08/01/2026
Nhân kỷ niệm lần thứ 74 ngày Đức Bà Cô Năm viên tịch, chúng ta cùng nhau ôn lại tiểu sử của Đức Bà.
Nam Mô A Di Đà Phật
* * * * * *
TIỂU SỬ
ĐỨC BÀ CÔ NĂM DIỆU THIỆN
(1880 - 1951)
Đức Bà tục danh là Hồ Thị Mỹ, pháp danh Diệu Thiện, sanh năm Canh Thìn 1880 tại xã Tân Mỹ, tỉnh Sa Đéc. Con của Đức ông Hồ Văn Chò (tự Cận Công) và Đức bà Lương An Nhơn, thuộc tầng lớp nho giáo trung lưu, gốc người Minh Hương, tu theo đạo Phật.
Từ thuở thiếu thời, Đức Bà Cô Năm đã trau dồi hạnh đức theo Nho và Phật. Đến tuổi trưởng thành, Bà chuyên tâm nghiên cứu và thực hành Phật pháp.
Khoảng năm 1900, Đức Minh Trí đã vào độ tuổi thiếu niên, được bà chị Thứ Ba của Ngài cho ăn học chữ Nho, rảnh rỗi thì ghi chép sổ sách cho bà chị bán tạp hóa. Lúc bấy giờ bà chị Ba cùng với bà cô Hồ Thị Mỹ là người cùng xã, hai bên kết thân tình với nghĩa hàng xóm láng giềng. Bà cô là nhà buôn sỉ hàng tạp hóa, nông sản. Ngài xem bà như cô ruột, gọi là Cô Năm.
Trong linh tánh, bà cô Năm cảm niệm bi nguyện của Đức Quán Thế Âm. Bà làm người sương nữ, là nhà hằng tâm hằng sản, thường mở lòng nhơn từ với mọi người mọi vật.
Từ năm 1920, Đức Tông sư đã an trí thê nhi, thực hiện công cuộc mở đạo.
Bấy giờ đang thời Pháp thuộc, thuở ấy các tín đồ tu hành theo pháp môn Lễ Bái Lục Phương đều lạy Phật, công phu ở trong mùng vì sợ bị Tây bắt. Những khi Ngài lui ghe về trú tại nhà gần đầu vàm Rạch Giông, đệ tử các nơi về xin điểm đạo rất nhiều.
Bà Cô Năm thấy người phương xa tìm đến, Ngài thì ở dưới ghe, còn ghe cộ của tín đồ không có chỗ neo đậu, xúm xít quây nhau rất bất tiện (vì có thể làm nhà cầm quyền Pháp chú ý). Lúc đó Bà Cô ở phía trong ngọn Rạch Giông, là nhà hữu sản, có đất vườn dư dả. Bà mời Ngài đến nhà bàn tính, hứa hiến nhà cho Ngài làm đạo. Từ ấy Ngài ở nhà Bà Cô, ghe cộ các nơi về neo đậu rất thuận tiện.
Rồi một hôm, Bà Cô Năm xin được thọ giáo pháp, làm đệ tử của Ngài. Từ chối mãi không được, Ngài truyền thọ qui giới cho Bà. Về tình nghĩa cô cháu vẫn giữ như xưa, về việc xưng hô, Bà Cô gọi Ngài là Thầy Bảy. Chẳng bao lâu Bà phát huệ lục thông, tri quá khứ thông vị lai, không học mà vẫn tự nhiên ứng khẩu làm thi phú.
Đức Tông Sư vào ngọn Rạch Giông, cư ngụ trong căn nhà Bà Cô tặng cho Thầy làm đạo. Tín đồ các nơi thuận tiện theo đường thủy, lui tới xin điểm đạo rất đông. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều người đến để xin Ngài trị bịnh. Khi Tông Sư đi vắng, Bà thay mặt tiếp khách và môn đệ từ phương xa đến, đồng thời chuyên trách giúp đỡ những nữ đệ tử.
Một hôm, Đức Tông Sư bàn với Đức Bà Cô: “Tín đồ một ngày một nhiều, cần phải có người tiếp tay, chớ một mình không làm xuể.”
Mặc dù Ngài chưa nói sẽ tìm người nào, nhưng Đức Bà Cô đã lên tiếng: “Người mà Thầy Bảy muốn nhận làm đệ tử tuy có tài, nhưng là một tay võ biền chọc trời khuấy nước, chỉ muốn làm theo ý mình, e rằng sau nầy sẽ gặp khó với y.”
Khi Đức Ngài hỏi, Bà Cô ứng khẩu đọc ngay bài thi khoán thủ để nói tên người đó:
NHANG nêu chẳng dễ thắp
VĂN phong thì bất cập.
ĐỐNG lương võ thật tài,
Tứ phương dường vỡ mật.
Bài khoán thủ này đã nói rõ tên người mà Đức Tông Sư muốn chiêu mộ, là Cậu Hai Nhan Văn Đống.
Ngài nói: “Ngựa chứng là ngựa hay. Phật pháp làm nên những chuyện mà người phàm chẳng thể. Vả lại, thu phục người nầy cũng do có nhơn duyên với Phật pháp, đồng thời cũng là nhắm tới số đông người phước mỏng nghiệp dày, cần được cứu độ.”
Bà Cô rất phục, bèn gọi tùy tùng cất dỡ khoai, xếp xuống chiếc ghe cui lớn, rồi bổ thêm nhiều thuốc Bắc để Đức Tông Sư chuẩn bị chuyến đi dài ngày ở miệt phía nam sông Hậu.
Đây là điểm khởi đầu để trong một thời gian ngắn, Đức Tông Sư lần lượt thu nhận bốn vị đệ tử lớn. Những vị nầy đều là người có danh tiếng, có vị thế trong lòng người dân. Đức Ngài từng dặn dò những vị tiền hiền rằng:
“Phàm những người muốn đi truyền giáo, phải đủ Đạo đức, khả năng. Ví như chiếc thuyền qua biển cả, phải đủ buồm, lạt, lèo, lái đàng hoàng mới mong độ người qua tận bờ kia. Chớ sanh tâm vọng động, thuyền bè chưa được hoàn thiện, độ mình chưa nổi còn mong độ ai? Nửa chừng biển cả mênh mông, gió giật sóng dồi, thuyền lật ta cùng người đồng chết mà còn mang tội gạt người, làm hại người khác.”
Trong thời kỳ đầu của công cuộc mở đạo, với sự hỗ trợ phương tiện của Đức Bà Cô và bốn vị Huấn sư tiền hiền, đã có hàng chục ngàn người theo làm lễ qui y, tạo nền tảng vững chắc để tiến tới việc thành lập Giáo hội.
Các vị tiền hiền nói trên đều đắc pháp nhiệm mầu, được Đức Tông Sư ấn chứng, phân công đi các vùng để hoằng hóa, ra sức trợ lực, thành lập Phòng thuốc Nam phước thiện và Hội quán các nơi, từ miền đông đến miền tây Nam bộ.
Năm 1930, kinh tế toàn cầu khủng hoảng, đời sống trở nên khó khăn mà số tín đồ qui tụ về Rạch Giông khá đông. Đức Bà Cô phải mượn đất của Hội đồng Dinh ở Ba Sao làm ruộng hầu chu toàn cơm gạo cho tín đồ.
Năm 1934-1935, mặc dù đã quá ngũ tuần, Đức Bà Cô đã vì tiền đồ giáo hội, hướng dẫn tín đồ khai khẩn 14 mẫu đất hoang ở Hậu Bối, xã Mỹ Thọ, tổng Phong Nẩm Thượng, quận Cao Lãnh tỉnh Sa Đéc (nay là ấp Mỹ Phước, xã Mỹ Quí tỉnh Đồng Tháp). Giai đoạn đầu Đức Bà Cô Năm tạm ở trên động cát, cách Mỹ Phước khoảng 4km, nhà tranh vách lá, bao quanh là bưng biền sình lầy.
Năm 63 tuổi (1943) Đức Bà Cô khởi công cất chùa tại Mỹ Phước, đồng thời xây một ngôi trường để dạy con em tín đồ. Trường này đến nay vẫn còn. Kinh tế lúc ấy vô cùng khó khăn, đa số người nghèo phải dùng bao bố tời thay vải để che thân.
Trước cảnh khổ này, Đức Bà xây dựng một cơ sở dệt “vải ta” tại nhà ở ngọn Rạch Giông, gồm mười khung cửi, dệt mỗi ngày từ 100 đến 130 mét vải, phát ra chẩn tế cho người nghèo…
Thời gian từ đó đến năm 1950, chiến tranh ác liệt quanh địa bàn Đồng Tháp Mười. Bấy giờ Đức Tông Sư Minh Trí đang ở Sài gòn, đã hai lần nhắn về Mỹ Phước khuyên Bà Cô Năm nên tạm lánh.
Đức Bà Cô nói với chú Sáu Bường (người phụ công việc quán xuyến ruộng nương ở Mỹ Phước): “Thầy Bảy (tức Tông Sư) lo cho Phật pháp là công việc đại sự nên phải đi. Nơi này anh em bỏ xứ sở đến đây chịu mọi điều cực khổ là vì theo đạo tu hành. Thầy Bảy nay đã đi khỏi, ở đây còn có tôi, nay nếu tôi đi nữa thì anh chị em biết trông cậy vào ai?”
Mặc dù tình thế chiến tranh căng thẳng nhưng Đức Bà Cô không rời Mỹ Phước nửa bước. Ngày 20-11 năm Tân Mão 1951 là một ngày bi thảm, người dân Mỹ Phước không sao quên được.
Lúc ấy vào giờ chuẩn bị công việc để mọi người ra đồng làm việc. Quả bom lửa đầu tiên do máy bay Pháp ném xuống Miếu Bà (ở Ngàn Bảy). Cột lửa dâng cao đỏ rực, linh miếu bị huỷ diệt. Đức Bà thúc hối mọi người ra hầm núp. Quả bom lửa thứ hai trút xuống nóc chùa. Trên Đại hùng Bửu điện, một hồi chuông ngân vang. Đức Bà Cô Năm viên tịch tại đó, nương ngòi hoả táng, thoát hoá nhục thân.
Cũng trong ngày này Cô Bảy Thời vì không kịp chạy ra hầm núp nên bị phỏng lửa mà chết. Riêng ông Năm Hà Tiên, sau khi tìm khắp nơi không thấy Đức Bà, ông trở vào chùa, hướng vào phòng nghỉ hằng ngày của Đức Bà, bấy giờ đang bốc cháy hừng hực. Ông nói với mọi người: “Tôi tìm hết hầm núp không thấy Bà Cô, kêu cũng không nghe Bà lên tiếng, chắc Bà Cô đã hy sinh.” Rồi nghẹn ngào nói tiếp: “Ơn Bà tế độ, theo Bà tu hành, nay Bà Cô không còn, mình sống làm chi.” Ông chắp tay lên ngực chạy thẳng vào bãi lửa than để quyên sinh./.