Hai Họ Phan Trần Dương Sơn

Hai Họ Phan Trần Dương Sơn Kính chào bà con hai họ Phan - Trần ở phương xa cũng như gần nhà! Mọi ý kiến đóng góp xin hãy nhắn tin vào trang. Trân trọng.

Trang ghi dấu những hoạt động của hai họ Phan - Trần từ hai Ngài thủy tổ cho đến các đời con cháu Hai Họ hậu thế ở làng Dương Sơn, theo hành chính Công giáo gọi là giáo xứ Dương Sơn. Trang Fanpage này được lập ra dưới sự thôi thúc của hai vị tộc trưởng, nhằm ghi dấu những sự kiện liên quan đến hai dòng tộc Phan Trần ở làng Dương Sơn từ xưa đến nay nhằm lưu giữ truyền thống tốt đẹp của cha ông, con cháu hai họ Phan Trần.

ẤM ÁP TÌNH QUÊ!(Tảo Mộ Hai Vị Khai Canh, Khai Khẩn và Các Bậc Tiền Nhân).Xuân về niềm vui phơi phới đến,Trẻ già, lớn bé ...
25/02/2026

ẤM ÁP TÌNH QUÊ!
(Tảo Mộ Hai Vị Khai Canh, Khai Khẩn và Các Bậc Tiền Nhân).
Xuân về niềm vui phơi phới đến,
Trẻ già, lớn bé sắc diện tươi.
Quê nhà Mừng Xuân thêm ngày mới,
Tảo Mộ Tiền Nhân với bao đời.
Ông Bà chung hưởng nơi Thiên Quốc,
Cháu Con xum vầy tại Chốn Quê.
Dâng lên Trời Cao muôn lời tạ,
Bao là tình Chúa thi ân Nhà:

Từ năm 1307 trước,
Hai Ngài sánh bước cùng nhau đến.
Đổ bến vùng hoang tạo cơ nghiệp,
Mở mang bờ cỏi hiệp chung lòng.
Tiền Nhân dan vòng tay triều mến,
Tha Nhân ấp ủ lòng vấn vương.
Cấp đất, cho: ruộng, ao, vườn, tược,
Tiến thân, vượt dậy từ nỗi không.

Thời gian theo sau, chồng Ân Sủng,
Tin Mừng đến nơi cũng đúng lúc(1696).
Tòa Thánh chúc lành cho tất cả,
Con Dân Quê Ta là Con Chúa.
Dương Sơn như hạt lúa trổ bông,
Làng Họ là suối mát rông nguồn.
Bà Con xa tuôn về lũ lượt,
Cho Quê Nhà thắm đượm Niềm Tin.
( 08/tháng giêng/ Bính Ngọ/2026).

Tảo mộ 2 họ Xuân Bính Ngọ 2026
25/02/2026

Tảo mộ 2 họ Xuân Bính Ngọ 2026

LƯỢC SỬ LÀNG DƯƠNG SƠNĐỒNG LỊCH SỬ HAI HỌ PHAN VÀ TRẦN  (Tham khảo và biên soạn: Phan Bôn)===I. ĐỊA LÝLàng Dương Sơn thu...
09/02/2025

LƯỢC SỬ LÀNG DƯƠNG SƠN
ĐỒNG LỊCH SỬ HAI HỌ PHAN VÀ TRẦN
(Tham khảo và biên soạn: Phan Bôn)
===
I. ĐỊA LÝ
Làng Dương Sơn thuộc xã Hương Toàn, huyện (Thị xã) Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Thành phố Huế). Cách trung tâm thành phố Huế 8 km theo đường chim bay về hướng Bắc, có hình cánh cung. Đông giáp làng Cổ Lão, Tây giáp làng Xuân Đài (gần làng Thanh Lương), Tây Bắc giáp làng Phước Yên, Đông Nam giáp làng Liễu Cốc Hạ. Giữa một vùng đồng bằng, phía trước có đồng ruộng trãi rộng sang các làng kế cận, phía sau một vùng đất phù sa màu mỡ cặp dòng sông Bồ chảy xuôi từ thượng nguồn Trường Sơn về.
II. NGUỒN GỐC THÀNH LẬP LÀNG
Năm Bính Ngọ (1306)Vua Chăm Pa là Chế Mân dâng cho Vua Trần Anh Tông (1293-1316) hai Châu: Châu Ô và Châu Rí (Lý) làm sính lễ cưới Công Chúa Huyền Trân. Một dải đất xung yếu gồm bờ Nam sông Thạch Hãn đến bờ Bắc sông Thu Bồn đã gia nhập vào lãnh thổ Đại Việt.
Đến năm Đinh Mùi (1307), triều đình Nhà Trần thâu nhận hai Châu: Ô và Rí, đổi tên thành Hóa Châu và Thuận Châu, đồng thời cử tướng Đoàn Nhữ Hài thiết lập nguồn máy cai trị và cho di dân từ Thanh, Nghệ, Tịnh và Bắc Quảng Trị đến lập nghiệp lại vùng đất mới nầy. Thừa Thiên là một phần đất của Châu Hóa mà dân cư chủ yếu là người Chăm sống rãi rác ở đồng bằng sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương và sông Thu Bồn, kể cả vùng đầm phá ven biển. Từ đây sự chung sống, hòa hợp giữa ba cộng đồng: Người Chăm, bản địa và người Việt nhập cư khai hoang lập Làng, bắt đầu tạo nên những biến đổi tích cực trong việc xây dựng đất nước.
Trong số đó có Hai Ngài: Họ Phan và Họ Trần đến khai canh, khai khẩn lập nên Làng Dương Sơn.
Về sau qua từng giai đoạn và những biến cố, các vị họ, phái khác lẻ tẻ đến sinh sống, lánh nạn chiến tranh…! Đồng lao, cộng khổ xây dựng và phát triển Quê Hương cho đến ngày nay.
Sau khi Vua Chế Mân từ trần, công chúa Huyền Trân trở về Đại Việt, lấy cớ nầy Vua kế vị Chế Mân là Chế Bồng Nga đánh Châu Hóa và Châu Thuận. Năm 1377 vua Nghệ Tông tử trận vì bị mắc mưu, quân Chiêm Thành đã chiếm lại Hai Châu cùng với Tân Bình và Nghệ An trong suốt 12 năm, cho đến khi Chế Bồng Nga bị quân Đại Việt bắn chết, quân Chiêm Thành tan vỡ và rút quân khỏi vùng đất nầy.
Năm 1391 Vua Trần Thuận Tông cử Lê Quý Ly đi tuần Châu Hóa, xét định quân ngũ, sửa chữa thành trì, Châu Hóa mới ổn định. Tình hình biến động trên vùng đất Thừa Thiên suốt thế kỷ XIV đã làm nhịp độ di dân chững lại! Đến thế kỷ sau mới phục hồi… Và từ thời gian ấy, có một số các Vị mang họ, tộc khác cũng đến cư ngụ, nương tựu tại Dương Sơn.
Từ năm 1397 công cuộc di dân bổ sung thành phần cư dân Việt rãi rác diễn ra trong thế kỷ XIV (14). Cuối thế kỷ XIV, Nhà Trần đã lập tại vùng đất Hóa Châu với 7 huyện mới: Trà Kệ (bao gồm huyện Quảng Điền và Hương Trà ngày nay) (1), Lợi Bồng, Sạ Lệnh, Tư Dung, Bồ Đài, Bồ Lăng và Thế Vinh với khoảng trên 40 làng, ấp, thôn, trại và sách.
Lâu dài về sau, qua từng giai đoạn và những biến cố, nhất là trong sứ vụ truyền giáo của các linh mục thừa sai quản nhiệm, các dân lân cận, các trẻ mồ côi(*) và các vạn chài dọc sông nước được người Dương Sơn tiếp đón, tìm về nuôi dưỡng, cấp đất ở, ruộng vườn để định cư lánh nạn, nên dân số mỗi lúc một tăng dần.
Ban đầu Vua Lê Thái Tổ (1428-1433) đặt tên Làng là xã Dương Loan, về sau Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613) khi vào trấn thủ đất Thuận Hóa (Thừa Thiên) đã đổi tên là xã Dương Sơn, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa.
Diện tích gồm: Phía trước làng 25 ha (~50 mẫu ta) ruộng lúa, phía sau 25 ha (~50 mẫu ta) vừa làm đất thổ cư vừa làm đất canh tác để trồng hoa màu phụ bên dòng hữu ngạn hạ lưu sông Bồ. Truyền tụng rằng: Các Vị có khai phá thêm 50 ha (100 mẫu ta) ở vùng Văn Xá thuộc Hương Văn dùng để bẩy chim, dần về sau được đổi chác hay nhượng bán.
Dân làng ngày xưa sống bằng nông nghiệp, nấu rượu, nuôi heo, trồng dâu nuôi tằm(*), bẫy chim lái cá. Rượu Dương Sơn từng được các Tự Hồng Lô, Quan Lộc của bộ Lễ nhà Nguyễn đặt nấu cung ứng rượu tế lễ và dùng trong cung đình.
Ngày nay vẫn giữ nghề truyền thống: Nông nghiệp, nấu rượu, chăn nuôi và chằm nón. Hiện nay, nền kinh tế hội nhập, người dân Dương Sơn có tầm nhìn xa hơn, con em được học tập thành đạt trong một số lĩnh vực, người lao động bằng chân tay hay trí óc đã làm thay đổi bộ mặt của quê nhà.
Dân số năm 1747 đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát vỏn vẹn chỉ 80 người. Đến năm 1922 đời Khải Định 722 người. Đầu năm 1996, thống kê được 1100 người (nếu tính cả 1060 người ngoại tỉnh và 107 người ở hải ngoại thì dân Dương Sơn là 2267 người). Hiện nay (2021) trên 2500 người. Con cháu Hai Họ 1878 người, họ Phan khoảng 1036, họ Trần khoảng 842: (Hai Họ đang tu chỉnh Gia Phả).
III. SỰ KIỆN TRONG TỪNG GIAI ĐOẠN.
1. Khai Canh, Khai Khẩn lập Làng
Đầu năm Đinh Mùi (1307) từ Thanh Hóa, gia đình ông Phan Hách có 6 ngườì con, trong đó có ba anh em theo đoàn di dân vào định cư thuộc vùng đất Thuận Hóa gồm: Phú Bài, Nông Truồi và Cồn Nỗi (theo Tôn Đồ của Họ Phan TTH). Một trong ba Vị cùng Vị Họ Trần đến định cư tại đây, hợp lực khai phá hai bên dòng sông Bồ nơi những mãnh đất phù sa màu mỡ… Dần dần có những họ khác đến, cộng tác, phát triển vùng đất này từ đây(2).
Từ năm 1307-1428 không còn sử liệu nào ghi chép cả! Đặc điểm thuộc khu vực, có làng Cổ Lão, La Vân (thượng, hạ) và Dương Sơn Họ Phan là Khai Canh, mỗi nơi có cùng những Vị họ tộc khác là Khai Canh. Tại đây bên bến đò La Vân qua Dương Sơn và Cổ Lão có bãi phù sa gọi là “Cồn Nỗi” thuộc hai huyện Quảng Điền và Hương Trà. Chỉ biết làng có mặt trong danh sách làng xã, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa khi Dương Văn An biên soạn “Ô châu cận lục” vào năm 1555. Như vậy tên làng được đặt vào thời Vua Lê Thái Tổ.
Theo truyền tụng, ông Họ Trần cùng đến vùng nầy sống chung cục, khai phá đất hoang với ông Họ Phan và số cư dân đến sau, mở rộng thêm điền thổ. Nên Dương Sơn có chung Thủy Tổ Khai Canh và Khai Khẩn là Hai Ngài Phan Trần (Cách gọi Hai Ngài Khai Canh, Khai Khẩn cho đến ngày nay)(3).
2. Các học tộc hiện có tại làng Dương Sơn
Ngoài Hai Họ chính Phan và Trần ra:
👉 Cuối thế kỷ thứ XIV, cuộc di dân tiếp diễn dưới thời nhà Trần đến đời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558 - 1613), một số ít dân được bổ sung cho dân cư Dương Sơn.
👉 Giai đoạn trước 1945, Dương Sơn khi trở thành một xứ thuần túy Công Giáo, nhờ lòng bác ái, yêu mến tha nhân, luôn mở lòng tiếp đón những người có hoàn cảnh nghèo khổ, côi cút, bệnh tật…được nuôi dưỡng và cấp đất ở.
👉 Xuất phát cách gọi cho các Họ là “Lục Tộc (sáu họ)” ngoài Phan và Trần ra như: Phan, Trần, Lê, Nguyễn, Đỗ, Đặng, vì sự tranh chấp quyền lợi, đất ruộng, vị thế nên được truyền tụng phân định Họ Chính và Họ Ngụ.
👉 19/02/1946-20/7/1954 trong chiến tranh Việt Minh và Pháp, thêm những gia đình xung quang tìm đất lành lánh nạn, được nâng đỡ. Trong đó, một số cho mang họ Phan, Trần nhưng trong diện ngụ cư như những Họ khác vì đến sau.
👉1954 - 1975 nhiều gia đình từ: Tân Lộc, Thanh Lương, Xuân Đài (Hương Xuân); Cổ Lão, Hương Cần, An Thuận (Hương Toàn); Phước Yên, La Vân, Tân Thành, Sịa (Quảng Thọ); Đồng Lâm, Nghĩa Lộ, Thanh Tùng (Quảng Điền), cũng đến nương tựa tại Dương Sơn để giữ đạo hoặc theo đạo. Được Giáo quyền và Làng che chở, cho mượn đất sinh sống, gọi là “Chầu Dưng”, các Họ ngụ không còn gọi là Sáu họ nữa mà lên đến nhiều Họ, bổ sung cư dân như: Phạm, Lê, Hồ, Phan, Trần, Nguyễn, Ngô, Huỳnh, Hoàng, Trịnh...
👉 1975 đến lúc này, danh sách các họ tăng vọt do nhiều lý do: Lánh nạn, theo đạo, theo quê vợ: Phạm, Trương, Hồ, Bạch, Vi, Võ…
😇Nên Biết: Theo truyền thống, nếu đến một nơi nào đó trong làng quê Việt, điều kiện chính thức trở thành Tộc, Họ nơi đó phải qua đời thứ IV định cư nhập làng… Nếu tính đổ đồng không theo quy định thì Dương Sơn có trên 20 họ (4).
4. Những khó khăn, rồi cũng vượt qua
- Trong quá khứ đến trước năm 1975, dân số Dương Sơn càng ngày càng tăng, từ những biến cố lịch sử sự lạm dụng thời cơ, dân ngụ cư thường nổi lên phong trào chống đối lại con cháu Hai Họ bằng những vụ kiện tụng, tranh chấp quyền lợi và tranh dành ruộng đất…Nhờ cùng một niềm tin và vâng lời các linh mục Quản xứ dân Dương Sơn được đoàn kết, yêu thương vượt qua sự kỳ thị chánh, ngụ!
- Năm 1975 Đất nước thống nhất, nhiều dân làng từ khắp nơi tìm về quê sinh sống, nhằm vượt qua cảnh cơ cực, nghèo đói, chỉ có lao động sản xuất là chủ yếu dưới các tổ chức: Tập Đoàn hay Đội sản xuất. Làng Dương Sơn dưới sự quản lý của Ủy Ban Nhân Dân thôn, trực thuộc chính quyền mới, toàn người trong các Tộc Họ ngụ nắm giữ. Sự kỳ thị, tính dân tộc khơi lại rộ lên nhằm phục hận bởi các biến cố trước của tiền nhân, phần lớn người trong Hai Họ có bộ mặt bị điều đi lao động vùng sâu vùng xa, nơi những công trình của nhà nước như: Bình Điền, Khe Trái, Đập Trấm v.v... Cán bộ các cấp người các làng khác trong xã được thân quen với cán bộ thôn hiện tại, cố làm cho Dương Sơn điêu đứng: Bị gọi hỏi cung, khai báo, làm lý lịch, tạo hiện trường giả rồi vu khống, bắt bớ, giam nhốt ở hầm truyền tin xã, nhiều ngày tại đồn Công an huyện Hương trà, có một số cho đi cải tạo. Tình hình căn thẳng, không dám tập trung quá hai người, không ít gia đình bị theo dõi, rình rập, sáng hôm sau có giấy triệu tập về Ủy Ban xã, phần đông là con cháu của Hai Họ. Vì muốn an phận nên không ai dám phản kháng (5).
Vài gia đình thường xung đột, cải vã khi vợ là người trong Hai Họ.
Dịp Tảo Mộ truyền thống của Làng tưởng nhớ Khai Canh và Khai Khẩn vào mồng tám tháng giêng hàng năm bị giáng đoạn, nhưng Hai Họ vẫn duy trì tổ chức nội bộ bằng những hình thức đơn giãn… cho đến…
- Chính sách của Nhà Nước đổi mới, Dương Sơn tận dụng trong mọi lãnh vực… Linh mục Lê Thanh Hoàng quản xứ (1996-2005) cùng một vài người cộng tác đã vận động con cháu Hai Họ, nhường ngày Tảo Mộ của mình (mồng tám tháng giêng) làm thành ngày Tảo Mộ chung cho Dương Sơn, mang tính tôn giáo là Giáo xứ đứng ra tổ chức Tảo Mộ Khai Canh, Khai Khẩn, bắt đầu năm 1998 đến nay đã trở thành thông lệ hàng năm. Cũng được thử nghiệm và Giáo xứ ban hành trong bản nội quy của Giáo xứ qua nhiệm kỳ của hai Cha Quản xứ: Cha Gioa kim Lê Thanh Hoàng và Cha Giuse Nguyễn Văn Chánh. Sau ngày nầy, sang ngày mồng chín, các Họ, Tộc khác mới được Tảo mộ phần mình, kể cả Hai Họ Phan Trần. Thời gian vẫn giữ theo truyền thống, nhằm quy hướng bà con xa gần trong nước cũng như hải ngoại. Lòng nô nức tìm về quê nhà, tích cực đóng góp tinh thần lẫn vật chất làm cho mỗi năm thêm đậm tình hiệp nhất, con dân Dương Sơn hiệp một khối, tình cảm ruột thịt nhiều lưu luyến.
Chương trình Lễ được tổ chức gồm ba phần:
Phần 1. Đêm Tĩnh nguyện “Đốt Nến Tin Yêu” vào đêm mồng 7 tháng Giêng;
Phần 2. Nghi lễ: Tế tự Hai Ngài Khai Canh, Khai Khần và Thánh Lễ cầu hồn cho Ông Bà, Cha Mẹ và người thân” đã qua đời tại quê nhà cũng như ở nơi khác vào sáng mồng 8 tháng Giêng.
Hai phần trên tổ chức tại Tại trung tâm Lễ Đài Đất Thánh Dương Sơn.
Phần 3. Tiệc mừng: Dùng bữa cơm trưa thân mật trong đại gia đình Giáo xứ xa gần quy tụ.
Thời gian Tảo Mộ của các gia đình và của các họ, nhánh có thể kéo dài đến 15 tháng Giêng, đem lại một hòa khí êm đềm có một không hai trên những làng quê Việt Nam, được nhà nước biểu dương và mô hình làm theo cho những vùng quê khác.
4. Giáo lý Công Giáo đến Dương Sơn
- Năm 1615 linh mục F. Buzomi và Diego Carvallo cập bến Hội An, khai mở công cuộc truyền giáo lần ra phía Bắc. Từ đó Giáo Phận Huế, trong đó có Giáo Xứ Dương Sơn được hình thành. Đến năm 1696 Giáo Xứ Dương Sơn đã chính thức có tên trong bản báo cáo mà cha Labbé, cha chính địa phận đệ trình lên Tòa Thánh Rôma. Và có thể khảng định là cha Emmanualê Bổn đã thành lập Giáo xứ nầy.
- Trong giai đoạn khó khăn lớn nhất của đạo Công giáo, không được triều đình chấp nhận, sự có mặt các vị Thừa sai nước ngoài là bất hợp pháp. Người Việt Nam có mang trong mình hoặc tàng trữ ảnh tượng, đồ đạt, sách đạo đều bị kết án. Giáo đoàn Huế được phát triển bằng máu đào tuẫn tiết, Dương Sơn cũng đã đóng góp máu mình vun tưới cho Giáo hội địa phương.
- Dưới thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) một số giáo dân Dương Sơn phải mang án “thảo tượng”(cắt cỏ cho voi ăn), cổ mang xiềng ba tao với miếng đồng khắc hai chữ “tả đạo”. Thời Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản, năm Mậu Ngọ 1798, Dương Sơn và 4 giáo xứ khác đã cống hiến 30 vị tử đạo. Trong những giai đoạn khó khăn ấy, Dương Sơn vẫn can đảm đón tiếp các đấng bề trên đến ẩn náu và thi hành mục vụ.
- Dương Sơn được các vị linh mục thừa sai quản nhiệm, những chủ trương của Kitô giáo, như trước Công Đồng Vatican II, sự hiệp nhất giữa cộng đoàn thuộc thành phần dân Chúa, Thánh Đường (nhà thờ) chính thức là nơi tập trung giáo dân nhằm thờ phượng, cũng như nơi cầu nguyện, tưởng nhớ những người đã khuất. Vì vậy không họ, tộc nào có từ đường, kể cả hai tộc chính Phan và Trần(*). Sau 1975 từ đường các họ, tộc, nhánh mới rộ lên một phong trào xây dựng từ đường riêng. Hiện nay từ đường của các Họ, Tộc, Nhánh có nhiều.
- Linh mục quản xứ tại đây: Đầu tiên là cha Emmanuêlê Nguyễn văn Bổn (1673-1698) đến năm 2021 được 36 vị, có hơn 20 người con của Dương Sơn được phong linh mục và trên 25 nữ tu của các dòng trong và ngoài nước (theo lược sử giáo xứ)...
5. Sự tích của những thửa ruộng
Trong những giai đoạn khó khăn và cũng bởi những thói an nhàn (trước năm 1747) con cháu của Hai Ngài đã bán hoặc đổi đi 100 mẫu tại Văn Xá, trước đây là nơi bẩy chim thư giản của các Vị.
🚩5 sào ruộng Bước: Do thách thức một người phụ nữ đã bước ở một góc đạt 5 sào ruộng!
🚩5 sào ruộng đũa: Nhát vót đũa để dùng, nên bị mất 5 sào ruộng đổi lấy một đôi đũa.
🚩5 sào ruộng bánh bèo: Cũng vì một đĩa bánh bèo cho đi 5 sào ruộng.
Dưới thời Gia Long (1802-1820) khi điền thổ được minh định và phân chia theo dân số trong làng để trồng trọt, triều đình đã chấp thuận cho hai họ Phan và Trần, 2 mẫu 5 ruộng ở vùng Bàu Sen lo hương khói, và Tảo mộ trong họ hàng, được cấp trích lục của tòa địa chính Thừa Thiên, Đại Nam Trung Kỳ ngày 15/9/1933.
Ngày 22/01/1952 thời ông Phan Đến làm Lý trưởng, con cháu trong Hai Họ nhận thấy và cảm thông sáu Họ Tộc ngụ phải việc hương khói người quá cố không có tài sản mà phải gắng gượng, hội đồng đại diện các Nhánh trong Hai Họ quyết định chia xẻ cho quý họ 1 mẫu 5, còn lại 1 mẫu để con cháu Hai Ngài Tảo Mộ hàng năm. Việc nầy chỉ thực hiện được vài năm khi con dân trong làng càng tăng.
Thời ông Phan Kỉnh làm câu hò đã thu hồi lại 1 mẫu 5 ấy và trích lại 2 mẫu 5 sào ruộng công của làng dành cho Quý Tộc chia nhau lo việc Tảo Mộ phần mình.
Những họ, tộc bất tuân lệnh làng bị trục xuất khỏi Hai Họ hay cho mang khai Họ khác.
Giai đoạn nầy Hai Họ sở hữu 2 mẫu 5 sào như cũ(6).
Sau năm 1975, Chính quyền buộc Hai Họ làm đơn xin hiến cho nhà nước 2 mẫu 5 sào ấy, vì theo chính sách ruộng đất là của nhà nước, và 2 mẫu 5 sào của Quý Tộc cũng trưng thu.
6. Những thời kỳ khó khăn của Dương Sơn ảnh hưởng bởi đạo Công giáo
🤔 Vụ Dương Sơn và Cổ Lão
Sự phân chia ruộng đất cho Dương Sơn và Cổ Lão trong quá khứ, điền thổ của Dương Sơn ở vùng trong, Cổ Lão ở vùng ngoài. Dân làng Cổ Lão thấy thiệt thòi trong quá khứ. Thừa cơ, dưới triều đại Minh Mạng (1829-1831) đã làm đơn kiện làng Dương Sơn, nhưng thua, sau đó chuyển sang kiện Dương Sơn theo đạo Gia Tô (Công giáo), vua Minh Mạng đứng ra thụ lý nhận thấy sự phát triển nhanh chóng của Công giáo (theo Đại Nam Thực Lục) nên ra dụ cấm đạo, ngày 06-01-1833 vì dụ cấm Đạo của Minh Mạng đã giải tán Chủng viện, Tu viện Mến Thánh Giá Dương Sơn và nhà Thờ cũng bị dở bỏ (7).
Năm 1945 chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất giữa ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, tư liệu của giáo xứ và của làng tại nhà Tăng và nhà Họ đã bị một số người ở làng bên lên đốt phá, thiêu rụi không còn vết tích hay một chứng từ nào. Gia phả của các họ, tộc, lúc đó đều được lưu trữ trong Giáo xứ và trong Làng cũng cháy theo.
Một số nhân chứng kể lại: Khi đến đốt phá nhà Tăng và nhà Thờ đạo một gia đình ở làng ấy đã lấy của nhà Thờ đem về làm nhà, làm cột xây rơm rạ, làm xong bị cháy nhiều lần, người trong gia đình ấy có một số bị câm, về sau họ cho là: “Lấy của Thánh bị Trời phạt”.
- Dương Sơn và làng dưới nhiều lần xung đột tranh chấp điền thổ qua nhiều giai đoạn. Có vụ trong lúc hai bên đang xung đột, một số nữ tu dòng MTG Dương Sơn nhổ cột rào tiếp tay, nên bị Cố Phú gọi các nữ tu ấy vào phạt bắt ăn cơm với muối một tuần(8).
- Cổ Lão có một vị làm quan dưới triều Nguyễn đã xin Dương Sơn làm một con đường thuộc phần đất của Dương Sơn để ngựa đi được gọi là “đường dái” và xin chôn xác mẹ vợ tại giữa ruộng Cồn Đá, hiện tại gọi là Mã Vôi Cồn Đá.
7. Những Linh mục quản xứ có công xây dựng giáo xứ Dương Sơn
🤗Nhiệm vụ chăm lo cho cộng đoàn Dân Chúa của các linh mục quản xứ đều được ghi nhận công ơn! Có một số linh mục đã góp phần tạo nên bộ mặt Dương sơn qua từng thời:
- Cha Emmanuêlê Nguyễn văn Bổn (1672-1698): Năm 1696 đã thành lập Giáo xứ.
- Cha Jaccard (cố Phan Văn Kinh, ngài đã lấy tên Việt và họ Phan) (1799-1838): Năm 1828-1830 Những năm tháng đầy sốt sắng cho cộng đoàn. Khởi sắc có được hai dòng tu lớn: Chủng viện và Tu viện Mến Thánh Giá được mở ra tại đây. Ngài là vị tử đạo vì danh Chúa cho Dương Sơn.
- Cha FX Trương Văn Thường (1862-1881): Làm lại Nhà Thờ Dương Sơn.
- Cha Joseph Allys (cố Lý) (1881-1885): Cương quyết sống chết để bảo vệ Dương Sơn sống đạo dưới thời Văn Thân trong chiến dịch “Bình Tây Sát Tả”(1883-1886).
- Cha Pierre Guillot (Cố Cao) (1886-1921): Truyền giáo cho 8 làng lương dân xung quanh, Xây nhà Thờ bằng ngói lần thứ I và tháp chuông là di tích lưu giữ đến ngày nay.
- Cha Auguste Hilaire (Cố Trí) (1921-1922): Xây thêm nhà xứ cho cố Claude Bonnin (Ninh) ở hưu.
- Cha Elie Reyne (Cố Phú) (1922-1936): Xây Nhà Thờ ngói (1926) lần thứ hai.
- Cha Phaolô Nguyễn Văn Hườn (1936-1941): Xây Nhà Thờ Tu Viện và Nhà Thờ Họ Hương Cần.
- Cha Giuse Nguyễn Văn Giáo (1965-1969): Xây nhà Thờ, nhà tu viện và một Hội quán. Để có quỹ xây nhà Thờ, trước đó Làng đã cho đấu 90% ruộng của làng trong vòng 20 năm và kết hợp HĐGX đi lạc quyên trong Miền Nam.
- Cha Gioakim Lê Thanh Hoàng (giám quản từ tháng 11/1986. Chính thức Quản xứ tháng 4/1996-2005): Trùng tu nhà Thờ lần I. Xây Trường cấp I, hai lớp mẫu giáo, nhà Hiệp Nhất, hồ và tượng Mẹ Lavang, hòn non bộ kính Mẹ Dâng Chúa Vào Đền Thánh (bổn mạng Giáo xứ), nhà bia kỷ niệm, tường rào khuôn viên Nhà Thờ, chỉnh trang Đất Thánh Giáo xứ: Lễ Đài; lăng Khai Canh, Khai Khẩn; cổng vào Đất Thánh; đổ đất lấp hồ; làm chợ Dương Sơn; hợp tác với chính quyền đúc đường bê tông liên thôn về Hương Cần dài gần 2 km rộng 3m(*); hỗ trợ học phí cho học sinh có hoàn cảnh nghèo và học sinh đạt thành tích trong học tập v.v…
Đã tạo sự đoàn kết Hai Họ cùng Quý họ trong dịp Tảo Mộ hàng năm, quy tụ con dân xa gần. Thay đổi cục diện Dương Sơn, được chính quyền biểu dương, khen thưởng.
- Cha Giuse Nguyễn Văn Chánh (10/2005-2015): Giữ nguyên đường lối sinh hoạt mục vụ của Cha tiền nhiệm. 2007 đại trùng tu Nhà Thờ; xây mới thêm một lầu mẫu giáo và một mẫu giáo ở Cổ Lão...; Năm 2008 xây thêm nhà Cha sở; cổng lớn tiền sảnh Nhà Thờ; chỉnh trang, bổ sung làm cho khuôn viên Giáo xứ tăng thêm vẻ đẹp.
- Cha PX Hoàng Hải (2015-2018): Lợp lại mái ngói nhà thờ và trường học giáo lý.
- Cha Phaolô Trần Văn Quang (đương nhiệm): Nhiều dự án đang thực hiện!
- Cha Giuse Huỳnh Đình Hào: quản xứ từ 2024, nay ngài đang tiếp tục các dự án, đặc biệt ngài đang kêu gọi vốn để xây dựng Nhà hiệp nhất, sửa chữa Giáo đường, cải tạo cảnh quan khuôn viên... Ngài mong mọi người cùng chung tay xây dựng giáo xứ Dương Sơn ngày càng khang trang, tốt đạo, đẹp đời.
8. Các Linh mục là người Dương Sơn
1) Cha Nhượng (Mong) đời Gia Long; 2) Phêrô Nguyễn Văn Lập 1904; 3) Alexis Phan Đức Sắc 1918; 4) Hier Nguyễn Văn Lục 1920; 5) Phaolô Trần Kim Khánh 1932; 6) Toma Trần Văn Sâm 1932; 7) Đôminicô Đỗ Quang Thừa 1949; 😎 Phêrô Phan Văn Trọng 1950; 9) Phan Đình Cho; 10) Phêrô Phan Văn Lợi; 1974; 11) Đôminicô Phan Hưng 1997; 12)Antôn Huỳnh Đầy 2000; 13) FX Phan Chiếm 2004; 14) Phêrô Phan Tươi 2006; 15) Giuse Đặng Văn Niên 2007; 16) Banabê Trần Đình Phục 2007; 17) Đôminicô Phan Châu Bảo 2007; 18) Phan Văn Lành 2017; 19) Giuse Nguyễn Đình Phúc 2019; 20) GB. Trần Kim Cang 2020; 21) Giuse Phạm Hữu Do 2023; Antôn Phan Đức Huân 2023…
(Cập nhật đến năm 2025).
9. Các vị Tộc trưởng của Hai Họ
a) Họ Phan (sau 1975)
-Ông Phan Phấn; -Ông Phan Phát(Hậu); -Ông Phan Phát(Giao); -Ông Phan Giống; -Ông Phan Lạng; -Ông Phan Thi.
b) Họ Trần (Sau 1975)
-Ông Trân Bường; -Ông Trần Thỏa; -Ông Trần Binh; - Ông Trần Minh; -Ông Trần Viền; -Ông Trần Lý; -Ông Trân Hạnh.
10. Những vị có công xây dựng và có vị thế của quê hương:
a) Trước 1975
* Trong Hai họ:
-Ông Phan Kỉnh (câu họ): Tổ chức hành chánh của thôn cũng như trong giáo họ là người có uy quyền; -Ông Phan Viên (câu họ); -Ông Phan Hượt (câu họ; -Ông Phan Chơn (giáp họ); Ông Phan Thuận (lý trưởng); -Ông Phan Nam (bộ làng); -Ông Phan Kinh (bộ làng); -Ông Phan Tài (trùm họ); -Ông Trần Cửu (lý trưởng); -Ông Phan Năm (bộ làng); -Ông Trần Phiên (biện họ); -Ông Trần Hào (hương mục); Ông Trần Sang (quản); -Ông Trần Tuân (lý thôn, hương bộ); -Ông Phan Chưỡng (thầy thuốc bắc); -Ông Trần Bường (chủ tịch gx); -Ông Phan Khiết (thầy chữa về xương khớp); -Ông Phan Cát (thường gọi là quận Cát, ông làm ban II của huyện Hương Trà); -Ông Phan Phấn (cai đội và chủ tịch gx); -Ông Phan Phát (cai đội); -Ông Phan Ba (lý trưởng); -Phan Việt (giáp họ); -Ông Phan Giống (Giáp họ, phó lý); -Ông Phan Não (đại úy đệ I CH) ; -Ông Phan Đến (xã trưởng, lý trưởng); Ông Phan Hứng (trung úy QC); -Ông Phan Diễu (đồn trưởng); -Ông Phan Khôi (an ninh); -Ông Phan Mộc (thôn trưởng); -Ông Phan Khâm (thôn trưởng); -Ông Trần Cẩm; -Ông Trần công Hồi (trung úy AN QĐ); -Ông Phan Chấn(thiếu uý CS); -Ông Phan Hậu (đại úy BB); Ông Trần Hầu (trung úy BB); -Ông Phan Huệ(đại uý Không Q); -Ông Phan Tuyên(thiếu uý Bk dù); -Ông Phan đức Hân(thiếu úy BB); -Ông Phan Hảo(Tốt)(Cử nhân VK); -Ông Phan Phước(Gs đệ ll cấp); -Ông Phan Ninh(thiếu uý BB);-Ông Miên(thiếu uý CS); -Ông Phan Đức(chuẩn uý BB)…
* Các họ khác:
-Ông Nguyễn Thấy (giáp họ); -Ông Phạm Chước(giáp họ); -Ông Trần Vệ (hương bổn); -Ông Trần Mãi (Hương kiểm); -Ông Huỳnh Thảo (thiếu tá đệ I CH); -Ông Hoàng Chi(Gs đệ ll cấp); -Ông Huỳnh Liễm(Chuẩn uý BB)…
b) Sau 1975
* Trong Hai Họ:
-Ông Phan Lạng (chủ tịch gx); -Ông Phan Phủ (thôn trưởng); -Ông Phan Phê (phó ct hđgx); -Ông Phan Bôn (chủ tịch hđgx); -Ông Phan Khuyên (thư ký hđgx). Ông Trần Huỳnh (thủ quỹ hđgx). -Ông Phan Miên (thủ quỹ Hai Họ) -Ông Phan Đăng (thư ký Hai Họ).
* Các Họ khác:
-Ông Đặng Cho (chủ tịch hđgx); -Ông Nguyễn Văn Đức (đội trưởng sx); - Ông Phạm Tăng (chủ tịch hđgx); - Ông Nguyễn Văn Phước (phó chủ tịch hđgx)...
* Nhiều vị có tên trong các tổ chức nhưng không có công việc chi nỗi bật…
c) Thành đạt của con cháu trong học tập
- Đến nay số con cháu tốt nghiệp đại học và cao học càng ngày càng nhiều, có những cử nhân, bác sỹ, thạc sỹ, tiến sỹ… sẽ nối tiếp cho đàn em trong học tập, danh thơm tiếng tốt của quê nhà (danh sách sẽ đính kèm sau).
*****
IV. PHẦN GHI CHÚ VÀ DIỄN GIẢI
(trăm năm bia đá vẫn mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ…).
- (1) Trà Kệ: Là tên huyện xứ Thuận Hóa thời Trần, bao gồm đại bộ phận vùng đất huyện Quảng Điền và thị xã Hương Trà ngày nay.
- (2) Theo Tôn Đồ của Họ Phan Thừa Thiên Huế, vào đầu mùa Xuân 1307 cùng đoàn di dân từ Thanh Hóa của gia đình ông Phan Hách có 6 người con, trong số đó có ba anh em đã vào các vùng: Phú Bài, Nông Truồi và Cồn nỗi. (hiện tại ở bến đò La Vân qua Dương Sơn và Cổ Lão được gọi vùng “CỒN NỖI”). Về sau con cháu sinh sôi, nẩy nở sống rãi rác khắp cả nước. Dòng tộc Họ Phan đã được sưu tìm do một nhóm ở Huế đứng ra(ông Phan Quảng ở đường Chi Lăng). Hiện nay đã xây dựng Nhà Thờ Phan Tộc tỉnh Thừa Thiên-Huế (gần đường Tránh Huế). Hàng năm con cháu quy tụ để tế tự Ngài Họ Phan.
- (3) Từ: “Hai Ngài Khai Canh, Khai Khẩn” là như một cụm danh từ riêng được gọi để tỏ lòng biết ơn và sự tôn kính. Nên không thể đổi thành cách gọi khác như: Chư Vị, Nhị Vị… hay các Vị Tiền Nhân… nhằm một sự đồng bộ hóa được!
Những chứng từ của Hai Họ cũng như Họ Giáo bị đốt cháy, vì vậy trước đầu thập niên thế kỷ XIX các tư liệu tại Dương Sơn không còn, mà chỉ bắt đầu được ghi chép mới từ năm 1892 đến nay (Gia Phả của Hai họ và sổ Rửa Tội của Giáo xứ) chỉ từ đời I đến đời VII và VIII.
Có thể: Theo truyền tụng từ trong Làng, Hai Ngài Khai Canh và Khai Khẩn có tên là Phan Huy và Trần Đức, hiện tại cũng không thể khảng định Quý Danh được vì quá trình không có gì để tồn tại cho đến ngày nay! (Tư liệu có thể tìm thấy vào thời Hậu Lê 1428-1527: Làng Cổ Lão gồm 5 họ lớn: Vị Khai Canh là Họ Phan, Bốn Vị Khai Khẩn: Phạm Hữu, Phạm Văn, Hoàng Tăng và Hoàng Văn. Làng La Vân Ngài Khai Canh là Họ Phan. Làng Dương Sơn dưới thời Vua Lê Thái Tổ 1428-1433).(?) (Phủ biên tạp lục của Lê quý Ly viết vào đầu năm 1775).
Trong tự điển tiếng Việt hiện nay không thấy từ “Khai Canh” mà chỉ có từ “Khai Khẩn”. Mà có thể hai từ ấy đồng nghĩa với nhau = Khai phá, mở rộng bờ cỏi.
-(4) Tại sao có Họ Phan và Họ Trần ngoài con cháu ra ở Dương Sơn sau nầy? Vì một số người khi đến là con trẻ, hay mù chữ, không rõ tên họ của mình! Được sự yêu thương, nâng đỡ của làng và Giáo xứ, cho mang họ của Khai Canh, Khai Khẩn, nhưng vẫn thuộc thành phần ngụ cư. Như tấm gương Cha Jaccar Phan là người Pháp, ngài được giáo quyền ủy nhiệm quản xứ tại đây, tự nguyện lấy tên là Phan văn Kinh!
Từ 1307 đến nay (2021) đã 715 năm, trên khắp Đất Nước, mọi tỉnh thành đều có mặt con cháu Họ Phan và Họ Trần đã làm phong phú cho dòng tộc.
Người Dương Sơn toàn tòng Công Giáo là một tổ chức ảnh hưởng lối sống đạo, Linh mục được toàn dân kính nể, đạo và đời có liên đới trong mọi tổ chức sinh hoạt. Tài sản của Làng cũng đồng nghĩa là của Họ đạo, Làng đã trích cho Giáo họ một số đất và một số do Giáo họ mua (gọi là đất Nhà Chung thuộc địa phận) dùng cho những người đến, nương tựa học và theo đạo tạm cư, tạo kế sinh nhai. Nên gọi là đất “Chầu Dưng”. Trước 1975 có hàng chục mẫu ruộng mà Dương Sơn là chủ quyền thuộc làng Hương Cần và Triều Trung sau 1975 đã bị nhà nước trưng thu.
- Điều quan trọng: Một vùng đát nào được khai phá, phát triển đều có người đặt chân đến trước!
- Cách gọi của một Chủ tịch HĐGX mới là: Hai Vị Khai Canh và các Vị Khai Khẩn không đúng! Vì các người đến sau chỉ tìm lánh nạn hay tá túc bởi một lý do nào đó thôi, không có cộng tác mở rộng bờ cỏi cho Dương Sơn.
- (5) Ông Bậu, Huyện đội; Ông Ngân (Cổ Lão) Bí thư xã; Ông Tuệ (Hương Cần) Công an xã; Ông Kiên (Cổ Lão) Công an xã; Ông Lãng(Cổ Lão) Công an HTX Tây Toàn v.v...
Những cán bộ thôn Dương Sơn lúc ấy là: Ông Phạm công Xa(thôn trưởng); ông Nguyễn Tôn (an ninh); ông Nguyễn Văn Phương (thư ký); Còn có: các ông Trần Miền (thư ký thôn); ông Đặng Thông (công an thôn và làm ở HTX Tây Toàn) v.v…
Cha Gioakim Lê thanh Hoàng, quản xứ đã nhận định khi một thời gian dài sống tại Dương Sơn: “Ở đây các Họ, Tộc có tính dân tộc cao…”.
- (6) Thời ông Phan Kỉnh là Câu Họ, ông rất có uy tại Dương Sơn. Những họ ngụ cư (lục tộc), khi ông sai việc chung của làng như: Hon xôi, bắt làm heo gà, nấu ăn, sai vặt… Có những họ trái lệnh đã bị ông phạt, nhẹ thì đánh roi, nặng thì khai trừ đổi cho mang khai họ khác như: Phan thành Trần, Đổ, Nguyễn. Phạm… trở thành họ ngụ.!
-(7) Năm Nhâm thân (1832) Minh Mạng thứ 13 tháng năm…
“Ở Thừa Thiên có xã Dương Sơn (thuộc huyện Hương Trà), dân xã bị mê hoặc theo ta giáo Gia Tô đã lâu, xây cất nhà thờ Thiên Chúa, tôn người Tây là Phan Văn Kinh (tức là linh mục Jaccard) làm đạo trưởng, hội họp nhau giảng đạo đọc kinh. Việc bị phát giác quan Phủ gọi tất cả lên công đường hiểu thị hai ba lần, nhưng rốt cuộc không một người nào xin xuất giáo cả. Vua giao xuống Bộ Hình nghị xử. Bộ xin xử thủ phạm là cụ Lý trưởng Phan văn Khoa, án giảo giam hậu, tòng phạm là Lý trưởng Trần văn Tài án đi đày 3.000 dặm. Cách chức Đội phó Vũ Lâm là Trần văn Sơn, binh dân 13 người thì đều đóng gông nặng trong một tháng, mãn hạn xong đánh mỗi người 100 trượng rồi phân phát làm lính ở các xứ Quãng Ngãi, Thanh Hóa. Còn các dân đàn ông, đàn bà thì đánh trượng, đánh roi rồi thả. Đạo trưởng Phan vă Kinh thì bị xử giảo giam hậu, Nhà Thờ thì dở bỏ. Án nghị xong đưa lên. Vua sửa lại, Trần văn Tài phải làm lính ở Trấn Ninh, Phan văn Kinh vì là dân man di ở ngoài cỏi ngoài xa xôi, chưa rõ luật pháp, gia ơn cho phạt làm lính ở Phủ Thừa Thiên, quản thúc chặc chẻ không cho ra ngoài để có thể truyền giáo được. Còn các tên phạt làm lính như Trần văn Sơn v.v. tên nào phạt đi Quảng Ngãi thì gọi là lính Phục Nghĩa, tên nào phạt đi Thanh Hóa thì gọi là lính Phục Hóa, phân biệt với các sắc binh khác…”
- (8) Người Cổ Lão sống tình nghĩa rất tốt với Dương Sơn! Trong chiến tranh tìm lên Dương Sơn lánh nạn, họ cũng nâng đỡ người Dương Sơn, như gia đình ông Phạm hữu Thêm đã cho cố Cao trốn trên tra lúa khi triều đình tìm bắt. Chỉ một ít người thừa cơ tìm cách hại Dương Sơn mà thôi.
(*) - Đường bê tông nầy được nữ tu Trần thị Giồng hổ trợ.
- Trồng dâu nuôi tằm của tu viện MTG Dương Sơn tại vùng thượng đề, được giữ lại cho tới 1970.
- Cô nhi viện do dòng Mến Thánh Giá đảm nhiệm. Những trẻ chết được chôn ở vùng “Bàu Châu” (Từ cuối xóm 5 đến gần Đất Thánh) được gọi vùng “Đồng nhi”.
* Những điềm thiên, dấu lạ tại Dương Sơn:
- Mệ Phan thị Lục (mệ Tân) là một người đạo đức lúc sinh thời, mệ thường xuyên ra Đất Thánh để cầu nguyện! Mệ kể: trong giai đoạn chiến tranh 1945, mệ đã nhìn thấy tại Đất Thánh có Đức Mẹ bồng Chúa Giêsu cùng Thánh Giuse cưỡi ngựa dẫn đầu một đoàn lính Pháp khi đối phương muốn tấn công vào Dương Sơn.
Mệ luôn hái rau, lá ở Đất Thánh cho những người ốm đau nấu uống và được ơn chữa lành.
- Theo một số bộ đội: Sau trận 1968, từ Quảng Thọ những đơn vị của họ muốn qua Dương Sơn nhưng không được vì bên kia có quân đội Mỹ bắn ra như mưa.
- Đại đội trưởng của đơn vị bộ đội đóng tại Dương Sơn (1975-1976) kể: Cũng năm 1968 khi đại ông từ Thanh Lương để về Dương Sơn, ngang qua cây ban đồng (Xuân Đài) cả đơn vị bị đau bụng nên phải rút lui.
(Chúng ta là con dân Dương Sơn nói chung và con cháu Hai Ngài nói riêng cố gắng đoàn kết, chung sức, chung lòng làm cho Quê Hương mỗi ngày được tốt đẹp thêm, tô điểm nét son lịch sử, kế thừa, bảo tồn Di Sản và lưu mãi cho hậu thế…!).
(Có những nội dung được rút gọn kính mong sự thông cảm!).
===
Dương Sơn, ngày 16 tháng 3 năm 2021 (năm Ất Sửu), hiệu chỉnh Ất Tỵ 2025.
PHAN BÔN
(Lưu giũ và dung trong nội bộ con cháu Hai Họ).

Address

Trần Phú
Hue
49000

Telephone

+84918168402

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hai Họ Phan Trần Dương Sơn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Hai Họ Phan Trần Dương Sơn:

Share