Bài Giảng Về "Quên"

Bài Giảng Về "Quên" Lê-vi ký25:10

KẺ NÀO MUỐN Giờ đây bạn cũng đã biết phần cuối của câu chuyện rồi. James Chalmers đã bị dân trên đảo Goaribari ở Biển Na...
27/11/2021

KẺ NÀO MUỐN
Giờ đây bạn cũng đã biết phần cuối của câu chuyện rồi. James Chalmers đã bị dân trên đảo Goaribari ở Biển Nam ăn thịt vào ngày 4 tháng 4 năm 1901. Nhưng cái chết của ông xứng hợp với sự sống của ông – cả hai đều được đầu tư vào việc mời gọi những linh hồn bị giam hãm trong bóng tối hãy tự do chạy đến với Đấng Christ.
Chalmers đã nghe thấy lời kêu gọi bước vào công việc truyền giáo của Đức Chúa Trời khi còn là một thiếu niên. Vị Mục sư người Tô cách Lan của anh đã đọc một lá thư gửi từ quần đảo Fiji vào sáng Chúa nhật kia, thuật lại quyền phép của Tin lành làm biến đổi giống dân ăn thịt người kia.
Sự trở lại đạo của James đã diễn ra ba năm sau đó, lúc được 18 tuổi, khi hai vợ chồng nhà truyền đạo người Ái nhĩ Lan đến rao giảng trong khu vực. “Trời mưa nặng hạt, nhưng tôi đã chuẩn bị; khi đến cuối chân cầu thang, tôi nghe họ đang hát bài: “Muôn Dân Đang Ở Trên Đất” theo điệu “Old Hundredth”, và tôi nghĩ mình chưa bao giờ nghe hát như thế trước đây – trang trọng, và đầy sự vui mừng. Tôi lên cầu thang và bước vào. Có một hội chúng rất đông đang nhóm lại trong sự sốt sắng. Nhà truyền đạo trẻ trong số họ là người giảng luận đầu tiên. Ông đọc lên câu gốc của mình: “Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không”. Ông nói thẳng đến tôi. Tôi cảm thấy như thế; nhưng vào lúc kết thúc, tôi vội vã đi ra, về lại thị trấn”.
James đã đau khổ về tình trạng thuộc linh của mình trong mấy ngày, tự mô tả mình như “bị đâm thấu vào, và mất hết mọi hy vọng được cứu”. Sáng hôm sau, vị Mục sư của anh, Tấn sĩ Gilbert Meikle, đến làm chứng với anh về huyết của Đấng Christ, bảo đảm cho anh về tình yêu thương của Đức Chúa Trời, rồi hướng dẫn anh đến dòng sông sự sống.
Gần như là James đã bắt đầu sửa soạn để đến vùng Biển Nam, không nghi ngờ gì tới sự kêu gọi bước vào công cuộc truyền giáo trước đây. Khi ấy, ông đã thiết lập 130 trạm truyền giáo khắp xứ New Guinea, và hàng ngàn người đã chạy đến với Đấng Christ, trong đó có 64 người đã trở thành Mục sư, Truyền đạo và Giáo sĩ.

“Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không” (Khải huyền 22.17).

“MỘT LẦN CUỐI” Người tình nguyện của Hội Thông Công Nhà Tù tên là Bob McAlister tìm gặp Rusty Woomer đang ngồi trong xà ...
27/11/2021

“MỘT LẦN CUỐI”
Người tình nguyện của Hội Thông Công Nhà Tù tên là Bob McAlister tìm gặp Rusty Woomer đang ngồi trong xà lim của mình như vô giác, mặt thì trắng bệt ra, hàng tá mẫu thuốc lá nằm vung vải xung quanh anh ta. Bob tìm cách nói chuyện với anh ta, nhưng tên tù vẫn không đáp ứng chi hết. Sau cùng, Bob nói: “Rusty, chỉ nói chữ Jêsus thôi”. Với nhiều cố gắng, Rusty cử động đôi môi rồi thì thào: “Jêsus!” Khi Bob hỏi Rusty không biết anh có muốn tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa hay không, hai hàng nước mắt lăn dài trên má, và anh ta gật đầu. Ngày thứ Hai sau đó, Bob thấy choáng bởi có sự khác biệt. Xà lim nhốt Rusty không còn một vết bẩn, mẫu thuốc lá nào nữa. Cũng một thể ấy với loại sách báo khiêu dâm. Rusty nói: “Tôi đã để những ngày nghỉ cuối tuần ra mà làm sạch xà lim của mình, tôi nghĩ rằng đấy là những gì Chúa Jêsus mong muốn tôi làm đó”.
Trong bốn năm, hai người vui hưởng với nhau một mối thông công sâu sắc hơn, cùng nghiên cứu Kinh Thánh, cầu nguyện, trao đổi. Sau cùng, mọi lời kêu nài của Rusty bị bác bỏ và án tử hình là chắc chắn. Vào ngày cuối cùng của Rusty ở trên đất, anh nói một lời vĩnh biệt đầy tình cảm với bố, anh chị em của mình. Mọi người đều đã ra về hết, hai người bạn cùng ngồi trong mối tương giao buồn rười rượi, chờ đợi điều cuối cùng.
Khi đầu và chân phải của Rusty bị cạo, anh nói: “Hãy đọc cho tôi nghe Kinh Thánh một lần cuối đi”. “Tôi mở quyển Kinh Thánh ra ở Khải huyền 21. Tôi đọc: “…Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết ,cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa…”. Một chùm tóc của Rusty rơi xuống trúng vạt áo tôi; một số rơi trên quyển Kinh Thánh. Tôi ngước nhìn lên, và với cái đầu mới cạo có phân nửa, Rusty mĩm miệng cười – một nụ cười đượm đầy nét bình an mà tôi chưa hề nhìn thấy nơi một ai khác.
“Đến 12giờ55 trưa, họ đến dẫn Rusty đi. Sau khi đọc cho anh nghe bản án tử hình, Warden George Martin hỏi: “Anh sẵn sàng chưa?” Anh đáp ngay: “Chúng ta đi nào!” Tôi đi theo Rusty đến phòng hành quyết và lời nói sau cùng của tôi với anh là: “Rusty, hãy nhìn xem Chúa Jêsus”. Rusty bị đẩy vào chiếc ghế, và một chiếc mũ bằng da được gắn vào đầu của anh. Tôi nghe thấy lời nói sau cùng của anh: “Tôi xin lỗi. Tôi xưng Đức Chúa Jêsus Christ là Cứu Chúa của tôi. Ao ước duy nhất của tôi: ấy là nguyện mọi người trên thế gian đều cảm nhận được tình yêu mà tôi cảm nhận từ nơi Ngài”.
Năm phút sau đó, Rusty đã có mặt trên thiên đàng.
“Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhứt và đất thứ nhứt đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa” (Khải huyền 21.1).

AMEN! VÀ HALÊLUGIA! “Amen” và “Halêlugia” là những từ kết hiệp Cơ đốc nhân trên khắp thế giới, vì chúng giống nhau trong...
27/11/2021

AMEN! VÀ HALÊLUGIA!
“Amen” và “Halêlugia” là những từ kết hiệp Cơ đốc nhân trên khắp thế giới, vì chúng giống nhau trong từng thứ ngôn ngữ, như đã được minh họa qua câu chuyện hấp dẫn mà Daniel Christiansen kể lại về một người lính Rumani trong Đệ II Thế Chiến, có tên là Ana Gheorghe.
Khi ấy là năm 1941, và các tốp lính Nga đã tràn qua địa phận Bessarabia của người Rumani mà vào Moldavia. Ana cùng các đồng chí của anh lấy làm sợ hãi lắm. Đạn rít lên ở quanh họ, và những quả đạn cối nã vào làm rung chuyển cả đất. Lúc ban ngày, Ana tìm cách giải khuây bằng việc đọc Kinh Thánh, nhưng đến tối anh chỉ nằm sát xuống mặt đất và nhớ lại những câu gốc đã học thuộc lòng khi còn nhỏ.
Ngày kia, trong làn đạn tung toé của quân thù, Ana bị tách ra khỏi các đồng đội của mình. Trong nỗi sợ hãi, anh đã bỏ chạy vào sâu trong rừng, cho tới khi, tất tả đến dưới bóng một cây thật lớn kia, anh nằm xuống ngủ vì quá kiệt sức. Qua ngày sau, khi đang thử tìm kiếm các đồng chí của mình, anh cẩn thận di chuyển về phía trước, nép mình trong bóng cây rừng, gặm từng mẫu bánh mì nát, dùng nước suối mà uống. Khi nghe trận đánh tan dần rồi, anh cảnh giác vác lấy khẩu súng trường của mình, mở chốt an toàn, rồi quan sát phía địch, thần kinh anh tới gần điểm phải vỡ ra. Cách đấy hơn 20m, một tên lính Nga thình lình xuất hiện.
“Lý trí tôi nhẫm lại về lòng dũng cảm cũng không giúp gì được cho tôi. Tôi hạ súng xuống đất rồi quì gối xuống, úp mặt mình vào lòng bàn tay đẫm đầy mồ hôi và bắt đầu cầu nguyện. Trong khi cầu nguyện, tôi chờ đợi cái chạm lạnh giá của khẩu súng Nga chỉa vào đầu mình.
“Tôi cảm thấy như mình bị chạm nhẹ vào vai phía dưới cổ. Tôi từ từ mở mắt ra. Kẻ thù cũng đang quì gối ở trước mặt tôi, khẩu súng của hắn để nằm kế khẩu súng của tôi giữa các đoá hoa dại. Hai mắt của hắn cũng nhắm nghiền lại trong sự cầu nguyện. Chúng tôi không hiểu một lời nào của nhau, vì lạ ngôn ngữ, nhưng chúng tôi đã cầu nguyện. Chúng tôi kết thúc lời cầu nguyện của mình với hai từ ngữ mà chẳng cần một sự dịch thuật nào hết: “Halêlugia!…. Amen!”
“Thế rồi, sau một vòng tay ôm đầm đìa nước mắt, chúng tôi mau mau đi theo hai hướng ngược lại rồi biến mất sau những rừng cây”.

“Hai mươi bốn trưởng lão cùng bốn con sanh vật bèn nọp xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, là Đấng ngồi trên ngôi, mà rằng: Amen, Alêlugia!” (Khải huyền 19.4).

HỌP ĐÀN Tại trường Đại học bang Louissiana, Ricky McAlister kiếm được một quyển Tân ước nhỏ màu xanh lá cây do hội Gideo...
27/11/2021

HỌP ĐÀN
Tại trường Đại học bang Louissiana, Ricky McAlister kiếm được một quyển Tân ước nhỏ màu xanh lá cây do hội Gideons phát, nhưng quẳng nó qua một bên không đọc. Sau đó, khi đang gói đồ chuẩn bị dự một chuyến đi câu, anh bỏ quyển sách vào túi hành lý để cầu may. Với hai người bạn thân, anh lái xe đi thâu đêm, rồi đến địa điểm câu cá vào sáng sớm thứ Hai. Thời tiết nắng nóng, cá không cắn câu, và Ricky chẳng bắt được con nào, trừ ra ánh mặt trời thiêu đốt. Sau cùng, mấy người bạn đành chịu thua rồi rút vào phòng để uống bia.
“Chúng tôi đang ngồi ở đấy chờ tiết trời mát mẻ hơn, khi ấy bạn tôi hỏi: “Anh có đem theo tờ báo nào không?” Tôi đáp: “Ừ có đấy, để ở ngoài xe, nhưng tôi không ra lấy đâu”. Người bạn nói: “Trời nóng quá đi thôi. Hãy ném cho tôi quyển Kinh Thánh nhỏ màu xanh đó đi”.
“Anh ta khởi sự lật qua Tân ước, rồi nói: “Nầy, hãy nghe câu nầy xem”. Anh ta đang đọc từ sách Khải huyền. Tôi chưa bao giờ nghe nói về sách Khải huyền. Anh ta khởi sự đọc về bầy châu chấu khỗng lồ sẽ xuất hiện và cắn con người. Anh ta càng đọc, tôi càng thấy run sợ hơn. Tôi ngồi đấy và đặt ly bia xuống. Mọi sự tôi có thể suy nghĩ tới là việc mà tôi thù ghét tệ hại hơn bất cứ cái gì khác, vì một con nhện hay một con rắn đã bò qua người tôi. Đôi lúc tôi đã có những giấc chiêm bao có những thứ bò qua người tôi hay cắn phải tôi, và tôi lấy làm sợ hãi lắm”.
“Anh ta cứ đọc, và tôi bắt run rẩy trong sợ hãi. Chúa đã xử lý với tôi trong suốt thời gian nầy và tôi cứ chối bỏ mãi thôi. Phải, tôi bắt đầu suy nghĩ tới bầy châu chấu đó và tôi nói: “Sao chúng ta không trở về nhà kìa?” Trong khi hai người bạn của tôi ra kéo chiếc thuyền, tôi lấy quyển Kinh Thánh nhỏ đó rồi khởi sự đọc”.
Tối hôm sau, Ricky đến dự một buổi thờ phượng truyền giảng Tin lành với bạn gái của mình, rồi ở đó anh đã dâng đời sống mình cho Đấng Christ. Về sau anh hầu việc Chúa ở Bolivia, làm Mục sư Chủ Toạ ở Louisiana, đã dẫn hết người thân nầy tới người khác đến với Đấng Christ, và làm chứng cho khán thính giả của mình biết bằng cách nào anh đã đến với Chúa -- bởi một bầy châu chấu.

“Từ luồng khói ấy, có những châu chấu bay ra rải trên mặt đất; và có kẻ ban cho chúng nó quyền giống như bọ cạp ở đất vậy” (Khải huyền 9.3).

DÂNG BAO CA KHÚC GIA QUANG TÔN NGÀI Giờ đây khi quí vị gạt bản “Phước cho nhân loại” qua một bên để sửa soạn đón năm mới...
27/11/2021

DÂNG BAO CA KHÚC GIA QUANG TÔN NGÀI
Giờ đây khi quí vị gạt bản “Phước cho nhân loại” qua một bên để sửa soạn đón năm mới, hãy thử một vài bài trong số 600 bài thánh ca khác của Isaac Watts, tỉ như bài: “Giờ được chiêm ngưỡng”, “Jêsus cai trị”, “Đấng xưa giúp chúng tôi”. Khi quí vị thử hát, hãy nhớ rằng bài thánh ca đầu tiên của Watts đã dựa theo Khải huyền 5.
Việc viết các bài thánh ca bởi một thanh thiếu niên mới lớn là một sự kích động rất táo bạo, vì trong những năm tháng sau Cuộc Cải Chánh, những người Tin Lành bị phân chia ra trước thắc mắc về những bài thánh ca. Những người thuộc hệ phái Luther và Moravians rất thích các bài hát ấy. Nhưng hầu hết các Hội Thánh Anh quốc, đặc biệt theo truyền thống của hệ phái Calvin, họ luôn hát các bài phổ từ Thi thiên mà thôi.
Một Chúa nhật kia, vào năm 1692, Isaac Watts, mới 18 tuổi, không hát trong suốt buổi thờ phượng. Khi bố ông quở trách ông, Isaac trả treo rằng âm nhạc không đáng hát, rằng Thi thiên không có gì hay, trong hình thái và cấu trúc câu, chúng rất vụng và thô.
Bố Watts nói: “Những bài thánh ca đó đủ hay cho Ông và Cha của con, và chúng cũng đủ hay cho con nữa đấy!”
“Thưa Bố, những bài hát đó chưa đủ hay đối với con, dù Bố và Ông có nghĩ như thế nào về chúng”.
“Nếu con không thích các bài ca thánh mà chúng ta đang hát, thế thì hãy viết ra những bài hay hơn đi”.
“Thưa Bố, con đã viết nhiều bài hay hơn thế, và nếu Bố thấy thoải mái và muốn nghe, con sẽ đọc một bài cho Bố nghe”. Isaac đã nói cho Bố mình biết anh đã học thuộc bài hát của các thiên sứ trong Khải huyền 5.6-10, và đã viết lại bài hát đó, ông gieo vần cho bài hát ấy.
“Lời cầu nguyện luôn nghi ngút trước ngai, dâng bao ca khúc gia quang tôn Ngài. Phương danh Christ cùng của lễ ban mai, mùi hương thơm ngát toả lên thiên đài”.
Bố ông rất kinh ngạc, ông đem phần sáng tác của con trai mình lên nhà thờ, và Chúa nhật sau cả hội chúng đều thích bài hát ấy nhiều lắm đến nỗi họ yêu cầu Isaac đem bài hát khác vào Chúa nhật tới nữa, và cứ thế, trong hơn 222 tuần lễ liên tục. Ngày nay Isaac được gọi là cha đẻ của sự hát thánh ca của người Anh hiện đại. Quả thực ông đã đem lại thật nhiều ơn phước cho nhân loại.

“Bấy giờ, một người trong các trưởng lão nói với tôi rằng: Chớ khóc, kìa, sư tử của chi phái Giuđa, tức là Chồi của vua Đavít, đã thắng…”(Khải huyền 5.5).

NGĂN CHẶN CÁI CHẾT Ở tuổi 15, George T. B. Davis đã quyết định dâng mình cho sự hầu việc Chúa; và, được thúc giục bởi mộ...
27/11/2021

NGĂN CHẶN CÁI CHẾT
Ở tuổi 15, George T. B. Davis đã quyết định dâng mình cho sự hầu việc Chúa; và, được thúc giục bởi một số nhà tư vấn dạn dày kinh nghiệm như D. L. Moody, R. A. Torrey, và Charles M. Alexander, anh quyết tâm trở thành một người chinh phục linh hồn. Anh tự hứa với lòng phải nói với ai đó mỗi ngày về việc tiếp nhận Đấng Christ.
“Có đôi lúc tôi quên nói với ai đó trong ngày, và sau khi tôi trở về nhà thì đột nhiên nhớ lại mình chưa nói với ai ngày đó về việc tiếp nhận Đấng Christ. Tôi bật dậy, mặc quần áo rồi bước ra đường ngay. Có lẽ người đầu tiên tôi gặp đã bước đi quá nhanh và tôi không thể trao đổi với ông ta được, nhưng tôi cũng tìm được một cơ hội và nắm lấy cơ hội đó”.
Khi Đệ I Thế Chiến nổ ra, Davis bắt đầu làm việc giữa vòng các binh lính dưới sự bảo trợ của Hội Tân ước bỏ túi (The Pocket New Testament League), anh lo phân phát Kinh Thánh cho những người đồng ý nhận lấy và đọc sách .
Trong khi duy trì các buổi nhóm trong một trại lính tại căn cứ Matilda ở Scotland, David gặp một người, ông nầy cho anh thấy một quyển Kinh Thánh của Hội Tân ước bỏ túi, quyển sách nầy đã cứu lấy mạng sống em của ông ta. Người em đã giữ quyển sách trong túi áo jacket ở trên bên trái. Thình lình một viên đạn Đức có mũi nhọn, bằng thép xuyên thẳng vào tim của anh, nhưng thay vì trúng tim, viên đạn đã ghim vào quyển sách nhỏ đó. Nó cày hết trang nầy sang trang khác rồi sau cùng nó dừng lại tại Khải huyền 3.6: “Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!”
Người lính đã lắng nghe và đã sửa soạn về mặt thuộc linh cho cái chết khi, một tháng sau đó, anh ta đã trúng đạn trái phá. Trong nỗi đau đớn, anh ta rên rỉ trong sợ hãi. Một người bạn thân nghiêng mình qua nói: “Jack, đừng rên như vậy nữa”.
Anh ta đáp: “Tớ biết mình đang rên rỉ, và đau đớn lắm , nhưng hãy nghĩ xem Cứu Chúa đã chịu khổ thể nào cho chúng ta trên đồi Gôgôtha”.
Davis đã được tặng cho quyển Tân ước có viên đạn xuyên qua đó, và anh đã dùng phần còn lại của cuộc chiến để gây ấn tượng cho các binh lính với sự khẩn cấp của ơn cứu rỗi, anh nói: “Ai có tai, hãy nghe lời…”.

“Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!” (Khải huyền 3.6).

KHI NGÀI ĐẾN… Đức Chúa Jêsus Christ đã vào trong thế gian với một việc trong trí: Yêu thương chúng ta và dùng huyết Ngài...
27/11/2021

KHI NGÀI ĐẾN…
Đức Chúa Jêsus Christ đã vào trong thế gian với một việc trong trí: Yêu thương chúng ta và dùng huyết Ngài thanh tẩy chúng ta khỏi mọi tội. Ngài hiện hữu vì lý do đó làm một con trẻ trong xứ Bếtlêhem, một thiếu niên tại Nazarét, một nhà truyền đạo trong xứ Giuđê, một chiên con trên đồi Gôgôtha. Vào năm 1846, Ngài chìa tay ra với lẽ thật đó và chạm đến một thiếu niên người Tô cách Lan có tên là James Geddie. Và Geddie, với sự ham muốn chạm đến nhiều người khác, đã ra đi để đến tại South Seas vào năm 1848. Khi chiếc tàu của anh ì ạch hướng tới New Hebrides, Geddie đã suy gẫm luôn về câu nầy, Khải huyền 1.5, được viết trên tờ báo của anh: “Lúc nầy là lúc tốt nhất để tận hưởng, và triển vọng của tôi nằm ở bên kia mồ mả, tựu trung vào thập tự giá, là biểu tượng của tình yêu cứu chuộc”.
James chẳng có chuẩn bị gì về điều ác mà anh đã gặp gỡ trong khi định cư trên đảo Aneityum. Dân cư trên đảo đã xem thịt người là món ăn mặn ngon nhất trong các thứ thức ăn, và tục ăn thịt người vốn cực kỳ phát triển. Cha mẹ thường giết và ăn thịt con ruột của họ. Bạo lực, trộm cướp, và xung đột đã xảy ra rất thường. Geddie viết: “Nếu chúng tôi thắng hơn những cư dân trên đảo đang sống trong vòng tối tăm nầy, chúng tôi phải kéo họ bằng những sợi dây yêu thương. Tôi biết không có một năng lực nào xứng đáng trừ ra quyền năng của Đấng Christ hằng sống là Đấng `yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta’”. Anh đã chiến đấu với sự tối tăm bằng cách thường xuyên rao giảng từ Khải huyền 1.5: “Đừng sử dụng một thứ vũ khí nào khác hơn thứ vũ khí mà Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã sử dụng, ấy là vũ khí yêu thương. Chúng ta phải thường giữ lòng nhìn xem Ngài là Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta”.
Tờ báo của anh ghi ngày 9 tháng 2 năm 1849 đăng: “Trong chỗ tăm tối, đê hèn, và cùng cực chung quanh tôi, tôi nhìn thẳng bằng đức tin vào thời điểm khi một số cư dân trên đảo hiệp nhau hát bài ca đắc thắng của những linh hồn được chuộc: `Hãy đến với Ngài là Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta”. Anh đã sống để nhìn thấy điều đó xảy ra. Geddie đã qua đời ngay trước ngày Lễ Giáng Sinh năm 1872, và một tấm bảng sau đó được đặt trong nhà thờ của anh trên đảo: “Ghi nhớ James Geddie…Vị giáo sĩ đến từ Nova Scotia đến Aneityum trong 24 năm. Khi ông đến đảo vào năm 1848, không có một Cơ đốc nhân nào ở đây, rồi khi ông ra đi vào năm 1872, không có một người nào theo dị giáo hết”.

“Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta” (Khải huyền 1.6).

DUNG DỊCH 66 XU Các giáo sĩ Dick Hillis và Margaret Humphrey lập gia đình vào ngày 18 tháng 4 năm 1938, trong một ngôi n...
27/11/2021

DUNG DỊCH 66 XU
Các giáo sĩ Dick Hillis và Margaret Humphrey lập gia đình vào ngày 18 tháng 4 năm 1938, trong một ngôi nhà nhỏ ở Hankow, Trung quốc. Tiếng nhạc đám cưới duy nhất là tiếng bom dội của quân Nhật bản ở một khoảng xa xa. Họ dời vào một ngôi nhà có vách trét bằng rơm trộn bùn rồi dấn thân vào một sự nhộn nhịp của sinh hoạt truyền giáo.
Bảy tháng sau, Margaret tỏ ra có những triệu chứng bị sốt rét. Căn bịnh nầy ngày càng tệ hại thật nhanh chóng, và Dick khổ sở càng thêm khi nhiệt độ lên tới 103oF, rồi tới 105o. Trong làng chẳng có y bác sĩ và chẳng có một phương tiện chuyên chở nào hết, bịnh viện thì ở rất xa. Dick đã cầu nguyện, nhưng ý thức được rằng chẳng có một lời đáp trả nào đến từ Đức Chúa Trời cả. “Tại sao vậy? Sao Đức Chúa Trời không đáp lời? Ngài có quyền cất nàng ra khỏi tôi, Ngài biết rõ tôi rất cần nàng, không những cho bản thân tôi, mà còn cho công việc nữa”.
Khi anh quì gối bên cạnh giường của Margaret nắm lấy bày tay nóng như đốt của nàng, có một câu hiện đến trong trí từ bức thư mà cha anh đã viết trước khi đám cưới của anh: “Hãy nhớ, Dick, nếu con thực sự biết yêu rồi, con sẽ đối diện với mối nguy hiểm của việc yêu tặng phẩm nhiều hơn là yêu Đấng Ban Cho đấy”.
Dick kêu lên: “Ôi Chúa, Ngài đã ban cho con biết yêu thương thật là nhiều nơi Margaret. Lẽ nào con đã yêu nàng quá nhiều sao?” Những lời lẽ kết thúc của thơ I Giăng loé lên trong trí: “Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình về hình tượng!”
Với sự nhận biết Chúa đang vận hành sâu sắc trong tấm lòng mình, Dick quì gối thật lâu, anh cầu nguyện: “Lạy Chúa, con dâng Margaret lại cho Ngài. Nếu Ngài đòi hỏi điều đó, con sẽ đi đến ngôi mộ của nàng, song vẫn tin cậy Ngài. Nhưng nếu Ngài đỡ nàng dậy, con sẽ luôn luôn tìm cách đặt Ngài ở trên hết”.
Sự bình an đến trên anh, cho phép anh yên nghỉ. Sáng hôm sau khi nhiệt độ của Margaret vẫn lảng vảng ở 105oF, Dick quyết định đi thăm viếng cửa hàng dược của người Trung hoa ở địa phương. Người chủ đứng tuổi ở đó tìm ra một lọ nhỏ bằng thủy tinh mà một người bán thuốc dạo đã bán cho ông ta cách đấy hai năm. Ông kia nói thuốc nầy có thể làm giảm cơn sốt. Dick mua ngay dung dịch 66 xu đó, rồi vội vã trở về nhà và tiêm ngay cho Margaret một mũi. Thân nhiệt của nàng bắt đầu hạ thấp dần, và hai tuần lễ sau đó nàng đã mạnh khoẻ như thường vậy.

“Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình về hình tượng!” (I Giăng 5.21).

CỬA THIÊN ĐƯỜNG William Tyndale là một học giả sáng chói, rất lôi cuốn, cuộc đời ông đã được câu gốc ngày hôm nay (trong...
27/11/2021

CỬA THIÊN ĐƯỜNG
William Tyndale là một học giả sáng chói, rất lôi cuốn, cuộc đời ông đã được câu gốc ngày hôm nay (trong bản Tân ước tiếng Hy lạp của Erasmus) làm thay đổi. Ông gọi câu Kinh Thánh nầy là: “cánh cửa thiên đường mà qua đó tôi đã bước vào Nước Trời. Tôi thường nghĩ rằng sự cứu rỗi không phải là để dành cho tôi, một khi tôi không yêu mến Đức Chúa Trời; thế nhưng lời lẽ quí báu đó đã chỉ cho tôi thấy rằng Đức Chúa Trời không yêu chúng ta vì chúng ta đã yêu Ngài trước. Không, không; chúng ta yêu Ngài vì Ngài đã yêu chúng ta trước. Điều nầy làm cho mọi sự ra khác biệt!”
Tyndale đã ra đời vào một thời điểm không hay lắm. Christopher Columbus đã khám phá ra tân thế giới; ngành in ấn đã xuất bản nhiều loại sách báo; và Sự Cải Chánh của Luther đã tái khám phá thần học Tin lành. Là một thanh niên, Tyndale cảm thấy thời gian đã chín muồi cho việc dịch Kinh Thánh ra thành nhiều thứ ngôn ngữ phổ thông, và ông đã bắt đầu mơ đến việc dịch Kinh Thánh sang Anh ngữ.
Thế nhưng ý kiến của ông đã bị Hội Thánh và Chính phủ Anh quốc tiếp thu một cách nghèo ngặt. Vua Henry III đã ủy thác cho Sir Thomas More bác bẽ lại Tyndale, và hai người đã lao vào một cuộc khẩu chiến. Ở một lần biện bác, Tyndale đã cho in một bức thư vào năm 1531 từ Antwerp, là nơi ông đang ẩn náu. Bức thư ấy bắt đầu: “Tình cảm và việc làm của chúng ta không làm cho Đức Chúa Trời yêu chúng ta trước, cũng không thay đổi Ngài từ ghét sang thương. Không, tình cảm và việc làm của Ngài khiến cho chúng ta phải yêu thương, và làm thay đổi chúng ta từ ghét sang thương. Vì Ngài yêu chúng ta khi chúng ta còn là người có tội, và là kẻ thù của Ngài; và Ngài chọn chúng ta để khiến cho chúng ta biết làm lành và đã tỏ ra cho chúng ta tình yêu thương rồi kéo chúng ta đến với Ngài, để chúng ta biết yêu thương. Nếu ông có thể xem qua mọi điều đã được chép trong thơ I Giăng, dù có gạt qua một bên tất cả mọi phần Kinh Thánh khác, ông sẽ nhìn thấy mọi điều nầy…”
Tyndale đã qua đời ở tuổi 42, nhưng ông đã cho xuất bản một bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh chính xác đến nỗi hơn 90% mọi lời lẽ của ông đã hiện hữu gần 100 năm sau đó trong bản King James. Người ta gọi ông là “Cha đẻ của quyển Kinh Thánh Anh ngữ”.

“Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước” (I Giăng 4.19).

MÁU LẠNH Tha thứ cho những tên phát xít chuyên bắt giam người quả là không dễ dàng cho Corrie ten Boom chút nào, vì chún...
27/11/2021

MÁU LẠNH
Tha thứ cho những tên phát xít chuyên bắt giam người quả là không dễ dàng cho Corrie ten Boom chút nào, vì chúng đã hành hạ bà ở trại Revensbruck. Chúng đã làm cho bà phải gánh chịu đau khổ rất khủng khiếp. Thậm tệ hơn nữa, chúng đã gây ra cái chết của chị bà là Betsy. Mười năm sau lần bà được cứu thoát, Corrie chạy theo một phụ nữ, người nầy chẳng dám nhìn thẳng vào mắt của bà. Sau khi hỏi thăm về bà ta, người ta cho Corrie biết người phụ nữ đó là y tá trong một trại tập trung. Thình lình mọi ký ức đều quay trở lại. Corrie nhớ lại chuyện đưa Betsy đến bịnh viện thì gặp người đờn bà nầy. Hai chân của Betsy đã bị liệt và bà đã ngã chết. Cô y tá kia rất độc ác và có giọng nói rất đanh thép.
Sự thù hận của Corrie giờ đây quay trở lại với lòng muốn báo thù. Cơn giận dữ của bà sụt sôi lên đến nỗi bà chỉ còn biết có một việc phải làm mà thôi. Bà đã kêu la với Chúa: “Xin tha thứ cho tánh thù hận của con, ôi Chúa ơi! Xin dạy con biết yêu thương kẻ thù mình”. Huyết của Đức Chúa Jêsus Christ dường như làm nguội đi tấm lòng cay đắng của bà cách đột ngột, và Corrie cảm thấy cơn giận dữ đã được thay thế bằng tình yêu thiêng liêng mà bà không thể giải thích được. Bà bắt đầu cầu nguyện cho người đờn bà ấy, và ngày kia, một thời gian ngắn sau, khi bà gọi đến bịnh viện, nơi cô y tá kia làm việc, và bà mời người phụ nữ nầy đến dự một buổi nhóm mà bà sẽ rao giảng ở đó.
Cô y tá kia đáp: “Sao chứ! Bà muốn tôi đến dự à?”
“Phải, đấy là lý do tôi gọi cho cô”.
“Thế thì tôi sẽ đến!”
Buổi tối hôm ấy, cô y tá nọ đã lắng nghe chăm chú Corrie làm chứng, và sau khi Corrie ngồi xuống bên cạnh cô, bà mở quyển Kinh Thánh của mình ra, rồi giải thích I Giăng 4.9: “Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống”. Người đờn bà kia dường như khát khao những lời lẽ bình dị, đầy lòng tin cậy của Corrie nói về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta, là kẻ thù của Ngài. Rồi buổi tối hôm ấy, một cựu tù nhân đã dẫn dắt kẻ từng bắt bớ mình đi đến một: “quyết định từng khiến cho hàng thiên sứ phải cất tiếng ca hát”. Đức Chúa Trời đã cất bỏ những cảm xúc thù hận trong tiềm thức của Corrie, về sau bà giải thích, và biến đổi chúng, sử dụng chúng như một cánh cửa sổ qua đó ánh sáng của Ngài sẽ chiếu vào tấm lòng tăm tối.

“Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống” (I Giăng 4.9).

NGỌN GIÓ NGỢI KHEN Kỹ thuật y khoa phần lớn cướp khỏi chúng ta những cảnh đắc thắng bên giường chết, ở đó kết thúc truyệ...
27/11/2021

NGỌN GIÓ NGỢI KHEN
Kỹ thuật y khoa phần lớn cướp khỏi chúng ta những cảnh đắc thắng bên giường chết, ở đó kết thúc truyện ký của nhiều vị anh hùng Cơ đốc trong quá khứ. Khi sự cuối cùng đến, chúng ta thường thấy trống vắng, bình tỉnh, và được kết nối với nhiều thứ máy móc.
Đối với John Fletcher thì không phải như thế đâu, ông là bạn của Wesley. Vào ngày Chúa nhật, 7 tháng 8 năm 1785, ông bắt đầu bài giảng của mình ở nhà thờ, nhưng gương mặt ông ủ rủ, yếu ớt, giọng nói ông ngập ngừng, và gần như ông đã ngất đi rồi. Những tiếng xì xào lo lắng dậy lên khắp hội chúng, và vợ ông là Polly chạy đến bên cạnh để khuyên ông đừng tiếp tục nữa. Thế nhưng Fletcher đã ý thức đây chính là bài giảng sau cùng của mình, và ông đã giảng tiếp, tập trung sức lực để giảng về tình yêu thương và sự thương xót của Đức Chúa Trời. Sau đó, ông được người ta giúp đưa về nhà và đưa vào giường, “không còn đi lại trên thế gian nữa”. Ông đã ngủ rất nhiều sau đó, nhưng trong những giây phút tỉnh táo của ông, Polly đã đọc Kinh Thánh và cầu nguyện cùng với ông.
Về sau bà viết: “Đến thứ Tư, ông cho tôi biết ông đã nhận được một sự tỏ ra đầy đủ ý nghĩa của câu nầy: “Đức Chúa Trời là sự yêu thương”, dường như là ông không được phép nói ra vậy. Ông nói: “Tình yêu ấy đầy dẫy tấm lòng anh, từng giây phút một. Ôi Polly, Đức Chúa Trời là sự yêu thương! Hãy hô lớn lên đi, hãy hô lớn lên! Anh muốn cỡi gió để đi đến các đầu cùng đất”.
Rồi ông nói cho bà biết điều đó, giọng nói không còn nghe rõ nữa, ông gõ nhẹ vào bà hai lần bằng ngón tay của mình ra dấu sự họ cùng nhau làm chứng về tình yêu của Đức Chúa Trời.
Qua ngày sau, giọng nói của ông đã mụ đi nhiều, còn Polly thì nghiêng mình qua thì thầm: “Đức Chúa Trời là sự yêu thương”. “Ngay lập tức, giống như sức lực của ông được vực dậy, ông bật dậy ráng nói: “Đức Chúa Trời là sự yêu thương! Yêu thương! Yêu thương! Ôi, nguyện xảy có một ngọn gió ngợi khen!”
Polly cứ ở lại bên cạnh ông. Ông khó mà thốt ra được một lời nào nữa, thế nhưng ông cứ giữ việc dùng ngón tay gõ vào bà. Sau cùng đôi môi ông nhấp nháy lại, và bà nghe thấy ông cầu nguyện; “Hỡi Đầu của Hội Thánh, xin làm đầu của vợ tôi”. Ông hôn mê ngay sau đó rất nhanh, thế mà tay vẫn cứ gõ vào Polly theo dấu hiệu của họ, cho tới chừng “linh hồn quí báu của ông đã bước vào sự vui mừng của Chúa, không có một sự vật vã hay than phiền nào hết, trong lúc ông được 56 tuổi”.

“Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương” (I Giăng 4.8).

TÁM GIỜ KÉM NĂM Ông để lại một cái bóng thật dài – một nhà truyền đạo trong 67 năm, một giáo sư thần học trong 60 năm, m...
27/11/2021

TÁM GIỜ KÉM NĂM
Ông để lại một cái bóng thật dài – một nhà truyền đạo trong 67 năm, một giáo sư thần học trong 60 năm, một Hiệu Trưởng Thần Học Viện trong 13 năm. Ảnh hưởng của John R. Sampey đã chạm đến nhiều thế hệ.
John chào đời ở Alabama đúng vào ngày sinh nhật của mẹ ông, ngày 27 tháng 9 năm 1863. Một trong những ký ức sớm sủa nhất của ông đã diễn ra mấy năm ngắn ngủi sau đó, khi còn là một đứa trẻ, ông đã thấy mẹ mình chịu phép báptêm. Khi bà biến mất dưới làn nước, ông đã kêu la hốt hoảng và không bao giờ quên được cảnh tượng đó.
Ông đã trở lại đạo khi còn là một thiếu niên.
“Khi tôi nằm trên chiếc giường có bánh xe đẩy vào buổi tối ngày 3 tháng 3 năm 1877, tôi không thể ngủ được. Chúng tôi vừa trải qua giờ gia đình lễ bái, và Bố đang đọc sách, còn mẹ thì ngồi đan áo. Đứa em kế của tôi đã ngủ vùi bên cạnh tôi; nhưng tôi cứ mãi trăn trở về tội lỗi của mình. Trong nỗi thất vọng, tôi bắt đầu thì thầm: “Lạy Chúa Jêsus, con không biết phải làm gì đây. Con đã cầu nguyện, nhưng chẳng thấy khuây khoả chút nào. Con đã đọc Kinh Thánh, nhưng tội lỗi con đang là một gánh nặng cho linh hồn con…Nếu con bị hư mất, con sẽ không còn tin cậy Ngài nữa”. Thế rồi có một việc đã xảy ra. Dường như có một Sự Hiện Diện quan trọng đầy dẫy căn phòng và phán với tôi bằng những lời lẽ gần như nghe thấy được: “Con trai ta, ta đã chờ đợi con nói ra những điều con mới vừa nói đó. Con có thể trông mong ta giải cứu con”. Tôi ngước mắt nhìn lên chiếc đồng hồ cũ của gia đình treo ở phía trên lò sưỡi, và khi ấy là tám giờ kém năm”.
Sampey không công bố sự ông trở lại đạo cho tới tháng 7, khi ông tiến lên phía trước nhà thờ, ông nói giờ đây ông yêu mến Đức Chúa Trời và dân sự của Đức Chúa Trời như chưa hề có trước đây bao giờ. Vị Mục sư hướng sang hội chúng rồi nói: “Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình”.
Câu ấy trở thành câu gốc của Sampey, vì câu ấy gây ấn tượng trên ông như một dấu ấn của một Cơ đốc nhân. Lời lẽ của câu ấy đã dẫn dắt ông trong nhiều năm trời hầu đến, góp phần to lớn vào tâm linh nhẫn nại cùng sự sẵn lòng phục vụ của ông. Câu Kinh Thánh đó đã được nhân cách hoá ở trong ông, và chẳng một người nào biết ông mà có lòng ngờ rằng ông đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì ông đã yêu anh em mình.

“Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết” (I Giăng 3.14)

Address

55/44/14 THÍCH QUÃNG ĐỨC QUẬN PHÚ NHUẬN
Ho Chi Minh City

Telephone

+84375261847

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bài Giảng Về "Quên" posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category