Chú Mõ Làng

Chú Mõ Làng Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Chú Mõ Làng, Church, Ho Chi Minh City.

28/10/2021

103. TA SẼ TRỞ LẠI

Giăng 14:2, 3 “Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở; nếu không phải vậy, thì sao Ta lại nói với các con, Ta đi chuẩn bị cho các con một chỗ? Khi Ta đi và đã chuẩn bị chỗ cho các con, thì Ta sẽ trở lại đem các con đi với Ta, để Ta ở đâu, thì các con cũng ở đó”. (BHĐ)

Sứ đồ Phao-lô đã nói: “Ta đã chiến đấu trong một trận chiến anh dũng, đã hoàn tất cuộc chạy đua, đã giữ được đức tin. Từ nay mão triều thiên công chính đã dành sẵn cho ta.” (2 Ti 4: 7, 8a) (BHĐ).
Phao-lô xem mình và cả chúng ta là những chiến binh và vận động viên đã và đang chiến đấu và rồi ngày chung cuộc cũng sẽ đến. Mỗi Cơ Đốc nhân là một chiến binh Thập tự, là vận động viên trường đua. Cuộc thi nào đến ngày chung cuộc mới biết được thắng thua.

CHÚA THĂNG THIÊN
Chúa Cứu Thế đã đến để làm một của lễ hiến thân trên Thập tự giá để chuộc tội cho nhân loại; và tái tạo một dân mới, có niềm tin và tôn sùng Thiên Chúa cũng như có đời sống mới, Ngài cũng lập lại trật tự mới là hội thánh “không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 5:27), là một tuyển dân chân chính cho vương quốc Ngài.
Sau khi Chúa Cứu Thế từ mồ mả sống lại, Ngài ở với các môn đồ 40 ngày, Ngài phán dạy họ: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các con, thì các con sẽ nhận lấy quyền năng và làm chứng nhân cho Ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” Công vụ 1:8 (BHĐ).
Sau khi phán xong, Ngài được cất lên trời, trong lúc các môn đồ đứng nhìn theo, có một đám mây tiếp Ngài khuất khỏi mắt họ. Lúc bấy giờ có hai thiên sứ bảo cùng họ: “Hỡi người Ga-li-lê, sao các ông cứ đứng nhìn lên trời như thế? Đức Chúa Giê-xu nầy đã được cất lên trời khỏi giữa các ông, cũng sẽ trở lại như cách các ông đã thấy Ngài lên trời vậy” Công vụ 1:11 (BHĐ).
Lời của hai thiên sứ một lần nữa khẳng định cho họ về sự Chúa sẽ phục lâm. Và bởi đó hội thánh chúng ta được mang tên là Cơ Đốc Phục Lâm, luôn rao giảng về Chúa tái lâm.
Trên đây là nói về quang cảnh Chúa chúng ta thăng thiên.

TIÊN TRI VỀ THÀNH GIÊ-RU-SA-LEM
Một ngày nọ Đức Chúa Jêsus và các môn đồ từ đền thờ Giê-ru-sa-lem đi ra, các môn đồ chỉ Ngài xem đền thờ nguy nga, đồ sộ, mà họ rất hãnh diện. Chúa nói với họ: “Ta bảo các con, nơi này sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên hòn đá khác mà không bị đổ xuống!” Chắc các môn đồ rất ngạc nhiên về lời nói đó.
Lời nói về hòn đá đó có hai ẩn ý: Một là Chúa nói tiên tri về sự hủy phá của đền thờ Giê-ru-sa-lem, là đền thờ dân Do Thái lấy làm hãnh diện về sự nguy nga, tráng lệ của nó. Dạy họ đừng xem những thứ vật chất hữu hình trên thế gian là thần tượng cho mình, dù có đẹp đẽ, đồ sộ đến đâu nó cũng chỉ là phương tiện che mưa che nắng, hay chỉ là chỗ để dâng tế lễ, biểu tượng cho lễ chuộc tội thật là chính Chúa, đã dâng chính mạng sống Ngài để chuộc tội cho thế gian.
Ẩn ý thứ hai là hệ thống tăng lữ của Do Thái giáo: những ông thầy tế lễ; thầy tế lễ Thượng phẩm, họ làm việc gì cũng cố ý cho người ta thấy, mang thẻ bài da cho rộng, rủ tua áo cho dài, ưa ngồi đầu trong đám tiệc, thích ngôi cao nhất trong nhà hội, muốn người ta chào mình giữa chợ…bề ngoài trang trọng nhưng tâm linh bên trong rỗng tuếch (Mat-thi-ơ 23). Nếu anh chị em muốn biết rõ ý tưởng Chúa đả phá những gì thì hãy xem kỹ Ma-thi-ơ 23, anh chị em sẽ gặp 7 lần Chúa dùng cụm từ KHỐN CHO CÁC NGƯƠI là thầy thông giáo và người Pha-ri-si. Anh chị em cũng nhớ con số 7 là con số chỉ về sự trọn vẹn, đầy đủ ở đây là đầy đủ những cái xấu (!)
Đó là hệ thống tế lễ thời xưa, các thầy tế lễ và thông giáo thời xưa; nhưng các “thầy thông giáo” ngày nay cũng có lắm vị chuộng hình thức rườm rà mà nội dung thì yếu kém. Có một nhà tư tưởng nào đó (có thể là giáo sư Nguyễn Duy Cần) nói rằng: “Bất cứ tổ chức nào mang phần hình thức bên ngoài quá nặng, điều đó chỉ ra rằng bên trong sẽ rỗng”. Cũng có câu: “Thùng rỗng kêu to”. Cho nên hãy cẩn thận! Sự kỉnh kiền không phải là bởi bề ngoài rườm rà.

DẤU HIỆU CHÚA TÁI LÂM
Các môn đồ hỏi Chúa bao giờ Chúa quang lâm và tận thế? Chúa bảo họ: Sẽ có những điềm lạ báo trước: “Các con sẽ nghe về chiến tranh…dân này nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; đói kém, động đất… Tất cả chỉ là bắt đầu… Khi ấy người ta sẽ nộp các con, khiến các con bị hoạn nạn và giết chết các con…, phản bội nhau, thù ghét nhau v.v… (Mat-thi-ơ 24:6-14) (hiện nay chúng ta đang sống trong thời kỳ Chúa nói).
Cũng có kẻ mạo danh Chúa, xưng mình là Christ. Nhưng Chúa bảo: Hãy cảnh giác! (Đọc kỹ Mat-thi-ơ 24).
"Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, cả thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, nhưng chỉ một mình Cha mà thôi” (Mat-thi-ơ 24:36).

Ngoài các dấu hiệu bất an về chiến tranh, động đất, đói kém, mất mùa… còn thêm xã hội thì bại hoại, 2 Ti-mô-thê 3:1-5 viết: “Con hãy biết rằng trong những ngày cuối cùng, sẽ có những thời kỳ khó khăn. Vì người ta sẽ trở nên vị kỷ, tham tiền, khoe khoang, kiêu ngạo, lộng ngôn, không vâng lời cha mẹ, bạc bẽo, bất khiết, không có tình người, bất nhân, vu khống, ngông cuồng, dữ tợn, ghét điều lành, bội bạc, nông nổi, tự phụ, ham thích lạc thú hơn là yêu mến Đức Chúa Trời, giữ hình thức tin kính, nhưng chối bỏ năng quyền của sự tin kính đó” (BHĐ).
Cũng có một vài hội đoàn, giáo phái tin rằng: Chúa Cứu Thế đã tái lâm. Hội Thông Thiên Học, tôi có đọc thấy họ cho rằng Chúa Cứu Thế đã đến, hiện ở trên núi Hy-mã-lạp sơn, ai có đạo hạnh cao có thể đến gặp Chúa.
Chúa cảnh báo: “Khi ấy, nếu có ai nói với các con rằng: ‘Kìa Đấng Cơ Đốc ở đây,’ hay ‘ở đó,’ thì đừng tin” (Mat-thi-ơ 24:23).
Vì như Chúa nói: “Vì như chớp phát ra từ phương đông, lóe sáng đến phương tây thể nào, thì Con Người cũng sẽ đến thể ấy” (Mat-thi-ơ 24:27 – BHĐ).
Ngày Chúa quang lâm mọi mắt sẽ xem thấy, nhưng ngày giờ Chúa đến thì không ai biết được vì Chúa phán: “Ta sẽ đến như kẻ trộm…” (Khải 3:3), và trong Ma-thi-ơ 24: 44 Chúa phán: “Con Người đến trong giờ các con không ngờ”. Vậy chúng ta phải luôn tỉnh thức!

NGÀY CHÚA QUANG LÂM CŨNG LÀ LÚC TẬN THẾ
Giai đoạn 1 – Chúa trở lại trên không (1 Tê 4:16-17)
“Vì khi có hiệu lệnh ban ra, với tiếng gọi của thiên sứ trưởng, cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính Chúa từ trên trời sẽ giáng lâm. Bấy giờ, những người chết trong Đấng Cơ Đốc sẽ sống lại trước tiên. Kế đến, chúng ta là người đang sống mà còn ở lại, sẽ cùng được cất lên với những người ấy trong đám mây để gặp Chúa tại không trung, và chúng ta sẽ ở với Chúa mãi mãi” (1 Tê 4:16, 17- BHĐ).
Như vậy tất cả những kẻ được cứu, rời bỏ thế gian này về nơi mà Chúa đã hứa và đã sắm sẵn. Tôi liên tưởng nơi mà Chúa sắm sẵn có thể là sao hỏa chăng? Hoặc là những hành tinh mà Na-sa mới khám phá gần đây, chẳng những ở Thái dương hệ chúng ta, mà còn ở ngoài Thái dương hệ chúng ta nữa.
Đó là những suy nghĩ của tôi, nhưng đối với quyền năng của Thiên Chúa là chủ tể của trời và đất, thì theo lời hứa của Ngài chắc chắn đã có sẵn chỗ ở cho tuyển dân của Ngài.

Giai đoạn 2 – Chúa Cứu Thế giáng lâm trên đất
Chúng ta xem Khải Huyền 20:1,2,3 “Rồi tôi thấy một thiên sứ từ trời xuống, tay cầm chìa khóa của vực sâu và một cái xiềng lớn. Người bắt con rồng, tức là con rắn xưa, là ma quỉ, là Sa-tan, và xiềng nó lại một nghìn năm. Người ném nó xuống vực sâu, đóng cửa vực và niêm phong lại, …cho đến khi một nghìn năm chấm dứt” (BHĐ).
Có thể trong vòng anh em con cái Chúa sẽ phân vân khi đọc đến đây!
Trong một bài nào đó tôi có mạn phép giải nghĩa hai chữ Khải huyền. Xin phép nhắc lạ: Khải: bày tỏ. Huyền: nghĩa đen của nó là màu đen, mà màu đen là tối tăm không thấy. Ở đây thì Khải huyền là bày tỏ những lẽ mầu nhiềm, huyền bí…của Thiên Chúa cho dân sự Ngài.
Anh chị em lưu ý, khi Chúa đến trên không trung, những kẻ chết, và kẻ sống trong Chúa được cất lên trời; lúc bấy giờ chắc anh chị em đều có cảm nghĩ là thế giới này sẽ trống không, hoang vu.
Tất cả các từ chìa khóa, xiềng, vực sâu, giam cầm… chỉ là những ẩn từ, thực ra những thứ đó không có hình thể thật.
Khi Chúa đem con cái Chúa ra khỏi thế gian, đồng thời tất cả những kẻ gian ác, không có lòng tin vào Đấng Cứu Thế bị hủy diệt hết. Sa-tan và sứ giả của nó không còn ai nữa để cám dỗ, bị “thất nghiệp”, thế gian đối với Sa-tan lúc đó là chốn giam cầm, không còn cầm quyền được nữa, cho đến hạn 1000 năm mãn.
Khải Huyền viết tiếp. Khải 20:3 (phần chót) “Sau đó, Sa-tan phải được thả ra một thời gian ngắn”.
Thế thì, trong 1000 năm đó dân sự được cứu làm gì ở trên trời?
Đây là giai đoạn mà Kinh Thánh đã nói: “lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài ĐỒNG TRỊ” 2 Ti-mô-thê 2:12 .
Đồng trị có nghĩa gì? Khải 11:18 đã viết “Các dân tộc vốn giận dữ, nhưng cơn thạnh nộ của Ngài đã đến: Giờ đã tới, là giờ phán xét kẻ chết, thưởng cho tôi tớ Chúa là các đấng tiên tri, thưởng cho các thánh và các người kính sợ danh Chúa, thưởng cho kẻ nhỏ cùng kẻ lớn, và hủy phá những kẻ đã hủy phá thế gian”.
Có nghĩa là trong 1000 năm đó, hết thảy những kẻ được cứu được ngồi cùng bàn với Chúa để phán xét những kẻ đã hủy hoại thế giới chúng ta.
Anh chị em hãy xem lời khẳng định về vai trò đồng trị (cùng ngồi với Chúa thẩm tra các sách thiên sứ đã ghi chép những tội ác của mỗi người để kết án).
1 Cô-rinh-tô 6:2 “Anh em há chẳng biết các thánh đồ sẽ xét đoán thế gian sao?”
Câu 3 : “Anh em chẳng biết chúng ta sẽ xét đoán các thiên sứ sao?” (dĩ nhiên những thiên sứ phạm tội).
Khải 20:4b- 6 “Tôi cũng thấy linh hồn của những người bị chết chém vì làm chứng cho Đức Chúa Giê-su và lời Đức Chúa Trời, và linh hồn của những người không thờ lạy con thú cùng hình tượng nó, và không nhận dấu của nó trên trán hoặc trên tay mình. Những người ấy đều được sống lại, và trị vì với Đấng Cơ Đốc một nghìn năm. Những người chết còn lại không được sống lại cho đến khi một nghìn năm ấy chấm dứt. Đây là sự sống lại thứ nhất.… Sự chết thứ hai không có quyền gì trên họ” (BHĐ).
Xin mạn phép nói rõ… Không nhận dấu ghi trên trán hoặc trên tay:
Ghi trên trán là những người tin nhận bằng đầu óc; ghi trên tay là tôn thờ bằng hành động. Thờ phượng Sa-tan.
-Hạn một ngàn năm đã mãn, sự phán xét kết thúc.
Sứ đồ Giăng viết tiếp: “Khi ấy tôi thấy TRỜI MỚI ĐẤT MỚI; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã qua đi… Tôi cũng thấy thành thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ nơi Đức Chúa Trời ở trên trời mà xuống, chuẩn bị sẵn như CÔ DÂU TRANG ĐIỂM vì chồng mình” Khải 21:1, 2 (BHĐ).
Đền tạm Đức Chúa Trời ở giữa loài người, chính Đức Chúa Trời sẽ ở với họ, họ làm dân Ngài! Ngài lau ráo nước mắt họ… Sẽ không còn tang chế, than khóc, đau đớn nữa…
“Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta LÀM MỚI lại hết thảy muôn vật” Khải 21:5a.
-Chiến bại của Sa-tan
Sau một ngàn năm, Sa-tan được thả ra. Các vua chúa, tướng lãnh, các kẻ gian ác, tất cả những kẻ chết trong lần thứ nhất và không được sống lại bây giờ sống lại. Sa-tan đi ra lừa dối các dân bốn phương, tập trung chúng lại đông như cát bờ biển. Tràn ra khắp đất, vây quanh trại các thánh đồ và thành thánh (Khải 20:7-9).
-Sự đoán phạt cuối cùng
“Bấy giờ tôi thấy một ngai lớn và trắng với Đấng ngồi trên ngai…Các sách mở ra”. Trước mặt Đấng Thượng Cổ, các quan án các sách được mở ra (Khải 20:12). Các sách gồm: (1) Sách sự sống của Chiên Con (Khải 13:8; 20:12; 21:27; Phil 4:3; Lu 10:20). (2) Sách ghi nhớ (Mala 3:16). (3) Sách sự chết (Thi 87:6). (4) Sách chân thật, chứa đựng tiêu chuẩn của lẽ thật Chúa dùng để phán xét (Đa 10:21; Rô 2:2). Một sách khác là sách sự sống cũng được mở ra. Mỗi người bị phán xét tùy công việc họ làm (Khải 20:11-12).
“Sự chết và Âm phủ bị quăng xuống HỒ LỬA. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Kẻ nào không được biên vào SÁCH SỰ SỐNG đều bị ném xuống hồ lửa” Khải 20:14, 15.
“Đấng ngự trên ngai phán: ‘Ta sẽ làm mới lại muôn vật…. Xong rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là KHỞI NGUYÊN và TẬN CÙNG. Người nào khát, Ta sẽ cho uống nước từ nguồn nước vô điều kiện. Người nào thắng sẽ nhận được những điều này làm cơ nghiệp. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời người, và người sẽ làm dân Ta. Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng ghê tởm, kẻ giết người, kẻ gian dâm, kẻ hành nghề ma thuật, kẻ thờ thần tượng, và tất cả những kẻ nói dối thì phần của chúng là hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. ĐÓ LÀ SỰ CHẾT THỨ HAI’” Khải 21:5-8 (BHĐ).
Và, thưa anh chị em, đó là địa ngục, lửa cháy thiêu rụi cả, không phải như nhiều người ở đời này tin có địa ngục, tội nhân ở trong đó khốn khổ, đau đớn, khóc lóc cả ngày lẫn đêm. Thiên Chúa công bình và cũng là Thiên Chúa yêu thương, đâu có thể ngồi nhìn cảnh khổ đau của tội nhân.
Đây là bài chia sẻ tóm gọn, cũng là bài chia sẻ cuối cùng của tôi.
Xin từ giả anh chị em với lời cầu nguyện Chúa cho anh chị em trung tín cùng Chúa, và an bình hạnh phúc.
Nguyện Chúa ở cùng anh chị em. A-men!
9 – 11 – 2018
“Chú mõ làng” N.Q.TH.

Lời cảm tạ:
Kính lạy Đức Chúa Trời là Đấng Chủ Tể tối cao,
Con cảm ơn Ngài, vì Ngài đã soi sáng cho con để viết ra những bài chia sẻ với sự hiểu biết nhỏ nhoi của con; và với lời gợi ý của một con cái Chúa. Mặc dầu không được hoàn hảo, còn nhiều thiếu sót, nhưng cũng bày tỏ những điều con hiểu được trong Lời Ngài qua thể xác yếu đau của con. Đây cũng là món quà con gởi tặng anh chị em chúng con trước lúc giả biệt “quán trọ” này.
Xin Chúa ở cùng và dẫn dắt anh chị em con đi trọn con đường cùng Cứu Chúa. A-men!
“Chú mõ làng” N.Q.TH.

01/10/2021

102. TRI TÚC (Biết đủ)

Thánh Phao-lô nói:
“….tôi đã học sống thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ. Tôi biết thế nào là thiếu thốn, thế nào là dư dật. Trong mọi nơi, mọi tình huống tôi đã học bí quyết để sống, dù no hay đói, dù dư hay thiếu. Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban năng lực cho tôi” (Phi-líp 4:11-13) (BHĐ).

Cuộc sống trên đời là phải : Học từ khi biết nói cho đến lúc chết, thế nên người đời hay nói câu: “Nhân vô thập toàn”; có ai sinh ra là biết mọi sự đâu, cho nên phải học. Tôi nghe người ta nói “học ăn, học nói, học gói, học mở”, học tất tần tật để sống làm người. Thuở nhỏ tôi nghe ông bà nói “rừng nho, biển thánh” có nghĩa là cái học rộng mênh mông.

BÍ QUYẾT SỐNG THỨ NHẤT:
-Học biết đủ, học thỏa lòng:
Thánh Phao-lô nói “tôi đã học sống thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ,” ông học “bí quyết sự sống”.
Vậy bí quyết sự sống đó là gì? Thuở nhỏ tôi học chữ Nho, có những câu có ý nghĩa cao sâu, nhưng trí óc non nớt quá, thời nay người ta hay dùng cụm từ “tuổi teen”, nên không thấu hiểu, bây giờ khi học Kinh Thánh (biển Thánh) mới thấy ý nghĩa.
Nói về bí quyết Phao-lô khuyên phải học là: “dù no hay đói, dù dư hay thiếu, cũng nên thỏa lòng”. Trong Nho học có câu: “Tri túc thường túc, chung thân bất nhục, tri chỉ thường chỉ, chung thân bất sỉ”, có nghĩa: người biết đủ thường đủ, trọn đời không bị nhục, biết dừng, thường dừng thì suốt đời không chịu xấu hổ.
Tại sao lại có “nhục” và “xấu hổ” được đặt vào phạm trù “biết đủ và biết dừng”? Lý do: Con người ở đời thường hay tham lam. Dục vọng xui cho con người không biết đâu là đủ; “lòng tham không đáy” chính là ý đó. Giàu có thì muốn giàu có hơn, có chức có quyền thì muốn có chức quyền cao hơn, không muốn dừng, cho nên mới có nạn mua quan bán chức, tham nhũng, hối lộ v.v…đến khi bại lộ thì phải vào tù, cho nên mới chịu nhục và bị xấu hổ.
Những tháng gần đây, trên TV hay đưa tin những người vào tù, mua bán xì ke ma túy, cướp bóc, lường gạt… cuộc đời này đầy loạn lạc, bất an! Cho nên sứ đồ Phao-lô khuyên phải học bí quyết “biết đủ” và “biết dừng”.
-Thỏa lòng còn có một cái lợi: không lo toan chi cả.
Thời kỳ bao cấp mọi người đều khốn khổ, hạn hán mất mùa liên tiếp ba năm. Có khoai, có sắn, có bo bo để ăn là may lắm rồi. Mọi sự cũng qua rồi, bây giờ thì đầy đủ rồi, lúc đó ta vẫn sống vui có sao đâu!
Chắc ai cũng nhớ bài phú: Hàn nho phong vị phú của ông Nguyễn Công Trứ có câu: “Ngày ba bữa, vỗ bụng rau bịch bịch… ăn chẳng cầu no,
Đêm năm canh, an giấc ngáy kho kho, …cửa thường bỏ ngõ”.
Kẻ thức thời sống vậy đó!

BÍ QUYẾT SỐNG THỨ HAI
-Học để đừng lo lắng:
Ma-thi-ơ 6:34 “Vậy, chớ lo lắng về ngày mai; vì ngày mai sẽ tự lo cho ngày mai. Sự nhọc nhằn ngày nào đủ cho ngày ấy”.
Về sự lo lắng chắc anh chị em quá rõ, vì chính Chúa Jêsus đã khuyên dạy chúng ta rất cặn kẽ: “Mạng sống không quí trọng hơn thức ăn sao, thân thể không quí trọng hơn quần áo sao? Hãy xem loài chim trời: không gieo, không gặt, không tích trữ vào kho, nhưng Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng. Các con lại chẳng quí trọng hơn loài chim sao? Hơn nữa, có ai trong các con nhờ lo lắng mà làm cho cuộc đời mình dài thêm một khoảnh khắc không? …Hãy ngắm xem những hoa huệ ngoài đồng … nhưng Ta bảo các con, dù vua Sa-lô-môn sang trọng đến đâu, cũng không được mặc đẹp như một trong các bông hoa nầy” (Ma-thi-ơ 6:25-29).
Quyền uy quí trọng như nữ hoàng Victoria Anh quốc cũng phải nói câu: “Ước gì tôi sống cho đến lúc Chúa quang lâm để tôi có thể đặt vương miện Anh quốc dưới chân Ngài”. Kiếp người có hạn, có ai có thể kéo dài thêm…
Nói đến lo lắng thì chuỗi ngày dài trong “thời bao cấp” có biết bao nhiêu điều phải lo thế mà Chúa vẫn chu cấp cho chúng ta như những chú chim trời.
Biết bao điều tôi không cần nói, chắc anh chị em đã đọc qua trong Kinh Thánh. Tôi xin lấy câu chuyện thật trong tám câu chuyện Cha Từ Ái đã ban cho tôi, để dẫn chứng về lời hứa của Chúa là Ngài luôn nuôi nấng cho con cái Ngài.
Khi chính quyền mới đến đây, tôi đang ở một nhà nhỏ bên nhà trường, vì tôi đang làm giám thị nội trú. Tôi phải bàn giao cho ban điều hành mới của nhà trường. Tôi dọn vào một nhà trống của giáo hội không thuộc nhà trường, cạnh giảng đường Hội Thánh Đất Mới. Nơi đó lại gần khu nhà cao tầng của bộ đội đóng quân, họ lại bảo dời qua ở căn nhà tiền chế, ngăn ra phòng lớn làm chỗ nhóm lại của hội thánh, ngăn nhỏ hơn gia đình tôi ở, vì tôi là chủ tọa của hội thánh.
Hội thánh nhóm lại được vài năm yên ổn, rồi C.A đến lập biên bản, cấm nhóm lại ở đó, vì đây không phải nhà thờ, chỉ là ngôi nhà kho!
Chừng bốn tháng sau, C.A đến đóng cửa và đưa tôi vào trại giam với tội danh: Truyền đạo trái phép…
Họ bảo gia đình tôi phải đi “kinh tế mới”, nhà tôi trả lời: bao nhiêu gia đình đồng bào ở KTM kéo về nằm ở ngoài đường, chúng tôi đến đó để chết sao. Các ông không cấp nhà ở, mẹ con chúng tôi che chòi ở ngoài nghĩa địa (chỗ chợ Trần Hữu Trang hiện nay). Dùng dằng đến chạng vạng, họ cho xe tải chở gia đình tôi đến ở một ngôi nhà bỏ trống. Không điện, nhà vệ sinh hư hỏng…
Sau 18 tháng 20 ngày tôi ra khỏi trại về với gia đình.
Đọc đến đây chắc ai cũng chưa hiểu tôi định nói điều gì. Tôi sắp vào đề: Những người hầu việc Chúa, khi được đưa đến hội thánh nào thì ở nhà của giáo hội, cho đến khi hưu trí thì tự mình xoay xở để có chỗ ở. Trường hợp tôi thì ở nhà của Nhà Nước mỗi tháng đóng 80.000đ (kể ra thì rất rẻ).
Cho tới lúc có quyết định mới của Nhà Nước, những nhà trong tình trạng như thế phải bán hóa giá.
Hỏi thăm luật sư họ đòi tám chục triệu để làm giấy tờ (chưa tính tiền mua nhà), còn tiền nhà họ tính có thể cả trăm triệu. Thực ra căn nhà với giá đó vào năm 2006 thì rẻ, nhưng năng lực tôi không đủ sức. Thôi, đến đâu hay đó! Cho đến khi nhận được quyết định hóa giá của chính quyền thì chỉ có bốn chục triệu thôi, nếu trả một lần thì giảm 10%, còn hơn ba mươi triệu, và chúng tôi cũng không phải nhờ đến luật sư.
Bây giờ đã đến vấn đề mà Cha Nhân Từ sắp sẵn cho gia đình tôi: Năm 2004 tôi vào bệnh viện Chợ Rẫy mổ tim (mổ hở), chi phí 94 triệu, các con đóng góp để trả. Tôi có một chàng rễ lúc ấy làm ăn khấm khá nên đóng vào 60 triệu… Trong khi đó các bạn bè và con gái đỡ đầu của tôi bên Mỹ cũng gởi về giúp, nên sau khi mổ xong chúng tôi còn một số tiền đủ mua căn nhà. Ha-lê-lu-gia!
Thế là vì tôi vào tù, sau đó tôi mổ tim là hai sự sắm sẵn của Cha Từ Ái cho tôi có căn nhà đang ở hiện nay.
Anh chị em thấy lạ lùng chưa về sự sắm sẵn của Chúa…
-Kết luận:
Hỡi anh chị em yêu quí của tôi. Hãy sống vô tư và trông cậy Chúa. Sống “biết đủ, biết dừng”, bất vụ lợi và hết lòng tin tưởng vào Thiên Chúa, Chúa sẽ biết rõ mỗi người để vùa giúp cho chúng ta. Ha-lê-lu-gia! Tạ ơn Thiên Chúa vô lượng!

2019
“Chú mõ làng” N.Q.TH

19/09/2021

101. ĐẠO HIẾU TRONG KINH THÁNH

Xuất Ê-díp-tô-ký 20:12 “Hãy hiếu kính cha mẹ của con, để con được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho con”.

Nhiều người trên đời hay nói: “Đi theo đạo Chúa là bỏ ông bỏ bà”. Nói như vậy chỉ vì phong tục tập quán của một số ít dân tộc Á Đông, đâu phải mọi dân tộc trên thế giới đều lập bàn thờ cúng quảy ông bà. Nếu tra cứu trong Kinh Thánh cho kỹ, thì chúng ta thấy Kinh Thánh chẳng những khuyên con cái hiếu kính cha mẹ, mà còn được đặt thành luật. Bộ luật của Thiên Chúa chỉ có 10 điều chính, mà một điều trong đó là: Hãy hiếu kính cha mẹ. Chẳng những khuyên thôi lại còn kèm theo một lời hứa: “hầu cho con được sống lâu trên đất”.
CHÚA GIÊ-SU VỚI ĐẠO HIẾU
Lúc 12 tuổi Chúa Giê-su theo cha mẹ đi dự lễ Vượt qua ở thành Giê-ru-sa-lem. Sau lễ cha mẹ Ngài cùng cả đoàn người trở về nhà, không ngờ con mình còn ở lại Giê-ru-sa-lem nên đi một ngày đường mới khám phá ra mất con, ông bà đổ xô đi tìm trong đám lữ hành và không gặp, ông bà bèn quay trở lại … Sau ba ngày họ mới thấy Chúa Giê-su trong đền thờ, đang ngồi giữa các giáo sư Do Thái, vừa nghe vừa hỏi… các giáo sư đó ai nấy đều lấy làm kinh ngạc, và mẹ hỏi Ngài: “Sao con làm cho cha mẹ ra nông nỗi này?” Ngài đáp: “Sao cha mẹ lại tìm kiếm con. Cha mẹ không biết con phải lo công việc Cha con sao?” Hai ông bà không hiểu lời Ngài vừa nói. Ngài theo cha mẹ trở về Na-xa-rét và phục tùng họ. Mẹ Ngài ghi khắc mọi lời nói ấy vào lòng.
“Đức Chúa Giê-su khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta” (Lu-ca 2:52).
Chúa Giê-su tuy còn nhỏ tuổi nhưng cũng loáng thoáng nhận biết sứ mạng của Ngài trong những ngày sắp đến. Dầu vậy Ngài vẫn theo cha mẹ xác thịt về Na-xa-rét PHỤC TÙNG họ. Từ phục tùng ở đây trong bản Kinh Thánh cũ dùng là CHỊU LỤY hay dùng từ phụng sự cũng được, vì lúc đó Ngài còn nhỏ tuổi.

PHAO-LÔ NÓI VỀ ĐẠO HIẾU
“Hỡi những người làm con, hãy vâng lời cha mẹ mình trong Chúa, vì đây là điều phải lẽ. ‘Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi’ - ấy là điều răn thứ nhất, có kèm theo lời hứa - ‘để ngươi được phước và được sống lâu trên đất’”. (Ê-phê-sô 6:1-3)
Cả luật pháp 10 điều răn, chỉ có điều răn hiếu kính cha mẹ là kèm theo lời hứa: “hầu cho ngươi được sống lâu trên đất”.
-“Sống lâu trên đất” có nghĩa gì?
Chúng ta có thể nghĩ tới hai ý nghĩa:

Thứ nhất, thường thường những trang hiếu tử đều là những bậc trung thần. Trung thần và hiếu tử thường đi đôi với nhau.
Tôi có một ông bạn “vong niên” (lớn tuổi hơn tôi), những lúc nhàn rỗi thường hay đàm đạo với nhau về thế sự, gương trung hiếu tiết nghĩa của những người xưa. Ông kể tôi nghe khi thân phụ ông qua đời, ông đang sống trong chiến khu, gia đình ở vùng Pháp chiếm. Khi ông thân qua đời, ông được tin, vào ngày an táng, đứng trên núi nhìn về nơi an nghỉ của cha mà nước mắt lưng tròng… Nhà còn một mẹ già, nhiều đêm ông liên lạc với các đồng chí, nắm chắc tình hình lẻn về thăm mẹ. Mẹ ông là tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm, rất sùng kính Chúa, bà đặt tay trên đầu con chúc lành cho ông.
Ông sống rất tín nghĩa với bạn bè, hiếu thảo với mẹ cha… Đã bao lần thoát chết trong “đường tơ kẽ tóc”. Một lần đi công tác ở chiến khu, phải lội qua một con suối, lúc đó người cùng công tác với ông là một phụ nữ, lại gặp lúc kinh kỳ kiêng cử lội nước, ông ngồi xuống cõng bà trên cổ lội qua suối, máu loang trên áo… Kỳ đại hội liên khu năm, bà ta đã tuyên dương ông giữa đại hội về sự hy sinh của ông. Khi về già, đất nước chia hai, ông đã lớn tuổi nên về nhà phụng dưỡng mẹ… Khi mẹ bệnh hoạn ông chăm sóc thuốc than, khuya sớm, dành làm các công việc vệ sinh, không cho con cái làm. Tôi rất khâm phục lòng trung hiếu của ông. Lúc tuổi cao, làm vui lòng mẹ ông trở về với hội thánh Cơ Đốc. Khi tôi về làm phó chủ tọa hội thánh Đất Mới, ông được cử làm trưởng lão, hai chúng tôi kết thân với nhau, rất chân thành chí thiết. Công đức của ông nhiều vô kể, tôi thức đêm để viết cho ông một bài văn tế lúc ông còn sống, ông là người Nho học nên ông rất khoái chí.
Ông trung thành với kháng chiến và với hội thánh: ông là hiếu tử cho nên cũng là trung thành (trung thần). Vì vậy tiếng khen được truyền miệng từ người này đến người khác, do đó danh những người hiếu tử được sống lâu trên đất như “THẬP NHỊ TỨ HIẾU” của Trung Quốc.

Kế tiếp, sống lâu trên đất cũng có nghĩa là những Cơ Đốc nhân đã nhờ ân điển của Cứu Chúa, và lòng tín trung, giữ trọn mười điều răn, thì chắc chắn sẽ nhận được ơn cứu chuộc (hiếu kính là điều răn thứ năm trong mười điều răn), thì cuối cùng họ sẽ được vào nước vĩnh sanh.
Trên đây tôi nhắc đến truyện “Nhị Thập Tứ Hiếu”, người Việt Nam phần nhiều có nghe nói đến, tôi mạn phép kể ra đôi ba câu chuyện để dẫn chứng:

MẪN TỬ KHIÊM – lúc còn thiếu niên thường kéo xe đi đây đi đó cho cha, một ngày trời rét ông bị té trên đường đi. Cha ông bước xuống xe nhận ra con mặc một bộ áo quần rất phong phanh, và nhận ra rằng người vợ kế của mình xử tệ với con. Ông trở về nhà khiển trách vợ và quyết lòng li dị. Mẫn Tử Khiêm quì xuống khóc lóc xin cha tha cho mẹ kế với câu nói: “Nếu mẹ kế đi rồi thì chẳng những con bị rét lạnh mà các em của con cũng chịu rét lạnh”. Người mẹ kế nghe ông nói vậy bèn tỉnh ngộ, từ đó đối xử công bằng với con chồng.
LÃO LAI múa áo: Lão Lai thấy cha mẹ già quá rồi mà chẳng có gì để giải trí, ông may một chiếc áo ngũ sắc, đóng vai tuồng trong sách, múa hát cho cha mẹ vui.

TỬ LỘ đội gạo: Tử Lộ nhà nghèo lắm, ngoài những buổi học với thầy Khổng tử, ông đi đội gạo thuê cho người khác để nuôi sống gia đình. Ông về sau đổ đạt làm quan đến chức công khanh, xử thế rất được người kính trọng…
Trong sách có 24 người nổi bật, gọi là Nhị Thập Tứ (24) Hiếu. (Trước năm 75 tôi có quyển sách này, nay mất hết rồi!)

LUẬT PHÁP XƯA XỬ TRỊ KẺ BẤT HIẾU
Luật pháp xưa rất nghiêm khắc đối với những người con bất hiếu.
Xuất 21:15 “Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị TỬ HÌNH”.
Câu 17 “Kẻ nào nguyền rủa cha mẹ mình sẽ bị XỬ TỬ”.
Khắc khe như vậy đó.
Ngày còn niên thiếu, tôi có nghe người ta kể chuyện. Một ngày kia có ông quan đô thống, ông hay vào làng quê để xem xét dân tình. Ông có quyền “giết trước, tâu sau” (tiền trảm hậu tấu). Ngày kia ông đi tuần du, tới một nơi nọ, nghe có tiếng mắng chửi trong nhà bên đường. Ông dừng ngựa lại nghe cho kỹ, ông khám phá ra thằng con trai đang mắng chửi mẹ nó. Để đám tùy tùng ở ngoài, chờ cho hết tiếng la lối, ông đi vào để xin nước uống, ông hỏi thăm gia cảnh, ngồi nói chuyện với người mẹ, lúc đó gặp bữa cơm trưa, bà mẹ đang dọn cơm cho thằng nhỏ ăn. Ông hỏi tuổi cháu trai độ thiếu niên… Ông quan sát thấy thằng nhỏ so đũa trước khi ăn (đũa có hai đầu, đầu ăn nhỏ hơn đầu cầm). Lúc bấy giờ ông kêu bà mẹ và nói: Tôi thấy thằng con bà khôn ngoan, biết so đũa trước khi ăn, nó không khờ dại đâu. Ông gọi các lính tùy tùng đưa ra huyện đường xử tội, và bị kết án tử hình, chém ngay tại chỗ. Bà mẹ quì lạy xin quan tha. Cuối cùng vị quan phán: Tội nó đáng xử tử hình, nhưng ta thấy bà khóc lóc van xin nên dung tha cho nó. Lòng mẹ cha là vậy!

ĐẠO HIẾU CỦA NGƯỜI XƯA
Trước hết xin nói về chữ ĐẠO. Lúc còn nhỏ tôi thường nghe các bà mẹ hát ru: “Đạo nghĩa mẹ cha mất mà khó kiếm, Đạo nghĩa vợ chồng không hiếm chi nơi”. Chỉ có tình mẹ cha, và tình vợ chồng mới được gọi là Đạo, rất quan trọng, nhưng ĐẠO HIẾU hàng đầu!
Ca dao có câu “Có cha có mẹ thì hơn, không cha không mẹ như đờn đứt dây”.
Vừa rồi trên T.V trong chương trình thi ca nhạc, có một anh chàng trước khi vào cuộc thi anh ta xin tặng khán thính giả một bài thơ nói về cha mẹ, anh chỉ đọc chớ không ngâm, thế mà mấy khán giả đều ứa lệ, tôi cũng vậy. Tỏ ra con người ai cũng xúc cảm khi nhắc đến mẹ cha, thế cho nên trong bài “Lòng mẹ” của nhạc sĩ Y Vân có câu: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào…”
Các nho sinh ngày xưa học đêm học ngày, nên có cụm từ “dùi mài kinh sử”; “mười năm đèn sách”. Mỗi năm chỉ nghỉ vào ngày Tết Đoan Ngọ (Mùng 5 tháng 5), và Tết Nguyên Đán (đầu năm âm lịch), không có ngày chủ nhật. Phải thi đổ ba trường: Thi hương, thi hội, thi đình. Thi ở cấp đình, thi ở cấp toàn xứ, là khoa thi mà đề thi phải do chính vị vua đương triều ra đề. Danh hiệu thi đậu: tú tài, cử nhân, bảng nhãn, thám hoa, kế đến là phó bảng (á nguyên), cao nhất là tiến sĩ (người xưa còn gọi Thái học sinh). Thi trượt thì thi lại, ba năm một lần thi. Công trình nho học ngày xưa rất là “miệt mài”. Tôi kể dông dài là để anh chị em thấy cái học xưa công phu như vậy đó.
Có một nho sĩ (tôi không nhớ tên) sau khi thi cử đổ đạt ra làm quan… ngồi nghĩ lại mẹ cha không còn nên than rằng:
“Thọ dục tịnh nhi phong bất đình,
Tử dục dưỡng nhi thân bất đãi!”

Có người dịch: “Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng,
Con muốn nuôi mà nghĩa thân chẳng còn!”

Khổng tử nghe câu nói ấy và ngợi khen: “Hiếu tai ngôn hồ!”, nghĩa là: “Câu than thở ấy chứng tỏ là người có hiếu lắm thay!”
Các bạn trẻ thời nay và anh chị cùng đức tin thân ái! Tôi viết cho các thế hệ trẻ trong hội thánh ngày nay để suy gẫm và xem xét lại mình thử chúng ta cư xử với cha mẹ như thế nào, đã làm vui cha mẹ đến đâu!
Để kết thúc bài chia sẻ tôi xin gởi đến các bạn một câu chuyện có tính chất “thiền” sau đây: Có một chàng thanh niên rất sùng đạo, một ngày kia khăn gói lên đường, mong đi gặp bồ-tát. Đi mãi nhiều năm trời đến nỗi mỏi gối chồn chân mà chẳng thấy bồ-tát đâu cả. Ngày kia anh ta gặp một người đứng tuổi, đạo mạo, phong cách ông ta làm cho ai gặp cũng tin tưởng vào con người từng trải nhiều về cuộc thế và con người. Anh ta cảm mến và đem tâm sự của mình giải bày cùng con người phong sương mà tinh thần rất thoải mái và lạc quan ấy. Nghe xong tâm sự của người bạn trẻ có tâm đạo ấy, ông ta chuyện trò thân mật với chàng ta; lạ một điều lời nói người ấy không có chi cao siêu nhưng bên trong ẩn chứa sự tin tưởng như là một lời tiên tri. Ông nói:
-Tôi khuyên anh trở về quê hương anh sẽ gặp bồ-tát.
Lời ông nói như có một sự thôi thúc, thế là chàng trẻ vâng theo quay về. Khi về gần đến làng bao nhiêu cảnh cũ mà anh đã quên dần dần hiện ra trước mắt, nhưng anh chẳng gặp ai cả. Đến khi bước về ngõ cũ, xa xa anh thấy hình bóng một người lọm khọm, d**g dỏng như một cành cây khẳng khiu, trông có vẻ như đang chờ ai. Cho đến lúc bước đến gần thì ngạc nhiên đó là mẹ anh; nhiều năm quá rồi thân xác đã phong trần khó nhận ra.
Anh đi tìm bồ-tát trong khi bồ-tát ở trong nhà mà không nhận ra. Mẹ trông đợi ngày đêm mong mỏi gặp đứa con thân yêu. Anh nhớ lại lời của vị ân nhân và ôm mẹ khóc nức nở.

“Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ ấy là đi tu”.

03- 01- 2019 (Tưởng nhớ cha mẹ)
“Chú mõ làng” N.Q.TH

Address

Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chú Mõ Làng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category