Phật giáo hiện đại hóa

Phật giáo hiện đại hóa Là nơi tu tập Thiền Định theo tông chỉ của HT Thích Thanh Từ. Đồng thời, là phòng thuốc Đông Y Từ Thiện uy tín

28/06/2019

Trang chủ Bài nổi bật NT.Thích Nữ Như Đức: Phải hiểu được mình là người xuất gia “tâm hình... Bài nổi bậtDiễn đànChấn hưng Phật giáoNT.Thích Nữ Như Đức: Phải hiểu được mình là người xuất gia “tâm hình dị tục” Bởi Thư....

22/03/2019

CÓ 49 NGÀY & THÂN TRUNG ẤM KHÔNG?

I- Nguồn gốc (xuất xứ) 49 ngày & thân trung ấm.

1- Manh nha từ thế kỷ I, II sau Phật Niết-bàn, đến kỳ kết tập Phật ngôn lần thứ ba, khoảng 216 năm thời đại đế Asoka thì Phật giáo Ấn Độ đã phát sanh nhiều học phái, chia làm 2 nhóm:

- 11 học phái được tách ra từ Theravāda.
- 16-18 học phái cải cách có khuynh hướng đại chúng, gọi là Đại chúng bộ.

Trong 26-28 học phái này thì chỉ có Tuyết Sơn bộ (Hemavantavāda) và phái Hoá Địa bộ (Mahisāsakavāda) thuộc nhóm thứ nhất là có quan niệm về thân trung ấm, được xem là sớm nhất. Và thân trung ấm thời này có tên là Antarabhava. Antara là khoảng giữa, ở giữa, chỗ lưng chừng; còn bhava là hữu, là có, là tồn tại – có nghĩa là “tồn tại ở khoảng giữa, chỗ lưng chừng!” . Lưu ý ở đây là không có từ ấm. Ấm hay uẩn là được dịch từ khandha, cái che đậy, cái che lấp, cái chồng chất làm cho chúng sanh không thấy được cái thực, cái sự thực, cái chân lý (còn có nghĩa là nhóm, tích chứa). Vậy, ấm này cũng là “hậu tác” để thích dụng cho ngữ cảnh, ngữ nghĩa nào đó mà người ta muốn “lập tri”.

2- Tìm thấy thân trung ấm ở trong Đại tỳ-bà-sa luận: Luận này là của Long Thọ, được trước tác khoảng chừng thể kỷ thú I TL.

Luận này dạy Bồ-tát niệm Phật A Di Đà cầu vãng sanh về thế giới Cực lạc, dạy phương pháp sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ và hồi hướng để được vào địa vị Bất thối. Đây là cách thức, không chỉ sơ tâm Bồ-tát mà cả phàm phu, ai cũng làm được mà đạt kết quả cao! Có những câu khinh chê Thanh Văn, Duyên Giác đến tận đáy địa ngục: “Rơi vào địa ngục không đáng sợ bằng rơi vào hàng Nhị thừa!”. Đọc ở đâu cũng không thấy tu tập định tuệ mà chỗ nào cũng nói đến tha lực, oai lực siêu nhiên; chỗ nào cũng lễ lạy, xưng tán hồng danh Phật này, Bồ-tát kia (có cả nhiều trang tên Phật, tên Bồ-tát) là có thể có tất cả trí tuệ, công đức, phước báu vô lượng!

(Người ta cũng nói thân trung ấm ở trong Đại thừa nghĩa chương, ở trong luận Câu Xá, ở trong luận Tỳ-bà-sa của Thế Hữu - nhưng người viết chưa có thì giờ nghiên tầm).

3- Tìm thấy dấu ấn rõ ràng nhất là ở trong Tử thư Tây tạng, khoảng thế kỷ thứ 14, được cho là do tổ Liên Hoa Sinh thuyết giảng hoặc tâm truyền. Đây được xem là những khai thị cho những người sắp chết.

Tôi đọc được ở trang Wikipedia:

“Giai đoạn của cái chết được chia làm ba phần, liên hệ chặt chẽ với Tam thân Phật:

- Trong giai đoạn đầu ngay sau khi chết, Pháp thân (sa. dharmakāya) xuất hiện dưới dạng Tịnh quang (sa. ābhāsvara), ánh sáng rực rỡ;

- Trong giai đoạn hai, Báo thân (cũng gọi là Thụ dụng thân, sa. saṃbhogakāya) xuất hiện dưới dạng Ngũ Như Lai hay Phật gia (sa. buddhakula), gồm hình dáng các vị Phật với những màu sắc khác nhau;

- Trong giai đoạn ba, Ứng thân (sa. nirmāṇakāya) xuất hiện dưới dạng sáu đường tái sinh (Lục đạo) của Dục giới (Vòng sinh tử, sa. bhavacakra).

Trong cả ba giai đoạn đó, thần thức của người chết có thể đạt giải thoát bằng cách lắng nghe lời khai thị để nhận ra tất cả là do tâm thức mình đang chiếu hiện mà nhờ vậy đạt Niết-bàn”.

Thật lạ lùng và cũng thật là “bí diệu” thay! Có thể dẫn dắt thần thức đến chỗ giải thoát, Niết-bàn - chẳng cần công phu hành đạo, chẳng cần tu tập giới định tuệ gì cả, khoẻ re!

4- Và cuối cùng, thân trung ấm được Trung Quốc và Việt Nam tiếp thu, lan tràn khắp nơi là do kinh Điạ Tạng.

Bộ kinh nầy, toàn bộ nội dung là khen ngợi, xưng tán danh hiệu Bồ-tát Địa Tạng. Và chỉ cần như vậy thôi sẽ “có được” tất cả sở cầu, sở nguyện như ý!
...

Bậc trí có thể tin một loại được gọi là kinh như thế hay chăng? Tôi có thể khẳng định, và “sẵn sàng đi địa ngục Vô gián” để nói rằng, kinh này không những là “hậu tác” mà còn là “nguỵ tác”, đã rất thâm độc, đã đưa một đạo Phật trí tuệ đoạn lìa tham sân phiền não xuống ngang hàng với những loại tín ngưỡng dân gian đầy mê tín, tối tăm và ngu muội. Chỉ cần khen ngợi, chỉ cần một câu một chữ kinh này, chẳng cần tu tập gì cả, kẻ ác cũng được vô lượng công đức, phước báu hay sao???

II- Hiện tượng chết và tái sanh

1- Những nguyên nhân của sự chết

Chết là sự chấm dứt tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Chết không phải là đoạn diệt hẳn, chết tại chỗ này nghĩa là sanh tại chỗ khác, như mặt trời lặn ở chỗ này nhưng lại mọc ở chỗ khác.

Chết, có nghĩa là chấm dứt mạng căn (jīvitindriya), sức nóng (tejodhātu) và thức (viññāṇa) của một chúng sanh.

Như vậy, chết có 4 nguyên nhân sau đây:

- Sự chấm dứt của tuổi thọ.
- Sự chấm dứt của nghiệp.
- Tuổi thọ và nghiệp cùng chấm dứt.
- Do sự xen vào của đoạn nghiệp.

1.1-Sự chấm dứt của tuổi thọ

Cái mà chúng ta thường hiểu là “chết tự nhiên”, nghĩa là chết khi đến tuổi già yếu, tuổi thọ đã hết. Tuổi thọ tuỳ thuộc cảnh giới, không hạn định được số lượng nào. Người chết do hết tuổi thọ như ngọn đèn tắt vì dầu đã cạn hoặc tim đã lụn. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp xảy ra, tuổi thọ hết nhưng nghiệp tái tạo (sanh nghiệp) của người ấy chưa chấm dứt thì sao? Nếu năng lực của nghiệp còn tiềm tàng thì người ấy có thể tiếp tục sống trong cảnh giới ấy hoặc trong một cảnh giới cao hơn.

1.2- Sự chấm dứt của nghiệp.

Đây là sự chấm dứt của sanh nghiệp hay nghiệp tái tạo trong kiếp ấy. Dù thiện dù ác, năng lực trả quả của nghiệp ấy đến lúc đó không còn diễn tiến được nữa, phải nhường chỗ cho sanh nghiệp mới hay nghiệp tái tạo mới.

Nghiệp mới ấy chính là tác hành tâm (javana) của người ấy lúc lâm chung, có sức mạnh chi phối sự tái sanh. Vào sát-na ấy, lúc sanh nghiệp cũ chấm dứt, tử diệt, một năng lực đặc biệt của sanh nghiệp mới, tạo tác nên đời sống mới, cảnh giới mới.

1.3- Tuổi thọ và nghiệp cùng diệt.

Đây là trường hợp một người chết lúc tuổi già, đồng thời “sanh nghiệp” người ấy cũng chấm dứt cùng một lúc.

Nếu trường hợp thứ nhất là đèn tắt do hết dầu, trường hợp thứ hai do tim lụn – thì trường hợp thứ ba là hết dầu và tim lụn cùng một lần.

1.4- Sự chen vào của đoạn nghiệp

Đây là sự chen vào của một nghiệp rất nặng, có công năng tiêu diệt sanh nghiệp của loài hữu tình. Đây thường là những cái chết dữ do một sát nghiệp quá nặng từ quá khứ đến lúc trổ quả. Ví như chết do bom nổ, dao đâm, xe tông, lửa cháy, chết đuối... chúng gồm tất cả các loại chết được gọi là “bất đắc kỳ tử”.

Ba loại chết đầu được gọi là chết đúng thời (kālamaraṇa), loại thứ tư, sau cùng được gọi là chết phi thời (akālamaraṇa).

Nếu một ngọn đèn bị tắt, ba loại đầu là hết dầu, tim lụn, tim và dầu cùng hết thì loại thứ tư, đoạn nghiệp được ví như gió thổi tắt.

2- Những hiện tượng của nghiệp phát sanh trước khi chết

Đối với những người sắp sửa chết, trong khi lâm chung, do sức mạnh của nghiệp, kiết sanh thức của người ấy chịu sự tác động của một trong 4 nghiệp sau đây:

- Cực trọng nghiệp.
- Cận tử nghiệp.
- Tập quán nghiệp (thường nghiệp).
- Tích luỹ nghiệp.
...

Nói tóm lại, nghiệp luôn khởi ở ý căn; nghiệp tướng có thể hiện khởi tại 1 trong 6 căn, tuỳ trường hợp; thú tướng luôn là những sắc tướng, những hình ảnh hiện khởi trong tâm như giấc chiêm bao.

3- Lộ trình tâm của người sắp chết

Lúc nghiệp, nghiệp tướng và thú tướng hiện ra, lộ trình tâm của người lâm tử sẽ nắm bắt chúng làm đối tượng, rồi các sát-na tâm sẽ diễn tiến cho đến khi kiết sanh thức nương gá vào đời sống mới; và lộ trình ấy diễn ra như sau:

- Hữu phần rung động và dừng lại 2 sát-na tâm rồi diệt.
- Ý môn hướng tâm khởi lên 1 sát-na rồi diệt.
- Tác hành tâm khởi lên 5 sát-na rồi diệt.

Đối tượng từ nghiệp, nghiệp tướng và thú tướng do 5 sát-na tác hành tâm này xử sự; tuy chỉ 5 sát-na (không phải 7 như thường lệ) nhưng nó có khả năng điều hành, chi phối một đời sống mới.

Sau 5 sát-na tác hành tâm (cetāna-tư tác quyết định), 2 sát-na đồng sở duyên có thể khởi hay không khởi, tuỳ trường hợp. Có thể sau 5 sát-na tác hành tâm là tử tâm (cuti) là sát-na tâm cuối cùng trong đời sống hiện tại. Có người hiểu lầm là đời sống kế tiếp bị định đoạt bởi tử tâm cuối cùng này. Sự thật, chính tác hành tâm mới chi phối đời sống sau.

Khi tử tâm diệt, sự chết mới thật sự bắt đầu. Và sắc thân của người chết, từ đây, không có một sắc pháp nào được tạo ra do tâm hay do vật thực nữa, chỉ còn sắc do hoả đại (nóng, lạnh, thời tiết) được tạo ra, tiếp diễn cho đến khi thi thể trở thành tro bụi.

Sau khi tử tâm diệt, một kiết sanh thức do tác hành tâm quyết định có nhiệm vụ nối liền đời sống kế. Và đời sống kế lại được tiếp diễn bởi những sát-na bhavaṇga hoặc lặp đi lặp lại nhiều dòng bhavaṇga. Cho đến lúc nào ý môn hướng tâm, 5 sát-na tác hành tâm phát sanh tâm ưa thích đối với đời sống mới, lúc đó nghiệp sanh sắc đầu tiên mới tạo nên danh-sắc trong thai bào. Sau đó, dòng bhavaṇga tiếp tục khởi và diệt, chúng cứ trôi chảy mãi như dòng nước không ngưng nghỉ.

Lưu ý:

- Người ta hay nói “kiết sanh thức” là quả của tử tâm (cuti), không phải thế, nếu nói chính xác thì kiết sanh thức là năng lực do tác hành tâm tạo ra, tạm gọi là quả của tác hành tâm.

- Tử tâm không liên hệ gì đến kiết sanh thức, chỉ là tên gọi nhằm chỉ lúc danh-sắc mạng căn của nghiệp cũ chấm dứt.

4- Dòng tâm thức tái sanh

Bất cứ chúng sanh nào tới lúc tái sanh, dòng bhavaṇga trôi chảy không gián đoạn. Nếu kể về sự chết của một tâm sinh vật lý – thì lúc tử tâm báo hiệu sự chết thì kiết sanh thức nối liền đời sống kế, một dòng tâm thức (bhavaṇga) khác lại tiếp diễn. Ở đây, tử tâm, kiết sanh thức và hữu phần cùng chung một đối tượng. Các bậc có trí nói rằng cả ba tâm này cũng có cùng chung một loại tâm sở. Chúng chỉ khác nhau ở danh từ và các chức năng công tác.

Sau khi một vài sát-na nhỏ đầu tiên của hữu phần tạo nên các sắc pháp do nghiệp sanh... thì hữu phần vẫn tiếp tục trôi chảy trong đời sống mới cho đến khi hết tuổi thọ. Rồi lại tái diễn tử tâm – kiết sanh thức – hữu phần... và dòng sống ấy không bao giờ khô cạn, không bao giờ dừng nghỉ.

Nói tóm lại, cuộc tử sinh với dòng diễn biến vô tận, vô định này chỉ được chấm dứt khi không còn mọi khát vọng tầm cầu, không còn bị sự sai sử của Vô minh và Hành nữa; tức là chứng đạt và an trú đạo quả A-la-hán.

III- Nghi thức thiết lễ “cầu siêu” theo truyền thống Nam tạng.

Như vậy, theo Nam tạng Pāḷi văn xác quyết là không có 49 ngày và không có cả thân trung ấm. Và mục này tôi sẽ chia làm 3 phần sau đây:

- Tái sanh tức khắc
- Danh (phần tâm thức) và Sắc (thân xác vật lý) không lìa nhau
- Nghi thức hộ niệm

1- Tái sanh tức khắc

Theo hiện tượng chết và tái sanh ở phần II, chúng ta thấy rõ rằng, sau tử tâm, kiết sanh thức là thức nối liền đời sống kế tức khắc tìm kiếm cảnh giới khổ hay vui đều do nghiệp (4 loại nghiệp), tức là do tư tưởng, tâm niệm cuối cùng quyết định. Chẳng có vị Phật nào, Bồ-tát nào có thể xen vào định luật nhân quả nghiệp báo do chúng sanh đã tạo để ban ơn hay cứu rỗi được. Đây là luật tắc rất “khoa học”, rất công minh vậy.

- Như con sâu đo, muốn rời chiếc lá này, tức khắc nó chụp bắt chiếc lá khác!

- Như nghĩ tưởng chợ Đông Ba hay chợ Bến Thành thì tức khắc tái sanh đến đó ngay!

2- Danh (phần tâm thức) và sắc (thân vật lý) vốn không thể lìa nhau.

Thật chúng ta không thể tưởng tượng được rằng, cái thần thức lại có thể lang thang một mình, vất vơ vất vưởng 1 ngày, 2 ngày, 1 tuần, 3 tuần đến 7 tuần. Nó là linh hồn thường tại sao? Có linh hồn đi một mình là thường kiến của ngoại đạo đó! Bao giờ sắc cũng không lìa danh, danh cũng không lìa sắc. Danh phải có chỗ nương gá là sắc ngay tức khắc. Khi tử tâm diệt, kiết sanh thức (danh) tìm kiếm sắc (tinh trùng và noãn châu, nếu là thai sanh) để tạo lập danh sắc mới! Ở đây, những sắc pháp đầu tiên do nghiệp sanh nằm ở sát-na nhỏ, qua sát-na nhỏ thứ 2 là sắc do thời tiết sanh - thế rồi đời sống kế bắt đầu tượng hình trong thai bào.

Danh, sắc trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô Sắc:

- Địa ngục: Thuộc hoá sanh tức khắc, đầy đủ danh sắc để thọ khổ. Chỉ nhận chịu quả báo, không thể tạo nhân.

- Ngạ quỷ: Thuộc hoá sanh tức khắc, đầy đủ danh sắc nhưng là sắc tế vi, mắt người không thấy được. Chỉ nhận chịu quả báo, không thể tạo nhân.

- Súc sanh: Chỉ tất cả các loài động vật có thức tánh cao hay thức tánh thấp, cả thức tánh nhỏ nhiệm. Chúng thuộc noãn, thai, thấp, hoá, đầy đủ danh sắc, là sắc thô tháo hoặc nhỏ li ti mắt người không thấy được như vi trùng, vi khuẩn... Nhận chịu quả báo và có một số tạo thêm nghiệp ác mới.

- A-tu-la: Thuộc hoá sanh tức khắc, đầy đủ danh sắc, là sắc tế vi, đẹp xấu tuỳ nghiệp. Nhận chịu quả báo và có một số tạo thêm nghiệp ác mới hay nghiệp thiện mới.

- Cõi người: Thuộc thai sanh, đầy đủ danh sắc, sắc đẹp sắc xấu tuỳ nghiệp. Có 6 trú căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nhận chịu quả báo nhưng có thể tạo tác thêm nghiệp thiện, ác tuỳ người.

- 6 cõi trời Dục giới: Thuộc hoá sanh, đầy đủ danh sắc, là sắc tế vi, xinh đẹp do thiện nghiệp. Họ cũng có 6 căn như cõi người nhưng tế vi và xinh đẹp hơn, có nam, có nữ và trẻ trung, thanh xuân cho đến tuổi già. Hưởng thụ ngũ dục cũng như cõi người nhưng “vi diệu, thù thắng” hơn! Chỉ thọ hưởng quả phước. Chỉ có một số rất ít tạo tác thêm nghiệp lành qua tâm ý.

- Phạm thiên Sắc giới: Do đắc định sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền sắc giới mà hoá sanh tức khắc. Họ có đầy đủ danh sắc. Chỉ có nam, không có nữ. Họ chỉ có 3 trú căn là mắt, tai và ý. Do đã rời xa ngũ dục nên họ không có căn mũi để ngửi hương, không có căn lưỡi để nếm vị, không có căn da để xúc chạm êm ái. Họ sống và thọ hưởng hạnh phúc của thiền định, đấy là hỷ, lạc, xả và nhất tâm. Hết phước thiền định, họ xuống hoặc lên tuỳ nghiệp đã tạo tác trước đây. Họ không thể tạo nhân mới, nghiệp mới.

Trong cõi tứ thiền sắc giới, có vị Phạm thiên do trú Vô tưởng thiền là chỉ có sắc, không có danh do năng lực định duy trì; tuy nhiên, không phải là không có danh, mà danh đang ở dạng tiềm miên, do vậy vẫn có danh sắc.

- Phạm thiên Vô Sắc giới: Do đắc định tứ thiền Vô Sắc mà hoá sanh tức khắc đến những tầng trời cao tột này. Đây là cảnh giới chỉ sống với khái niệm, với ý tưởng, họ không có sắc chất, hình thể, tức là chỉ tồn tại danh, không có sắc. Danh và sắc thường liên hệ hỗ tương, không thể tách rời nhau, tuy nhiên, do năng lực thiền, các vị này tách lìa danh ra khỏi sắc (do họ chán các sắc) và sống mãi trạng thái ấy cho đến hết tuổi thọ (hết năng lực thiền). Trạng thái ấy là xả và nhất tâm. Và sắc cũng ở dạng tiềm miên, hết phước thiền, sắc trở lại với danh sắc!

Tương tợ Sắc giới, Vô Sắc giới không có giống nam, giống nữ. Họ chỉ có một ý căn, không có các căn mắt tai mũi lưỡi thân!

Sau khi khảo sát cả Tam giới thì danh sắc vốn bất ly, chỉ vài nơi, do năng lực thiền tạm tách rời danh sắc – thì không hiểu thân trung ấm nằm ở cõi nào, rồi còn vất vơ, vất vưởng lang thang một mình như một linh hồn theo quan điểm của ngoại đạo, tà giáo? Vậy 49 ngày cùng thân trung ấm là đi ngược lại giáo pháp rất đáng phàn nàn vậy.

3- Nghi thức hộ niệm theo Nam truyền

Thời Phật tại thế, khi một vị tỳ-khưu hoặc một cư sĩ mất, đức Phật hoặc chư tăng đến bên xác chết chỉ để tụng đọc những bài kệ vô thường và vô ngã... hoặc niệm thân hoặc niệm sự chết. Và ngày nay, chư tăng cũng thường đọc tụng như thế.

Khi nghe tin một người sắp lâm chung, chư tăng được gia đình cư sĩ đến tụng kinh cầu an. Cầu an chỉ là tạm mượn của Bắc truyền chứ Nam truyền, thay vì nói cầu an là tụng kệ chúc phúc an lành. Cầu siêu cũng vậy, Nam truyền chỉ tạm mượn, chứ thật ra chỉ để đọc kệ quán sự chết, quán thân, quán vô thường, khổ không, vô ngã, không thể cầu siêu độ cho hương linh được, chỉ gia niệm, gia trì, gia hộ do năng lực của tâm thanh tịnh thôi.

Giây phút quan trọng nhất là khi người sắp mất còn nghe được tiếng lời kinh, kệ để có thể tự chuyển hoá tâm thức mình. Có thể mở băng đĩa kinh, những thời pháp. Nếu còn thấy được thì nên để cho người ấy thấy hình ảnh đức Phật, và cụ thể là chư tăng đang đứng gần bên mà phát sanh đức tin, nhớ nghĩ những việc lành của mình đã làm trong quá khứ. Nếu không còn nghe, còn thấy thì có thấy đốt trầm, hương, biết đâu người sắp mất cảm nhận được... Tuyệt đối trong gia đình không nên khóc lóc, nên giữ không gian thanh tịnh tạo một năng lượng an lành bao quanh.

Nam tông cũng nhập liệm, cũng trị quan, trị huyệt nhưng đều chỉ tụng đọc những bài kệ như nêu dẫn ở trên.

Sau khi người chết đã đặt trong quan rồi, trước có thiết lễ bàn thờ Phật Thích Ca (không có Quan Âm, Di Đà, Địa Tạng), có đèn trầm, hương hoa quả phẩm, tuyệt đối không cúng thêm bất kỳ gì món gì khác. Điểm quan trọng tiếp theo, là ngày nào gia chủ cũng thỉnh mời chư tăng, tối thiểu 4 vị, 6 vị tỳ-khưu (đủ đại diện cho Tăng-già) đến để cúng dường y, vật thực rồi chư tăng tụng kinh chú nguyện hồi hướng. Buổi chiều, tối, chư cư sĩ bạn đạo vài chục người đến tụng kinh.

Ngày cuối cùng, ngày mai tiễn linh, bao giờ cũng thỉnh mời một vị trưởng lão đến để thuyết pháp bên cạnh kim quan, không phải là thuyết cho người chết (thuyết linh) mà thuyết cho người sống nghe. Bên Nam tông không coi trọng quá cái xác chết, có thể chôn cất mà cũng có thể thiêu, bây giờ đa phần là thiêu, lấy ít cốt về thờ hoặc gởi tại một ngôi chùa nào đó.

Do tập tục về thân trung ấm và 49 ngày đã xâm nhập quá lâu vào tâm thức nhân gian nên Nam tông cũng quen tuần nhất, tuần nhì cho đến thất tuần trai tăng hồi hướng. Tôi đã nhiều lần muốn bỏ nhưng đành chịu. Nghĩ cũng tốt, thế là có cả thảy 7 tuần để tưởng nhớ người đã mất, hồi hướng phước cho người đã mất. Người ta lại còn có cơ hội tưởng nhớ đến Tam Bảo, đến việc thiện, đến phước đức không là điều đáng trân trọng sao? Ngoại trừ đâu đó “tạt nước theo mưa” hoặc lợi dụng tín ngưỡng ấy với những ý đồ riêng thì ở đây tôi không nói tới. Tuy nhiên, nếu quá rối rắm, hệ luỵ cho hai hàng cư sĩ thì không nên, họ khổ nhiều rồi, đến chùa học đạo diệt khổ mà quá nhiều phiền não phát sinh thì có đáng không?

Phải biết cái gì chính, cái gì phụ, việc đáng làm và việc không đáng làm. Bày nhiều hình thức lễ nghi quá là rơi vào giới cấm thủ đấy! Lời thật mất lòng, xin chư vị thiện trí thức hiểu cho điều này và cổ suý cho. Biết sai mà không nói cũng hổ thẹn với giáo pháp, hổ thẹn với chư Phật và nhất là hổ thẹn với hàng phật tử học Phật chơn chánh vậy.
-----------

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

thuvienhoasen.org/a24209/co-49-ngay-than-trung-am-khong

Hôm nay, 15.2.AL; Ngày đức Thế Tôn nhập diệt, xin gửi đến đại chúng bài viết: THÀNH CÂU THI NA RƠI LỆ! 🙏Như 1 con voi ch...
19/03/2019

Hôm nay, 15.2.AL; Ngày đức Thế Tôn nhập diệt, xin gửi đến đại chúng bài viết: THÀNH CÂU THI NA RƠI LỆ! 🙏

Như 1 con voi chúa, khi biết giờ chết sắp đến, nó quay đầu về nơi nó đã sinh ra!
Như con cá Hồi đầy ân nghĩa, khi biết giờ chết cận kề, nó sẽ bơi ngược dòng nước, hướng về nơi nó mở mắt chào đời, dù không thể biết chính xác nơi đâu!
Như chiếc lá xanh, khi săp lìa cành, nó sẽ tìm cách hướng về nơi nguồn cội!

Đức Thế Tôn cũng vậy, người hướng về phương Bắc mà đi, đi đâu vậy? Với Thế Tôn, việc đi đâu và khi nào tới, chưa bao giờ quan trọng với Người. Chỉ cần biết từ nơi Ngài đang đứng, hướng về phía bắc là hướng của hoàng thành Ca Tỳ La Vệ; nơi chôn nhau cắt rốn khi ra đời, nên luôn yêu luôn nhớ trọn đời. Nơi đó vẫn còn đôi mộ của song thân Ngài, dù cho dòng tộc Thích ca của Ngài đã bị người ta sát hại đến thê lương.
Ngài cùng những học trò đã cất bước chân đi, du hành trên khắp muôn trùng đại địa; ghé thăm thành Tỳ Xá Ly, thăm hỏi những người học trò, như 1 lời chào giả từ tạm biệt.
Ngày ấy, nơi khu rừng Sala diễm lệ, khi ánh mặt trời đang ngã dần về phía Tây, mọi sự vật dường như im lìm đến khó thở, chỉ còn nghe tiếng hoa sa La rơi tí tách như muôn ngàn giọt nước mắt của nhân thiên.
Giữa hai gốc cây Sala xanh tốt, trên tấm tọa cụ đã bao năm nhuốn màu sương gió, Đức Thế Tôn đang nằm nghiêng thế sư tử tọa, ánh mắt hiền hòa nhìn ngắm hoàng hôn đang dần tắt lịm.

Tôn giả A Nan không kìm được cảm xúc, khi biết rằng bậc thầy tôn kính của mình sẽ nhập Niết bàn ngay trong đêm nay. Người khẩn khoản: “Bạch Thế Tôn, xin người đừng nhập Niết bàn nơi đây, Kushinagar chỉ là một thị trấn hẻo lánh, tường vôi vách đất. Có biết bao Thành phố sầm uất như, Vương Xá, Xá Vệ hay Ba La Nại, xin Thế Tôn hãy về nhập diệt ở những nơi ấy cho muôn
người được đãnh lễ Người lần cuối!

Thế Tôn mĩm cười hiền từ với A Nan, “Này A Nan Da, Thành Kushinagar đẹp thế kia mà! Khu rừng Sa La này cũng đẹp lắm! Như Lai rất ưng ý khu rừng này! Hãy nhìn xem, bây giờ đâu phải là mùa hoa, mà hoa Sa La vẫn nỡ rộ khắp nơi, rơi trên áo của Như Lai và trên áo của Thầy”!

A Nan Da, Ông có biết chăng, nơi đây, 500 kiếp về trước, vào thời Đức Phật Ca Diếp, nơi đây là 1 đô thành cực kỳ sầm uất và trù phú, và thời đó, Như Lai chính là vị Vua cai trị đô thành này.
Sự thế vô thường, bãi biển nương dâu, vật đổi sao dời; giờ đây, tuy A Nan nhìn thấy Kushinagar là tường vôi vách đất, hẻo lánh xa xôi, nhưng với Như Lai, vẫn không khác gì đô thành lộng lẫy năm xưa”!

Rồi Người gọi các thầy Tỷ Kheo lại mà dặn rằng: “Suốt bao nhiêu năm đi theo Như Lai để tu tập và học hỏi, các thầy còn có điều gì thắc mắc chưa thông thì hãy hỏi ngay đi, kẻo sau này lại hối tiếc rằng ngày đó được ở bên Thế Tôn trong những phút giây cuối cùng mà quên không hỏi”.
Người lặp đi lặp lại đến 3 lần, mà vẫn không ai tỏ bày thắc mắc hay nghi ngờ gì. Với Tuệ giác của bậc Giác Ngộ, người nhận thấy rõ tất cả các thầy Tỷ kheo có mặt trong đêm nay, ai cũng đã nhập vào dòng thánh, dù không phải ai cũng đã chứng đức ủa vị A La hán thánh quả.

Sau những lời di huấn tối hậu cho các học trò, Người đã an nhiên xuất nhập các tầng thiền, rồi lặng lẽ nhập vào vô dư y niết bàn; đất trời rung động, tâm người nôn nao; hoa sa la tuôn xuống như mưa; khắp sơn hà đại địa dường như chết lặng!

Kính lạy Thầy, đời con đã hai lần trở về quỳ chân nơi dấu tích xưa mà ngài đã từng gắn bó, lần nào nước mắt con cũng rơi, tâm hồn con cũng chấn động; khi nhìn thấy đâu đây, ẩn khuất trong làn sương mù buổi sáng, hình bóng người đang ẩn hiện; Ngài vẫn hiện hữu khắp nơi nơi, hiện hữu trong từng trái tim thổn thức, hiện hửu trong từng tảng đá tang cây, hiện hửu cả nơi quê hương sông núi nghìn đời!

Kỷ niệm ngày nhập diệt của người (15/2/AL), chúng con, những người học trò của Người xin hứa sẽ mãi tinh tấn tu hành như lời Người chỉ dạy, đem ánh sáng của người lan khắp nẻo hành tinh, đem tình thương của người rãi ban ngàn thế giới. Cúi xin người gia hộ cho chúng con mãi kiên trinh, dù cho gặp bao going tố cuồng xoay của cuộc đời náo nhiệt, vẫn mãi vững niềm tin son sắt nơi bậc thầy cao cả và con đường trí tuệ từ bi mà Người đã dẫn lối đưa đường.
Thành tâm kính lễ, Sa La Song Thọ, thị hiện Niết bàn, Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật với lòng tôn kính vô biên 🙏🙏🙏

- Thích Quảng Tịnh -

Chúc mừng ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2, xin giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của Đại danh y Tuệ Tĩnh.Đại y sư Tuệ Tĩnh,...
27/02/2019

Chúc mừng ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2, xin giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của Đại danh y Tuệ Tĩnh.

Đại y sư Tuệ Tĩnh, là ông Tổ của ngành y dược nước ta với khẩu hiệu nổi tiếng "Nam dược trị nam nhân" nghĩa là thuốc Nam trị bệnh cho người Nam (Việt Nam).

Đại y sư Tuệ tĩnh tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh sinh năm 1330 ở tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là tỉnh Hải Dương). Mồ côi cha mẹ từ nhỏ và được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thuỷ nuôi dạy. Dưới triều vua Trần Dụ Tông, thi đậu Thái học sinh (năm 22 tuổi) nhưng ông không ra làm quan mà xuất gia đi tu và làm nghề thuốc chữa bệnh cho dân.
Ông nổi tiếng là thần y vì tài chữa bệnh và đặc biệt là tìm tòi, phát hiện nhiều vị thuốc Nam quý. Trong cuốn "Hồng nghĩa giác thư y" ông biên soạn khảng 500 vị thuốc Nam và để mọi người dễ học, dễ nhớ ông viết bằng thơ Nôm theo lối Đường luật. Trong cuốn "Phú thuốc Nam" cũng bằng chữ Nôm, và đặc biệt cuốn "Nam dược thần hiệu " của ông hiện vẫn đang được các nhà y dược học đánh giá cao và có giá trị lớn đối với y học ngày nay.

Công lao đặc biệt của ông chính là đề xướng một nền y học tự chủ, tự cường, độc lập gần giống khẩu hiệu hiện nay "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Không những viết sách, chữa bệnh ông còn tổ chức cho nhân dân biết cách vệ sinh, phòng chống bệnh, dạy cho nhiều đệ tử và biến các chùa thành nơi chữa bệnh (giống như trạm xá ngày nay). Đây là tư tưởng cực kỳ tiến bộ của ngành điều trị từ xa, điều trị chủ động và điều trị dự phòng, tận dụng thế mạnh tổng hợp trong nhân dân, trong thiên nhiên, tạo ra di sản quý báu cho các thế hệ sau .
Do tài chữa bệnh như thần của ông nên nhà Minh đã đòi cống sang phương Bắc để chữa bệnh cho triều đình. Năm 55 tuổi (1385), Tuệ Tĩnh bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh. Sang Trung Quốc, ông vẫn làm thuốc, nổi tiếng, được vua Minh phong là Đại y Thiền sư, mất ở bên ấy, không rõ năm nào. Bia văn chỉ làng Nghĩa Phú (do Nguyễn Danh Nho soạn năm 1697) cùng các tư liệu khác ở địa phương đều ghi như vậy.

Ông đã chữa khỏi bệnh cho Thái hậu và được vua Minh rất sủng ái nhưng một lòng ông lúc nào cũng hướng về Tổ quốc. Lúc ông mất tại đất khách quê người có cho khắc vào bia mộ mình "về sau có ai bên nước Nam sang, cho tôi xin về với" và sau gần 3 thế kỷ có tiến sỹ Nguyễn Danh Nho (người cùng quê) đi sứ sang Giang Nam đã dập được tấm bia mộ và mang về cho đục bia tưởng niệm và thờ tại Cẩm Giàng. Đại y sư Tuệ Tĩnh là một thiền sư và là một Bồ Tát có lòng từ bi quảng đại, tượng của Thiền sư cũng là đặc biệt nhất trong số các tượng sư Tổ.
Những năm ở trong nước, Tuệ Tĩnh đã chăm chú nghề thuốc: trồng cây thuốc, sưu tầm kinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian, huấn luyện y học cho các tăng đồ. Ông đã tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ sách giá trị là bộ Nam dược thần hiệu chia làm 10 khoa. Đặc biệt, ông có bộ Hồng Nghĩa tư giác y thư (2 quyển) biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Đường luật (nôm), và bài Phú thuốc Nam 630 vị cũng dùng quốc ngữ. Thơ văn Nôm đời Trần rất hiếm, nếu quả thực đó là tác phẩm của ông thì Tuệ Tĩnh không những có vị trí trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học nữa.

Từ bao đời nay, giới y học Việt Nam và nhân dân đều công nhận Tuệ Tĩnh có công lao to lớn trong việc xây dựng một quan điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế Việt Nam. Câu nói của ông: "Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt" biểu hiện sự nhận thức sâu sắc về quan hệ giữa con người và sinh cảnh, đồng thời cũng tiêu biểu cho ý thức độc lập tự chủ. Ngay trong việc nghiên cứu dược liệu, ông cũng không chịu phụ thuộc vào cách sắp xếp của những sách nước ngoài. Chẳng hạn, ông không đưa kim, mộc, thủy, hỏa, thổ lên đầu mà xếp các cây cỏ trước tiên. Ông cũng phê phán tư tưởng dị đoan của những người chỉ tin vào phù chú mà không tin thuốc. Ông đã nêu ra nhiều phương pháp khác nhau để chữa bệnh như: châm, chích, chườm, bóp, xoa, ăn, uống, hơ, xông,v.v.

Tuệ Tĩnh đã không dừng lại ở vị trí một thầy thuốc chữa bệnh, ông còn tự mình truyền bá phương pháp vệ sinh, tổ chức cơ sở chữa bệnh trong nhà chùa và trong làng xóm. Có tài liệu cho biết, trong 30 năm hoạt động ở nông thôn, Tuệ Tĩnh đã xây dựng 24 ngôi chùa, biến các chùa này thành y xá chữa bệnh. Ông tập hợp nhiều y án: 182 chứng bệnh được chữa bằng 3.873 phương thuốc. Ông cũng luôn luôn nhắc nhở mọi người chú ý nguyên nhân gây bệnh, tìm biện pháp phòng bệnh tích cực. Tuệ Tĩnh nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông nêu phương pháp dưỡng sinh tóm tắt trong 14 chữ:
Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần/ Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình.

Nhiều thế kỷ qua, Tuệ Tĩnh được tôn là vị thánh thuốc Việt Nam. Tại Hải Dương, còn đền thờ ông ở xã Cẩm Văn, Cẩm Vũ, ở chùa Hải Triều làng Yên Trung, nay là chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cầm Giàng, có tượng Tuệ Tĩnh. Câu đối thờ ông ở đền Bia viết, dịch nghĩa như sau:
Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh
Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm Giang.
Thông thường trong các chùa có thờ tượng của các sư trụ trì cao tăng đắc đạo, tư thế tượng được tạc ngồi xếp bằng hoa sen, hai tay xếp trong trong lòng theo kiểu ấn tam muội (ấn thiền định), hoạc hai tay đặt trên đầu gối. Nhưng tượng của Đại y thiền sư Tuệ tĩnh lại được tạc theo tư thế ngồi trên ghế, lưng thẳng và hai tay xếp trước ngực theo kiểu ấn Chuẩn đề. Điều đó chứng tỏ người xưa đã đặt vị trí của Thiền sư là một Bồ Tát hoá thân của Chuẩn đề vương Bồ Tát. Quan điểm của ngài cũng là Đạo và Đời không tách riêng, Đạo phục vụ đời, Đời là nơi rèn luyện Đạo. Tư tưởng đại thừa Phật giáo ở Đại y sư Tuệ Tĩnh đã là niềm cảm hứng, sự phấn đấu noi theo của các lớp tăng ni Phật tử ngày nay theo tinh thần Từ bi hỷ xả của Đức Phật.
(Quảng Tịnh Tổng hợp)

Address

Quan 10, Tp. Ho Chi Minh
Ho Chi Minh City
70000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phật giáo hiện đại hóa posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Phật giáo hiện đại hóa:

Share