Chùa Quảng Đức - La Gi

Chùa Quảng Đức - La Gi Chùa Quảng Đức La Gi là một trong những ngôi chùa lâu đời nhất tại thị xã La Gi thuộc tỉnh Bình Thuận

Chùa Quảng Đức Lagi là một trong những ngôi chùa lâu đời nhất tại thị xã La Gi thuộc tỉnh Bình Thuận

PHẬT PHÁP CĂN BẢNBài 9: QUY Y TAM BẢO* ĐỊNH NGHĨA* NƯƠNG TỰA TAM BẢO LÀ THẾ NÀO?* TAM BẢO XUẤT HIỆN KHI NÀO?* LỢI ÍCH CỦ...
22/05/2026

PHẬT PHÁP CĂN BẢN

Bài 9: QUY Y TAM BẢO
* ĐỊNH NGHĨA
* NƯƠNG TỰA TAM BẢO LÀ THẾ NÀO?
* TAM BẢO XUẤT HIỆN KHI NÀO?
* LỢI ÍCH CỦA VIỆC QUY Y TAM BẢO
* LÀM SAO ĐỂ BUỔI LỄ QUY Y ĐƯỢC TRỌN VẸN?
* TÓM LƯỢC
------------------------------------------------------
III. TAM BẢO XUẤT HIỆN KHI NÀO?

VÌ SAO NÊN QUY Y TAM BẢO?

Bây giờ Thầy đặt câu hỏi: “Vì sao mình nên quy y Tam Bảo?” Chúng ta chỉ có thể làm Phật tử khi Đức Phật còn ở thế gian hay Phật Pháp là những lời dạy tinh túy của Đức Phật gọi là Tam Tạng Kinh điển còn sót lại.

Quý vị biết không, khi Thầy giảng đến đoạn này thì có cái gì đó vừa vui vừa buồn. Thầy vui là vì cảm thấy may quá, những tinh túy vẫn còn sót lại ở cuộc đời này. Từ “sót lại” tức là giáo pháp sắp mất rồi, Thầy cũng là Phật tử nhưng Thầy khác quý vị ở chỗ Thầy là Phật tử xuất gia, còn đại chúng là Phật tử tại gia. Hôm nay chúng ta còn được gặp Pháp, là những tinh túy còn sót lại của chư Phật Chánh Đẳng Giác sau 20 A-tăng -kỳ kiếp giờ còn lại cho nên mình phải tận dụng cơ hội này. Hiểu rồi quý Phật tử mới thấm ở chỗ này. Còn bây giờ quý vị mà chưa hiểu được thì: “Phật dễ có. Chắc lâu lâu có một vị Phật xuất hiện”. Tự nhiên mình nghĩ Phật dễ có quá nên không biết trân trọng, không biết cảm ơn là mình đang có phước duyên lớn là gặp được Phật Pháp. Cho nên Thầy đặt câu hỏi là vì sao mình nên quy y Tam Bảo. Câu trả lời đó là: thứ nhất, đó là những gì tinh túy nhất còn sót lại. Thứ hai, mình quy y Tam bảo là biểu hiện đức tin, là điểm tựa của mình. Thưa đại chúng, trong cuộc sống này ai cũng thích dựa hết. Người ta thường nói gì? Dựa thì dễ bị dẫm. Nhờ thì dễ bị vả (Dựa dẫm - Nhờ vả). Nói vui vui là ai cũng thích “nướng khoai”. Nướng khoai là khoái nương, mọi người coi phải không? Bây giờ vô trong hội chúng nào đó, có một chỗ ngồi nếu mà có cây cột, mình cũng chọn cây cột để tựa ngồi. Về bên ngoài chúng ta còn dựa, huống gì trong tinh thần của mình. Ai cũng thích “nướng khoai – khoái nương” hết. Thầy nói nương, mà nương không đúng thì là sao? Một bác sĩ mà chữa sai bệnh thì sao? Căn bệnh đó có thể làm chết một đời của người ta. Trong đời sống tâm linh cũng vậy, nếu mình nương tựa sai một lý tưởng nào đó, một lời
dạy nào đó là quý vị khổ kinh khủng, đâu phải khổ một đời đâu. Chúng ta khổ vì theo đuổi những thứ sai lầm.

Bữa đó có ông thầy lang, ông đọc trong sách thấy là “phúc thống phục nhân sâm” (đau bụng thì uống nhân sâm). Một hôm có người đau bụng, thầy lang cho uống nhân sâm. Ông đó uống nhân sâm xong về đau bụng nặng luôn. Ổng kiện ra quan. Thầy lang giải thích: “Đâu có đâu, tui học theo sách mà. Rõ ràng sách dạy: phúc thống phục nhân sâm (đau bụng thì uống nhân sâm)”. Ông quan này cũng biết về thuốc, ông nói thầy lang mở trang tiếp theo ra xem thì thấy thêm hai từ nữa: “tắc tử” (thì chết). Đau bụng uống nhân sâm thì chết. Khổ cái là ông thầy lang đọc hết trang này “đau bụng thì uống nhân sâm” mà không lật trang sau “thì chết”. Đây là một câu chuyện vui thôi. Ý muốn nói việc uống lầm thuốc thì uống lại cũng được nhưng nếu có những tư tưởng, tà kiến sai lầm là khổ cho mình trong nhiều kiếp trong luân hồi. Cho nên ở lý do thứ hai là vì sao chúng ta nên quy y Tam bảo, vì đó là những tinh túy của Đức Phật còn sót lại. Đó là điểm tựa tâm linh, điểm tựa tinh thần của mình. Nhưng cũng tùy mỗi người tác ý muốn quy y Tam bảo để làm gì. “Vì bữa giờ tối con ngủ không ngon, cho nên giờ con quy y Tam bảo cho tối được yên giấc”, tác ý như vậy là khác! “Thưa Thầy, ông bà con quy y, cha mẹ con quy y và mẹ con nói là: thôi con cũng đi quy y đi!” hay có người hỏi:“Thầy cho con hỏi, Phật có thật không Thầy?” Rồi, rồi! Thầy thấy khổ rồi đó. Buổi lễ Quy y này không phải là không tốt mà không được trọn vẹn lắm. Có nhiều người nghĩ Đức Phật là thần tiên, ban phước, giáng họa. “Bữa giờ, con làm ăn thất bại quá, con xin Thầy cho con quy y Tam bảo để mọi chuyện tốt đẹp hơn” hay là “Thưa Thầy, cuộc sống của con gặp nhiều điều xui rủi quá, cho con Quy y”. Đó cũng là quy y mà quy y để cuộc sống tốt hơn, để có giấc ngủ ngon, để được nhiều điều may mắn hơn.

Mình thấy là Phật, Pháp, Tăng khó có. Những lời dạy của Đức Phật là cái gì đó tinh túy của cuộc đời này, mình tin Phật như vậy, khó có như vậy, một bậc Thầy của Nhân – Thiên như vậy. Quý vị quy y Phật, quy y những lời dạy quý báu của Ngài, quy y Tăng chúng - đệ tử của Đức Phật để nương nơi đó mình có một lối đi sáng trong tâm linh; nương nơi đó để có những lời dạy, để những lời dạy đó thay đổi cuộc đời của mình, thay đổi con người của mình và mình đem ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày thì lúc đó việc quy y có phải khác không? Quý Phật tử thấy rõ ràng chưa? Cũng là một hành động quỳ xuống, Thầy nói con phát nguyện quy y: “Con xin phát nguyện Quy y, con xin quy y Phật, con xin quy y Pháp, con xin quy y Tăng (3 lần)”, nếu có hiểu biết, có chánh kiến và đức tin thì ý nghĩa của sự quy y sẽ khác. Thầy nói đến đây mà quý Phật tử nào lúc trước quy y: “Phật phù hộ cho con…” coi sắp xếp xin quy y lại. Cái này có chứ không phải không có đâu, nhưng mình cũng cảm ơn những tháng ngày ngơ ngác, vội vã, hời hợt của mình, biết đâu nhờ những tháng ngày đó, từ từ mình sẽ tìm hiểu. Không sao cả!

Còn tiếp...

P/s: Nhân duyên chúng con được nghe, đọc những bài giảng của quý Thầy, chúng con xin ghi chép lại và cung kính chia sẻ cùng cả chùa. Kính mong quý vị hoan hỉ với phần chia sẻ này.

💙🙏💙

NHƯ LÀN KHÓI BẾP KHIÊM NHƯỜNGCó lòng người luôn chọn cho mình một vị trí khiêm nhường nhất, chọn cho mình cách sống bao ...
22/05/2026

NHƯ LÀN KHÓI BẾP KHIÊM NHƯỜNG

Có lòng người luôn chọn cho mình một vị trí khiêm nhường nhất, chọn cho mình cách sống bao dung, không cần lời ca tụng, chỉ lặng lẽ làm điểm tựa cho người. Dùng đôi tay chai sần rửa từng cọng rau, vo từng hạt gạo... để căn bếp chùa như mảnh đất lành, dưỡng nuôi điều thiện trong lòng mình, trong lòng người.

Như làn khói bếp khiêm nhường, nhẹ nhàng mà kiên định, đem tất cả bình yên trong trẻo trong lòng mình ra để đặt vào bữa cơm tròn vị.

Làn khói bếp không vướng bụi trần, chỉ mang đầy trong mình sự bao dung và tĩnh lặng.

Nho nhỏ gieo mầm tình thương trong thầm lặng thấm sâu và khơi gợi điều lành dẫu bé nhỏ nằm sâu trong lòng người cũng được gọi tên mà trỗi dậy.

Dưới mái chùa quê, có một miền mà lòng người ân cần như thế!

💙🙏💙

TRÂN TRỌNG TRI ÂNHoà chung không khí kímh mừng đại lễ Phật đản - PL 2570- DL 2026, sáng ngày 22/05/2026, đại diện công a...
22/05/2026

TRÂN TRỌNG TRI ÂN

Hoà chung không khí kímh mừng đại lễ Phật đản - PL 2570- DL 2026, sáng ngày 22/05/2026, đại diện công an tỉnh Lâm Đồng, do ông Nguyễn Hữu Ý - thượng tá phó trưởng phòng PA02; ông Nguyễn Hữu Nhân - trung tá phó đội trưởng phòng PA02, và quý vị trong đoàn đã về thăm chúc mừng đại lễ Phật đản đến chư Tăng và Phật tử chùa Quảng Đức - Phước Hội.

Tiếp đoàn, nơi văn phòng chùa Quảng Đức, thầy Đức Thành…thay mặt cho chư Tăng và Phật tử trân trọng cảm ơn tình cảm quý báu của công an tỉnh, phòng an ninh nội địa.

Kính chúc quý vị thân tâm thường an lạc.

Sau chung trà đạo vị…phái đoàn lên chánh điện lễ Phật, dâng hương đảnh lễ giác linh trưởng lão HT Thích Trừng Khiết - bậc tôn túc, giáo phẩm của Phật giáo tỉnh nhà.

Tổ truyền thông Quảng Đức, xin lưu lại những hình ảnh thâm tình sáng nay.

Ảnh: Thích Tịnh An.

💙🙏💙

MỖI NGÀY MỘT CÂU KINH104. Tự thắng, tốt đẹp hơn,Hơn chiến thắng người khác.Người khéo điều phục mình,Thường sống tự chế ...
22/05/2026

MỖI NGÀY MỘT CÂU KINH

104. Tự thắng, tốt đẹp hơn,
Hơn chiến thắng người khác.
Người khéo điều phục mình,
Thường sống tự chế ngự.

Kinh Pháp Cú - Phẩm NGÀN.
(Bản dịch: HT. Thích Minh Châu).

Pháp cú này, Phật dạy tại tinh xá Kỳ Viên, liên quan đến một Bà la môn đã hỏi Phật về vấn đề được và mất.

Một Bà la môn hỏi Phật về vấn đề được mất. Ông nghĩ chắc là Phật chỉ biết có được, chớ không biết mất. Phật cho ông ta biết là Phật biết cả hai. Phật nói bài kệ như sau:

Những thứ không ích lợi
Gồm: thứ nhất, ngủ muộn
Biếng lười, chiếm thứ hai
Thứ ba, ánh trăng soi
Thứ tư, giàu sang mãi
Thứ năm, hay đi lại
Sáu, vụng trộm vợ người
Chạy theo những việc ấy
Hởi nầy, Bà la môn
Ngươi sẽ được những thứ
Không ích lợi cho mình.

Nghe xong, Bà la môn tán thán Phật và sau đó Phật hỏi về đời sống thường nhựt của ông ta để Phật hóa độ. Ông cho Phật biết, ông chuyên sống bằng nghề bài bạc. Nghề bài bạc, họ thắng ăn được của người khác thì vui, ngược lại, nếu bại bị thua sạch túi, thì u sầu áo não. Do đó, Phật mới dạy ông về pháp cú nói về sự thắng bại nầy.

Vấn đề chơi bài bạc, tuy là chuyện nhỏ của mỗi cá nhân, nhưng nó cũng là mầm móng của tham lam, gây nên tranh giành hơn thua đau khổ. Chính mầm móng tham lam hơn thua nầy, rộng ra là cả thế giới đang điên đầu khổ đau vì nó. Muốn chiến thắng lòng dục vọng nầy, cũng không phải là chuyện dễ dàng. Trên đời nầy, chỉ có đức Phật mới là người chiến thắng mình một cách hoàn toàn mà thôi. Ngoài ra, chưa có ai chiến thắng một cách hoàn toàn như thế. Nói chiến thắng là chiến thắng những gì? Như pháp cú 103 chúng ta đã có nói qua. Đó là chiến thắng vô minh dục vọng.

Thông thường, người ta tranh đấu, với mục đích chính là để chiến thắng đối phương. Vì muốn chiến thắng cai trị kẻ khác, bắt kẻ khác phải nghe theo mệnh lệnh sai khiến của mình, nên người ta bất chấp sử dụng mọi thủ đoạn, mọi mánh khóe mưu mô, gian xảo, lừa bịp đối phương để họ được chiến thắng dễ dàng. Do đó, nhơn loại đấu tranh không bao giờ ngừng. Đấu tranh vì mục đích chiếm hữu nêu cao danh vọng, địa vị, từ cá nhân với cá nhân và rộng hơn nữa, là từ đoàn thể với đoàn thể và rồi quốc gia với quốc gia v.v

Khi đánh gục ngã đối phương, thì họ rất tự kiêu đắc thắng. Họ cho họ có đủ tài ba mưu lược. Họ có quyền hơn kẻ khác. Họ bắt mọi người phải trọng vọng phục tùng họ. Kẻ nào có ý tưởng manh nha chống họ, thì họ sẽ thanh toán ngay. Họ luôn kết bè phái để xây dựng địa vị quyền uy của họ cho được vững chắc. Vì họ không phải là kẻ mạnh bên trong. Họ là người chỉ phô trương thế lực bề ngoài. Họ cảm thấy chinh phục người ngoài nghe theo họ dễ hơn là chính họ chinh phục họ. Vì họ chưa thắng được dục vọng của họ. Dục vọng của họ có quyền hành hơn họ. Chúng nó sai sử họ như một kẻ tôi đòi. Họ có thể hò hét thật oai phong nơi trận mạc. Nhưng họ không thể tự hò hét chống lại dục vọng sai khiến họ. Họ rất sợ và luôn luôn ở vào thế bị động. Một kẻ oai phong hùng dũng như thế, mà không tự thắng họ được. Chính vì họ không tự thắng lấy họ, nên cuối cùng, họ tự chuốc lấy thảm họa rất đau thương.

Hạng người chỉ phô trương huênh hoang thắng kẻ khác, xưa nay không thiếu gì. Nhưng những người tự khắc chế điều ngự dục vọng chính mình, thì thật chẳng có bao nhiêu. Vì thế giới thiếu những hạng người nầy, nên nhơn loại mãi sống trong sự âu lo sợ hãi. Và chiến tranh cứ mãi bùng nổ khắp nơi. Thế giới càng bất an, thì chứng tỏ hạng người hèn nhát quá nhiều. Vì nhát hèn, nên họ không đủ năng lực tự chế. Do đó, nên họ sợ hãi mà phải ra tay trước. Kẻ đi đường hay hút gió hoặc lên tiếng la ó, là chứng tỏ kẻ đó đang sợ ma. Ngược lại, những kẻ gan dạ, thì họ không bao giờ có sự sợ hãi như thế.

Phật dạy, muốn thắng mình phải luôn luôn tiết chế tham dục, đó là một nguyên tắc sống hướng thượng. Những ai muốn trở thành những con người thánh thiện, thì không thể quên nguyên tắc nầy. Đây là một nguyên tắc cơ bản của đạo làm người và tiến xa hơn là làm Thánh. Các bậc Thánh nhơn từ xưa đến nay, không một ai không áp dụng nguyên tắc nầy. Có tiết chế lòng tham dục, con người mới có đủ sáng suốt. Và từ đó, lòng người mới cảm thấy nhẹ nhàng thanh thoát. Lòng thương người, thương vật, cũng từ đó mới có cơ hội phát triển hơn lên. Vì họ sống không còn sống cho riêng họ, mà họ sống hài hòa cùng muôn vật. Cái ngã của họ bởi do lòng tiết chế dục vọng, nên càng ngày càng nhẹ bớt dần và đến một lúc nào đó, tự nhiên họ hòa nhập vào Đại Ngã. Chừng đó, họ sống không còn ranh giới trong phạm trù nhân ngã nhị nguyên.

Con người sở dĩ vùng vẫy không thoát ra khỏi cái lưới đau khổ là vì họ còn quá nhiều tham vọng. Khi đau khổ, thì họ muốn thoát ra. Đến khi cơn đau khổ qua đi, thì lòng tham dục của họ lại tràn ngập chiếm cả tâm hồn. Cứ sống trong sự mâu thuẫn như thế, trách gì mà họ không sa đọa. Bao lâu con người chưa đủ sáng suốt để thoát ra khỏi ngục tù tham vọng, thì bấy lâu con người vẫn còn đi mãi trong bóng tối dày đặc của vô minh, tội lỗi. Cứ thế, thì biết đến bao giờ mới được thoát ra.

Qua câu chuyện lược kể, Phật dẫn dạy cho một vị Bà la môn về việc đắc thất. Con người ai cũng như ai, được thì mừng, mất thì lo buồn. Thắng thì vui mừng hớn hở, bại thì đau khổ buồn lòng. Đó là một định luật xưa nay của nhơn loại. Điều nầy, chúng ta thấy quá rõ qua những kỳ Thế vận hội (world cup) . Cứ nhìn vào những bộ môn vận động thể thao mà các vận động viên thế giới tranh giải hơn thua với nhau, thì đủ chứng minh họ tranh giành hơn thua với nhau quyết liệt. Vì sự tranh chấp hơn thua thắng bại nầy, thậm chí còn gây ra nhiều cuộc ấu đả đổ máu dữ dội. Vào trận đấu, ai cũng muốn chiếm hữu phần thắng về mình. Họ ra sức tranh nhau chí tử, bất kể thân thể. Miễn sao giành phần thắng lợi về cho mình và đội nhà là được. Họ biểu dương lực lượng, tài nghệ giữa cá nhân và cá nhân, giữa đội nầy và đội kia. Tất cả cũng chỉ vì muốn ăn thua mà ra. Dù đó là những loại bộ môn tranh tài vì nghệ thuật cao thấp. Rồi đến các khán giả cũng thế. Quốc gia nào cũng muốn ủng hộ bênh vực đội nhà của mình. Từ đó, gây ra những tranh chấp trở nên hận thù và có khi chém giết nhau. Tất cả cũng chỉ vì niệm hơn thua, thắng bại, được mất, theo kiểu thắng thì làm vua, còn thua thì làm giặc. Do đó, mà gây ra biết bao cảnh tượng thảm trạng đau thương!

Đối với những kẻ ham mê bài bạc, cũng do lòng dục vọng tham lam muốn ăn thua mà ra. Họ bị con ma tham sai sử họ. Bất cứ ai bước chân vào sòng bài, khi chơi, cũng đều khởi niệm muốn ăn thua cả. Nhứt là những người có máu nóng đỏ đen, thì càng thua, họ càng đánh lớn. Người nào cũng khởi lòng tham, muốn lấy hết túi của người khác. Có ai vào sòng bài mà không muốn ăn thua bao giờ. Chính niệm tham hơn thua nầy, khi đã thua trắng tay, thì lại sanh ra nhiều tật xấu. Như nào là gian lận, tranh cãi, đánh đập, chém giết nhau. Có người vì thua quá phải tiền vay bạc hỏi nợ nần chồng chất v.v. Đến nỗi hết phương trả nổi, rồi bán hết tài sản mà cũng không trang trải hết nợ nần. Bà la môn nầy là một tay chuyên nghiệp cờ bạc. Sống về nghề đỏ đen. Người ta thường nói, cờ bạc là bác thằng bần. Từ xưa tới nay, chưa có ai chơi nghề cờ bạc mà làm giàu cả. Nghèo sạt nghiệp, tiền khô cháy túi thì có.

Ngày nay, quốc gia nào cũng có tổ chức những sòng bài lớn công khai. Họ trang bị cảnh trí thật hấp dẫn lôi cuốn, để cho dân chúng đến chơi. Tiếng Anh gọi những sòng bài bạc nầy là Casino. Có biết bao người chết dài dài vì những sòng bài nầy. Dù là những tay chuyên nghiệp, sành điệu tứ đổ tường, cũng phải bỏ mạng sa trường, khó thoát khỏi bàn tay hung thần đỏ đen. Biết bao gia đình tan nát cũng vì nó. Thậm chí, có người vì thua quá nợ nần chồng chất, không sao trả nổi, nên đành phải ôm 52 lá bài tự tử. Dù chết, cũng mang chúng theo để xuống suối vàng đánh tiếp. Vì muốn cảnh tỉnh những ai quá nghiện ngập, cứ mãi đắm say mê bài bạc, sẽ có ngày tán gia bại sản, nên có bài thơ với nhan đề là: “Casino đường vào cửa tử”.

Casino thần kỳ quyến rũ
Tấm lòng tham biết đủ là bao
Bởi đắm mê nên phải té nhào
Chừng hối hận làm sao cho kịp
Ai cũng biết bạc bài là bịp
Nhưng dễ gì tự hối ăn năn
Bởi lòng tham ai cũng muốn ăn
Nhưng chung kết thua là phần chắc.

Lời tục ngữ thế gian đã đặt
Bài bạc thì gọi bác thằng bần
Anh cha mình, là gốc khổ đau
Lao tâm trí hao mòn thân xác
Đều cũng bởi đam mê bài bạc
Suốt kiếp đời, khốn đốn ưu sầu
Bằng như ai, giác ngộ quay đầu
Mới cứu vãn gia đình thống khổ
Nhờ biết đạo, dứt lòng tham hoen ố
Tiền của người, chớ ham muốn về mình
Nhơn phi hiền, thì chẳng có giao liên
Vật phi nghĩa, lòng thẳng ngay bất thủ
Người tu phải quyết tự mình làm chủ
Đừng để cho quỉ tham muốn dẫn đường
Dắt đi vào địa ngục chốn tai ương
Kẻ đánh bạc mấy ai đâu giàu có?

Vâng thầy dạy, kể từ nay dứt bỏ
Trở nên người Phật tử biết tu hiền
Quyết trì trai, giữ giới kết thiện duyên
Đặng trau sửa, trở nên người toàn thiện
Nhờ Phật pháp nay được phần tân tiến
Cả gia đình, đều hạnh phúc an toàn
Nguyện đời đời, quyết vâng giữ lời vàng
Của đức Phật, để xứng danh con Phật .

Câu kinh suy niệm trong ngày!

P/s: Tổ truyền thông Quảng Đức cung kính góp nhặt và chia sẻ.

💙🙏💙

CHUYỆN CÚNG THỰC PHẨM ĐÚNG CẤP BẬC (P2)(Tiền thân Bhikkhà-Parampara)Ta trông ngài xứng đáng ngôi cao...,(Tiếp theo) Phú ...
21/05/2026

CHUYỆN CÚNG THỰC PHẨM ĐÚNG CẤP BẬC (P2)

(Tiền thân Bhikkhà-Parampara)
Ta trông ngài xứng đáng ngôi cao...,
(Tiếp theo)

Phú ông hỏi:

9. Nay ta xin hỏi bậc hiền nhân,
Ở dưới da ngài lộ rõ gân,
Vói móng mọc dài, đầu tóc rối,
Cái đầu dơ bẩn lẫn hàm răng.

10. Ngài chẳng màng đời sống thế gian,
Hỡi người đơn độc trú rừng hoang,
Tôn sư nay có gì ưu thắng,
Mà phải đem lương thực cúng dường?

Vị khổ hạnh đáp:
11. Ta đào củ cải, tỏi, hành hoang,
Cỏ, lá, bạc hà, vẫn kiếm luôn,
Nhặt hạt cải đen, rung lúa dại,
Trải ra phơi nắng thật khô dòn.

12. Ngó sen, dược thảo, táo, chà là,
Am-lạc, mật ong, miếng thịt thừa,
Là của ta dành phần kiếm được,
Rồi làm thành món hợp cho ta.

13. Ngài không, lão nấu: lão nhiều hàng,
Ngài chẳng có chi, lão buộc ràng,
Thế sự bao điều, ngài giải thoát,
Món cơm ngài hưởng đúng công bằng.

Phú ông hỏi:
14. Xin hỏi, ngồi kia bậc Trí hiền,
Mọi nguồn dục vọng thảy nằm yên,
Món cơm nấu khéo đầy ngon ngọt,
Có kẻ đem phần thịt đổ lên.

15. Ngài nhận và ngon miệng uống ăn,
Chẳng mời ai đến để chia phần,
Đầy lòng kính trọng, nay xin hỏi:
Việc ấy ngài làm có nghĩa chăng?

Độc Giác Phật đáp:
16. Không nấu, cũng không bảo nấu dùm,
Nay không làm hại, trước không làm,
Vị kia biết rõ ta không của,
Ta quyết đoạn trừ mọi dục tham.

17- Tay phải vị kia nắm chiếc bình,
Thức ăn cầm phía trái bên mình,
Cho ta món thịt hầm người đặt,
Trên bát cơm ngon thật tốt lành.

18. Chúng nhiều tài sản, lắm kim ngân,
Bổn phận là đem của phát phân,
Ai bảo người cho cũng thọ hưởng,
Ấy là thù địch, chớ phân vân.
Khi nghe những lời này, vị điền chủ vô cùng hoan hỷ ngâm hai vần kệ cuối cùng:

19. Thật là ta được một duyên may
Hạnh ngộ quân vương ngự tới rày,
Thuở trước ta không hề biết rõ,
Cúng dường mang phước quá tràn đầy.

20. Đế vương với các Bà-la-môn,
Trị nước mà tâm ác dục tràn,
Các trí nhân tìm cây quả dại,
Bậc tu hành giải thoát lòng tham.

Khi vị Độc Giác Phật thuyết giáo cho vị kia xong, liền trở về cõi của Ngài và vị tu khổ hạnh cũng thế. Còn nhà vua, sau vài ngày ở lại với vị điền chủ, cũng trở về Ba-la-nại.

Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên thực phẩm đến tay người xứng đáng, mà trước kia cũng vậy.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, người điền chủ đã tôn trọng cúng dường Pháp là người điền chủ trong chuyện này, Ànanda (A -nan) là vua, Sàriputta (Xá lợi phất) là Tế sư và Ta chính là vị tu khổ hạnh trên vùng Tuyết Sơn.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Kinh Tiểu Bộ 8, Chương XIV. Tạp Phẩm 496. Chuyện Cúng Thực Phẩm Đúng Cấp Bậc, VNCPHVN, TP. Hồ Chí Minh, 2003.

I. ĐẠI Ý
Phần 2 tiếp tục làm rõ vì sao thức ăn cúng dường cuối cùng lại đến tay vị Độc Giác Phật. Khi phú ông thấy vị tu khổ hạnh đem phần thức ăn dâng cho vị Độc Giác Phật, ông thắc mắc: vị khổ hạnh kia sống đời rừng núi, thân hình gầy gò, tóc móng thô xấu, vậy vì sao lại không thọ nhận mà đem cúng dường cho người khác?
Vị khổ hạnh trả lời rằng tuy mình đã xa đời sống thế tục, nhưng vẫn còn phải tự tìm kiếm, nấu nướng, cất giữ thức ăn, nghĩa là vẫn còn nhiều ràng buộc. Còn vị Độc Giác Phật thì không nấu, không bảo người khác nấu, không sát hại, không tích chứa, không sở hữu, đã đoạn trừ dục tham. Vì vậy, vị ấy mới thật sự xứng đáng thọ nhận phần cúng dường.

Qua đó, câu chuyện dạy rằng: người xứng đáng thọ nhận không phải vì địa vị, hình tướng hay sự kính nể bên ngoài, mà vì nội tâm đã thanh tịnh, ít ràng buộc và giải thoát khỏi tham dục. Cúng dường đúng người là cúng dường đến nơi có giới đức, có ly tham và có đời sống thanh tịnh.

II. ỨNG DỤNG VÀO ĐỜI SỐNG HIỆN NAY
1. Đừng nhìn hình tướng mà vội đánh giá đạo hạnh
Phú ông ban đầu nhìn vị khổ hạnh qua hình dáng bên ngoài: thân gầy, móng dài, tóc rối, răng miệng không sạch đẹp. Nhưng chính cuộc đối thoại ấy cho thấy hình tướng bên ngoài chưa đủ để đánh giá phẩm chất bên trong. Trong đời sống hôm nay cũng vậy, có người ăn mặc giản dị nhưng tâm rất sáng; có người nói năng ít nhưng đời sống rất sâu; có người không xuất hiện nổi bật nhưng âm thầm tu tập, âm thầm làm lợi ích cho đời. Ngược lại, cũng có khi hình thức rất đẹp, lời nói rất hay, danh xưng rất lớn, nhưng bên trong vẫn còn nhiều tham cầu và vướng mắc. Người học Phật cần tập nhìn sâu vào cách sống, giới hạnh và tâm ý của một người, thay vì chỉ nhìn vẻ ngoài.

2. Tu tập là bớt ràng buộc, không phải chỉ đổi hoàn cảnh sống
Vị khổ hạnh đã sống trong rừng, ăn rau củ, trái cây, dược thảo, nhưng ngài vẫn tự nhận mình còn ràng buộc vì còn tìm kiếm, chế biến, cất giữ thức ăn. Đây là điểm rất sâu. Có khi ta tưởng rời khỏi nơi ồn ào là đã tu, ăn mặc đơn giản là đã tu, nói vài lời đạo lý là đã tu; nhưng nếu tâm vẫn còn dính mắc, còn tính toán, còn muốn hơn người, còn mong được công nhận, thì sự tu ấy vẫn chưa đi vào gốc. Tu không chỉ là thay đổi chỗ ở hay hình thức sinh hoạt, mà là làm cho tâm nhẹ hơn, ít tham hơn, ít chấp hơn. Người thật sự tiến bộ là người ngày càng bớt bị vật chất, lời khen, địa vị và cảm xúc lôi kéo.

3. Làm phước đúng là biết đưa của cải về nơi có giá trị
Vị Độc Giác Phật nói rằng những người có nhiều tài sản thì bổn phận là đem của cải ra phân phát. Lời này không phải ép người giàu phải cho hết tài sản, mà nhắc rằng của cải chỉ thật sự có ý nghĩa khi được dùng để tạo lợi ích. Tiền bạc nếu chỉ để tích chứa thì dễ nuôi lớn lòng tham; nhưng nếu biết dùng để giúp người, hộ trì Tam bảo, nâng đỡ người khó khăn, xây dựng điều lành, thì của cải ấy trở thành phước báu. Trong đời sống hiện nay, làm phước đúng không phải là cho thật nhiều để được khen, mà là biết cho đúng nơi, đúng lúc, đúng tâm. Một đồng tiền sạch, được trao bằng lòng kính trọng và trí tuệ, có giá trị hơn rất nhiều so với sự cúng dường lớn nhưng còn pha lẫn khoe khoang.

III. KẾT LUẬN
Phần 2 của Chuyện Cúng Thực Phẩm Đúng Cấp Bậc nhấn mạnh một bài học quan trọng: vật cúng dường phải đến nơi xứng đáng, và sự xứng đáng ấy nằm ở tâm ly tham, đời sống thanh tịnh, chứ không nằm ở hình thức bên ngoài.

Câu chuyện cũng nhắc ta tự soi lại mình. Ta đang sống nhẹ hơn hay nặng hơn? Ta đang biết dùng tài vật để tạo phước hay chỉ tích chứa cho lòng tham? Ta đang kính người vì đạo hạnh hay vì danh tiếng? Khi biết nhìn sâu, biết cho đúng, biết sống bớt ràng buộc, thì mỗi việc thiện ta làm đều trở thành một bước tiến trên con đường tu tập.

thích tịnh an

💙🙏💙

CÓ BƯỚC CHÂN RẤT CHẬM VỀ THĂM MIỀN TỈNH THỨCCơn mưa đầu mùa rất nhẹ nhưng đủ làm liền những vết đất nứt toác của những n...
21/05/2026

CÓ BƯỚC CHÂN RẤT CHẬM VỀ THĂM MIỀN TỈNH THỨC

Cơn mưa đầu mùa rất nhẹ nhưng đủ làm liền những vết đất nứt toác của những ngày nắng dài, có người biết cách biến những nghịch cảnh nghịch duyên thành năng lượng cho cuộc hành trình thật dài phía trước.

Bằng sự tĩnh lặng để lắng nghe, với ánh mắt dịu dàng để cổ vũ, tin mỗi người đều mang trong mình mầm thiện, mỗi người đều có một câu chuyện nhân duyên khác nhau, tất cả chỉ cần một tấm lòng đủ rộng để ươm và để lớn. Có lòng người luôn kết nối bao trẻ thơ, đặt niềm tin, tạo điều kiện để những bạn trẻ lớn lên mạnh mẽ, vững chãi giữa miền Nguyên Hương đầy nắng và gió, cát.

Một sáng đầu tháng Tư, Thầy về giữa mùa sen. mang theo nụ cười hiền, mang theo lời Phật dạy, chúng con nghe lòng mình có niệm bình yên cũng vừa chạm.

Sáng hôm ấy, có bước chân rất chậm, chậm để lắng nghe những điều bé nhỏ giữa cuộc sống hối hả, chậm để gác lại hết mọi lo toan của cuộc sống thường ngày, chậm để thảnh thơi an lạc.

Và muôn lòng hôm ấy đã tròn vẹn nương tựa Tam bảo, thinh lặng lắng nghe lời từ hòa như suối mát trong của giáo pháp, rồi nguyện cùng nhau gieo trồng những hạt giống thảnh thơi và an lạc qua từng hơi thở, bước chân chánh niệm... cùng đi trên con đường tỉnh thức.

Trân quý từng sát-na hiện tại, bên Thầy hiền bạn lành để nuôi lớn tình thương bằng một thứ tình cảm thuần khiết và bao dung nhất.

Xin được lưu dấu những khoảnh khắc tỉnh thức nơi cửa thiền hiền hòa nép mình trong lòng phố thị.

"Con đường tỉnh thức - 02" nơi chùa Quảng Đức mùng 01/04/Bính Ngọ - 17/05/2026.

💙🙏💙

PHẬT PHÁP CĂN BẢNBài 9: QUY Y TAM BẢO* ĐỊNH NGHĨA* NƯƠNG TỰA TAM BẢO LÀ THẾ NÀO?* TAM BẢO XUẤT HIỆN KHI NÀO?* LỢI ÍCH CỦ...
21/05/2026

PHẬT PHÁP CĂN BẢN

Bài 9: QUY Y TAM BẢO
* ĐỊNH NGHĨA
* NƯƠNG TỰA TAM BẢO LÀ THẾ NÀO?
* TAM BẢO XUẤT HIỆN KHI NÀO?
* LỢI ÍCH CỦA VIỆC QUY Y TAM BẢO
* LÀM SAO ĐỂ BUỔI LỄ QUY Y ĐƯỢC TRỌN VẸN?
* TÓM LƯỢC
------------------------------------------------------
III. TAM BẢO XUẤT HIỆN KHI NÀO?
2. Cư sĩ nam, cư sĩ nữ nào đã quy y Tam bảo đầu tiên?

Đại chúng là Phật tử cũng nên biết ai là người đầu tiên trong cuộc đời này đã quy y Tam bảo.

Da-xá (Yasa) là người xuất gia thứ 6 sau nhóm 5 người của Ngài Kiều-trần-như, là con của một vị trưởng giả giàu có. Anh sống trong chăn êm, nệm ấm, người hầu, kẻ hạ, đầy đủ mọi thứ mà anh cứ cảm thấy nhàm chán. Trong một đêm, Da-xá đã bỏ nhà đi sau khi nhìn thấy người hầu kẻ hạ nằm ngủ sau cuộc vui say, anh thấy nản quá. Nơi đây bẩn chật, phiền toái, không biết nơi nào không bẩn chật phiền toái. Anh đi với tâm trạng buồn khổ vì chưa tìm ra điểm tựa nào cho mình. Lúc này, Đức Phật biết đây sẽ là người đệ tử của Ngài, nên nói: “Này Yasa, nơi đây không bẩn chật, nơi đây không phiền toái, con hãy đến đây!” Đức Phật nói đúng tim đen của anh, giống như giọt nước tràn ly. Anh mang đôi dép bằng vàng, làm từng sợi vàng và xâu thành đôi dép, đến bên Đức Phật. Suốt đêm, cha anh không thấy con, đi tìm tới sáng gặp Phật. Lúc này, Thế Tôn vừa nói Pháp cho Da-xá đắc Sơ quả, nhập vào dòng Thánh. Khi cha anh tới thì Ngài đang giảng cho Da-xá sắp đắc A-a-hán nên đã dùng thần thông không để cho người cha thấy con mình, vì có thể duyên lành này sẽ qua trong tích tắc. Ông ta thấy đôi dép bằng vàng của con trai, mới hỏi Đức Phật có thấy con của ông không. Ngài nói ông ngồi xuống đây đi, lát nữa ông sẽ thấy con của ông. Sau đó, Thế Tôn thuyết Pháp cho ông, ông đắc Sơ quả; cũng chính lúc này, chàng thanh niên Da-xá đắc A-la-hán. Ông phú hộ - cha của Yasa sau đó xin quy y Tam bảo trọn đời và là cư sĩ nam đầu tiên quy y đủ Tam bảo.

Sau khi Thầy Yasa xuất gia, trở thành vị Tỳ-kheo thứ 6, Thầy đã dẫn thêm 54 người bạn cùng đi tu. Trong tiền kiếp, tiền thân của Thầy Yasa và những người bạn này đã phát tâm từ thiện. Mỗi khi thấy ở đâu có xác chết bỏ góc này góc kia, không có nơi chôn cất thì họ đi gom xác về chôn cất, thờ cúng đàng hoàng. Bởi vì thường làm điều đó nên họ mới sanh tâm nhàm chán. Nhàm chán đây là nhàm chán cõi đời này vô vị. Nếu cứ sống như vậy, lớn lên lập gia đình, nuôi con cái, cuối cùng chết. Họ cảm thấy cuộc sống vô thường trôi qua tẻ nhạt như vậy. Nó lặp đi lặp lại, ai cũng như vậy.

Đó là căn tu nhiều kiếp, là người đắc thiền rồi, đối với tài - sắc - danh - thực - thùy, mình nói vui là “đồ bỏ”, có nghĩa là đối với các Ngài mấy cái đó là thứ gì rất là tầm thường, bình thường; “đồ bỏ” ở đây nghĩa là không có giá trị. Trong tâm thức của những người đắc thiền thì những cái đó là những cái rất là tầm thường, các Ngài không bao giờ để ý đến, không bận bịu và đau khổ. Đó là nói người đắc thiền thôi, huống chi là các bậc đã đắc Thánh. Ví dụ một vị nào đó đắc thiền, họ có thể là cần tiền để mua cái gì đó, thức ăn chẳng hạn, dùng tiền như phương tiện, chứ tiền không làm cho vị đó khổ. Phước mà ông bà mình thường hay nói là có căn, có duyên lành; nói trong Phật Pháp nghĩa là quý vị có duyên lành nào đó đắc thiền, đắc Thánh thì tự nhiên vị sẽ ưu tư về điều gì đó, trầm ngâm về thân phận của kiếp người.

Chẳng lẽ cha mẹ sinh mình ra, nuôi lớn, đi học, lập gia đình, có con, rồi loay hoay 60 tuổi, 70 tuổi, cuối cùng đi đâu? Suy tư đặt câu hỏi như vậy hoài, đích đến cuối cùng của mình là ở đâu? Sao mình lại ở đây? Tại sao mình ở Sài Gòn mà không ở Đà Lạt? Tại sao mình ở miền Nam mà không ở miền Trung? Tại sao mình ở Việt Nam mà không ở Ấn Độ? Tại sao mình ở châu Á mà không phải ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Úc? Đặt câu hỏi tại sao, cuộc sống này lại có người giàu như vậy, có người khổ kinh khủng như vậy, đẹp, xấu, người đạo đức, người độc ác như vậy... Nếu không có phước đức và căn duyên sâu dày thì quý vị hiếm mà trầm ngâm những câu hỏi đó lắm.

không có suy tư về tâm linh, nếu không có phước đức, căn lành. Vậy nếu ai hỏi đại chúng, ai là cư sĩ nam quy y Tam bảo đầu tiên, quý vị trả lời được chưa? Đó là: “Ông phú hộ - thân phụ của công tử Yasa, là người cận sự nam đã quy y Tam bảo đầu tiên trong giáo Pháp của Đức Phật Gotama”

Sau đó, ông về nói cho vợ và con dâu; là mẹ và vợ cũ của Thầy Yasa. Họ mời thỉnh Đức Phật cùng chư Tăng về nhà cúng dường. Sau buổi cúng dường xong thì Mẹ và vợ cũ của Thầy Yasa đắc quả Dự Lưu và xin quy y Tam bảo và trở thành hai vị nữ cư sĩ quy y Tam bảo đầu tiên.

Đại chúng có biết mẹ của Thầy Yasa là ai không? Bà chính là nàng Sujātā - người đã cúng cho Đức Phật bát sữa sau khi Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh. Cho nên Sujātā có công rất lớn vì nhờ bát sữa mà thái tử Tất Đạt Đa khỏe lại và tiếp tục tu tập chứng quả vị Phật. Đây là bữa ăn duy nhất khi Ngài chứng đắc quả vị Chánh Đẳng Giác rồi, 7 tuần sau đó Ngài không ăn nữa mà tận hưởng hương vị giải thoát. Sau này, Thế Tôn nói với Thầy A-nan, sự cúng dường bữa ăn đầu tiên của Sujātā và bữa ăn cuối cùng của thợ rèn Cunda khi Ngài sắp nhập Niết-bàn là hai bữa ăn có phước lớn nhất.

Vậy Thầy hỏi quý vị thêm 1 câu nữa. Ai là người quy y Tam Bảo đầu tiên ở Việt Nam? Nãy giờ chúng ta nói bên Ấn Độ. Còn ở Việt Nam, Chữ Đồng Tử và Tiên Dung là những vị quy y Tam bảo đầu tiên.

Còn tiếp...

P/s: Nhân duyên chúng con được nghe, đọc những bài giảng của quý Thầy, chúng con xin ghi chép lại và cung kính chia sẻ cùng cả chùa. Kính mong quý vị hoan hỉ với phần chia sẻ này.

💙 🙏 💙

Kính mời quý vị, vào lúc: 09 giờ 00, ngày mừng 08/04/ Bính Ngọ - 24/05/2026 vui lòng về chùa Quảng Đức - Phước Hội - Lâm...
21/05/2026

Kính mời quý vị, vào lúc: 09 giờ 00, ngày mừng 08/04/ Bính Ngọ - 24/05/2026 vui lòng về chùa Quảng Đức - Phước Hội - Lâm Đồng 86, tham dự “lễ tắm Phật” khai kinh…bắt đầu tuần lễ Phật đản lần thứ 2650 - PL:2570-DL:2026.

Cành sen vừa dâng cúng,
Bảo tướng Phật sơ sinh.
Tâm con liền thanh tịnh,
An lạc chính lòng mình.

💙🙏💙

MỖI NGÀY MỘT CÂU KINH103. Dầu tại bãi chiến trườngThắng ngàn ngàn quân địch,Tự thắng mình tốt hơn,Thật chiến thắng tối t...
20/05/2026

MỖI NGÀY MỘT CÂU KINH

103. Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng.

Kinh Pháp Cú - Phẩm NGÀN
(Bản dịch: HT. Thích Minh Châu).

Một chiến sĩ khi ra chiến trận, có thể chiến thắng hằng vạn quân địch, Phật cho đó còn dễ. Nhưng tự thắng lấy mình, Phật cho đó mới thật là khó. Nhưng có thắng được giặc của chính mình, Phật nói đó là một chiến công oanh liệt nhất. Lý do tại sao? Vấn đề nầy, chúng ta sẽ bàn sau.

Yếu tố chiến thắng quân giặc của người chiến sĩ ở ngoài trận địa, tuy có nhiều, nhưng yếu tố chính là ở nơi tinh thần chiến đấu. Phải có tinh thần dũng cảm, yêu nước và ý thức quốc gia. Ngoài ra, còn phải nắm vững tình hình, địa hình, địa vật, và phải điều binh khiển tướng giỏi, biết mình, biết người, tức biết thế giặc mạnh yếu v.v. Nghĩa là những yếu tố phụ, thì có rất nhiều, không thể nói hết. Chỉ có những người giỏi binh pháp và có nhiều kinh nghiệm chiến trường mới hiểu rõ mà thôi.

Ở đây, vì không phải trong lãnh vực chuyên môn của chúng ta, nên chúng ta không thể lý giải bàn sâu. Chỉ nói lên cái yếu tố chính mà giữa người chiến sĩ và tăng sĩ, ít ra, trên ý chí quyết thắng giặc, thì cả hai đều giống nhau. Chỉ khác nhau, một đàng nhằm tiêu diệt giặc ngoài và một đàng nhằm tiêu diệt giặc ở trong tâm. Đó là điểm khác nhau giữa chiến sĩ và tăng sĩ.

Đối với người tăng sĩ, muốn được giải thoát để độ mình độ người, trong tinh thần tự lợi và lợi tha như chư Phật Bồ tát v.v, thì trước hết, cần phải tiêu diệt những lũ giặc vô minh phiền não nội tâm. Phải thắng cho được những dục vọng luôn sai sử chúng ta. Đó là trách nhiệm chính yếu của người tăng sĩ trong vai trò chuyển hóa nội tâm. Và đó cũng là điều mà Phật nhắm đến để chỉ dạy trong pháp cú nầy. Tuy nhiên, muốn được thế, chúng ta cần phải trang bị cho mình những thứ vũ khí để chiến đấu với giặc. Vũ khí tuy nhiều, nhưng tóm lại không ngoài ba thứ:

1. Áo giáp sắt tinh tấn.
2. Cây cung Thiền định.
3. Mũi tên Trí huệ.

Đó là ba loại vũ khí chính yếu mà người tu không lúc nào rời ra. Nếu rời ra, chỉ cần một phút giây thôi, thì chúng ta sẽ bị chết về tay quân giặc ngay. Vì ba loại vũ khí nầy rất là hệ trọng. Bởi thế, Phật dạy, muốn chiến thắng quân giặc, thì chúng ta phải luôn trang bị sẵn sàng, không phút giây nào xao lãng. Có thế, thì mới mong chiến thắng.

Đã có vũ khí trong tay rồi, chúng ta cũng cần phải học hỏi để biết cách sử dụng chúng. Cũng như người chiến sĩ, cũng phải học hỏi cách sử dụng vũ khí, khi ra chiến trận. Mặc dù vũ khí có đó, nhưng không phải ai cũng biết cách sử dụng cho có hiệu quả tốt đẹp. Đó là nói vũ khí bên ngoài có hình tướng, mà người chiến sĩ cũng cần phải học hỏi để biết cách sử dụng qua. Hà tất gì thứ vũ khí bên trong không hình không tướng. Đối với loại vũ khí này, chúng ta muốn sử dụng cho đúng phương pháp có hiệu quả, tất nhiên, thì thật là muôn ngàn khó khăn. Chính vì những khó khăn đó, nên chúng ta cần phải học hỏi không ngừng để biết cách ứng phó khi sử dụng.

Ba loại vũ khí trong mỗi người chúng ta đều sẵn có. Tại vì chúng ta quên và không biết đem ra sử dụng đó thôi. Vậy, sử dụng chúng như thế nào khi gặp giặc? Nhưng trước hết, chúng ta phải biết giặc là gì?

Giặc có nhiều loại. Có loại giặc bên trong và cũng có loại giặc bên ngoài. Giặc bên ngoài nói chung là những thứ có năng lực cám dỗ ta. Như “Ngũ dục”, “Lục trần” hay “Bát phong” chẳng hạn. Những thứ nầy, gọi chúng là ma vương. Vì chúng hay phá phách và làm cho chúng ta mất hết chánh niệm. Từ đó, chúng ta dễ bị sa đọa. Đại loại, giặc bên ngoài cũng có nhiều thứ, nhưng tựu trung cũng không ngoài những thứ đó.

Nhưng đối với người tu, thì giặc bên ngoài không đáng sợ lắm, mà chỉ sợ nhứt là giặc bên trong. Vì giặc bên ngoài, dù sao, chúng ta cũng còn biết được để ứng phó và diệt trừ. Còn giặc phiền não trong tâm, thật là khó thấy khó biết và rất khó trừ.

Giặc bên trong, nói chung là những loại thuộc Kiến Tư hoặc phiền não. Những loại nầy, có cạn, sâu khác nhau. Có loại dễ trừ và có loại khó đoạn. Có loại thuộc về căn bản, có loại thuộc về chi mạt. Nhưng dù loại nào, chúng cũng có tác dụng làm cho ta luôn bất an. Chúng ta muốn được thật sự an ổn, là phải tiêu diệt bọn chúng không còn một tên giặc nào. Bấy giờ, đất tâm của chúng ta mới được thật sự thanh bình an ổn. Và chừng đó, chúng ta mới thật sự buông bỏ vũ khí. Còn như chỉ còn một tên giặc, dù nhỏ hay lớn, dù thô hay tế, ta cũng không thể nào thờ ơ khinh thường giặc đươc.

Người tu, đối với lòng dục vọng, thì thật là khó thắng. Thắng giặc ngoài còn hơi dễ, nhưng thắng được giặc trong thật là muôn vàn khó khăn. Giặc ngoài chỉ là ngọn ngành, giặc trong lòng mới là gốc. Sở dĩ có gịặc ngoài là do đâu? Có phải do từ lũ giặc bên trong tham, sân, si làm nội ứng gây ra không? Con người, nếu chỉ một bề lo đi tiêu diệt giặc bên ngoài, mà không tiêu diệt giặc bên trong của mình, thì thử hỏi bao giờ thế giới mới được hòa bình? Thế giới muốn sống trong cảnh thái bình an lạc, thì mỗi con người cần phải nhìn lại để tiêu diệt giặc thù dục vọng bên trong. Một khi cái gốc không có thì làm gì có ngọn?

Thế nhưng, ngày nay con người không lo tiêu diệt giặc bên trong, mà chỉ lo tiêu diệt giặc bên ngoài. Tức là lo đấu đá giữa người với người. Như thế, rõ ràng là họ lo chạy chữa giành hơn thua với nhau trên ngọn mà quên hẳn cái gốc.

Pháp cú trên, Phật muốn chỉ thẳng cho chúng ta diệt thẳng ở nơi cái gốc. Mà muốn diệt thẳng ở nơi cái gốc không phải là chuyện dễ dàng. Tại sao không dễ? Bởi dục vọng phiền não là những thứ có gốc rễ sâu dầy. Không phải chúng có hiện đời mà nó có từ vô lượng kiếp. Cho nên, muốn tảo thanh nó, không phải một sớm một chiều mà có thể hết được. Đó là nói những người có ý chí muốn thoát ly sanh tử. Còn đối với những ai hài lòng và chấp nhận cuộc sống khổ đau, thì khỏi phải bàn đến. Những thứ phiền não trong tâm thức của chúng ta, tuy chúng vô hình, nhưng chúng có một sức mạnh vô cùng. Chúng sai sử chúng ta. Chúng coi chúng ta như là một kẻ nô lệ. Chúng không bao giờ cho chúng ta sống được yên ổn.

Muốn chiến thắng giặc lớn hay mạnh, trước tiên, chúng ta cần chiến thắng những giặc nhỏ, hay yếu trong tâm trước. Những lũ giặc, tuy nói nhỏ hay yếu, nhưng thật ra chúng cũng có sức mạnh sai sử chúng ta làm những việc bất chánh. Nếu chúng ta không thắng được chúng ngay từ bước đầu, thì hậu quả rất là tai hại khốc liệt. Những loại giặc nhỏ hay chi mạt này, trong Duy Thức chia chúng ra làm 20 thứ. Hai mươi thứ này, như trong bài trước chúng ta đã biết qua.

- Có người, khi lên bàn ăn, chỉ thiếu có trái ớt thôi, mà họ không dằn được cơn nóng giận, la ó vợ con om sòm. Từ đó, gây ra có chuyện lớn, chỉ vì không thỏa mãn đòi hỏi khẩu vị của họ.

- Một người nghiện thuốc lá, sai con đi mua, chúng lỡ mua sai hiệu thuốc, về nhà, bị họ la ó chưởi cho chúng một trận. Thế là tình cha con từ đó đã có sự nứt rạn, sứt mẽ tình cảm không tốt, cũng chỉ vì một chuyện rất nhỏ nhoi mà không thắng được cơn giận.

- Có người vào trong siêu thị, vì không ngăn được lòng tham, nên chôm chỉa đồ đạc, bị phát giác và cảnh sát đến bắt họ bỏ tù.

- Có Phật tử đến chùa dự tu, vì giành chỗ ngủ nghỉ mà xảy ra có chuyện cải vả rầy rà lớn tiếng với nhau, đó là do không chế ngự được niệm tranh giành. Một việc nhỏ như thế mà không thắng được dục vọng của mình, nói chi đến việc lớn.

Những việc xảy ra như thế, không bút mực nào kể ra cho hết. Chỉ xin nêu ra một vài việc điển hình thôi. Tất cả đều do con người không chiến thắng được những giặc nhỏ tầm thường đó, cuối cùng, hậu quả rất tai hại. Đối với những dục vọng nhỏ nhặt mà họ không chiến thắng được chúng, thì thử hỏi: những dục vọng lớn hơn gấp trăm ngàn lần, thì làm sao họ có thể chiến thắng cho được? Thế nhưng phải chiến thắng chúng bằng cách nào?

Điều này, trong kinh điển, Phật dạy có nhiều phương cách đối trị, tùy theo thế giặc mạnh yếu. Như người có lòng sân hận nặng, thì Phật dạy phải dùng pháp quán Từ bi để đối trị. Vì người có lòng thương, thì không nhẫn tâm làm đau khổ kẻ khác. Hoặc người có lòng ham muốn sắc dục nặng, thì Phật dạy phải dùng pháp quán bất tịnh để đối trị. Phải hằng quán sát thân thể mình và thân thể người không có chi là sạch sẽ. Từ đó, lòng ham muốn sắc dục sẽ nhẹ dần v.v.

Về những phương cách đối trị này, tất cả đều nằm trong những kinh điển thuộc Bất liễu nghĩa và thuộc về hệ kinh điển A Hàm hay Nguyên thủy Phật giáo.

Cao hơn một bậc, thì Phật dạy người tu phải áp dụng những phương pháp nói trên. Nghĩa là phải ứng dụng Thiền định và Trí huệ để hóa giải mọi mê lầm chấp trước. Muốn sử dụng hai loại này cho có kết quả tốt đẹp, thì Phật dạy người tu phải luôn mặc vào áo giáp sắt tinh tấn. Nếu thiếu áo giáp này, thì khó mà thắng được lũ giặc phiền não hung bạo kia. Bởi vì thế giặc quá mạnh, mà chúng ta ở thế quá yếu. Nên muốn chiến thắng bọn chúng, thì chúng ta phải thường xuyên tinh tấn. Không lúc nào chểnh mãng xem thường bọn chúng. Vì mỗi phút giây, ta luôn đối đầu trực diện chiến đấu với bọn chúng. Nếu thiếu cảnh giác là chúng ta sẽ bị bại trận ngay.

Trong lịch sử nhơn loại, từ xưa tới nay, sử sách ghi lại chưa có một chiến công oanh liệt nào bằng chiến công oanh liệt của đức Phật. Ngài đã chiến thắng một cách oai hùng và vẻ vang. Nhưng, Đức Phật sở dĩ được thế, Ngài cũng đã trải qua một trận thư hùng ác liệt với bọn ma vương . Một trận địa do lũ ma quân bày chiến trận thật là như thiên la địa võng. Lớp ma trong, ma ngoài bao vây đức Phật tứ phía. Nhưng nguy hiểm và đáng sợ nhứt là bọn nội ma. Đây là bọn nội công nằm vùng thật đáng ghê sợ. Bọn nầy, bình thường ta rất khó biết và khó nhận diện chúng. Chúng chuyên môn đánh chúng ta bằng lối đánh du kích. Nếu ta không đề phòng cẩn mật, thì tất bị chúng tấn công ngay.

Nhìn lại, cuộc chiến đấu của đức Phật thật đầy cam go, gian lao thử thách. Thời gian chiến đấu tranh tối, tranh sáng, một mất, một còn, phải trải qua mất 49 ngày đêm. Đến đêm thứ 49, đức Phật mới hoàn toàn tuyên bố thắng trận. Vũ khí chiến đấu của đức Phật chỉ có hai loại “cung Thiền định” và “tên Trí huệ”. Ngoài ra, Phật còn phải mặc áo giáp tinh tấn. Phật trang bị cho mình thật kỹ trước khi xuất quân đối địch.

Sau khi chiến thắng một cách vẻ vang oai hùng, bấy giờ Phật mới thật sự lên ngôi Chánh giác. Và tất cả quân ma đều xếp giáp quy hàng. Không một tên nào mà không đầu phục. Tuy Phật chiến thắng có một không hai trong lịch sử nhơn loại như thế, nhưng Ngài không một chút lộ vẻ đắc thắng. Ngài rất khiêm tốn. Ngài tỏ ra rất hiền từ để chiêu dụ quân ma. Bọn quân ma sau khi đầu hàng rồi, chúng xin tình nguyện theo Phật để ủng hộ Phật trên đường giáo hóa. Phật đồng ý hứa khả chấp nhận.

Qua đó, chúng ta thấy, sở dĩ đức Phật thành công trong việc chuyển hóa vô minh phiền não, do Ngài có một quyết tâm kiên trì bền bỉ. Nhờ vào sự quyết tâm kiên cường mãnh liệt đó, nên Ngài tự khắc phục và chiến thắng quân ma một cách vẻ vang anh hùng.

Ngày nay, chúng ta tu theo Phật, thì không có con đường nào khác hơn là chúng ta phải theo con đường mà đức Phật đã đi. Nghĩa là muốn tiêu diệt quân ma phiền não, chúng ta cũng phải sử dụng ba loại vũ khí nói trên: cung thiền định, tên trí huệ và áo giáp sắt tinh tấn. Ba loại vũ khí nầy, người tu chúng ta phải sử dụng thường xuyên, luôn cảnh giác đề phòng và sẵn sàng tiêu diệt giặc phiền não. Muốn được giải thoát, thì không có con đường nào chọn lựa khác hơn. Bất cứ ứng dụng tu theo pháp môn nào Phật dạy, trọng tâm của hành giả nhắm tới cũng nhằm vào một mục đích duy nhứt đó thôi. Ngoài mục đích này ra, thì dù tu cả đời, cũng không mong gì thành công được.

Câu kinh suy niệm trong ngày!

P/s: Tổ truyền thông Quảng Đức cung kính góp nhặt và chia sẻ.

💙🙏💙

Address

139 Lê Lợi, Phường Phước Hội, Thị Xã La Gi, Bình Thuận
Lagi
804610

Telephone

+84988859410

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Quảng Đức - La Gi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Chùa Quảng Đức - La Gi:

Share