16/07/2026
90 NĂM VÂN QUY BẠCH NGỌC
Đức Thượng Chưởng-pháp Lê Bá Trang – bậc tiền bối khả kính thuở khai sơn tạo tự, là người đặt nền móng nghi lễ, giáo lý trong buổi Đạo Cao Đài còn nơi thời kỳ phôi thai; đồng thời cũng là bậc Anh-lớn mẫu mực, gương sáng đức hạnh cho lớp hậu thế học hỏi noi theo. Tuy nay đã chín mươi năm kể từ ngày Anh-lớn Chưởng-pháp vân quy Bạch Ngọc, song công lao kiến tạo nền móng Đại Đạo của Người vẫn vững tựa non Tu-di; còn giới đức cùng gương hạnh ấy vẫn nhẹ nhàng lưu lại nơi trần thế như hương mai thanh nhã giữa đêm đông đầy biến động – “mai hoa hương tự khổ hàn lai”.
Ở đời, lắm kẻ cho rằng vinh hoa phú quý là đích đến của kiếp người; áo mão đai cân, chức tước đầy thân, của cải chất đầy gia thất. Thế nhưng, khi quỷ vô thường gõ cửa, nào ai mang theo được thứ gì. Dứt hơi hồn xuất, rồi đến năm bảy mươi năm sau cũng dần chìm vào quên lãng, chẳng còn mấy người nhung nhớ nhắc tên. Ấy vậy mà có những bậc oai nghi, một đời gương hạnh, nhìn thấu lẽ giả tạm của cõi đời, chẳng tham đắm mồi vinh hoa, chẳng quyến luyến mùi phú quý. Người đã lấy tài đức mà phụng sự nhơn sanh, sống một đời thanh sạch, thiểu dục tri túc, trọn đạo nghĩa với Đạo, với đời. Đến giờ phút lâm chung vẫn an nhiên tịch tịnh mà vân quy Bạch Ngọc, để lại niềm tiếc thương cùng lòng kính ngưỡng cho người ở lại.
Đã qua chín mươi năm kể từ ngày Đức Thượng Chưởng-pháp vân quy Bạch Ngọc, nhưng Anh-lớn dường như vẫn hiện hữu trong tâm thức người con Cao Đài qua từng câu chuyện Đạo xưa, từng lời dạy được truyền lưu qua bao đời chức sắc, hay trong từng trang đạo sử cũ. Mây nơi cõi thế hợp rồi tan, nhưng áng mây đức hạnh của Người vẫn còn lưu bóng mãi cùng năm tháng.
Tệ đệ chẳng phải bậc thanh xuất vu lam, tuổi đời còn trẻ, sở học chưa tinh. Nhưng mỗi lần nhắc đến Người, trong lòng lại dấy lên niềm kính ngưỡng và thán phục trước công lao, giới đức cùng gương hạnh nơi cửa Đạo. Cái tài, cái đức cùng tấm lòng trọng nghĩa khinh tài ấy thật khiến hậu sanh cảm phục. Thuở ở dân thì dân thương, lúc ra đi dân nhớ – một đời thanh liêm, tư chất thanh cao.
“Áng Mây” không phải là tác phẩm kể lại hành trạng cuộc đời Đức Thượng Chưởng-pháp Lê Bá Trang dưới góc nhìn sử học mà là nơi gửi gắm tình cảm, nơi lưu lại những mảnh kí ức xưa mang hình bóng của một bậc vĩ nhơn đang dần mờ phai theo năm tháng. Bởi “Áng mây” chính là nơi dừng chân ngẫm lại những câu chuyện xưa, góp nhặt từng mảnh kí ức để vẽ lên một bức tranh mang nhiều gam màu về một con người hết lòng vì đạo trọn nghĩa đời; xứng danh là bậc trượng phu gánh trên vai trách nhiệm cao cả.
Đã mấy mươi năm Anh-lớn khuất bóng. “Hưu ngôn tịch diệt, mạc ngôn quy” – chớ nói tịch diệt là trở về, bởi Người nào có thật đi đâu mà trở về. “Tọa cửu lao cân, ngọa tổn bì”, cái xác thân giả tạm này vốn chịu nhiều sự ràng buộc. “Xích cước đạp phiên tứ đại hải”, chỉ một bước chân thôi cũng đủ Người vượt khắp năm châu bốn biển. “Không quyền đả phá ngũ Tu-di”, một quyền một cước, một niệm giác ngộ liền phá tan cõi giả tạm trần gian ô trược nầy. Vậy Người phá tan cái gì? Chính là cái sự vô minh, tham luyến thói đời giả tạm được Người phá bỏ, mở ra con đường đạo đức thuần tuý cho lớp lớp hậu sanh bước tiếp. Quả thật, Người chưa từng rời xa chúng ta, mà vẫn âm thầm dõi theo từng bước đi trên đường đạo nghĩa.
“Tích nhựt như thị lai,
Kim triêu như thị khứ.
Lai khứ tự như như,
Bất giả Như Lai xứ.”
Ngày xưa Người đến thế gian này như thế nào, thì hôm nay cũng như thế ấy mà rời đi. Một đời quả công viên mãn, thong d**g tự tại mà vân du thượng giới. Cái phong thái an nhiên ấy chẳng cần ai tiếp dẫn, bởi Người tự tại ung dung chọn lấy con đường riêng để trở về với thể tánh chơn như, hiệp cùng Đức Chí Tôn – Đấng Đại Từ Phụ trọn lành nơi Bạch Ngọc Kinh.
“Điểu tùy loan phượng phi đằng viễn, Nhơn bạn hiền lương phẩm tự cao.”
Chim nhỏ bay theo loan phượng thì bay cao bay xa; con người gần bậc hiền lương thì phẩm hạnh cũng trở nên cao đẹp. Thật vậy, gương hạnh của Người chẳng những là tấm gương soi, mà còn là thước đo, là la bàn chỉ hướng trong buổi đời thế tục hôm nay. Ngày mà lớp hậu sanh không còn được diện kiến các bậc trưởng thượng khả kính, khi Anh-cả Giáo-tông, Anh-lớn Thượng Chưởng-pháp đã khuất bóng, thì chính gương hạnh ấy trở thành ngọn đèn soi lối giữa đêm trường u minh.
“Triêu vi phất vân huê,
Mộ vi ủy địa tiều.
Ký ngôn lập thân giả,
Vật học nhu nhược miêu.”
Làm người phải noi bước tiền nhơn mà giữ gìn đức hạnh, chớ chạy theo bã vinh hoa, mùi phú quý; bởi cái sắc, cái hương của thói đời vốn sớm nở tối tàn như loài hoa dại ven đường. Phải ngày ngày khắc kỷ phục lễ, giữ tâm ý thanh sạch, triêu càn tịch dịch mà chuyên cần trau sửa bản thân; lấy lòng trung chánh hướng về lẽ Đạo, về chơn lý sáng ngời mà bậc tiền nhân đã dày công khai mở lưu truyền.
“Phi vân tự hữu lăng tiêu chí,
Hướng nhựt ninh vô phủng nhựt tâm.”
Bức tranh sơn thủy hữu tình vẫn lặng lẽ nép mình dưới bầu trời thanh nhã, tưởng như an yên tĩnh mặc nhưng lại ẩn tàng biết bao câu chuyện của thời gian. Có những áng mây hợp rồi tan theo lẽ vô thường của tạo hóa, nhưng cũng có những áng mây tuy khuất bóng mà dư hương vẫn còn lưu mãi nơi lòng người. Và “Áng Mây” cũng chính là một cụm mây như thế – mang theo dấu tích của một đời đạo hạnh, một đời tận tụy vì Đạo vì đời. Tuy nhẹ nhàng thanh thoát giữa trời Đại Đạo bao la, nhưng lại chất chứa biết bao đạo tình, khí tiết và bóng hình của một bậc vĩ nhân khả kính. Để rồi qua năm tháng, áng mây ấy vẫn lặng lẽ trôi giữa bầu trời Đại Đạo, lưu lại dư âm thanh cao cho lớp hậu thế noi theo.
Kiến Văn tự Chương Lương kính bút.