25/08/2026
A-Lại-Da: âm từ tiếng Phạn “Ãlaya”, có nghĩa là “cái kho chứa”, danh từ Hán-Việt là “Tàng”. Gọi là “Tàng” vì A-Lại-Da thức chứa tất cả những hành vi, ý nghĩ do chúng sanh gây ra từ thân, miệng, ý. Nó là một cái kho vô hình khổng lồ, dung chứa tất cả những tác động thiện ác, vui buồn, hữu lậu hay vô lậu từ nhiều đời nhiều kiếp của chúng sanh, gọi chung là chủng tử. Các chủng tử cùng loại, cùng tính cách trong A-Lại-Da thức sẽ tự thu hút nhau thành từng nhóm như: chủng tử tham lam trộm cắp gom lại thành một nhóm, chủng tử ghen ghét, bất mãn, sân hận quy tụ lại thành một nhóm v.v... Tuy sắp xếp lại thành từng nhóm, nhưng chúng không hề nằm yên mà tác dụng lẫn nhau sanh ra những hành động tạo chủng tử mới. Thí dụ như các chủng tử vọng ngữ “nói xấu hay hung dữ” tác động lẫn nhau khiến cho chúng sanh ngày càng hay “nói xấu” người khác nhiều hơn, đó gọi là “chủng tử sinh chủng tử” (tương sinh)...
Nếu như một người lỡ “lấy nhằm” tiền bạc hay vật dụng của người khác, nhưng lại thường hay có hành động “bố thí giúp đỡ” người hoạn nạn nhiều hơn tiền bạc đã lỡ cầm nhầm, thì “các chủng tử bố thí” sẽ hóa giải phần nào chủng tử “ăn cắp” làm cho chủng tử này yếu dần đi (tương diệt).
Như vậy các chủng tử tuy ở dạng tiềm ẩn nhưng chúng có tính cách tương duyên, tương sinh, tương diệt. Những chủng tử này chính là lậu hoặc còn gọi là nghiệp. Khi nó đủ mạnh, tức chín muồi chúng sẽ hiện hành thành sự kiện xảy ra trong thực tế. Đó là lúc “Nghiệp trổ ra trong thực tế”.
Do đó, chúng ta có thể hiểu Nghiệp có hai loại: “Bất định nghiệp và định nghiệp”. Bất định nghiệp là các chủng tử còn tiềm ẩn, có thể chuyển hóa được bằng cách tu tập. Còn định nghiệp không thể thay đổi vì chủng nghiệp đã chín muồi, đủ điều kiện, đến lúc phải hiện hành, cho nên A-Lại-Da thức cũng có tên khác là “Dị thục thức”. Dị là khác biệt, thục là chín muồi. Dị thục có ba ý nghĩa:
1) Dị thời nhi thục: Chủng tử nghiệp không hiện hành liền mà phải trải qua một thời gian chủng tử nghiệp chín muồi mới trổ quả.
2) Dị loại nhi thục: Khi nghiệp chín muồi, lúc hiện hành thì chuyển sang loại khác. Thí dụ như chủng tử ăn cắp tiền bạc của cải người khác, khi chín muồi sẽ trổ nghiệp. Khi nghiệp trổ thì người này cũng bị thất thoát tiền bạc, của cải, nhưng không phải do người bị cắp trước kia lấy lại, mà do chính mình làm ăn thất bại, tiền bạc nhà cửa tiêu tan, hay do con cái tiêu xài phá của v.v... Đó là quả trổ khác loại (dị loại) khi nghiệp chín muồi.
3) Biến dị nhi thục : Nghiệp đủ điều kiện hiện hành nhưng biến đổi. Thí dụ như mình vô ý hay cố tình giết hại chim muông, gà, vịt, côn trùng, kiến, gián... Khi nghiệp trổ không phải những con vật bị mình giết quay lại giết hại mình, mà khi quả báo trổ, thân mang nhiều bệnh tật, trị hoài không hết, người ta nói đó là “bệnh nghiệp”.
Tóm lại, A-Lại-Da thức là một dòng tâm thức biến đổi không ngừng. Tất cả những hành vi, lời nói, vọng tưởng sanh khởi trong A-Lại-Da thức sẽ kéo theo nhiều vi tế Tưởng cùng phát sanh. Các pháp này luôn luôn ở trong hai trạng thái hoặc là hiện hành tức thế giới hiện tượng, hoặc là trạng thái tiềm ẩn gọi là chủng tử hay hạt giống, hạt mầm. Những hạt giống tốt xấu này liên tục tương sanh, tương diệt cho đến khi đầy đủ nhân duyên sẽ “trổ quả” tác động vào đời sống của chúng sanh gọi là hiện hành.
Tùy theo hạt giống nghiệp lực thiện nhiều, hay ác nhiều trong A-Lại-Da thức của mỗi chúng sanh, mà sau khi thân hoại mạng chung sẽ thọ sanh vào cảnh giới tương ưng trong sáu cõi. Khi con người chấm dứt mạng sống, sáu tâm vương đầu sẽ ngưng hoạt động nghĩa là chết trước. Tâm vương thứ Tám là A-Lại-Da thức sẽ thoát ra khỏi thân xác người chết sau cùng. Mạt-Na thức là thức thứ Bảy luôn xem các chủng tử trong A-Lại-Da thức như là của chính mình. Vì đặc tính chấp ngã này, nên nó bám theo A-Lại-Da thức đi tái sanh cùng một lúc.
Vì khái niệm A-Lại-Da thức và Mạt-Na thức xuất ra khỏi thân người chết sau cùng, nên nhiều gia đình có người thân qua đời thường được khuyên không nên đụng chạm vào thân thể làm phiền người chết trong thời gian mới lâm chung, vì sợ rằng A-Lại-Da thức và Mạt- Na thức vẫn còn, có nghĩa là người này chưa hoàn toàn chết.
# nguồn: Thư Viện Hoa Sen
# Hình minh họa: Leo Robotly
P/s:
Nhiều gia đình hiểu biết về Đạo Phật và Duy Thức Học thường để người im người chết (không đụng vào thi thể). Sau 8 tiếng đến 12 tiếng mới đụng vào thi thể.
Cố Hòa Thượng Thích Giác Khang cũng từng nói về điều này.