Chùa Quảng Đức - La Gi

Chùa Quảng Đức - La Gi Chùa Quảng Đức La Gi là một trong những ngôi chùa lâu đời nhất tại thị xã La Gi thuộc tỉnh Bình Thuận

Chùa Quảng Đức Lagi là một trong những ngôi chùa lâu đời nhất tại thị xã La Gi thuộc tỉnh Bình Thuận

MỖI NGÀY MỘT CÂU KINH197. Vui thay, chúng ta sống,Không hận, giữa hận thù!Giữa những người thù hận,Ta sống, không hận th...
22/08/2026

MỖI NGÀY MỘT CÂU KINH

197. Vui thay, chúng ta sống,
Không hận, giữa hận thù!
Giữa những người thù hận,
Ta sống, không hận thù!

Kinh Pháp Cú - Phẩm AN LẠC.
(Bản dịch: HT. Thích Minh Châu).

Duyên do Phật nói Pháp cú này cũng như hai Pháp cú liên tiếp 198 và 199, có liên quan đến câu chuyện tranh chấp giữa hai lân bang.

Dân cư trong thành Ca tỳ la vệ và dân cư trong thành Câu lợi (Koliya) có cùng một con sông. Hai bên vì tranh chấp nước trong con sông nầy mà sanh ra tranh giành ấu đả với nhau. Từ việc nhỏ giữa cá nhân, lan rộng đến dân làng và rồi đến cả hai quốc gia. Không ai chịu nhường nhịn ai. Thế là hai nước láng giềng định xua quân đánh nhau. Biết thế, Phật liền dùng thần lực đến can gián. Nhờ sự can thiệp của đức Phật kịp thời, nên hai bên mới chịu hòa giải nhau. Nhân đó, Phật dạy cho họ nghe về những Pháp cú nói trên.

Sống trong một thế giới đầy hận thù tranh chấp, mà ta sống không hận thù, đó là một hạnh phúc rất lớn. Đức Phật là một tấm gương sáng nêu cao tình thương, để mọi người noi gương. Phật thường khuyên dạy: “Chỉ có từ bi mới xóa tan hóa giải được mọi tranh chấp hận thù”.

Câu chuyện lược dẫn trên, chỉ vì tranh chấp với nhau một con sông mà đưa đến hai lân bang sắp sửa đánh nhau. Nếu không có bậc trí huệ sáng suốt như đức Phật kịp thời đến giảng hòa ngăn chặn, thì hậu quả sẽ xảy ra một cuộc chiến tranh tàn sát đẫm máu. Hai bên dân làng từ thương yêu nhau, trở thành đối nghịch thù hận nhau. Việc tuy nhỏ, nhưng không khéo giải quyết sẽ thành lớn chuyện.

Như hai nhà sống sát vách nhau, tương giao qua lại rất thâm tình, nhưng chỉ vì tranh chấp hơn thua với nhau có một tấm vách chung mà phải gây gổ cãi vã và rồi ấu đả nhau. Kết quả, kẻ thì vào nhà thương, người thì bị ngồi tù. Thế mới biết lòng sân hận của con người thật là ghê gớm!

Mới đầu khởi lên, chỉ như một đốm lửa nhỏ, nhưng nếu hai bên không khéo dập tắt, thì nó sẽ trở thành một đám cháy to. Mối thân tình gầy dựng với nhau rất lâu, chỉ trong phút chốc không dằn được cơn giận mà nó tan biến trở thành mây khói. Từ đó, hai nhà trở thành thù hận với nhau. Họ ra vô không ngó mặt nhau. Hận thù cứ mãi ngấm ngầm trong lòng mỗi người. Nó đốt cháy tàn phá ghê gớm!

Mỗi người ôm ấp một mối hận khổ mà không ai gỡ ra được. Ra vô không nhìn mặt nhau. Đó là thêm cái khổ oán ghét gặp nhau. Sống gần nhau làm sao tránh khỏi gặp nhau. Muốn hóa giải hận thù và tránh nỗi khổ đau đó, Phật dạy chỉ có một cách giải quyết là mỗi người trong cuộc nên chuyển hóa hạt giống sân hận, rộng lượng cởi mở tấm lòng, tìm hiểu rõ nguyên nhân xảy ra, rồi cùng nhau ngồi lại bàn giải, tìm cách giải quyết cho ổn thỏa êm đẹp. Ai gây ra lỗi trước thì thành thật xin lỗi. Và người kia cũng phải rộng lòng cởi mở tha thứ. Và mỗi người nên hiểu, thương yêu thông cảm nhau hơn.

Chỉ có thế, mới chấm dứt hận thù khổ đau mà thôi. Ngoài ra, không có một phép lạ nào khác. Chúng ta cột nhau lại, thì chính chúng ta cũng phải tự cởi ra. Không ai cột trói và mở ra cho mình được. Hơn ai hết, người Phật tử phải sống có trí huệ và tình thương. Đó là hai yếu tố xây dựng hạnh phúc cho nhau trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Thiếu hai yếu tố này, đời sống của chúng ta thật là đau khổ.

Một khi lửa sân hận nổi lên, nhỏ thì đốt cháy cá nhân với cá nhân, lớn thì đoàn thể với đoàn thể, lớn nữa thì quốc gia với quốc gia. Hận thù không những xảy ra cho người đời không thôi, mà ngay cả trong lãnh vực tôn giáo vẫn xảy ra. Và xảy ra một cách rất thê thảm trầm trọng. Đó là chiến tranh tôn giáo mà lịch sử đã chứng minh. Một cuộc chiến tranh chỉ vì hận thù truyền kiếp mà gây ra cảnh tàn sát nhau khốc liệt. Cho đến nay, hận thù này vẫn còn âm ỉ cháy hoài và chưa biết đến bao giờ mới thực sự dập tắt hẳn.

Pháp cú trên, Phật dạy người Phật tử sống không nên gây thù oán. Sống không có thù oán là cuộc sống được an vui giải thoát. Đi đâu cũng không sợ ai hãm hại, vì mình không gây thù oán với ai. Lỡ gây ra làm phiền ai, bằng lời nói hay hành động, chúng ta lập tức xin lỗi hóa giải ngay. Không nên để trong lòng của mình và người có mầm mống phiền não không vui. Đó là ta khéo dùng trí huệ và tình thương để xóa bỏ hận thù.

Trong đời sống hằng ngày, ít nhiều gì ta cũng có gây ra cho người khó chịu. Ta chỉ cần khéo xử sự trong khi giao tiếp, thì mọi việc sẽ không gây ra tác hại. Đừng khinh thường việc ác nhỏ, chính nó sẽ gây ra lớn chuyện sau này. Nghe theo lời Phật dạy, ta cố gắng dẹp bớt lòng tự ái vị kỷ, để mở rộng tấm lòng bao dung, rộng lượng, thương người. Có hiểu, thương, mới có cảm thông nhau. Và như thế là ta đã gieo hạt giống hạnh phúc cho ta và người. Hãy tưới tẩm hạt giống tình thương, hỷ xả cho ta mỗi ngày mỗi thêm lớn. Có thế, thì ta mới thực sự có cuộc sống hạnh phúc. Rồi từ đó, ta mang hạnh phúc gieo rắc đến cho mọi người.

Câu kinh suy niệm trong ngày!

P/s: Tổ truyền thông Quảng Đức cung kính góp nhặt và chia sẻ.

💙 🙏 💙

CHUYỆN ĐẠI SUTASOMA (P4)(Tiền thân Mahà-Sutasoma)(Tiếp theo)  Chuyện Nam tử Bà-la-môn.Ngày xưa cũng tại chính trong kinh...
22/08/2026

CHUYỆN ĐẠI SUTASOMA (P4)
(Tiền thân Mahà-Sutasoma)

(Tiếp theo) Chuyện Nam tử Bà-la-môn.
Ngày xưa cũng tại chính trong kinh thành Ba-la-nại này có một gia đình Bà-la-môn tuân hành Ngũ giới. Nhà này chỉ sinh được một con trai độc nhất nên được cha mẹ yêu quý và là niềm vui của hai thân, một cậu trai thông minh, am hiểu thấu suốt ba tập Vệ-đà.

Cậu thường đi chu du cùng đám thanh niên đồng tuổi với cậu. Các người kia trong đám ấy thường ăn cá thịt cùng các thức tương tự và uống rượu mạnh. Còn cậu trai này không ăn thịt cũng không uống rượu mạnh. Chúng bạn chợt suy nghĩ: "Thằng bé này vì không uống rượu mạnh nên không phải trả tiền, ta phải lập mưu bắt nó uống mới được".

Thế rồi bọn chúng tụ tập nhau lại, bảo:
- Này hiền hữu, chúng ta hãy tổ chức đám hội.
Cậu đáp:
- Các bạn uống rượu mạnh nhưng ta thì không, vậy các bạn cứ đi mà không có ta.
- Này hiền hữu, ta sẽ lấy sữa để bạn uống.
Cậu đồng ý nói:
- Ðược rồi.
Bọn trai lêu lổng ấy ra vườn lấy một ít rượu mạnh buộc vào một ngọn lá làm thành cái chén và đặt nó giữa đám lá sen. Thế rồi khi họ bắt đầu uống, họ cho cậu trai một ít sữa. Một tên ranh mãnh trong bọn kêu lớn:
- Hãy đem cho ta một ít mật hoa sen.
Sau khi đã bảo đem mật ấy vào, y đục một lỗ dưới đáy ngọn lá nằm giữa đám sen kia và đưa lên miệng hút vào. Bọn kia cũng bảo đem một ít cho họ uống. Cậu trai hỏi đó là thức gì, và uống một ít rượu mạnh cứ tưởng đó là mật hoa sen.

Sau đó họ lại đưa cho cậu một ít thịt hầm và cậu cũng ăn luôn.
Khi cậu đã say vì uống nhiều ngụm rượu liên tiếp họ bảo cậu:
- Ðây không phải mật hoa sen đâu. Rượu mạnh đấy.
Cậu đáp:
- Bấy lâu nay ta chưa hề biết vị ngọt là thế nào cả. Này ta bảo, hãy đem cho ta thêm rượu mạnh nữa đi!
Họ mang rượu đến và một lần nữa trao cho cậu vì cậu rất thèm khát. Sau đó khi cậu đòi thêm nữa, họ bảo cậu hết sạch rượu rồi.
Cậu nói:
- Mau lên, ta bảo kiếm thêm cho ta nữa đi.
Và cậu đưa cho họ chiếc nhẫn có tín hiệu của cậu.
Sau khi uống với họ suốt ngày, cậu say túy lúy, mắt đỏ ngầu như máu, người run rẩy, nói lảm nhảm, cậu về nhà nằm vật xuống. Lúc ấy cha cậu nhận thấy cậu đã uống rượu, đến khi hiệu lực của rượu đã qua hẳn, ông bảo cậu:
- Này con, con đã làm một việc rất sai lầm, là người trong gia tộc Bà-la-môn mà con uống rượu mạnh, từ nay đừng bao giờ làm vậy nữa.
- Cha bảo sao? Suốt đời con, chưa bao giờ con nếm được vị gì ngon ngọt đến thế.
Vị Bà-la-môn cứ nài nỉ con chừa rượu. Cậu đáp:
- Con không thể bỏ được.
Sau đó vị Bà-la-môn suy nghĩ: "Nếu như vậy thì truyền thống gia tộc ta sẽ bị hủy hoại và tài sản ta cũng tiêu tan". ông liền ngâm kệ này.
13. Nam tử La-môn tộc quý cao,
Là trai khả ái, lại thanh tao,
Con đừng uống vật đầy ghê tởm
Không một La-môn hưởng thụ nào.
Sau những lời này, ông lại bảo:
- Này con yêu, phải chừa rượu đi, nếu không cha sẽ tống con ra khỏi nhà và xin vua đuổi con khỏi vương quốc này.
Cậu trai đáp:
- Cho dù vậy, con cũng không thể bỏ rượu mạnh.
Và cậu ngâm hai vần kệ:

14. Bởi vì cha muốn cản ngăn con,
Uống thứ này hương vị tuyệt ngon,
Con sẽ đi xa bất kể số,
Tìm nơi đâu rượu vẫn trường tồn!

15. Con sẽ ra đi vội bước chân,
Chẳng còn ở lại với song thân,
Vì nay thấy mặt con, e hẳn
Cha ghét con cay đắng bội phần!

Cậu lại còn nói thêm:
- Con quyết sẽ không chừa rượu đâu. Cha cứ làm gì tùy ý.
Lúc ấy vị Bà-la-môn đáp:
- Ðược rồi, nếu con từ bỏ cha mẹ thì cha mẹ cũng từ bỏ con luôn.
Và ông ngâm vần kệ này:

16. Ta sẽ tìm vài cậu thiếu niên
Ðể cho thừa kế mọi kim tiền,
Cút đi, đồ khốn, nơi ta chẳng
Nghe thấy tên ngươi đáng rủa nguyền!

Sau đó, đem cậu con ra tòa án, ông truất quyền thừa kế của cậu và sai đuổi chàng ra khỏi nhà. Cậu trai về sau làm kẻ khốn khổ cùng bần, mặc áo quần vải thô, cầm bát khất thực trong tay đi lang thang xin ăn rồi dựa vào một bức tường và chết.

Kàlahatthi kể chuyện này để làm bài học răn vua, và bảo:
- Tâu Ðại vương, nếu ngài từ chối nghe lời chúng thần, thì họ sẽ sai người đuổi ngài ra khỏi quốc độ này.

Nói vậy xong, ông ngâm kệ:

17. Vậy lắng nghe này, tấu Ðại vương,
Tuân theo lời dặn của ngu thần,
Nếu không sẽ giống chàng say rượu
Ngài bị đuổi ra khỏi thổ cương.

Ngay sau ví dụ được Kàlahatthi dẫn chứng như vậy vua cũng không thể từ bỏ thói quen của mình, và kể một chuyện khác để chứng minh:

18. Ðồ đệ của chư Ðại Thánh hiền,
Su-jà ta, cổ tích lưu truyền,
Nhịn luôn thực phẩm cùng đồ uống,
Vì đã đắm say một nữ tiên.

19. Như đầu ngọn cỏ đọng hơi sương
So với mọi nguồn nước đại dương,
Cũng vậy tình người đem sánh với
Ái tình dâng tặng một tiên nương.

20. Vậy xưa nay trẫm vẫn ăn luôn
Những món, Kà-la hỡi, cực sang,
Thiếu món thịt người, e có lý
Không còn đời sống để lo toan.

Chuyện Phú ông Sujàta.
Chuyện này cũng giống như chuyện đã kể trên.
Tương truyền phú ông Sujàta này thấy rằng các vị ẩn sĩ kia không trở về vào thời các vị đang ăn những miếng hồng đào lớn, liền nghĩ thầm: "Ta không biết tại sao các vị ấy không trở về. Nếu các vị đi nơi khác, ta sẽ đi tìm cho ra, hơn nữa, ta lại muốn nghe các vị thuyết Pháp".

Thế rồi ông ra hoa viên nghe vị Trưởng hội chúng ấy thuyết Pháp, và khi mặt trời lặn, dù ông được bảo ra về, ông vẫn nói:
- Ðệ tử muốn ở lại đây hôm nay.
Và đảnh lễ hội chứng hiền nhân xong, ông vào am tranh của mình nằm xuống. Ban đêm, Sakka Thiên chủ được cả đoàn thiên nhân hộ tống, cùng với các thị nữ của ngài, đến đảnh lễ đám Thánh nhân kia khiến cả vùng thảo am sáng rực lên.

Sujàta không biết chuyện gì, đứng dậy nhìn qua khe hở của am tranh, nhìn thấy Sakka đến đảnh lễ hội chúng Thánh nhân và được cả đám tùy tùng tiên nữ Apsarasas hộ tống. Vừa thấy các nàng tiên lòng ông đã bùng lên dục vọng như lửa đốt. Thiên chủ Sakka an tọa và sau khi nghe thuyết Pháp xong, trở về cõi của ngài.

Hôm sau vị địa chủ đến đảnh lễ các ẩn sĩ và hỏi:
- Bạch các Tôn giả, vị nào đêm qua đến đảnh lễ các vị?
- Thưa tôn ông, đó là Sakka Thiên chủ.
- Thế các vị vây quanh ngài là ai?
- Ðó là các tiên nữ Apsarasas.
Sau khi đảnh lễ các vị khổ hạnh, ông về nhà và từ lúc đó, ông cứ điên cuồng kêu gào: "Cho ta một nàng tiên Apsaras".
Ðám quyến thuộc vây quanh ông, tự hỏi không biết ông có bị quỷ ám chăng, và họ búng tay.
Ông bảo:
- Không phải ta nói đến chuyện búng tay này đâu mà chuyện các nàng tiên Apsaras kia.
Khi họ mặc y phục chỉnh tề và đưa vào cho ông một bà vợ hay thậm chí một kỹ nữ sang trọng và nói:
- Ðây là một nàng tiên Apsaras.
Ông đáp:
- Ðây không phải là tiên Apsaras, mà là con quỷ cái!
Rồi ông cứ lảm nhảm la hét điên cuồng.
- Cho ta một nàng tiên Apsaras!
Sau đó không chịu ăn uống gì cả, ông chết đi.
Khi nghe vậy, Kàlahatthi tự nhủ: "Ông vua này thật là kẻ đại tham của lạ. Ta quyết làm cho vua tỉnh trí hơn lên". Rồi ông nói:
- Những chim kim nga bay qua không gian cũng chết vì ăn thịt đồng loại của chúng.
Và để chứng minh việc này, ông ngâm hai vần kệ:

21. Như các thiên nga có sắc vàng
Du hành qua giữa cõi không gian,
Thảy đều phải chết vì sinh sống
Bằng thực phẩm kia trái lẽ thường.

22. Cũng vậy, xin ngài hỡi Ðại vương,
Lắng nghe thần nói thật tinh tường;
Vì ăn thực phẩm này phi pháp
Dân sẽ đuổi ngài khỏi thổ cương.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Kinh Tiểu Bộ 9, Chương XXI. Phẩm Tám Mươi Bài Kệ 537. Chuyện Đại Sutasoma, VNCPHVN, TP. Hồ Chí Minh, 2004. (P4)

I. ĐẠI Ý
Câu chuyện kể về con trai của phú ông Sujàta, một người thông minh nhưng bị bạn bè xấu rủ rê uống rượu mạnh. Ban đầu chỉ thử một lần, nhưng vì không có chánh niệm và bị lôi cuốn bởi vị ngon, cậu dần trở nên nghiện rượu.
Khi bị cha khuyên răn và đe dọa truất quyền thừa kế, cậu vẫn không từ bỏ. Cuối cùng, vì không làm chủ được bản thân, cậu bị đuổi khỏi gia đình, sống lang thang khổ sở rồi chết trong nghèo đói. Câu chuyện nhấn mạnh sức hủy hoại của rượu và sự buông lung.

II. ỨNG DỤNG
1. Một thói quen xấu có thể phá hủy cả cuộc đời
Cậu bé ban đầu chỉ uống thử rượu trong một cuộc vui, nhưng dần dần trở thành nghiện ngập và đánh mất tất cả. Trong đời sống, nhiều người cũng bắt đầu từ một thói quen nhỏ tưởng chừng vô hại nhưng lại dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Nếu không dừng lại kịp thời, thói quen xấu sẽ phá hủy tương lai.

2. Bạn xấu là môi trường nuôi dưỡng sai lầm
Cậu bé không tự nhiên nghiện rượu, mà do bị bạn bè lôi kéo và trêu chọc. Điều này cho thấy môi trường xung quanh có sức ảnh hưởng rất lớn đến hành vi con người. Nếu sống gần người thiếu chánh niệm, ta rất dễ bị cuốn theo con đường sai lệch.

3. Mất tự chủ là nguyên nhân của khổ đau
Dù cha đã khuyên răn và cảnh báo, cậu vẫn không thể bỏ rượu vì đã mất khả năng kiểm soát bản thân. Trong đời sống, người không làm chủ được tâm mình sẽ dễ bị dục vọng dẫn dắt. Chỉ khi có chánh niệm và kỷ luật nội tâm, con người mới tránh được đổ vỡ.

III. KẾT LUẬN
Câu chuyện về con trai phú ông Sujàta là lời cảnh tỉnh mạnh mẽ về sự nguy hiểm của rượu và buông lung.

Một thói quen nhỏ nếu không dừng lại sẽ trở thành nghiệp lớn khó cứu vãn.

Bạn bè và môi trường có thể kéo con người lên hoặc đẩy con người xuống.

Quan trọng nhất vẫn là khả năng tự chủ và tỉnh thức trong từng lựa chọn.

Người biết dừng đúng lúc mới giữ được thân, tâm và tương lai của chính mình.

thích tịnh an

💙🙏💙

22/08/2026

LÁ THƯ TRI ÂN

Tập 1: Mẹ ơi, con xin lỗi vì đã lớn!

Lời nhắn:

Xin đừng chờ đến một ngày chỉ còn biết nhớ mà thương.

Hãy về nhà khi còn có thể.
Gọi một cuộc điện thoại khi còn có thể.
Ngồi cạnh Ba Mẹ lâu thêm một chút khi còn có thể.

Bởi trên đời này, có những cuộc gặp lại rất dễ dàng…

Nhưng có những cuộc gặp lại,
chỉ còn có thể tìm thấy trong giấc mơ.

Giá mà... chỉ giá mà thôi, Mẹ đừng xa mãi... về nơi cuối trời!

Tổ truyền thông chùa Quảng Đức cùng MC Hy Văn thực hiện.

💙🙏💙

ĐẠI LỄ VU LAN - BÁO HIẾU PL.2570 - DL.2026Vào lúc 8 giờ 30, chủ nhật 11/07/Bính Ngọ - 23/08/2026, kính mời đại chúng thâ...
22/08/2026

ĐẠI LỄ VU LAN - BÁO HIẾU PL.2570 - DL.2026

Vào lúc 8 giờ 30, chủ nhật 11/07/Bính Ngọ - 23/08/2026, kính mời đại chúng thân lâm tham dự "ĐẠI LỄ VU LAN - BÁO HIẾU" tại chùa An Tuyền - La Gi - Lâm Đồng 86.

Tiết Vu Lan là dịp dành trọn tình thương hướng về Cha Mẹ, dành trọn niềm ơn với những thâm tình bởi "Một kiếp nên người nhờ vạn nghĩa cưu mang".

Vu Lan về cùng vui mùa báo hiếu với những ai còn Cha Mẹ - chúc nguyện song đường tăng long phước thọ. Xin được ôm bờ vai và chia sẻ với người vắng song thân, lặng nhớ thâm tình.

Vu Lan về cùng lan toả hạnh nguyện tri ân và báo ân của người con Phật.

💙🙏💙

PHẬT PHÁP CĂN BẢN Bài 17: BẢY LÝ DO NÊN HỌC PHẬT PHÁP* DẪN NHẬP* BẢY LÝ DO NÊN HỌC PHẬT PHÁP----------------------------...
22/08/2026

PHẬT PHÁP CĂN BẢN

Bài 17: BẢY LÝ DO NÊN HỌC PHẬT PHÁP
* DẪN NHẬP
* BẢY LÝ DO NÊN HỌC PHẬT PHÁP
-------------------------------
II. BẢY LÝ DO NÊN HỌC PHẬT PHÁP
7. Lý do thứ bảy: Đây là thời điểm thích hợp để hành trì.

Xin thưa quý Phật tử, câu trả lời cuối cùng cho câu hỏi: Vì sao nên học Phật Pháp đó là vì thời điểm này là thời điểm thích hợp để mình tu học. Tại sao Thầy lại nói ý này thưa đại chúng?

Đây là một ý ở trong Kinh và bài kinh này Đức Phật dạy về Năm thời tranh thủ tu tập, thời để tinh cần:

“1/ Thời tuổi trẻ (Daharo hoti)
2/ Thời khoẻ mạnh, ít bệnh (Appābādho hoti)
3/ Thời tạm no đủ, dễ kiếm sống (Subhikkhaṁ hoti)
4/ Thời con người sống trong hoà bình, không chiến tranh loạn lạc (Manussā samaggā viharanti)
5/ Sống trong thời Tăng chúng hoà hợp, có Phật Pháp để tuyên dương (Saṇgho samaggo viharati)

(Trích Kinh Tăng Chi - Chương Năm Pháp - Sợ hãi trong tương lai)

Phật dạy có năm thời điểm thích hợp cho mình học Pháp, tu học. Thứ nhất là khoảng thời gian tuổi mình còn trẻ. Cái này thì trong lớp có một số vị hơi già đúng không? Không sao!

“Bảy mươi chưa phải là già,
Bảy mươi chỉ mới mặn mà chút thôi.
Tám mươi chưa phải là già,
Tám mươi chỉ mới tuổi hoa cuộc đời”.

Cho nên vị nào lỡ có già cũng đừng buồn! Đức Phật nói thời điểm thích hợp thứ nhất là tuổi còn trẻ. Tại sao? Vì tuổi trẻ minh mẫn, tinh tấn, năng lượng còn nhiều. Có một bài Kinh, Đức Phật nói về những trở ngại của tuổi già khi vào đạo. Tuổi già khi vào đạo có những chướng ngại về thân thể và đầu óc. Thân thể tiếp nhận chậm hơn, và rồi những oai nghi nhiều khi ở đời thành thói quen nên khi vào đạo khó bỏ. Trong Kinh Tăng Chi, chương Năm Pháp, bài Kinh Khó tìm được, Đức Phật dạy tuổi già có năm chướng ngại:

“(59) Khó Tìm Ðược (1)

1. Này các Tỳ-kheo, thật khó tìm được một người xuất gia lớn tuổi lại thành tựu năm Pháp này. Thế nào là năm?

2. Thật khó tìm được, này các Tỳ-kheo, một người xuất gia lớn tuổi lại tế nhị; thật khó tìm được một người có uy nghi tốt đẹp; thật khó tìm được một người nghe nhiều; thật khó tìm được một người thuyết Pháp; thật khó tìm được một người trì luật.

Này các Tỳ-kheo, thật khó tìm được một người xuất gia lớn tuổi lại thành tựu năm Pháp này.

(60) Khó Tìm Ðược (2)

1. Này các Tỳ-kheo, thật khó tìm được một người xuất gia lớn tuổi lại thành tựu năm Pháp này. Thế nào là năm?

2. Thật khó tìm được, này các Tỳ-kheo, một người xuất gia lớn tuổi lại khéo nói; thật khó tìm được một người có khả năng nắm giữ cái gì khéo nắm giữ; thật khó tìm được một người có cử chỉ tốt đẹp; thật khó tìm được một người thuyết Pháp; thật khó tìm được một người trì luật.

Này các Tỳ-kheo, thật khó tìm được một người xuất gia lớn tuổi lại thành tựu năm Pháp này”.

(Trích Kinh Tăng Chi - Chương Năm Pháp - Phẩm 59, 60 - Khó tìm được)

Thời Đức Phật có hai vợ chồng giàu có nhưng không chí thú làm ăn, họ dính vào rượu chè nên cuối đời phải đi ăn xin. Đức Phật dạy nếu còn trẻ, hai người chịu làm ăn sẽ trở thành người giàu số một. Nếu trung niên, hai vợ chồng biết làm ăn thì trở thành phú hộ giàu số hai. Ở tuổi lão niên chịu làm ăn thì thành người giàu số ba. Đức Phật dạy tiếp, cũng hai vợ chồng này, nếu trẻ biết tu tập, người chồng chứng quả A-lahán, người vợ chứng quả A-na-hàm. Tuổi trung niên chịu tu, chồng là A-na-hàm, vợ là Tư-đà- hàm. Nếu ở tuổi già biết tu, chồng chứng Tư-đà- hàm, vợ chứng Tu-đà-hoàn. Nhưng đến cuối đời do rượu chè, không chịu tu tập, hai vợ chồng trong đạo không chứng quả nào, ngoài đời thì trắng tay, trở thành người ăn xin.

Thời điểm thích hợp để tu tập thứ hai là khoảng thời gian này mình còn khỏe mạnh, ít bệnh. Thầy dùng từ “ít bệnh” chứ không dám nói là không bệnh. Quý Phật tử thấy may mắn chưa? Nếu bị bệnh thì quý vị có ngồi học ở đây được không? Khó lắm! Hoặc là mình bị bệnh nào mà đau nhức là khó ngồi lắm.

Thời điểm thứ ba là trong khoảng thời gian cuộc sống tạm gọi là no đủ. Mọi người thấy chữ “tạm” rõ ràng không? Tạm gọi là no đủ thôi. Phước mình đâu có nói được. Phước trổ thì như vậy, nhưng nghiệp bất thiện trổ cũng khó nói lắm. Trong thời điểm này tuổi mình còn trẻ, còn ít bệnh, cuộc sống tạm gọi là no đủ, mưu sinh, cơm áo, gạo, tiền gọi là dễ kiếm chứ không đến nỗi quá đói.

Thời điểm thứ tư là chúng ta đang sống trong thời kỳ hòa bình không có chiến tranh. Thời này mà có chiến tranh liệu quý Phật tử có học được không? Không được đâu. Quý vị thấy một số nước bây giờ trên thế giới đang loạn lạc, bất ổn vậy hỏi làm sao ngồi yên mà mình tu học được.

Còn tiếp...

P/s: Nhân duyên chúng con được nghe, đọc những bài giảng của quý Thầy, chúng con xin ghi chép lại và cung kính chia sẻ cùng cả chùa. Kính mong quý vị hoan hỉ với phần chia sẻ này.

💙🙏💙

MỖI NGÀY MỘT CÂU KINH196. Cúng dường bậc như vậy,Tịch tịnh, không sợ hãi,Các công đức như vậy,Không ai ước lường được.Ki...
21/08/2026

MỖI NGÀY MỘT CÂU KINH

196. Cúng dường bậc như vậy,
Tịch tịnh, không sợ hãi,
Các công đức như vậy,
Không ai ước lường được.

Kinh Pháp Cú - Phẩm PHẬT ĐÀ.
(Bản dịch: HT. Thích Minh Châu).

Pháp cú này Phật dạy cùng Pháp cú 195 có liên hệ đến câu chuyện ngôi đền vàng của Phật Ca Diếp. Phần giảng giải, quý vị đọc lại kỹ phần chú giảng của Pháp cú 195 xin được thông qua.

Câu kinh suy niệm trong ngày!

P/s: Tổ truyền thông Quảng Đức cung kính góp nhặt và chia sẻ.

💙 🙏 💙

CHUYỆN ĐẠI SUTASOMA (P3)(Tiền thân Mahà-Sutasoma)(Tiếp theo) Chuyện Nam tử của phú ông SujàtaTương truyền ngày xưa một v...
21/08/2026

CHUYỆN ĐẠI SUTASOMA (P3)
(Tiền thân Mahà-Sutasoma)

(Tiếp theo) Chuyện Nam tử của phú ông Sujàta
Tương truyền ngày xưa một vị địa chủ trưởng giả có tên Sujàta ở Ba-la-nại làm chỗ cư trú trong hoa viên của mình và cung phụng năm trăm vị ẩn sĩ đến đấy từ vùng Tuyết Sơn để tìm muối và dấm. Trong nhà ông luôn có thực phẩm dọn sẵn mời các vị ấy, nhưng các vị thỉnh thoảng vẫn đi khất thực trong vùng quê và đem về những miếng hồng đào lớn để ăn.

Trong lúc các vị ấy đang ăn hồng đào đã đem về, Sujàta nghĩ thầm: "Hôm nay là ngày thứ ba hay thứ tư rồi mà các Thánh giả này chưa đến nhà ta đây. Không biết các ngài đã đi đâu trên đời này?" Thế rồi bảo cậu con trai cầm tay mình, ông đi đến đó trong lúc các vị ấy đang dùng bữa ăn. Lúc ấy một chú tiểu đang đưa nước để các vị trưởng lão súc miệng và chú đang ăn một miếng đào đỏ. Sujàta đảnh lễ các ẩn sĩ và khi đã an tọa, liền hỏi:
- Thưa các Tôn giả, các ngài đang dùng gì thế?
- Thưa gia chủ, những miếng đào đỏ lớn đấy.
Cậu bé nghe vậy cảm thấy thèm, vì thế vị trưởng chúng ẩn sĩ bảo cho cậu một miếng nhỏ. Cậu bé ăn đào và quá say mê mùi vị thơm ngon ấy nên cứ nằn nì đòi các vị cho thêm miếng nữa. Ông phú hộ đang nghe Pháp, liền bảo:
- Thôi đừng khóc, khi về nhà, con sẽ được ăn một miếng.
Ông đánh lừa cậu bé như vậy vì sợ các Thánh giả kia sẽ mệt nhọc bởi tiếng kêu khóc của con. An ủi cậu bé xong, ông từ giã hội chúng ẩn sĩ và về nhà. Từ lúc đến nhà, cậu bé cứ lãi nhải kêu to:
- Cho con một miếng.
Còn các ẩn sĩ lại bảo:
- Chúng ta đã ở đây lâu ngày rồi.
Và họ ra đi về vùng Tuyết Sơn. Vì không thấy cậu bé trong hoa viên, các ẩn sĩ gửi cho cậu một món quà gồm nhiều miếng xoài, đào, mít, chuối và vài trái cây khác nữa, tất cả trộn chung với đường mịn. Món trái cây trộn đường vừa đặt lên đầu lưỡi cậu bé liền gây tác dụng như một thứ thuốc độc giết người. Suốt bảy ngày cậu không ăn gì được và chết sau đó.

Vua kể chuyện này như một cách tự chứng minh. Lúc ấy Kàlahatthi nghĩ thầm: "Ông vua này thật quá tham ăn của ngon vật lạ. Ta sẽ kể nhiều ví dụ khác nữa", và nói:
- Tâu Ðại vương, xin chừa món này đi.
- Không thể được. - Vua đáp.
- Nếu ngài không chừa được, ngài sẽ bị gia tộc từ bỏ dần và tước mất hết vương quyền vinh hiển. Xin hãy nghe đây.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Kinh Tiểu Bộ 9, Chương XXI. Phẩm Tám Mươi Bài Kệ 537. Chuyện Đại Sutasoma, VNCPHVN, TP. Hồ Chí Minh, 2004. (P3)

I. ĐẠI Ý
Câu chuyện kể về con trai của phú ông Sujàta, sống trong một gia đình giàu có và được tiếp đãi các vị ẩn sĩ từ núi Tuyết Sơn. Khi được nếm thử hương vị của trái cây đặc biệt do các bậc tu hành mang về, cậu bé sinh tâm tham đắm và đòi hỏi không ngừng.

Người cha vì muốn giữ sự yên ổn đã hứa hẹn cho cậu ăn thêm khi về nhà, nhưng từ đó tâm tham của cậu tăng trưởng mạnh. Cuối cùng, do không tiết chế được lòng ham muốn, cậu bị bệnh nặng rồi qua đời. Câu chuyện cho thấy sự nguy hại của tham ái, dù chỉ từ một việc rất nhỏ.

II. ỨNG DỤNG
1. Tham muốn nhỏ có thể trở thành nguyên nhân của khổ lớn
Cậu bé ban đầu chỉ nếm một miếng trái cây, nhưng từ đó sinh tâm thèm khát không dừng lại. Trong đời sống, nhiều khi khổ đau không đến từ việc lớn mà bắt đầu từ một ham muốn nhỏ không được kiểm soát. Nếu không biết dừng đúng lúc, tham cầu sẽ lớn dần và dẫn đến hậu quả khó lường.

2. Lời hứa sai thời có thể nuôi lớn phiền não
Người cha vì muốn làm yên tiếng khóc của con mà hứa cho cậu ăn thêm, nhưng lại không thực hiện ngay, khiến tâm tham của cậu càng tăng. Điều này nhắc rằng lời nói không đúng lúc hoặc không thực hiện được có thể tạo thêm rối loạn tâm lý. Trong đời sống, sự chân thật và đúng thời luôn quan trọng hơn sự an ủi tạm thời.

3. Sự buông lung trong dục lạc dễ dẫn đến suy kiệt
Khi đã bị chi phối bởi vị ngon và cảm giác dễ chịu, cậu bé không còn khả năng tự tiết chế và cuối cùng suy kiệt rồi chết. Đây là lời cảnh tỉnh rằng khi tâm bị dính mắc vào khoái cảm, con người sẽ đánh mất sức khỏe và sự cân bằng. Biết tiết chế chính là nền tảng của sự sống an ổn.

III. KẾT LUẬN
Câu chuyện về con trai phú ông Sujàta nhắc rõ rằng tham ái không bao giờ dừng lại nếu không có trí tuệ ngăn chặn.

Một chút ham muốn ban đầu có thể trở thành nguyên nhân của khổ đau lớn.

Con người thường không chết vì thiếu thốn mà vì không biết đủ.

Người biết dừng lại đúng lúc mới thật sự bảo vệ được chính mình.

Sự tỉnh thức trong từng nhu cầu nhỏ chính là nền tảng của an lạc lâu dài.

thích tịnh an

💙🙏💙

21/08/2026

KHÉP LẠI 90 NGÀY AN CƯ

Ba tháng An cư dần khép lại
Giới thân huệ mạng được vun bồi
Thiêng liêng Tự Tứ nơi Bảo điện
Hương hoa ngược gió toả ngàn phương.

Mùng 8/7/Bính Ngọ - 20/08/2026.

💙🙏💙

PHẬT PHÁP CĂN BẢN Bài 17: BẢY LÝ DO NÊN HỌC PHẬT PHÁP* DẪN NHẬP* BẢY LÝ DO NÊN HỌC PHẬT PHÁP----------------------------...
21/08/2026

PHẬT PHÁP CĂN BẢN

Bài 17: BẢY LÝ DO NÊN HỌC PHẬT PHÁP
* DẪN NHẬP
* BẢY LÝ DO NÊN HỌC PHẬT PHÁP
-------------------------------
II. BẢY LÝ DO NÊN HỌC PHẬT PHÁP
6. Lý do thứ sáu: Học Phật Pháp để thâm nhập chân lý, phát sanh trí tuệ, làm lợi ích cho chúng sanh

Quý Phật tử học Phật Pháp để làm tăng trưởng lòng tin. Trong Kinh Tăng Chi, bài Kinh Sự Kiện, Đức Phật dạy về Ba sự kiện được biết là một người có lòng tin:

“Do ba sự kiện, này các Tỳ-kheo, một người được biết là có lòng tin. Thế nào là ba? Ưa thấy người có Giới hạnh; ưa nghe diệu pháp; với tâm ly cấu uế của xan tham, sống trong nhà, bố thí rộng rãi với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, thích phân phát vật bố thí. Do ba sự kiện này, này các Tỳ-kheo, một người được biết là có lòng tin.

Thích thấy người Giới hạnh
Muốn được nghe Diệu Pháp
Nhiếp phục uế xan tham
Vị ấy gọi có tin”

(Trích Kinh Tăng Chi – Chương Ba Pháp – Phẩm V – Tiểu Phẩm – Kinh Sự Kiện).

Bây giờ Thầy tóm tắt lại nội dung câu trả lời thứ sáu này cho Đại chúng để chúng ta qua nội dung cuối cùng.

- Học Phật Pháp để có trí tuệ.
- Học Phật Pháp để hiểu được chân lý.
- Học Phật Pháp để hiểu chính mình.
- Học Phật Pháp có thể giúp cho Chánh Pháp trường tồn.
- Học Phật Pháp để có chánh tín, tăng trưởng lòng tin.
- Học Phật Pháp để mình tu tập cho sâu sắc.
- Học Phật Pháp để giúp chúng sanh.

Ở ý cuối, học Phật Pháp để giúp chúng sanh. Thầy muốn tất cả hiểu giùm Thầy thế này. Mình đừng bao giờ nghĩ là điều đó hay thì giữ cho riêng mình. Cuộc đời này nó lạ vậy đó. Muốn người ta tốt với mình thì ngay lúc đó tâm mình phải tốt trước đã. Thứ hai là quý Phật tử cứ lo cho cuộc sống của người khác trước đã đi, một ý nghĩa kiếp người gọi là mãn nguyện là khi bữa nào mà quý vị biết mình sắp đi, quý vị nghĩ đến những tháng ngày vừa rồi, mình sống có giúp đỡ cho người này người kia. Như Thầy nói, mình giúp cho họ biết Phật Pháp mới là rốt ráo. Chúng ta có thể cho họ bữa cơm, cho họ quần áo... quý Phật tử cứ giúp nhưng phải cho họ Phật Pháp. Vì vậy mỗi khi Thầy đi từ thiện thì Thầy đều thuyết Pháp. Ngoài tặng quà, mỳ gói, gạo đường… Thầy còn cho họ một thời Pháp thoại và đôi khi Thầy hướng dẫn Quy y Tam bảo để họ kết duyên lành với Phật Pháp. Để cho cuộc đời người khác đi lên thì mình giúp người vào an trú trong Pháp.

Trong Kinh Đức Phật có dạy, khi thương người là phải giúp họ an trú vào trong Pháp, trong Tăng hoặc là trong Thiện nghiệp. Ở đây Thầy gợi ý cho Đại chúng thế này: khi mình làm được cái gì, dĩ nhiên mình phải cố gắng thực tập để mình được an lạc rồi nhưng luôn luôn nghĩ là mình chia sẻ điều tốt ấy đến người khác. Khi Thầy đọc được bản Kinh phù hợp với đề tài bài giảng là Thầy nhớ lại để bữa nào giảng đến Phật tử cho đúng. Khi Thầy đọc được bài thơ nào hay hoặc câu chuyện hay là Thầy ráng nhớ để kể lại cho quý Phật tử nghe, để làm gì? Để có khi nào Thầy kể cho quý vị nghe những câu chuyện đó, biết đâu trong lúc Thầy kể có thể có vị nào đó sẽ giác ngộ qua câu chuyện này.

Cho nên trong lớp Giáo lý này, Thầy biết mọi người nghe Thầy giảng từ 46 tỉnh thành. Sẽ có những người Thầy không gặp ngoài đời đâu, mà nghĩ đến quý vị học Pháp, nghe Pháp thì Thầy vui lắm. Khi kết thúc khóa học, không học lớp giáo lý này nữa, Thầy biết có khi cả đời cũng không gặp quý Phật tử đang học ở trong Zoom này nữa. Nhưng khi nghĩ về việc quý vị chịu học Pháp, Thầy cho tạm mọi người cái gì đó mà cuộc sống của quý Phật tử tốt lên là Thầy thấy vui rồi.

Quan trọng là Thầy muốn gợi ý cho chúng ta: sống là phải nghĩ cho cái lớn hơn. Đức Phật cũng vậy. Tại sao Ngài tu thành Phật? Vì lợi ích cho số đông, vì lợi ích cho thân quyến và Ngài muốn làm lợi ích cho chúng sanh, đắc được quả vị Phật để có Pháp dạy cho chúng sanh. Nghĩa là Ngài luôn nghĩ đến cái lớn hơn và rộng hơn. Quý Phật tử nhớ giùm Thầy, đối với các bậc vĩ nhân, các vị Đại nhân, các bậc Thánh: thứ nhất là rộng hơn, thứ hai là lớn hơn, to hơn. Điều gì cao lớn hơn là trong lòng của các Ngài. Cho nên nếu mình nhỏ bé thì tương xứng với những cái nhỏ bé, mây tầng nào gặp mây tầng đó, đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu, ngưu tầm ngưu mã tầm mã. Ông bà ta nói: Nồi nào úp vung nấy, mình có phước lớn thì sinh ra đứa con có phước. Mình là người đạo đức, là người trí tuệ, là người phước đức thì dễ gặp người vợ hay người chồng như vậy. Bây giờ mình qua nội dung cuối cùng.

Còn tiếp...

P/s: Nhân duyên chúng con được nghe, đọc những bài giảng của quý Thầy, chúng con xin ghi chép lại và cung kính chia sẻ cùng cả chùa. Kính mong quý vị hoan hỉ với phần chia sẻ này.

💙🙏💙

Address

139 Lê Lợi, Phường Phước Hội, Thị Xã La Gi, Bình Thuận
Lagi
804610

Telephone

+84988859410

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Quảng Đức - La Gi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Chùa Quảng Đức - La Gi:

Shortcuts

Share