sách Lạc Dương Gìa Lam Ký chép: “Ngày Phật đản, hoa vàng ngời sáng như ánh dương, lọng hoa lợp kín như mây phủ, cờ phướn giăng lên như rừng cây, trầm hương xông lên dày đặc như sương phủ, tiếng kinh và tiếng nhạc rung chuyển cả đất trời”. Đặc biệt vào thời Đường, Phật giáo hưng thịnh nên lễ rước Phật vô cùng to lớn, linh đình. Sách Phật Tổ Thống Ký ghi lại những cuộc lễ rước Phật hàng năm dân chúng tham gia đông, tưng bừng và náo nhiệt đến nỗi không thể giữ được trật tự, lắm khi thành hỗn loạn.
Tại Nhật Bản, từ thời Thánh Đức (574-622) lễ Phật đản đã thịnh hành. Ngoài việc trần thiết xe kiệu rước Phật, các chùa còn tổ chức phát chẩn và đặc biệt là kết hoa cúng Phật. Ngày nay, ngày Đản sanh đã trở thành lễ hội Cắm Hoa, còn gọi là lễ Hoa.
Ở nước ta, từ thời Lý – Trần, lễ rước Phật và lễ “tắm Phật” (một nghi thức quan trọng của Đại lễ Phật đản) được vua quan và dân chúng rất mực quan tâm và được tổ chức trọng thể. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 3 tờ 15a3-7, cho biết vua Lý Nhân Tông “Sau khi xây dựng, trùng tu chùa Diên Hựu (chùa Một Cột), hàng tháng cứ đến ngày rằm mùng một và ngày mùng tám tháng tư (Phật đản) xa giá ngự đến, đặt lễ cầu an, bày nghi thức tắm Phật, hàng năm làm lệ thường”. Ngoài ra, thời bấy giờ còn có tập tục nghinh rước Phật Pháp Vân cũng rất linh đình. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 4 tờ 20b9-2 chép, đích thân vua Lý Cao Tông đến chùa Pháp Vân nghinh rước Phật Pháp Vân về chùa báo Thiên để làm lễ cầu mưa. Tập tục này được duy trì đến đầu thời Hậu Lê.
Như vậy, lễ rước Phật sơ sinh trong Đại lễ Phật đản khởi nguyên từ rất xa xưa, có truyền thống lâu đời và không thể thiếu trong sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh của Phật giáo. Vì thế, tổ chức xe hoa rước Phật trong Đại lễ Phật đản hàng năm để tưởng niệm Đức Bổn Sư, duy trì nét đẹp văn hoá tâm linh Phật giáo là trọng trách của tất cả những người con Phật.

TT- QUẢNG TÁNH

TẮM PHẬT SAO CHO ĐÚNG?HỎI: Xin cho biết về nguồn gốc, ý nghĩa lễ tắm Phật. Lễ này được thực hiện vào những ngày nào tron...
23/05/2026

TẮM PHẬT SAO CHO ĐÚNG?
HỎI:
Xin cho biết về nguồn gốc, ý nghĩa lễ tắm Phật. Lễ này được thực hiện vào những ngày nào trong năm, cách thức chuẩn bị và thực hành tắm Phật như thế nào để được phước?
ĐÁP:
Nguồn gốc:
Nguồn gốc của lễ tắm Phật bắt nguồn từ sự kiện Đản sanh của Thái tử Tất-đạt-đa tại vườn Lâm-tỳ-ni. Các bản kinh thuộc truyền thống Nam truyền như kinh Đại bổn (Trường bộ II), kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp (Trung bộ III), lời mở đầu của bản chú giải truyện Bổn sanh (Nidānakatha) đều ghi lại rằng, khi hoàng hậu Ma-da đản sanh Thái tử, từ trên không trung có hai dòng nước của chư thiên, một ấm một mát, rưới xuống để tắm cho hoàng hậu và Thái tử.
Kinh Phổ diệu ghi rằng, khi Phật đản sinh, trên trời có chín vị rồng phun hai dòng nước nóng lạnh tắm rửa cho Ngài. Cùng lúc ấy, chư thiên tung hoa trời, trỗi nhạc trời chúc mừng Thái tử.
Lễ Tắm Phật được phục dựng nhằm tái hiện khung cảnh trang nghiêm mầu nhiệm này. Về sau, lễ tắm Phật là một trong những nghi thức long trọng trong mùa lễ hội Phật đản.
Ở Ấn Độ và Tây Vực, các tự viện thường hay tôn trí một tượng Phật sơ sinh, mỗi ngày tín đồ có thể tới viếng chùa và lấy nước rưới lên tượng Phật như là một hành động biểu trưng cho sự tẩy trừ sự ô nhiễm nơi thân mình. Vào dịp kỷ niệm Phật đản, tượng Phật sơ sinh được tôn trí trên kiệu hoa, xe hoa diễu hành khắp nơi trong nước. Khi Phật giáo truyền qua Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam, trong ngày kỷ niệm Phật Đản sinh, lễ tắm Phật được vua chúa tổ chức cực kỳ trang nghiêm trọng thể trong hoàng cung, về sau phổ biến ở tất cả chùa chiền trong dân chúng.
Ý nghĩa:
Tắm Phật là nghi thức tưới nước thơm lên tượng Phật sơ sinh, ngoài mục đích kỷ niệm Phật đản sanh còn mang ý nghĩa sâu sắc về sự tẩy trừ phiền não, hướng đến thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý của con người.
Ngày lễ:
Trước đây, ngày kỷ niệm Phật đản sanh là mùng 8 tháng Tư âm lịch nên lễ tắm Phật được tổ chức vào ngày này. Đến năm 1950, Phật giáo thế giới thống nhất kỷ niệm Phật đản vào ngày 15 tháng Tư âm lịch, nên sau đó, ngày lễ Tắm Phật cũng được thay đổi, tùy theo hoàn cảnh mỗi chùa, đạo tràng mà có thể tổ chức lễ Tắm Phật trong các ngày từ mùng 8 đến 15 tháng Tư âm lịch hàng năm.
Chuẩn bị:
Để thực hiện lễ tắm Phật, trước phải trần thiết bàn thờ với đầy đủ hương hoa, thỉnh tôn tượng Phật sơ sinh để trong chậu hoặc thau lớn tinh sạch. Chuẩn bị nguyên liệu nấu nước thơm tắm Phật. Ở nước ta các Phật tử thường nấu nước với hoa lài, hoa cúc, quế…, chờ nước nguội đổ vào chậu và rải thêm hoa lài tươi vào nước tắm Phật. Có nơi giản tiện thì dùng nước mưa, nước lọc tinh sạch nấu chín (vì làm lễ xong có một vài người thọ dụng). Theo Dục Tượng Công Đức Kinh: “Phải dùng các thứ diệu hương như Ngưu đầu, Chiên đàn, Tử đàn, Đa ma la hương, Cam tùng, Bạch đàn, Uất kim, Long não, Trầm hương, Xạ hương, Đinh hương... làm thành nước thơm đựng ở trong chậu sạch”. Nước tắm Phật phải là nước tám công đức, vì vậy người chuẩn bị nước cần phải thành tâm, tin tưởng trọn vẹn vào công đức tắm Phật mới thành tựu như nguyện.
Tắm Phật:
Đến giờ hành lễ, đạo tràng trì tụng kinh sám theo nghi thức Lễ tắm Phật. Đến đoạn tắm Phật, mọi người đồng tụng kệ và chú Tắm Phật rồi tuần tự đi đến lễ đài tôn trí tượng Phật sơ sinh chắp tay thành kính đảnh lễ, dùng tay phải múc nước rồi nhẹ nhàng tưới lên hai vai của Ngài. Trong lúc tắm Phật, mỗi người cần lắng lòng thanh tịnh quán tưởng dòng nước cam lộ tinh sạch này sẽ gội nhuần tâm tư. Những tâm niệm tham lam, sân hận và si mê của bản thân nhờ công đức này mà được tẩy sạch. Những suy nghĩ, lời nói và việc làm xấu ác cũng được xóa tan. Tắm Phật xong, lễ Phật rồi lui ra, cảm thấy hoan hỷ, thân tâm trở nên thanh tịnh, mát mẻ, nhẹ nhàng.
Không nên chen lấn, xô đẩy, giành giật; tắm Phật vội vàng theo kiểu lấy lệ (không có quán tưởng), như vậy không thành tựu công đức. Tắm Phật chính là tắm ta, làm Phật tính bên trong chúng ta được hiển bày.
TT- QUẢNG TÁNH

Ý NGHĨA CỦA TUYÊN NGÔN “DUY NGÃ ĐỘC TÔN”HỎI :Nhân mùa Phật đản, chúng tôi đến các chùa chiêm bái lễ đài đều gặp câu “Thi...
22/05/2026

Ý NGHĨA CỦA TUYÊN NGÔN
“DUY NGÃ ĐỘC TÔN”
HỎI :
Nhân mùa Phật đản, chúng tôi đến các chùa chiêm bái lễ đài đều gặp câu “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” nhưng khi hỏi về ý nghĩa thì được các thầy và Phật tử trả lời khác nhau. Vậy xin cho biết ý nghĩa tinh túy của lời dạy trên?
ĐÁP :
“Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” là câu kệ nổi tiếng được Phật sơ sanh tuyên bố khi Ngài đản sanh. Vào đời, Ngài bước đi bảy bước, ngoảnh mặt nhìn sáu phương, bước cuối cùng dừng lại, tay chỉ lên trời tay chỉ xuống đất nói rằng “Trên trời, dưới trời chỉ mình Ta là tôn quý nhất”.
Nguyên văn lời tuyên bố này, được ghi chép lại trong rất nhiều kinh điển thuộc Hán tạng. Còn ý nghĩa tương đương cũng được ghi lại trong rất nhiều kinh điển Pali tạng. Theo kinh Trường A Hàm I, kinh Đại Bổn Duyên, ghi: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn. Duy ngã vi tôn, yếu độ chúng sanh, sanh lão bệnh tử” (Trên trời dưới trời chỉ mình Ta là tôn quý. Việc cần yếu của Ta là độ chúng sanh thoát ly sanh già bệnh chết).
Kinh Tu Hành Bản Khởi ghi: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn. Tam giới vi khổ, ngô đương an chi” (Trên trời dưới trời chỉ có Ta là tôn quý nhất. Ba cõi đều khổ, Ta sẽ làm cho chúng sanh an lạc – Đại Chính Tân Tu [ĐCTT], T3, tr 463C).
Kinh Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi, quyển Thượng chép: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã vi tôn. Tam giới giai khổ, hà khả lạc giả?” (Trên trời dưới trời chỉ có Ta là tôn quý nhất. Ba cõi đều khổ, ai là người có thể đem lại sự an lạc? – ĐCTT, T3, tr 473C).
Kinh Phổ Diệu nói: “Thiên thượng thiên hạ vi thiên nhân tôn” (Trên trời dưới trời Ta là bậc tôn quý của trời và người – ĐCTT, T3, tr 494A). Kinh Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi thuật: “Thiên thượng thiên hạ, tôn vô quá ngã giả” (Trên trời dưới trời bậc tôn quý nhất không ai bằng Ta – ĐCTT, T3, tr.618A). Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả “Ngã ư nhất thiết thiên nhân chi trung tối tôn tối thắng. Vô lượng sanh tử ư kim tận hỷ” (Ta, đối với tất cả hàng trời người là bậc tối tôn tối thắng. Vô lượng sanh tử từ nay chấm dứt – ĐCTT, T3, tr 625A). Kinh Phật Bản Hạnh Tập “Thế gian chi trung, ngã vi tối thượng. Ngã tùng kim nhật, sanh phần dĩ tận” (Ở trong thế gian, Ta là bậc cao nhất. Từ nay, việc sanh tử của Ta đã đoạn tận – ĐCTT, T3, tr 687B). Ngoài ra, còn nhiều kinh sử khác như: Phật Sở Hành Tán (ĐCTT, T4, tr 1B), Đại Đường Tây Vực Ký (q.6), Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (q.20) v.v… đều có thuật lại sự kiện Đản sanh. Tuy có khác biệt đôi chút về phần cuối kệ tụng này giữa những kinh điển song đa phần vẫn thống nhất ở phần đầu kệ: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”.
Về ý nghĩa của câu “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” thường được hiểu theo hai phương diện cơ bản như sau:
Thứ nhất, “Duy ngã độc tôn” chỉ đơn thuần là khẳng định, xác chứng một sự thật của người đã thành tựu giải thoát tối hậu. Ngài khẳng định cho chúng sanh trong ba cõi rằng Ngài đã đoạn tận phiền não, hoàn toàn giải thoát, là bậc thù thắng nhất, bậc tôn quý nhất ở thế gian, không có chúng sanh nào có thể sánh với phước đức và trí tuệ của bậc Như Lai. “Duy ngã độc tôn” nên được hiểu là Như lai và giáo pháp của Như Lai là tôn quý bậc nhất, không ai có thể vượt thắng, không gì có thể so sánh. “Một người, này các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác” (Kinh Tăng Chi Bộ I, phẩm Một người). Tuy có “Duy ngã độc tôn” nhưng hoàn toàn vắng mặt cái Ta, chấp ngã vì Ngài đã thành tựu tuệ giác vô ngã.
Thứ hai, có thể diễn dịch “Duy ngã độc tôn” là một sự khám phá toàn triệt về tự ngã. Vì vô minh, bị trói buộc và sai khiến của tự ngã nên chúng sanh mãi chìm đắm, trôi lăn trong sáu đường sanh tử. Nên khi thành Đạo, Ngài đã tuyên bố: “Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Hỡi kẻ làm nhà, nay ta đã gặp ngươi rồi, ngươi không thể làm nhà được nữa. Cột, đòn tay, xà nhà của ngươi đã tan vụn rồi...” (Kinh Pháp Cú – kệ.154). Kẻ làm nhà tham ái, chấp ngã (duy ngã độc tôn) xây nên căn nhà ngũ uẩn với chằng chịt phiền não đã bị khám phá và chinh phục.
Như vậy, “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” không hề mang ý nghĩa tự tôn, cao hạ. Đó là sự khẳng định và xác chứng quả vị giải thoát tối hậu, sự khám phá và chinh phục tự ngã của Đức Phật đồng thời đó là biểu hiện từ bi vô lượng nhằm độ thoát chúng sanh.
TT- QUẢNG TÁNH

Ý NGHĨA BẢY BƯỚC SEN VÀNG THEO KINH ƯU-BÀ-DI PHÁP MÔN TỊNH HẠNHBảy đóa sen vàng nâng gót ngọc là một thông điệp vĩ đại v...
22/05/2026

Ý NGHĨA BẢY BƯỚC SEN VÀNG
THEO KINH ƯU-BÀ-DI PHÁP MÔN TỊNH HẠNH
Bảy đóa sen vàng nâng gót ngọc là một thông điệp vĩ đại về tiến trình thành tựu Vô Thượng Giác của chính Thế Tôn và tất cả chúng ta, những người con Phật.
Phật ra đời, bước đi trên bảy đóa sen, ngước nhìn sáu phương, buớc cuối cùng dừng lại tuyên bố, xác quyết sự thành tựu Vô Thượng Giác, “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”. Vào đời với bảy bước chân trí tuệ, từ bi, an lạc, vô nhiễm, chẳng dính chút bụi trần là một định pháp mà ba đời mười phương chư Phật đã đi qua, Đức Thế Tôn cũng đã đi qua và những người con Phật sẽ phải đi qua để đạt đến Giác ngộ.
Theo kinh Ưu-Bà-Di Pháp Môn Tịnh Hạnh (Đại Chánh Tân Tu, kinh số 0579), phẩm Thụy Ứng, Bồ-tát đản sanh, bước đi 7 bước, ngoảnh mặt nhìn 6 phương:
CON SỐ 7 BƯỚC:
Kinh văn: “Này Tỳ Xá Khư ! Khi Bồ tát sanh thì đi bảy bước, vì Bồ tát đắc bảy đạo Bồ đề”. Bảy đạo Bồ đề hay thất Bồ đề phần gồm: Trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả.
7 BƯỚC VÀ 6 PHƯƠNG:
Bước 1. Phương Đông
Bước thứ nhất nhìn về phương Đông, vì chúng sanh mà làm Bậc dẫn đường tối thượng. Phương Đông, nơi phát xuất bình minh tuệ giác. Chúng sanh từ nơi tăm tối của dục vọng, vô minh muốn cất bước chân đầu tiên vào đạo lộ giải thoát phải nương theo tuệ giác, tiếp nhận ánh sáng Tam bảo để hoàn thiện nhân cách. Muốn vậy, phải kiện toàn đạo đức, tri thức thông qua học hỏi, suy nghiệm và thực hành Chánh pháp. Trước khi trở thành thánh nhân, phải nỗ lực để sống xứng đáng là một con người. Do vậy, tu tập Nhân thừa chính là bước chân đầu tiên. Bước chân nầy phải đặt trên hoa sen mới đúng nghĩa và trọn vẹn.
Bước 2. Phương Nam
Cất bước thứ hai, Ngài nhìn về phương Nam thanh lương, vì chúng sanh làm ruộng phước mát mẻ. Thế Tôn đã vì chúng sanh nguyện làm ruộng phước màu mỡ để cho mọi người gieo trồng phước đức. Trong các ruộng phước thì Tam bảo là ruộng phước tốt nhất cho hạt giống trí tuệ, từ bi và giải thoát đâm chồi nẩy lộc. Vì thế, khi đã vững trong địa vị Nhân thừa, người con Phật tiếp tục nương tựa Tam bảo để chuyển hóa nghiệp lực, tu tạo phước điền, trang nghiêm phước báo cho tự thân. Phật là Đấng Phước Trí nhị nghiêm, học theo Phật thì việc thực hành chuyển hóa nghiệp ác của thân, miệng, ý thành nghiệp thiện nhằm vun bồi công đức là điều tối cần. Đây chính là giai đoạn tu tập của hàng Thiên thừa, dứt ác hành thiện, chuyển hóa mười nghiệp ác thành mười nghiệp lành. Bước chân thứ hai này là sự kế tục của bước chân thứ nhất, từ nền tảng quy y Tam bảo, thọ trì năm giới tiến lên tu mười nghiệp thiện. Đến đây, người con Phật đã đi được chặng đường ‘không làm các điều ác, chỉ làm các việc lành’.
Bước 3. Phương Tây
Dù đã chuyển hóa nghiệp ác nhưng muốn đoạn trừ hoàn toàn cội rễ phiền não, vô minh thì người con Phật cần phải nỗ lực mạnh mẽ hơn. Vì thế, Ngài cất bước thứ ba, nhìn về hướng Tây chỉ cho chúng sanh thấy rằng đây là thân cuối cùng, chấm dứt sự sanh tử. Từ chuyển hóa nghiệp hướng đến chấm dứt nghiệp, thoát ly sanh tử là nội dung tu tập của bước chân thứ ba. Phương Tây là phương mặt trời lặn, hướng về sự vắng lặng, thanh tịnh, tịch diệt. Tâm phải nương vào thiền định, tập trung về một mối, định tĩnh, tịch tịnh hoàn toàn. Đây là bước chân của hàng Thanh văn thừa, những bậc Thánh hướng đến thoát ly sanh tử. Nỗ lực thiền định, phối hợp nhịp nhàng giữa chỉ và quán, hướng tâm đến bất động, phát huy thiền quán duyên sinh để thân chứng vô ngã tính của thân tâm và vạn pháp, thành tựu Tam vô lậu học, phá tan vô minh, chứng đắc A la hán.
Bước 4. Phương Bắc
Bước chân thứ tư là mở đầu cho hạnh nguyện độ tha, Ngài nhìn về phương Bắc lạnh lẽo, tối tăm, vì chúng sanh mà khai mở tuệ giác tối thượng. Khi đã giải thoát sanh tử, vì chúng sanh khổ đau nên Bồ-tát không an trú Niết-bàn mà phát khởi bi nguyện nhập thế. Bồ-tát đi vào cuộc đời tăm tối vô minh, mịt mờ tham ái nhưng chẳng dính chút bụi trần, vững bước thong d**g trên hoa sen bất nhiễm. Vận dụng vô lượng phương tiện thiện xảo để cứu độ chúng sanh, trong đó quan trọng nhất là chỉ rõ rằng, con người có khả năng giác ngộ ngay trong cuộc đời này. Mỗi chúng ta ai cũng có Phật tánh và đầy đủ khả năng thành Phật. Chúng sanh vì vô minh sâu dày nên không đủ căn lành tin vào tâm giác ngộ vốn sẵn có nơi mình. Vì thế, thị hiện sự chứng đắc tuệ giác vô thượng trong đời sống ô trược là một minh chứng hùng hồn nhất cho khả tính giác ngộ. Dẫu rằng đạt đến giác ngộ không phải là điều có thể thành tựu trong một sớm một chiều mà có thể trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp mới đến ngày công viên quả mãn. Song việc đánh thức niềm tự tín giải thoát để chúng sanh tự mình thắp đuốc lên mà đi, để thấy rằng Như Lai là Phật đã thành, chúng ta là Phật sẽ thành là bi nguyện vĩ đại của Bậc Giác ngộ.
Bước 5. Phương Dưới
Tiếp tục dấn thân làm lợi ích cho hữu tình, cất bước chân thứ năm-bước chân hoa sen trong biển lửa, nhìn xuống phương Dưới vì chúng sanh hàng phục chướng ma. Phương dưới vốn thấp kém, quả báo của những chúng sanh ấy chịu nhiều đau khổ, nên cang cường, hung dữ, ác độc cố chấp, ti tiện, hẹp hòi... Vì thế, ma chướng rất cần được soi sáng và thương yêu, tưới tẩm cam lộ. Nguyện hàng phục chúng ma nhưng thực ra chỉ cần đem trí tuệ và tình thương đến cho họ mà thôi. Sự khổ đau rất đa dạng, trùng điệp. Khổ đau làm cho tâm hồn tăm tối và thân phận càng bi đát hơn. Vì thế, càng đau khổ đến tột cùng thì oán thù càng chồng chất và sự đày đọa thêm chập chùng, vô tận. Muốn hàng ma phải đi vào những nơi đau khổ, tối tăm, đầy hiểm nạn và nhờ đó tuệ giác, bản lĩnh, công hạnh của Bồ-tát mới thậm thâm. Bồ-tát Quán Âm tầm thanh cứu khổ, nơi nào có tiếng kêu than bất hạnh thì Ngài tìm đến. Bồ-tát Địa Tạng nguyện khi nào chúng sanh không còn bị đày đọa trong địa ngục thì Ngài mới an trú Niết bàn.
Bước 6. Phương Trên
Bước chân thứ sáu, nhìn lên phương Trên vì chúng sanh làm chỗ nương tựa cho trời người. Khi đã dẹp yên ma oán, độ được những thành phần thấp kém khó độ thì hướng về những đối tượng cao hơn, có trí thức, hiểu biết và nhiều phước báo. Trời người là những chúng sanh có phước, ít đau khổ hơn so với tam đồ, ác đạo. Song, nếu không tích lũy và phát triển phước báo của mình bằng tu tập theo Chánh pháp thì phước đức sẽ hết và sẽ bị đọa lạc như thường. Mặt khác, dẫu có phước báo nhưng vẫn bị vô minh chi phối, tham ái ràng buộc, phiền não hoành hành. Vì thế, trời người cần nương tựa Tam bảo, tiếp nhận ánh sáng giác ngộ, phát huy tuệ giác vô ngã để ‘an trú tâm và hàng phục tâm’, hướng vế giải thoát tối hậu. Trong sáu cõi thì trời người có nhiếu cơ hội thực hành Chánh pháp và thăng hoa tâm linh hơn các loài khác. Nương tựa Tam bảo, trời người tìm ra con đường nương tựa chính mình để tự mình thắp đuốc lên mà đi.
Bước 7. Tay chỉ trời, tay chỉ đất
Khi đã tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn thì đó là thời điểm công viên quả mãn, thành Phật. Vì thế, bước chân thứ bảy là bước chân cuối cùng, công hạnh tự lợi và lợi tha đã tròn đầy, Ngài tuyên bố: ‘Ta là bậc đã tôn quý và tối thắng trong thế gian’. Đối với chúng sanh trong ba cõi, bất kỳ ai tu tập đạt đến viên mãn tự lợi và lợi tha là Bậc tôn quý nhất, thù thắng nhất. ‘Một người, này các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có đặt ngang bằng, Bậc tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la- hán, Chánh Đẳng Giác’ (Kinh Tăng Chi Bộ I, phẩm Một người).
Thế Tôn đã đi qua bảy bước sen để thành Phật. Chúng ta, những người con Phật hiện đang đi và sẽ đi theo bảy bước chân ấy. Nguyện theo dấu chân xưa, thực hành tự độ và độ tha cho đến ngày công viên quả mãn, Mùa Phật đản về, hình ảnh Bảy đóa sen vàng nâng gót ngọc có mặt khắp nơi, gợi lên cho mỗi người con Phật niềm tự tín giác ngộ của tự thân. Chúng ta cũng đang bước chân trên hoa sen bằng sự nỗ lực tu tập, ứng dụng lời Phật dạy vào trong đời sống hằng ngày để từng bước thành tựu giải thoát, an vui cho chính mình và mọi người.
TT- QUẢNG TÁNH

Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Dương Minh Dũng thăm, chúc mừng Đại lễ Phật đản chùa Long Phước Thọ.🌾Nhân dịp ...
21/05/2026

Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Dương Minh Dũng thăm, chúc mừng Đại lễ Phật đản chùa Long Phước Thọ.
🌾Nhân dịp Đại lễ Phật đản năm 2026 - Phật lịch 2570, sáng 21-5, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Dương Minh Dũng đã tới thăm và chúc mừng Hoà thượng Thích Thiện Thảo, Chứng minh ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố, viện chủ chùa Long Phước Thọ, Trưởng Ban Quản Trị Tông phong Tịnh Độ Non Bồng.
🪷Tại Long Phước Thọ, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Dương Minh Dũng gửi lời chúc mừng Đại lễ Phật đản an lành, hoan hỷ đến Hoà thượng, cùng chư Tôn đức tăng, ni và đồng bào phật tử. Đồng thời thông tin về những kết quả nổi bật mà Đồng Nai đạt được trong năm 2025 và những tháng đầu năm 2026.

🪷Với tinh thần đoàn kết và quyết tâm cao, thành phố Đồng Nai đã đạt được những thành tựu toàn diện trên mọi lĩnh vực. Kinh tế duy trì đà tăng trưởng ổn định; văn hóa - xã hội phát triển hài hòa; quốc phòng - an ninh được giữ vững; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được tôn trọng và bảo đảm.

🌾Đặc biệt, từ ngày 30-4-2026, Đồng Nai chính thức trở thành thành phố thứ 7 của cả nước, là một mốc son trong lịch sử phát triển, khẳng định vị thế và tầm vóc mới của địa phương trên bản đồ phát triển quốc gia. Đây không chỉ là niềm tự hào về một đô thị hiện đại, mà còn là cửa ngõ, cực tăng trưởng chủ chốt, khơi dậy khát vọng và sức mạnh tổng hợp để Đồng Nai vững vàng bước vào kỷ nguyên mới. Trong hành trình đầy tự hào đó, có sự đóng góp đầy tâm huyết, trách nhiệm và tinh thần "phụng sự" của quý chư Tôn đức giáo phẩm, tăng, ni và toàn thể đồng bào phật tử thành phố.

🌸Mùa Phật đản năm nay càng thêm ý nghĩa khi diễn ra trong không khí phấn khởi của những ngày kỷ niệm lịch sử, kỷ niệm 45 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam và thành công tốt đẹp của Đại hội đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đồng Nai lần thứ I (nay là thành phố Đồng Nai).

🌾Hòa trong niềm vui chung đó, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Dương Minh Dũng đã dự lễ Tắm Phật cầu nguyện hoà bình đất nước và thành phố Đồng Nai, tin tưởng chư Tôn đức tăng, ni và đồng bào phật tử tiếp tục kiên định phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”; phát huy truyền thống “Hộ quốc, an dân”, chung sức đồng lòng cùng chính quyền và nhân dân xây dựng thành phố Đồng Nai văn minh - hiện đại - nghĩa tình - hạnh phúc.

PHẬT ĐẢN SINH ĐƯA TAY NÀO CHỈ TRỜI, TAY NÀO CHỈ ĐẤT?HỎI: Vừa qua, tôi nghe một vị thầy nói rằng, tượng Phật đản sinh đưa...
20/05/2026

PHẬT ĐẢN SINH ĐƯA TAY NÀO CHỈ TRỜI,
TAY NÀO CHỈ ĐẤT?
HỎI: Vừa qua, tôi nghe một vị thầy nói rằng, tượng Phật đản sinh đưa tay phải hay tay trái chỉ trời (đất) đều được. Thứ nhất, vì trong kinh không nói rõ Phật đản sinh đưa tay nào mà chỉ nói chung là “một tay chỉ trời, một tay chỉ đất” mà thôi. Thứ hai, do ảnh hưởng văn hóa của từng khu vực (Ấn Độ, Trung Hoa) mà tượng Phật đản sinh có biểu tướng đưa tay phải hay tay trái. Vậy điều đó có đúng không?
(HẠNH GIẢI, Trường Sa, Tân Bình, TP.HCM)
ĐÁP:
Bạn Hạnh Giải thân mến!
Đúng là có khá nhiều bản kinh ghi lại sự kiện Phật đản sinh, trong đó không nói cụ thể Phật sơ sinh đưa tay nào lên mà chỉ nói chung chung là “một tay chỉ trời, một tay chỉ đất”. Tuy nhiên, tra cứu kinh tạng (Hán tạng-Bắc truyền), chúng tôi tìm thấy có ít nhất ba bản kinh và một bộ Từ điển Phật học xác định Đức Phật sơ sinh đưa tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất.
1. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi (ĐTK/ĐCTT, T3, tr.473C), do cư sĩ Chi Khiêm dịch vào đời Đông Ngô (222-280) gồm 2 quyển. Nơi quyển 1, đoạn thuật lại ngày Đản sinh của Đức Phật ghi: “… Tức hành thất bộ, cử hữu thủ trụ nhi ngôn: Thiên thượng thiên hạ duy ngã vi tôn. Tam giới giai khổ hà khả lạc giả?”. (... Thái tử liền đi bảy bước, giơ tay phải lên, dừng lại và nói: Trên trời dưới trời, chỉ có Ta là tôn quý. Ba cõi đều khổ, ai là người có thể đem lại sự an lạc?).
2. Kinh Dị xuất Bồ-tát bản khởi (ĐTK/ĐCTT, T3, tr.618A), do cư sĩ Nhiếp Đạo Chân dịch vào đời Tây Tấn, ghi: “… Tùng mẫu hữu hiếp sinh, trụy địa, hành thất bộ chi trung, cử túc cao tứ thốn, túc bất đạp địa, tức phục cử hữu thủ ngôn: Thiên thượng thiên hạ, tôn vô quá ngã giả”. (... Từ nơi hông bên phải của mẹ sinh ra, chạm đất, trong khi đi bảy bước, chân cất cao đến bốn tấc, không đạp đất, lại giơ cao tay phải nói: Trên trời dưới trời, bậc tôn quý nhất không ai hơn Ta).
3. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả (ĐTK/ĐCTT, T3, tr.625A), do Đại sư Cầu-sa-bạt-đà-la, dịch vào đời Lưu Tống (420-478), viết: “Bồ-tát tiệm tiệm tùng hữu hiếp xuất... Vô phù thị giả, tự hành thất bộ, cử kỳ hữu thủ, nhi sư tử hống: Ngã ư nhất thiết thiên nhân chi trung tối tôn tối thắng. Vô lượng sinh tử ư kim tận hỷ”. (Bồ-tát dần dần từ nơi hông bên phải sinh ra... không người vịn đỡ, tự đi bảy bước, giơ cao tay phải, lời nói như tiếng sư tử gầm: Ta, đối với tất cả hàng Trời, Người, là bậc tối tôn tối thắng. Vô lượng nẻo sinh tử từ nay sẽ dứt sạch).
4. Phật Quang Đại từ điển, mục Đản sinh kệ, ghi: “Khi Đức Thích Tôn đản sinh, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất, nói bốn câu kệ…”. Đặc biệt, mục Đản sinh Phật, tượng Phật đản sinh được thiết định với biểu tướng và kích thước cụ thể: Cũng gọi Đản sinh tượng, Đản Phật tượng, Phật giáng sinh tượng, Quán Phật tượng. Tượng Đức Thích Ca bằng đồng được tắm gội trong ngày Phật đản. Hình tượng là tượng đứng, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất, phần nhiều cao khoảng 25cm (Kinh Trường A-hàm q.1; kinh Dị xuất Bồ-tát bản khởi; kinh Phổ diệu q.2).
Rõ ràng là có kinh-điển xác định Phật sơ sinh đưa tay phải chỉ trời. Dù thực tế được ghi nhận là khá nhiều pho tượng Phật đản sinh đưa tay trái chỉ trời có từ xa xưa. Ngày nay, dòng tượng này cũng tiếp tục được chế tác và phát hành. Có điều, hiện chúng tôi chưa tìm được bản kinh nào ghi nhận Phật sơ sinh đưa tay trái lên chỉ trời. Nên qua những bộ kinh-điển mà chúng tôi đã trưng dẫn, có thể xem đó là cơ sở quan trọng để thiết định biểu tướng “tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất” lúc thị hiện Đản sinh của Đức Phật.
TT- QUẢNG TÁNH

BÀI KỆ ĐẢN SANH NÀO LÀ ĐÚNG NHẤT?HỎI:Tìm hiểu về “tuyên ngôn” Phật Đản sanh, chúng tôi thấy đồng nhất nơi hai câu đầu: “...
19/05/2026

BÀI KỆ ĐẢN SANH NÀO LÀ ĐÚNG NHẤT?
HỎI:
Tìm hiểu về “tuyên ngôn” Phật Đản sanh, chúng tôi thấy đồng nhất nơi hai câu đầu: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Tuy nhiên, còn hai câu sau của bài kệ này thì mỗi người dẫn một khác, đơn cử như: “Ngã tùng kim nhật, sanh phần dĩ tận” hay “Vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ”. Xin cho biết câu nào thực sự chính xác nhất.
ĐÁP:
Nói về bài kệ Đản sanh, tức “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, vô lượng sanh tử, ư kim tận hỉ” có khá nhiều chi tiết cần phải bàn, vì các tư liệu ghi chép lại không đồng nhất. Ngày nay, tuyên bố “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, mặc nhiên được xem là Phật ngôn phổ biến, thông dụng nhất. Thực tế cho thấy, khi nói về “tuyên ngôn” Phật Đản sanh hay trên các lễ đài Phật đản đều dùng “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”.
Thế nhưng, tra cứu kinh tạng, chúng tôi thấy hầu hết trong các kinh điển Hán tạng rất ít (hoặc không) dùng “duy ngã độc tôn” mà chủ yếu là “duy ngã vi tôn”. Đơn cử như: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn” (Đại Chính, Trường A Hàm I); “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn” (Đại Chính, Kinh Tu Hành Bản Khởi, q1); “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn” (Đại Chính, Kinh Thái Tử Thuỵ Ứng Bản Khởi, q1); “Thiên thượng thiên hạ, tôn vô quá ngã giả” (Đại Chính, Kinh Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi) v.v…
Cũng trong Đại Chính, “Duy ngã độc tôn” lại được tìm thấy trong Sử truyện như Phật Tổ Thống Kỷ (q34), Đại Đường Tây Vực Ký (q6) và Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (q22)… Ngay cả Phật Quang Đại Từ Điển, mục “Duy ngã độc tôn” cho rằng được dẫn trong Kinh Trường A Hàm, nhưng thực tế kinh này chủ yếu nói “duy ngã vi tôn”. Đành rằng “duy ngã độc tôn” và “duy ngã vi tôn” về ý nghĩa không mấy khác nhau, song cụm từ “duy ngã độc tôn” mà chúng ta dùng phổ biến hiện nay có thể ảnh hưởng từ tinh thần của Sử truyện như đã dẫn.
Hai câu kệ đầu đã có đôi chút khác biệt, hai câu kệ kế tiếp lại càng dị biệt khi đối chiếu giữa các kinh văn. Theo Đại Chính, “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, tam giới giai khổ, hà giả hà lạc” (Kinh Thái Tử Thuỵ Ứng Bản Khởi, q1); “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, yếu độ chúng sanh, sanh lão bệnh tử” (Trường A Hàm I); “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, tam giới giai khổ, ngô đương an chi” (Kinh Tu Hành Bản Khởi, q1); “Thiên thượng thiên hạ, vi thiên nhân tôn, đoạn sanh tử khổ, tam giới vô thượng…” (Kinh Phổ Diệu); “ Ngã ư nhất thiết nhân thiên chi trung tối tôn tối thắng. Vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ” (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả, q1); “Thế gian chi trung, ngã vi tối thượng, ngã tùng kim nhật, sanh phần dĩ tận” ( Kinh Phật Bản Hạnh Tập, q8) v.v và v.v…
Như vậy, hai câu cuối của bài kệ Đản sanh có vô vàn sự khác biệt về văn tự, nội dung và ý nghĩa. Sự phong phú này (như đã dẫn) nhằm tôn vinh, ca ngợi sự hy hữu, thù thắng của sự kiện Phật Đản sanh. Do đó, khi trích dẫn bài kệ Đản sanh, theo chúng tôi, tuỳ theo mỗi kinh văn mà chúng ta có một bài kệ khác nhau, bài kệ nào cũng đúng cả (nếu trích dẫn chính xác). Ngoài ra không có một bài kệ nào thuộc loại “chính xác nhất” như các bạn đã nêu.
TT- QUẢNG TÁNH

Address

ấp 5, Đường Bàu Cạn, Long Phước
Long Thành
76217

Opening Hours

Monday 05:00 - 20:30
Tuesday 05:00 - 20:30
Wednesday 05:00 - 20:30
Thursday 05:00 - 20:30
Friday 05:00 - 20:30
Saturday 05:00 - 20:30
Sunday 05:00 - 20:30

Telephone

+842513558753

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when CHÙA LONG PHƯỚC THỌ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to CHÙA LONG PHƯỚC THỌ:

Share