Giải Đáp Thắc Mắc Công Giáo

Giải Đáp Thắc Mắc Công Giáo Giải đáp những khúc mắc trong Đức Tin, chia sẻ những kiến thức Hộ giáo cần thiết cho người Công Giáo
(1)

Kỉ niệm 1701 năm ngày khai mạc Công Đồng Chung Nicaea, 20/05/325 - 20/05/2026. Chính tại Công Đồng chung này: thần tính ...
21/05/2026

Kỉ niệm 1701 năm ngày khai mạc Công Đồng Chung Nicaea, 20/05/325 - 20/05/2026. Chính tại Công Đồng chung này: thần tính Thiên Chúa của Đức Giêsu được tuyên tín và Kinh Tin Kính Nicaea được biên soạn

16/05/2026

Trưng bày cuộn Kinh Thánh Cựu Ước: sách tiên tri Isaia tại bảo tàng Israel. Sách có niên đại thế kỷ thứ 2 Trước Công Nguyên. Cuộn sách này chứa 66 chương y chang sách mà chúng ta có hiện nay, Chứng minh Kinh Thánh được truyền thừa cách trung thực, chính xác qua các thế hệ:
https://www.facebook.com/share/v/1GqLXcxkrU/

🚨 PHÉP LẠ LẶP LẠI: Máu của Thánh Gennaro hóa lỏng vì Đức Giáo Hoàng Leo XIV! 🔴⚡️Lịch sử đã được tạo nên hôm nay tại trun...
09/05/2026

🚨 PHÉP LẠ LẶP LẠI: Máu của Thánh Gennaro hóa lỏng vì Đức Giáo Hoàng Leo XIV! 🔴⚡️
Lịch sử đã được tạo nên hôm nay tại trung tâm Naples! Trong chuyến thăm mục vụ được mong đợi, Đức Giáo hoàng Leo XIV đã bước vào Nhà thờ chính tòa để tôn kính vị Thánh bổn mạng của thành phố. Khi Đức Giáo hoàng cầm hộp đựng thánh tích, phép lạ đã xảy ra: máu của Thánh Gennaro hoàn toàn hóa lỏng.

Không giống như hiện tượng hóa lỏng một phần được thấy trong chuyến thăm của Giáo hoàng Phanxicô năm 2015, hôm nay phép lạ này diễn ra hoàn toàn và ngay lập tức.

💬 “Kính thưa anh chị em, tôi biết mối liên kết đặc biệt giữa anh chị em với Thánh bổn mạng Gennaro; nhưng ân sủng của Chúa đã ban cho anh chị em cách dồi dào đến nỗi đã khơi dậy nhiều vị thánh khác trong suốt lịch sử của anh chị em. Tôi phó thác anh chị em cho các ngài và cho sự cầu bầu của Đức Mẹ Maria, Đức Mẹ Lên Trời và là Người Mẹ nhân từ.,” Đức Giáo hoàng nói với đám đông đang reo hò bên ngoài Nhà thờ chính tòa.

Phép lạ bất ngờ vào tháng Năm này là một biểu tượng mạnh mẽ của hy vọng và phước lành cho thành phố Naples và thế giới. 🇮🇹✨
Nguồn: L'Osservatore Romano

08/05/2026

💥TRIỂN LÃM PHÉP LẠ THÁNH THỂ "HẠ CÁNH"
TẠI GIÁO XỨ CHỢ QUÁN

Sau khi được khởi động tại Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận Sài Gòn vào năm 2025, triển lãm “Phép lạ Thánh Thể” đã tiếp tục hành trình và hiện diện tại nhiều giáo xứ.

Trong tâm tình chờ đợi và mong ngóng, triển lãm Phép lạ Thánh Thể chính thức dừng chân tại Giáo xứ Chợ Quán.

Đây không chỉ là niềm vui, mà còn là một hồng ân và vinh dự khi giáo xứ chúng ta được đón nhận một hành trình đức tin ý nghĩa, gắn liền với chứng tá của Thánh Carlo Acutis và lòng sùng kính Thánh Thể của toàn thể Giáo Hội.

Triển lãm “Phép lạ Thánh Thể” sẽ chính thức được khai mạc tại Giáo xứ Chợ Quán vào chiều thứ Bảy, ngày 16/05/2026.

🔷 Trước Thánh Lễ chiều cùng ngày, sẽ có nghi thức rước kiệu Thánh Tích của Thánh Carlo Acutis, như một bước chuẩn bị và khai mở cho hành trình triển lãm.

🔷 Sau Thánh Lễ sẽ có Chầu Thánh Thể, cầu nguyện cùng Thánh tích của Thánh Carlo Acutis.

⏰ Thời gian triển lãm: 16/05/2026 – 21/06/2026
📍 Địa điểm: Giáo xứ Chợ Quán

Triển lãm là một hành trình đức tin, dẫn người tham quan:
- Tìm hiểu về tiểu sử Chân phước Carlo Acutis
- Khám phá bối cảnh hình thành bộ sưu tập các phép lạ Thánh Thể
- Chiêm ngắm các phép lạ Thánh Thể được ghi nhận và trình bày theo hành trình trải dài từ Châu Âu đến Châu Á
- Nhận ra những dấu chỉ đức tin được tỏ lộ qua Đức Mẹ và các Thánh
- Viếng và cầu nguyện cùng Thánh tích của Thánh Carlo Acutis

Thánh Carlo Acutis là một người trẻ của thời đại hôm nay, đã dùng chính khả năng và lòng yêu mến Thánh Thể để thu thập và giới thiệu các phép lạ Thánh Thể trên khắp thế giới, với ước mong giúp nhiều người nhận ra sự hiện diện sống động của Chúa Giêsu nơi Bí tích này.

Qua đó, mỗi người được mời gọi củng cố lòng sùng kính Thánh Thể, và đặc biệt là được chiêm ngắm, viếng và cầu nguyện với Thánh Tích của Thánh Carlo Acutis - một chứng nhân sống động cho đời sống thánh thiện giữa thời đại hôm nay.

Ước mong qua triển lãm này, mỗi người chúng ta có thêm một cơ hội để dừng lại, chiêm ngắm và kín múc ân sủng nơi Thánh Thể, nguồn mạch sự sống của đời sống Kitô hữu.

Kính mời cộng đoàn cùng đến và tham quan triển lãm.

Kỷ Niệm 1 Năm Ngày Đức Leo được bầu vào ngai tòa Thánh Phêro, lãnh nhận sứ vụ mục tử hoàn vũ: 08/05/2025 - 08/05/2026Ta ...
07/05/2026

Kỷ Niệm 1 Năm Ngày Đức Leo được bầu vào ngai tòa Thánh Phêro, lãnh nhận sứ vụ mục tử hoàn vũ: 08/05/2025 - 08/05/2026
Ta hãy cầu xin cho Đức Giáo Hoàng Leo XIV,
Chúa thương gìn giữ, ban ơn nâng đỡ, che chở hộ phù
Xin ban sinh lực dồi dào, lòng tin cậy mến thẳm sâu
Để người lãnh đạo đoàn chiên Chúa trao.

Thời gian cho 5 lần Cơ Mật Nghị Bầu Giáo Hoàng gần đây nhất tính theo số lần bỏ phiếuĐức John Paul I: 4 lần bỏ phiếu / 2...
07/05/2026

Thời gian cho 5 lần Cơ Mật Nghị Bầu Giáo Hoàng gần đây nhất tính theo số lần bỏ phiếu
Đức John Paul I: 4 lần bỏ phiếu / 2 ngày
Đức John Paul II: 8 lần bỏ phiếu / 3 ngày
Đức Benedict XVI: 4 lần bỏ phiếu / 2 ngày
Đức Francis: : 5 lần bỏ phiếu / 2 ngày
Đức Leo XIV: 4 lần bỏ phiếu / 2 ngày
Nguồn: Aleteia English

"Thưa cha, cha có thấy bất công không?"Newman dừng lại. Nhìn người trẻ đó. Rồi trả lời: "Thiên Chúa biết. Thế là đủ."Và ...
05/05/2026

"Thưa cha, cha có thấy bất công không?"

Newman dừng lại. Nhìn người trẻ đó. Rồi trả lời: "Thiên Chúa biết. Thế là đủ."

Và tiếp tục đi.

Không phải câu trả lời của người đã hết đau. Mà là câu trả lời của người đã quyết định rằng mình sẽ không để nỗi đau đó định nghĩa mình.

Ông bị kẻ thù công kích. Ông bị người bạn thân nhất im lặng. Ông bị chính Giáo hội mà ông đã đánh đổi tất cả để gia nhập nghi ngờ và cô lập. Ông bị gia đình từ chối. Ông bị dư luận kết án.

Và trong tất cả những năm đó, ông ngồi xuống và viết.

Những cuốn sách mà Giáo hội sẽ cần đến một trăm năm sau khi ông qua đời.

Bài 4: Cái giá của sự thật!

(Series viết về John Henry Newman · Tiến sĩ Hội Thánh thứ 38)

Có một thứ tệ hơn bị kẻ thù công kích.

Đó là bị người bạn thân nhất im lặng.

Không phải im lặng vì không biết nói gì. Mà im lặng có chủ ý, loại im lặng mà cả hai phía đều biết ý nghĩa của nó, nhưng không ai nói ra thành lời. Loại im lặng chỉ có thể xảy ra giữa hai người từng hiểu nhau rất rõ.

Sau đêm tháng 10 năm 1845 tại Littlemore, tin tức lan ra. Và John Newman, người vừa bước vào Giáo hội Công giáo sau 28 năm là linh mục Anh giáo, bắt đầu nhận được phản ứng từ khắp nơi.

Phản ứng từ kẻ thù thì ông đã đoán trước. Nhưng phản ứng từ những người ông yêu quý nhất, điều đó ông không có cách nào chuẩn bị cho đủ.

Trong số tất cả những bức thư Newman nhận được, và không nhận được, sau khi tin tức cải đạo lan ra, có một bức đến từ người bạn thân nhất ông: John Keble.

Bức thư đó không có trong bất kỳ tuyển tập thư từ nào.

Vì nó không tồn tại. Keble không viết.

Để hiểu điều đó nặng nề như thế nào, bạn cần nhớ lại Keble là ai với Newman: người bạn từ thời Oxford những năm 1820s, người đã đứng cạnh ông khi xây dựng Phong trào Oxford, người mà Newman viết thư gần như mỗi tuần trong suốt hơn hai mươi năm, về thần học, về cuộc sống, về những câu hỏi ông không biết hỏi ai khác. Nếu đặt vào ngôn ngữ hôm nay, Keble là người bạn thân nhất mà bạn đã share mọi thứ, kể cả những thứ bạn chưa dám nói với gia đình.

Và người đó chọn im lặng. Không một dòng. Trong suốt nhiều năm, cho đến khi Keble qua đời năm 1866, hai người gần như không trao đổi thư từ.

Newman chỉ nhắc đến điều đó một lần, trong thư gửi một người bạn khác năm 1850:

"Sự im lặng của Keble là vết thương tôi không biết cách mô tả."

Rồi không nhắc nữa. Không than vãn. Không giải thích. Chỉ một câu, rồi im.

Đó là cách Newman xử lý những thứ đau nhất: không nói nhiều, nhưng không giả vờ là không đau.

Người bạn còn lại, Edward Pusey, không im lặng...

Pusey, giáo sư Oxford, người đã sát cánh với Newman trong Phong trào từ đầu, đã không theo Newman sang Công giáo. Ông ở lại Anh giáo cho đến cuối đời, tiếp tục lãnh đạo phong trào theo hướng riêng của mình (sau này được gọi là Phong trào Tractarian hay Anglo-Catholicism).

Điều Pusey nói về Newman, theo ghi chép của nhiều nhân chứng thời đó, là: Newman cải đạo vì "quá nhạy cảm về mặt cảm xúc", không phải vì thần học. Vì tính khí, không phải vì lý trí.

Một sử gia Anh thế kỷ 20, khi đọc lại những ghi chép đó, nhận xét ngắn gọn: "Pusey biết điều đó là sai. Nhưng ông cần tin vào điều đó."

Đó là một trong những sự thật phũ phàng nhất về cách con người xử lý việc bị bạn bè rời đi: đôi khi, cách dễ nhất để sống tiếp là tự thuyết phục bản thân rằng người kia đã sai vì một lý do ngoài lý trí, để không phải đối mặt với khả năng họ đã sai vì lý trí của chính họ chỉ ra điều khác.

Newman biết điều đó. Nhưng ông không tranh luận với Pusey công khai. Không bao giờ.

Nếu chuyện trong vòng bạn bè đã đau, thì ngoài xã hội còn tệ hơn.

Tờ Times of London năm 1850 chạy bài xã luận nói Newman là bằng chứng cho thấy "sự cải đạo sang Roma là hậu quả của sự yếu đuối trí tuệ." Nhiều người quen cũ băng qua đường để tránh phải chào khi gặp ông trên phố. Gia đình ông, vốn đã xa cách từ khi ông gia nhập Công giáo, gần như cắt đứt liên hệ hoàn toàn.

Em gái ông, người từng gần gũi nhất với ông, viết cho ông một lá thư năm 1846 nói rằng bà không hiểu được ông nữa và không cố gắng hiểu nữa.

Newman đọc lá thư đó rồi cất đi. Ông không trả lời.

Bạn có thể tưởng tượng người đó: một người đàn ông 45 tuổi, vừa từ bỏ tất cả những gì ông xây dựng trong hai mươi năm, ngồi một mình với một lá thư từ người thân, và chọn cách đặt nó xuống, không nói gì, rồi tiếp tục sống.

Không phải vì ông không đau. Mà vì ông đã quyết định rằng có những thứ quan trọng hơn việc được hiểu.

Nhưng cái giá nặng nhất, điều Newman không ngờ tới, đến từ bên trong chính Giáo hội Công giáo mà ông vừa gia nhập.

Để hiểu điều này, bạn cần biết một nhân vật: Henry Edward Manning.

Manning gia nhập Công giáo năm 1851, sáu năm sau Newman. Nhưng khác với Newman, ông leo lên rất nhanh trong hệ thống phẩm trật Công giáo tại Anh: năm 1865 trở thành Tổng Giám mục Westminster, đứng đầu toàn bộ Công giáo tại Anh, năm 1875 được phong Hồng y. Ông có quan hệ thân tín trực tiếp với Roma, được Đức Giáo hoàng Piô IX tin tưởng gần như tuyệt đối.

Và ông không tin Newman.

Không phải vì bằng chứng. Mà vì khí chất.

Manning là người tin rằng đức tin không cần câu hỏi, chỉ cần vâng phục. Với ông, một người Công giáo tốt là người làm theo những gì Giáo hội chỉ dạy, không đặt câu hỏi thêm. Trật tự, thẩm quyền, phục tùng, đó là những giá trị ông xây toàn bộ tư tưởng của mình trên đó.

Newman là người tin rằng câu hỏi là đức tin. Rằng không có đức tin thật sự nào mà không đi qua lương tâm, qua sự tìm kiếm thật sự, qua nghi ngờ thật sự, qua kết luận mà chính mình đi đến chứ không ai ép buộc.

Hai quan điểm đó không thể tìm thấy điểm chung.

Trong nhiều năm, Manning âm thầm báo cáo về Roma rằng Newman là "tiêu biểu cho Công giáo tự do nguy hiểm." Kế hoạch Newman muốn thành lập nhà Oratoire tại Oxford để phục vụ sinh viên Công giáo, điều ông coi là sứ mạng quan trọng nhất của mình, bị bác bỏ liên tục. Không có lý do chính thức. Nhưng những người trong cuộc biết bàn tay ai đứng sau.

Monsignor George Talbot, quan chức Vatican thân tín của Manning, viết thư riêng năm 1867, bức thư sau này được tìm thấy trong lưu trữ Vatican và trích dẫn bởi sử gia Sheridan Gilley:

"Newman là người nguy hiểm nhất ở Anh… Chỗ của ông là ở Oxford, không phải trong Giáo hội Công giáo."

Newman không biết về bức thư đó khi còn sống. Nhưng ông cảm nhận được hướng gió.

Có một câu chuyện nhỏ mà những người ở Birmingham kể lại, không rõ năm cụ thể, chỉ biết là trong những năm dài ông sống lặng lẽ tại cộng đoàn Oratoire nhỏ của mình.

Một buổi tối, một giáo dân trẻ gặp Newman trên đường và hỏi thẳng: "Thưa cha, cha có thấy bất công không?"

Newman dừng lại. Nhìn người trẻ đó. Rồi trả lời: "Thiên Chúa biết. Thế là đủ."

Và tiếp tục đi.

Không phải câu trả lời của người đã hết đau. Mà là câu trả lời của người đã quyết định rằng mình sẽ không để nỗi đau đó định nghĩa mình.

Ông bị kẻ thù công kích. Ông bị người bạn thân nhất im lặng. Ông bị chính Giáo hội mà ông đã đánh đổi tất cả để gia nhập nghi ngờ và cô lập. Ông bị gia đình từ chối. Ông bị dư luận kết án.

Và trong tất cả những năm đó, ông ngồi xuống và viết.

Những cuốn sách mà Giáo hội sẽ cần đến một trăm năm sau khi ông qua đời.

(Còn tiếp...)

-John Phạm-

Các bài trong series này:
Bài 1: "Người đàn ông của hai thế giới"
https://www.facebook.com/photo/?fbid=1274637841542770&set=a.389171626756067

Bài 2: Cuôc nổi dậy từ Oxford!
https://www.facebook.com/photo/?fbid=1274652534874634&set=a.389171626756067

Bài 3: Đêm tối của linh hồn!
https://www.facebook.com/photo/?fbid=1274665804873307&set=a.389171626756067

Tài liệu tham khảo:
Newman, J.H. Apologia Pro Vita Sua (1865), Chương 5, phản ứng của xã hội Anh sau cải đạo; toàn văn tại newmanreader.org
Sheridan Gilley, Newman and His Age (Darton, Longman & Todd, 1990), trích dẫn thư Talbot từ lưu trữ Vatican
Ian Ker, John Henry Newman: A Biography (Oxford University Press, 1988)
Lytton Strachey, Eminent Victorians (1918), chương về Cardinal Manning, bản gốc thuộc public domain

Newman thuê lại một dãy nhà kho cũ, cải tạo thành nơi ở đơn giản, và dọn vào đó cùng một nhóm nhỏ bạn bè cùng chí hướng....
04/05/2026

Newman thuê lại một dãy nhà kho cũ, cải tạo thành nơi ở đơn giản, và dọn vào đó cùng một nhóm nhỏ bạn bè cùng chí hướng.
Họ sống gần như ẩn tu: dậy sớm, cầu nguyện chung, ăn uống đơn giản, và đọc sách từ sáng đến tối. Không có khách. Không có bài giảng. Không có hoạt động công khai.
Chính quyền Anh giáo không an tâm. Một Giám mục sau này thừa nhận đã cử người đến Littlemore để quan sát và báo cáo xem "tu viện bí mật của Newman" đang làm gì đáng ngờ.
Điều họ phát hiện: những người đàn ông ngồi đọc sách từ sáng đến tối.
Cụ thể hơn, họ đọc các Giáo phụ. Hàng chục, rồi hàng trăm tập, bằng tiếng La tinh và Hy Lạp gốc. Những văn bản của thánh Athanasiô, thánh Augustinô, thánh Cyprianô, những người đã viết trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, khi Giáo hội còn chưa bị chia cắt bởi bất kỳ cuộc Cải cách nào.
Newman đọc như người đang tìm kiếm thứ gì đó đã mất. Và không chắc mình muốn tìm thấy.
Ông đang hỏi một câu hỏi rất đơn giản: Giáo hội thật sự, Giáo hội mà các Tông đồ truyền lại, trông như thế nào?
Và ông đang hỏi câu đó vì ông cần biết: Giáo hội Anh giáo mà ông đã phục vụ suốt cuộc đời có phải là giáo hội đó không?
Câu trả lời ông tìm thấy trong sách không phải là câu trả lời ông muốn.
"Tôi không biết mình đang ở đâu. Tôi chỉ biết mình không thể tiếp tục như trước."
Mùa hè năm 1845, Newman bắt đầu viết Essay on the Development of Christian Doctrine, ban đầu là một nỗ lực cuối cùng để trả lời câu hỏi đang hành hạ ông.
Ý tưởng trung tâm của cuốn sách nghe có vẻ đơn giản, nhưng thực ra rất sâu sắc:
Giáo hội không thay đổi chân lý, nhưng Giáo hội hiểu sâu hơn chân lý theo thời gian. Giống như một hạt giống lớn dần thành cây, cây không phải là một thứ khác với hạt giống, nhưng cũng không hoàn toàn giống hạt giống. Sự phát triển là dấu hiệu của sức sống, không phải của sự phản bội.
Lý thuyết đó ban đầu Newman dùng để giải thích, và bảo vệ, lý do Giáo hội Anh giáo vẫn là Giáo hội đích thực, dù đã trải qua nhiều thay đổi từ thế kỷ 16.
Nhưng khi viết đến chương cuối, ông nhận ra ông không thể kết thúc theo hướng mình dự định.
Logic của chính ông đã dẫn ông đến nơi khác.
Là Roma.

Bài 3: Đêm tối của linh hồn!

(Series viết về John Henry Newman · Tiến sĩ Hội Thánh thứ 38)

Có một loại câu hỏi mà bạn không thể giả vờ là không nghĩ đến.

Không phải câu hỏi triết học trong sách giáo khoa. Là câu hỏi nảy ra lúc 2 giờ sáng khi bạn nằm nhìn trần nhà, câu hỏi mà ban ngày bạn bận quá không để ý, nhưng đêm xuống nó quay lại, kiên nhẫn, chờ bạn trả lời.

Mình đang đi đúng hướng không?

John Henry Newman đối mặt với câu hỏi đó không phải trong một đêm, mà trong ba năm liên tục, từ 1842 đến 1845, tại một ngôi làng nhỏ tên Littlemore, vài dặm ngoài Oxford.

Ông 41 tuổi khi dọn về đó. Ông đã từ bỏ hầu hết các chức vụ tại Oxford. Ông không có câu trả lời. Ông chỉ biết mình không thể tiếp tục như trước.

Littlemore năm 1842 là một ngôi làng không có gì đặc biệt: vài chục nóc nhà, một nhà nguyện nhỏ mà Newman đã tự xây cho cư dân địa phương từ vài năm trước. Newman thuê lại một dãy nhà kho cũ, cải tạo thành nơi ở đơn giản, và dọn vào đó cùng một nhóm nhỏ bạn bè cùng chí hướng.

Họ sống gần như ẩn tu: dậy sớm, cầu nguyện chung, ăn uống đơn giản, và đọc sách từ sáng đến tối. Không có khách. Không có bài giảng. Không có hoạt động công khai.

Chính quyền Anh giáo không an tâm. Một Giám mục sau này thừa nhận đã cử người đến Littlemore để quan sát và báo cáo xem "tu viện bí mật của Newman" đang làm gì đáng ngờ.

Điều họ phát hiện: những người đàn ông ngồi đọc sách từ sáng đến tối.

Cụ thể hơn, họ đọc các Giáo phụ. Hàng chục, rồi hàng trăm tập, bằng tiếng La tinh và Hy Lạp gốc. Những văn bản của thánh Athanasiô, thánh Augustinô, thánh Cyprianô, những người đã viết trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, khi Giáo hội còn chưa bị chia cắt bởi bất kỳ cuộc Cải cách nào.

Newman đọc như người đang tìm kiếm thứ gì đó đã mất. Và không chắc mình muốn tìm thấy.

Để hiểu tại sao những năm Littlemore lại quan trọng đến vậy, bạn cần biết Newman đang tìm kiếm điều gì trong những trang sách đó.

Ông đang hỏi một câu hỏi rất đơn giản: Giáo hội thật sự, Giáo hội mà các Tông đồ truyền lại, trông như thế nào?

Và ông đang hỏi câu đó vì ông cần biết: Giáo hội Anh giáo mà ông đã phục vụ suốt cuộc đời có phải là giáo hội đó không?

Câu trả lời ông tìm thấy trong sách không phải là câu trả lời ông muốn.

Ông đọc về cách Giáo hội sơ khai tổ chức bản thân: một hệ thống Giám mục có thẩm quyền thật sự từ dòng truyền thừa tông đồ, không phải từ nhà nước; một trung tâm hiệp nhất ở Roma mà các Giáo hội địa phương quy chiếu về; những tín điều được bảo vệ không phải bằng bỏ phiếu đa số mà bằng sự trung thành với những gì đã được trao từ đầu.

Rồi ông nhìn lại Giáo hội Anh giáo: Giám mục do Thủ tướng đề xuất. Thẩm quyền tối cao thuộc về nhà vua từ thế kỷ 16. Và, điều quan trọng nhất, không có sự liên tục thật sự với Roma, vì chính Henry VIII đã chặt đứt sợi dây đó để giải quyết chuyện ly hôn.

Có một câu ông viết trong thư gửi người bạn John Bowden vào mùa xuân năm 1843, mà các nhà nghiên cứu thường trích dẫn, không phải vì nó nói nhiều, mà vì nó nói ít đến mức đau lòng:

"Tôi không biết mình đang ở đâu. Tôi chỉ biết mình không thể tiếp tục như trước."

Đó là tất cả. Không giải thích thêm. Với một người viết hàng nghìn trang thần học, sự im lặng đó nói hơn bất kỳ bài luận nào.

Mùa hè năm 1845, Newman bắt đầu viết Essay on the Development of Christian Doctrine, ban đầu là một nỗ lực cuối cùng để trả lời câu hỏi đang hành hạ ông.

Ý tưởng trung tâm của cuốn sách nghe có vẻ đơn giản, nhưng thực ra rất sâu sắc:

Giáo hội không thay đổi chân lý, nhưng Giáo hội hiểu sâu hơn chân lý theo thời gian. Giống như một hạt giống lớn dần thành cây, cây không phải là một thứ khác với hạt giống, nhưng cũng không hoàn toàn giống hạt giống. Sự phát triển là dấu hiệu của sức sống, không phải của sự phản bội.

Lý thuyết đó ban đầu Newman dùng để giải thích, và bảo vệ, lý do Giáo hội Anh giáo vẫn là Giáo hội đích thực, dù đã trải qua nhiều thay đổi từ thế kỷ 16.

Nhưng khi viết đến chương cuối, ông nhận ra ông không thể kết thúc theo hướng mình dự định.

Logic của chính ông đã dẫn ông đến nơi khác.

Nếu tín điều phát triển theo thời gian mà vẫn là cùng một chân lý, thì cần có một trung tâm, một thẩm quyền liên tục, để phân biệt sự phát triển đích thực với sự biến chất. Và trung tâm đó, theo mọi bằng chứng lịch sử ông đã đọc trong nhiều năm, không phải là nhà thờ Canterbury. Không phải là Quốc hội Anh. Không phải là nhà vua.

Là Roma.

Ông đặt bút xuống. Cuốn sách viết dở, chưa hoàn thành. Và ông viết một bức thư.

Đêm mưa tháng 10 năm 1845...

Người nhận bức thư là Cha Dominic Barberi, một linh mục người Ý thuộc Dòng Chúa Chịu Nạn (Passionists), đang truyền giáo tại Anh. Barberi không phải nhân vật nổi tiếng. Không có chức vụ cao. Chỉ là một linh mục bình thường đang làm công việc bình thường, đi rao giảng ở những nơi người ta không muốn nghe.

Ông và Newman đã liên lạc từ trước, nhưng chưa bao giờ gặp trực tiếp.

Đêm 8 tháng 10 năm 1845, trời mưa. Barberi đến Littlemore sau một chuyến đi dài, áo còn ướt. Chính ông sau này kể lại trong thư gửi bề trên Dòng:

"Tôi vừa đặt chân xuống, áo còn ướt, thì Newman ra mở cửa và quỳ xuống trước mặt tôi. Ông xin xưng tội. Tôi chưa bao giờ cảm động đến vậy trong đời linh mục của mình."

Không có lễ nghi rình rang. Không có báo chí. Không có đám đông. Không có tuyên bố công khai. Chỉ có một người đàn ông nổi tiếng nhất nước Anh thời đó, giáo sư Oxford, nhà giảng thuyết mà hàng nghìn người chen chúc lắng nghe, quỳ gối xuống trước một linh mục người Ý không ai biết tên, trong một căn phòng nhỏ ở một ngôi làng không ai để ý, dưới trời mưa.

Sáng hôm sau, Newman viết vào nhật ký: "Tôi không còn nghi ngờ gì nữa."

Newman 44 tuổi khi đêm đó xảy ra. Ông đã dành 28 năm ở Oxford, toàn bộ cuộc đời trưởng thành của mình.

Ông biết rõ điều gì đang chờ mình khi tin tức lan ra. Ông biết người Anh giáo sẽ gọi ông là kẻ phản bội. Ông biết những người bạn lâu năm, Keble, Pusey, hàng chục người khác, sẽ không thể theo ông đến nơi ông vừa bước vào. Ông biết danh tiếng ông xây dựng suốt 20 năm sẽ sụp đổ trong vài tuần.

Và ông đã không tìm đến Barberi vì cảm xúc bốc đồng. Ông đã không quyết định trong một đêm. Ông đã mất ba năm, đọc, suy nghĩ, viết, đọc lại, trước khi đến được điểm đó.

Sáng hôm sau khi viết "Tôi không còn nghi ngờ gì nữa," ông không viết thêm gì. Chỉ đặt bút xuống và nhìn ra cửa sổ ngôi nhà ông sẽ rời đi.

Bên ngoài, trời đã tạnh mưa.

(Còn tiếp...)

- John Phạm-

Các bài trong series này:
Bài 1: "Người đàn ông của hai thế giới"
https://www.facebook.com/photo/?fbid=1274637841542770&set=a.389171626756067

Bài 2: Cuôc nổi dậy từ Oxford!
https://www.facebook.com/photo/?fbid=1274652534874634&set=a.389171626756067

Tài liệu tham khảo:
Newman, J.H. Apologia Pro Vita Sua (1865), toàn văn tại newmanreader.org
Newman, J.H. Essay on the Development of Christian Doctrine (1845), toàn văn tại Project Gutenberg
Thư của Dominic Barberi gửi bề trên Dòng Chúa Chịu Nạn, tháng 10/1845, trích trong Ian Ker, John Henry Newman: A Biography (Oxford University Press, 1988)
Sheridan Gilley, Newman and His Age (Darton, Longman & Todd, 1990)

THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II: THẦN HỌC VỀ THÂN XÁC PHẦN 1 - THUỞ BAN ĐẦUIV. Sự liên hệ giữa tình trạng vô tội nguyên...
24/04/2026

THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II: THẦN HỌC VỀ THÂN XÁC PHẦN 1 - THUỞ BAN ĐẦU

IV. Sự liên hệ giữa tình trạng vô tội nguyên thủy và tình trạng được cứu chuộc nhờ Đức Kitô
(Ngày 26 tháng 9 năm 1979)

1. Khi trả lời cho những kẻ hỏi Người về sự đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân, Đức Kitô đã trưng dẫn những gì sách Sáng thế đã viết về hôn nhân. Trong hai bài suy tư trước chúng tôi đã phân tích cả hai bản văn kinh thánh được gọi là theo truyền thống ‘Êlôhit’ và theo truyền thống ‘Yahvit’. Giờ đây, chúng tôi muốn rút ra một vài kết luận từ những phân tích đó.

Khi Đức Kitô nói đến «thuở ban đầu», Người đòi những kẻ đang nói với Người phải vượt qua, theo nghĩa nào đó, ranh giới giữa tình trạng vô tội nguyên thủy và tình trạng phạm tội, khởi đi từ sự sa ngã đầu tiên mà sách Sáng thế đã ghi lại.

Người ta có thể nối kết ranh giới này với cây biết thiện biết ác như một biểu tượng. Trong bản văn truyền thống Yahvit, cây này phân cách hai hoàn cảnh hoàn toàn đối nghịch nhau: hoàn cảnh vô tội nguyên thủy và hoàn cảnh tội nguyên tổ. Những hoàn cảnh này mang một chiều kích riêng nơi con người, nơi chiều sâu thẳm nhất của con người, trong nhận thức, trong lương tâm, trong lựa chọn và quyết định của con người. Tất cả những điều này đều có tương quan với Thiên Chúa Tạo Hóa, và theo bản văn Yahvit, cũng là Thiên Chúa của Giao ước, một Giao ước cổ xưa nhất của Đấng Tạo Hóa với thọ tạo của Ngài, là con người.

Cây biết thiện biết ác vừa diễn tả vừa là biểu tượng của Giao ước đã bị đổ vỡ trong tâm hồn con người, cây ấy phân cách và đặt đối mặt hai hoàn cảnh và hai tình trạng hoàn toàn đối nghịch nhau, đó là tình trạng trong trắng nguyên thủy và tình trạng tội nguyên tổ và đồng thời là tội riêng truyền lại từ nguyên tổ.

Tuy nhiên, những lời của Đức Kitô nói viện tới «thuở ban đầu» ấy giúp chúng ta thấy nơi con người có một sự liên tục cốt yếu và một mối liên kết giữa hai tình trạng hay chiều kích khác nhau này của con người.

Tình trạng tội lỗi là thành phần của «con người lịch sử», là kẻ mà chúng ta đọc thấy trong Matthêu 19 đã chất vấn Đức Kitô lúc bấy giờ, nhưng cũng là bất cứ người nào có thể sẽ hoặc đang đối thoại với Người trong mọi thời lịch sử, và do đó dĩ nhiên cũng là con người hiện nay.

Nhưng tình trạng này – tình trạng “lịch sử” đúng nghĩa – nơi mỗi người không trừ ai, bén rễ sâu vào trong “thời tiền sử” thần học, tức là tình trạng vô tội nguyên thủy.

2. Vấn đề ở đây không chỉ là lối biện chứng. Qui luật của nhận thức tương ứng với qui luật của hữu thể. Không hiểu được tình trạng tội lỗi “lịch sử” nếu không qui chiếu hay viện đến (và quả thật Đức Kitô đã viện dẫn điều ấy) tình trạng nguyên thủy (theo một nghĩa nào đó, là “tiền lịch sử”) và nguyên tuyền cơ bản.

Bởi thế, ngay từ ban đầu, sự kiện tội lỗi xuất hiện như một tình trạng, một chiều kích của cuộc nhân sinh có liên hệ tới tình trạng nguyên tuyền thực sự của con người xét như là tình trạng nguyên thủy và nền tảng, như là một chiều kích của việc (con người) được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa.

------------

Address

6Bis Tôn Đức Thắng, Phường Sài Gòn, TP.HCM
Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Giải Đáp Thắc Mắc Công Giáo posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Giải Đáp Thắc Mắc Công Giáo:

Share