Lời Chúa Mỗi Ngày

Lời Chúa Mỗi Ngày LỜI CHÚA LÀ NGỌN ĐÈN SOI CHO CON BƯỚC

“NÉT ĐẸP PHAN SINH”Lạy Chúa Giêsu nghèo khó và khiêm nhường,xin thương chúc lành cho các tu sĩ lớn tuổi của dòng Anh Em ...
22/05/2026

“NÉT ĐẸP PHAN SINH”

Lạy Chúa Giêsu nghèo khó và khiêm nhường,

xin thương chúc lành cho các tu sĩ lớn tuổi của dòng Anh Em Hèn Mọn.

Xin ban cho quý cha và quý thầy luôn được mạnh khỏe, bình an và vui tươi trong tuổi già.

Xin đỡ nâng những đôi chân đã mỏi mệt vì hành trình phục vụ Tin Mừng, những đôi tay đã từng âm thầm chăm sóc người nghèo và bé nhỏ.

Xin cho các ngài luôn cảm nhận được tình yêu của Chúa

và niềm vui của đời sống Phan sinh đơn sơ, khó nghèo và huynh đệ.

Xin cho đời sống cầu nguyện và hy sinh của các ngài

trở nên chứng tá sống động cho thế hệ trẻ noi theo.

Nhờ lời chuyển cầu của Thánh Phanxicô Assisi,

xin cho tất cả anh em hèn mọn

biết sống yêu thương, phục vụ và khiêm nhường giữa thế gian.

Amen.

Ảnh: Trần Minh Thạch

23/5/2026Thứ Bảy sau Chúa Nhật VII Phục SinhCa nhập lễCác môn đệ đồng tâm kiên trì cầu nguyện, cùng với mấy người phụ nữ...
22/05/2026

23/5/2026
Thứ Bảy sau Chúa Nhật VII Phục Sinh

Ca nhập lễ

Các môn đệ đồng tâm kiên trì cầu nguyện, cùng với mấy người phụ nữ và Maria mẹ Chúa Giêsu, và với các anh em của Người – Alleluia.

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa đã cho chúng con được hoan hỷ sống trọn mùa Phục Sinh này; xin Chúa cũng ban ơn giúp chúng con biết ăn ở thế nào để chứng tỏ Ðức Kitô đã đổi mới chúng con. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.

Bài Ðọc I: Cv 28, 16-20. 30-31

“Ngài ở lại Rôma, rao giảng nước Thiên Chúa”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Khi chúng tôi đến Rôma, Phaolô được phép ở nhà riêng với người lính canh. Sau ba hôm, ngài mời các đầu mục người Do-thái đến. Khi họ đến, ngài nói với họ: “Thưa anh em, dầu tôi đây không làm điều gì phạm đến dân tộc hay tục lệ tổ tiên, mà tôi đã bị bắt tại Giêrusa-lem và bị nộp trong tay người Rôma. Khi đã điều tra, họ muốn thả tôi vì tôi không có tội gì đáng chết. Nhưng người Do-thái chống lại, nên tôi buộc lòng phải nại đến hoàng đế, nhưng không phải là tôi có gì kiện cáo dân tôi. Do đó tôi đã xin gặp anh em và nói chuyện: Chính vì niềm hy vọng của Israel mà tôi phải mang xiềng xích này”.

Suốt hai năm, ngài trú tại ngôi nhà đã thuê, tiếp nhận tất cả những ai đến gặp ngài, ngài rao giảng nước Thiên Chúa và dạy dỗ những điều về Chúa Giêsu Kitô một cách dạn dĩ, không có ai ngăn cấm.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 10, 5. 6 và 8

Ðáp: Lạy Chúa, người chính trực sẽ nhìn thấy tôn nhan Chúa

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Chúa kiểm soát người hiền đức, kẻ ác nhân, ai chuộng điều ác, thì linh hồn Người ghét bỏ.

Xướng: Trên lũ tội nhân Người làm mưa than đỏ diêm sinh, và phần chén của chúng là luồng gió lửa. Bởi Chúa công minh, nên Người thích chuyện công minh, người chính trực sẽ nhìn thấy thiên nhan.

Alleluia: Ga 14, 16

Alleluia, alleluia! – Thánh Thần sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con. – Alleluia.

(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! Chúa nói: Thầy sẽ sai Thần Khí sự thật đến với anh em; Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Alleluia.)

Phúc Âm: Ga 21, 20-25

“Chính môn đệ này làm chứng về những việc đó và đã viết ra”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Phêrô quay lại, thấy môn đệ Chúa Giêsu yêu mến theo sau, cũng là người nằm sát ngực Chúa trong bữa ăn tối và hỏi “Thưa Thầy, ai là người sẽ nộp Thầy?” Vậy khi thấy môn đệ đó, Phêrô hỏi Chúa Giêsu rằng: “Còn người này thì sao?” Chúa Giêsu đáp: “Nếu Thầy muốn nó cứ ở lại mãi cho tới khi Thầy đến thì việc gì đến con? Phần con, cứ theo Thầy”. Vì thế, có tiếng đồn trong anh em là môn đệ này sẽ không chết. Nhưng Chúa Giêsu không nói với Phêrô: “Nó sẽ không chết”, mà Người chỉ nói: “Nếu Thầy muốn nó cứ ở lại mãi cho tới khi Thầy đến thì việc gì đến con”.

Chính môn đệ này làm chứng về những việc đó và đã viết ra, và chúng tôi biết lời chứng của người ấy xác thật. Còn nhiều việc khác Chúa Giêsu đã làm, nếu chép lại từng việc một thì tôi thiết tưởng cả thế giới cũng không thể chứa hết các sách viết ra.

Ðó là lời Chúa.

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần là Ðấng đem lại ơn tha tội ngự xuống lòng chúng con, để Người chuẩn bị chúng con cử hành lễ tế này. Chúng con cầu xin…

Lời tiền tụng Phục Sinh hay Thăng Thiên

Ca hiệp lễ

Chúa phán:”Thánh Thần sẽ làm vì danh Thầy, vì Người sẽ lãnh nhận từ nơi Thầy mà ban truyền cho các con – Alleluia.

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, Chúa đã cho chúng con tham dự mầu nhiệm thánh nhân ngày mừng các vị thánh tử đạo đã chiến thắng vẻ vang. Chính bí tích Thánh Thể đã ban cho các ngài được can trường chịu đựng mọi gian khổ, xin cho bí tích này cũng đem lại cho chúng con một niềm tin vững mạnh và lòng mến sắt son. Chúng con cầu xin…

Suy niệm

TÌNH YÊU CỤ THỂ VÀ Ý HƯỚNG SỨ VỤ

Đoạn Tin Mừng cuối cùng của thánh sử Gioan mở ra cho chúng ta hai bài học căn bản để định hình một lối sống sứ vụ loan báo Tin Mừng đích thực: yêu thương cụ thể và tập trung vào tiếng gọi của Thầy.

Định hướng sứ vụ loan báo Tin Mừng không khởi đi từ những khái niệm trừu tượng, mông lung. Tình cảm đặc biệt Chúa Giêsu dành cho người môn đệ Ngài yêu dấu nhắc nhớ chúng ta rằng: Thiên Chúa đã làm người để yêu thương những con người cụ thể bằng xương bằng thịt. Thật là một sự mâu thuẫn khi nói yêu hết mọi người nhưng lại chẳng thể chịu đựng được những người xung quanh.

Người môn đệ thừa sai muốn đem Tin Mừng tình thương đến vùng ngoại biên, trước hết phải học cách yêu thương từng người thân cận trong gia đình, bạn bè, rồi lan rộng đến những người mình gặp gỡ hằng ngày. Đó là một tình yêu thực tế: dám chấp nhận cái hay cái dở của người khác, bao dung trước những phiền toái họ gây ra và sẵn sàng tha thứ nhiều lần ngay trong đời sống hằng ngày.

Chúa Giêsu cũng đưa ra một lời cảnh tỉnh sắc bén về thái độ khi làm việc tông đồ, qua lời Ngài trách Phêrô khi ông so bì với Gioan: “Nếu Thầy muốn nó cứ ở lại mãi cho tới khi Thầy đến thì việc gì đến con? Phần con, con hãy theo Thầy”. Trong hành trình sứ vụ, chúng ta rất dễ rơi vào cám dỗ ngó trước nhìn sau, xem người khác làm gì để rồi so sánh, phân bì, ghen tỵ với họ. Sứ vụ truyền giáo đòi hỏi chúng ta một thái độ dấn thân trọn vẹn, không so bì hơn thiệt với người nào. Hãy đem hết tài sản, thời giờ, khả năng Chúa ban để đóng góp vào công cuộc truyền giáo, với một ý hướng duy nhất: chỉ nhìn theo và bắt chước gương mẫu Chúa Kitô.

Lạy Chúa, xin biến đổi tâm hồn chúng con, lấy tình yêu Chúa làm động lực duy nhất. Xin cho chúng con biết thực thi sứ vụ bằng những hành động yêu thương cụ thể hằng ngày, và can đảm tiến bước theo Chúa mà không bận tâm so sánh với người khác. Amen.

Lm. Gioan Baotixita Vũ Quốc Đạt

✍ Vào một buổi sáng tại giáo xứ, trong ngày có đông người đến viếng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, tôi đang chuẩn bị cho Thánh lễ...
22/05/2026

✍ Vào một buổi sáng tại giáo xứ, trong ngày có đông người đến viếng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, tôi đang chuẩn bị cho Thánh lễ và tranh thủ dùng vội bữa sáng trước khi lên đường đi tĩnh tâm. Không khí nhà xứ lúc ấy khá rộn ràng, anh chị em trật tự đang lo sắp xếp ở cổng để đón khách hành hương.

Bất chợt, tôi nghe có tiếng một phụ nữ nài nỉ ngoài cổng. Bà khoảng ngoài 50 tuổi, dáng vẻ khắc khổ, gương mặt đầy lo lắng. Bà xin các anh chị em cho vào gặp cha sở chỉ vài phút vì có việc rất gấp.

Vì biết tôi sắp đi công việc, anh chị em trật tự nhẹ nhàng từ chối và xin bà thông cảm. Nhưng bà vẫn tha thiết: “Tôi chỉ xin gặp cha 5 phút thôi, làm ơn cho tôi vào gặp cha”.

Nghe tiếng bà, tôi dừng bữa ăn, đứng dậy và nói vọng ra: “Mời bà vào đây”.

Khi bà bước vào phòng khách nhà xứ, tôi mời bà ngồi xuống. Nhưng bà đứng ngồi không yên, ánh mắt vừa lo lắng vừa ngượng ngùng. Tôi ra hiệu cho bà bình tĩnh rồi hỏi:

“Bà có chuyện gì, cứ nói với tôi”.

Bà hít một hơi thật sâu rồi bắt đầu kể. Giọng bà run run:

“Thưa cha, con theo đạo Phật. Con bị ung thư hàm đã lâu. Con đã đi chữa trị nhiều nơi, từ các bệnh viện lớn nhỏ cho đến bệnh viện ở Sài Gòn, nhưng bệnh không thuyên giảm”.

Nói đến đây, bà mở miệng cho tôi xem. Tôi thật sự giật mình. Bên trong miệng bà là những vết lở loét nặng, một bên hàm sưng tấy, máu mủ chảy ra. Bà nghẹn ngào nói tiếp:

“Bệnh này đau đớn lắm cha ơi. Nước miếng cứ chảy, con ăn uống khó khăn, đau không chịu nổi. Con không biết còn bám víu vào đâu nữa. Xin cha khấn cho con, cầu xin Đức Bà Hằng Cứu Giúp và Chúa trên trời thương cứu con”.

Nhìn bà trong hoàn cảnh ấy, lòng tôi rất xúc động. Tôi hiểu người phụ nữ này đã đi đến tận cùng của đau khổ. Có lẽ ai đó đã chỉ cho bà đến với Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, nên bà mới tìm đến nhà thờ với một niềm hy vọng mong manh nhưng rất chân thành.

Tôi hỏi bà tên gì, ở đâu. Bà đáp:

“Con tên Thiện, ở Cao Lãnh”.

Tôi nhẹ nhàng trấn an:

“Được rồi, tôi sẽ cầu nguyện cho bà. Tuần sau, bà trở lại viếng Đức Mẹ và thăm tôi nhé”.

Bà gật đầu. Ánh mắt bà lúc ấy như có thêm một chút hy vọng.

Một tuần sau, đúng như lời hẹn, bà Thiện trở lại. Lần này, tôi nhận thấy gương mặt bà đã khác. Bà không còn quá mệt mỏi như lần đầu gặp. Vừa thấy tôi, bà vui mừng thưa:

“Cha ơi, chắc Đức Bà và Chúa đã nhận lời cha khấn. Các vết lở trong miệng con đang lành lại, da non đã mọc lên rồi”.

Bà mở miệng cho tôi xem. Quả thật, những vết lở loét trước đó đã bớt sưng, nhiều chỗ bắt đầu lành lại. Dù bệnh vẫn còn dấu vết, nhưng sự thay đổi rất rõ ràng. Tôi thầm tạ ơn Chúa và Đức Mẹ.

Tôi nói với bà:

“Bà hãy vững tin vào Chúa Giêsu. Ngài là Con của Đức Mẹ, nhưng cũng là Chúa của Đức Mẹ và của toàn thể nhân loại. Không có gì là Chúa không làm được”.

Để giúp bà hiểu hơn, tôi kể cho bà nghe câu chuyện Chúa Giêsu dẹp yên sóng gió trên biển. Khi các môn đệ hoảng sợ vì con thuyền sắp chìm giữa bão tố, Chúa chỉ cần truyền một lời, sóng gió liền im lặng. Tôi nói với bà rằng cuộc đời con người cũng giống như con thuyền giữa biển khơi. Có người gặp bão tố bệnh tật, có người gặp cảnh nghèo khó, gia đình đổ vỡ, thất nghiệp, tội lỗi hay tuyệt vọng. Nhưng khi biết chạy đến với Chúa, con người sẽ tìm được sự nâng đỡ và bình an.

Sau đó, tôi giải thích thêm cho bà về Đức Mẹ Maria, Đấng luôn cầu bầu cho con cái trước mặt Chúa. Tôi cũng đọc và giải thích cho bà Kinh Kính Mừng, để bà biết cách cầu nguyện với Mẹ.

Một thời gian sau, bà Thiện lại đến viếng Đức Mẹ và thăm tôi. Lần này, tôi thấy bà thay đổi rất nhiều. Gương mặt bà rạng rỡ, nụ cười tươi hơn, không còn vẻ đau khổ như trước.

Bà xúc động nói:

“Cha ơi, con đã được Đức Bà cứu cả phần xác lẫn phần hồn”.

Rồi bà lấy từ trong áo ra một sợi dây chuyền có cây thánh giá và chuỗi Mân Côi. Bà giơ lên cho tôi xem và nói rõ từng lời:

“Thưa cha, con đã được rửa tội rồi”.

Nghe vậy, tôi không khỏi xúc động. Người phụ nữ từng tìm đến nhà xứ trong đau đớn, tuyệt vọng, nay không chỉ được nâng đỡ trong bệnh tật, mà còn tìm thấy ánh sáng đức tin.

Bà cho biết mình đã được rửa tội tại nhà thờ An Bình, Cao Lãnh, với tên thánh là Maria Lê Hoàng Phượng. Tuy vậy, với bà con lối xóm, bà vẫn là bà Thiện thân quen ngày nào.

Tôi mời bà vào trước ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp để cùng cầu nguyện tạ ơn. Sau đó, tôi ban phép lành cho bà và cầu chúc bà cùng gia đình luôn được bình an trong Chúa.

Sau này, bà qua đời bình an trong Chúa vào ngày 22 tháng 8 năm 2007, đúng lễ Đức Maria Nữ Vương. Với tôi, đó là một dấu ấn rất đẹp trong hành trình đức tin của bà.

Câu chuyện của bà Thiện luôn nhắc tôi rằng lòng thương xót của Chúa và tình mẫu tử của Đức Mẹ không bị giới hạn bởi hoàn cảnh, quá khứ hay xuất thân của bất cứ ai. Một người đến với Mẹ bằng tấm lòng thành, dù chỉ trong lúc đường cùng nhất, vẫn có thể được nâng đỡ, được dẫn dắt và tìm thấy bình an.

Bà Thiện đã đến với Đức Mẹ trong đau đớn của thân xác, nhưng cuối cùng lại nhận được một ơn lớn hơn: đó là được gặp Chúa, được sống trong đức tin và ra đi trong niềm hy vọng.

(Viết theo Cha cố Tôma Nguyễn Văn Mân)

Những điều thật cần thiết làm cho nhân loại được hạnh phúc!
22/05/2026

Những điều thật cần thiết làm cho nhân loại được hạnh phúc!

Trong số bảy người con, bốn người đã quyết định hiến dâng cuộc đời mình cho Thiên Chúa. Gia đình Morrison, ở Maryland, l...
22/05/2026

Trong số bảy người con, bốn người đã quyết định hiến dâng cuộc đời mình cho Thiên Chúa. Gia đình Morrison, ở Maryland, là hình ảnh phản chiếu cách đức tin được gieo trồng trong gia đình có thể sinh hoa trái đáng kinh ngạc. James, Danny và Nicholas là linh mục, còn Mary Sophia là một nữ tu Dòng Đa Minh.

Đối với Cha Danny, 26 tuổi, mọi chuyện bắt đầu từ năm 4 tuổi khi ngài thấy các linh mục dùng bữa tối trong nhà mình. “Tôi đã xúc động khi nhìn thấy một người đàn ông có niềm vui lớn lao đến vậy,” ngài nhớ lại về những khoảnh khắc đã đánh thức nơi ngài ước muốn phục vụ, sau khi được học tại nhà cùng với các anh chị em của mình.

Hiện tượng này không phải là sự trùng hợp. Theo một báo cáo năm 2024 từ trung tâm CARA, 15% các linh mục mới tại Hoa Kỳ đã được học tại nhà, một mức tăng rất lớn so với 3% được ghi nhận vào năm 2006.

Đối với gia đình Morrison, chìa khóa là sống đạo Công giáo như một điều tự nhiên và thường nhật, được bao quanh bởi một cộng đoàn luôn tìm kiếm sự thánh thiện. “Chính Thiên Chúa là Đấng làm cho hạt giống lớn lên,” cha mẹ họ nói. Sau cùng, vấn đề không phải là ép buộc một con đường, mà là tạo nên một môi trường nơi việc lắng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa trở nên bình thường như việc cùng nhau quây quần bên bàn ăn gia đình

Hai anh em sinh đôi 95 tuổi, Cha Matt Kelly và Cha Joe Kelly, đang đánh dấu 70 năm kể từ ngày được phong chức linh mục C...
21/05/2026

Hai anh em sinh đôi 95 tuổi, Cha Matt Kelly và Cha Joe Kelly, đang đánh dấu 70 năm kể từ ngày được phong chức linh mục Công giáo ở Ireland.

ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC GIUSE VŨ VĂN THIÊN: “GIÁO HỘI VIỆT NAM BIẾT ƠN CÁC NHÀ TRUYỀN GIÁO VÀ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO, CẤT LÊN BÀI CA...
21/05/2026

ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC GIUSE VŨ VĂN THIÊN: “GIÁO HỘI VIỆT NAM BIẾT ƠN CÁC NHÀ TRUYỀN GIÁO VÀ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO, CẤT LÊN BÀI CA MAGNIFICAT”

Vatican (Hãng tin Fides) – Với khoảng 30.000 người lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy mỗi năm, cộng đồng Công giáo tại Việt Nam đang cho thấy@ sức sống mạnh mẽ của đức tin “trong bối cảnh một xã hội có nhiều phức tạp và khó khăn”, theo lời Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên của Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, trong cuộc phỏng vấn với Fides bên lề chuyến viếng thăm ad limina Apostolorum của các giám mục Việt Nam.

Đức Tổng Giám mục cho biết cộng đồng Công giáo – được khơi nguồn từ các nhà truyền giáo tiên khởi và được củng cố nhờ chứng tá của các vị tử đạo – hiện có khoảng 7,5 triệu tín hữu, 7.400 linh mục, 27.000 tu sĩ nam nữ, 2.500 chủng sinh và 70.000 giáo lý viên.

THƯA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC GIUSE VŨ VĂN THIÊN, NGÀI MÔ TẢ ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?

Người ta có thể nói rất nhiều, trong tinh thần của kinh Magnificat, về những điều kỳ diệu mà Chúa đã thực hiện nơi Giáo hội Việt Nam. Tôi muốn nhấn mạnh đến sức sống và sự năng động của Giáo hội giữa một xã hội phức tạp và đầy thử thách. Chính đời sống của các tín hữu là một bài Magnificat sống động. Có rất nhiều điều tốt đẹp trong đời sống Kitô hữu Việt Nam.

Nhờ sức sống ấy, chúng tôi chứng kiến nhiều ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến. Nhiều người trẻ chọn con đường linh mục, tu trì hoặc dấn thân vào công việc mục vụ. Để hiểu được lý do của sự phát triển này, trước tiên phải nhìn nhận công trình và thánh ý của Thiên Chúa; còn “bí quyết nhân loại” chính là gia đình – nền tảng của một đức tin sống động.

Tại các giáo xứ Việt Nam, việc giáo lý bắt đầu từ rất sớm. Trước hết là trong gia đình, và từ khoảng bảy tuổi, các em đã được học giáo lý để chuẩn bị Rước lễ lần đầu và Thêm sức. Có một tiến trình khai tâm Kitô giáo được tổ chức khá bài bản nhằm củng cố và đào sâu đức tin nơi thiếu nhi và giới trẻ.

Tôi cũng đặc biệt muốn nhấn mạnh rằng việc phục vụ bàn thánh là một con đường giúp giới trẻ đến gần ơn gọi linh mục. Các em bắt đầu với vai trò giúp lễ. Qua việc phục vụ này, các em phát triển đời sống đức tin vững chắc và có sự gần gũi đặc biệt với bàn thờ; đồng thời, các em cũng được gia đình khích lệ. Mọi sự đều bắt đầu từ gia đình.

XIN ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC CHO BIẾT MỘT VÀI DỮ KIỆN VỀ CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO VIỆT NAM?

Với 7,5 triệu tín hữu trên tổng số 102 triệu dân, chiếm khoảng 7,3% dân số, Giáo hội tại Việt Nam vẫn là một cộng đồng nhỏ. Giáo hội được tổ chức thành 27 giáo phận. Vì khoảng 75–80% tín hữu thực hành đức tin cách tích cực, nên Giáo hội Việt Nam tiếp tục sinh nhiều hoa trái phong phú.

Theo số liệu năm 2025, Việt Nam hiện có 7.453 linh mục triều và dòng, 27.000 tu sĩ nam nữ, cùng 2.500 chủng sinh tại 11 đại chủng viện. Có khoảng 70.000 giáo lý viên trẻ đang hoạt động trong các giáo xứ, hội đồng mục vụ và các đoàn thể Công giáo.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng đất nước chúng tôi đang ở trong một giai đoạn lịch sử mà cuộc cách mạng công nghệ thông tin, tiến bộ khoa học và tăng trưởng kinh tế vừa là hồng ân vừa là cám dỗ, có thể khiến nhiều người xa rời Thiên Chúa. Trước những khó khăn và thách đố ấy trong Giáo hội cũng như ngoài xã hội, chúng tôi – với tư cách là các mục tử – nỗ lực đào luyện mỗi người đã lãnh Bí tích Thánh Tẩy trở thành môn đệ đích thực và mang tinh thần truyền giáo.

Mỗi năm chúng tôi có khoảng 30.000 người lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy; riêng năm 2025 có khoảng 33.000 người. Đó là một hồng ân lớn lao.

Các giáo xứ và cộng đoàn dòng tu đang thực hiện nhiều sáng kiến và hoạt động nhằm làm chứng và loan báo Tin Mừng. Đồng thời, nhiều linh mục Việt Nam thuộc các giáo phận và dòng tu cũng đang thi hành sứ vụ truyền giáo tại nhiều quốc gia khác nhau.

XÃ HỘI NHÌN NHẬN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VÀ NGƯỜI CÔNG GIÁO NHƯ THẾ NÀO?

Việt Nam được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản vô thần. Người Công giáo chỉ là thiểu số trong một xã hội phần lớn theo Phật giáo cũng như các tín ngưỡng dân gian và thuyết vật linh.

Một mặt, có những tuyên truyền cho rằng Kitô giáo “đến từ bên ngoài”, do người nước ngoài mang tới nên xa lạ với văn hóa và dân tộc Việt Nam. Kiểu tuyên truyền này hiện diện không chỉ trên truyền thông mà còn trong hệ thống giáo dục. Người ta cố gắng gắn các nhà truyền giáo đầu tiên với chủ nghĩa thực dân để tạo nên cái nhìn tiêu cực về họ. Đây là một ngộ nhận lịch sử nhưng vẫn được cố tình nuôi dưỡng.

Chúng ta biết rằng các nhà truyền giáo đầu tiên đã đến Việt Nam từ thế kỷ XVII, trong khi người Pháp chỉ đến vào cuối thế kỷ XIX.

Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, những người ngoài Công giáo lại thấy Giáo hội Công giáo là một cộng đồng có tổ chức tốt, có cơ cấu phẩm trật rõ ràng và vì thế là một thực tại vững chắc, đem lại sự bảo đảm. Người Công giáo thường được tôn trọng nhờ đóng góp cho công ích qua các hoạt động bác ái và xã hội.

Ngay cả các viên chức chính quyền, khi có cơ hội đối thoại, cũng nhìn nhận rằng tỷ lệ tội phạm thấp hơn tại những khu vực có đông người Công giáo. Ở các thành phố lớn với dân trí cao hơn, người dân hiểu Công giáo rõ hơn và có cái nhìn tích cực về các giáo xứ nhờ các hoạt động bác ái và việc giáo dục những giá trị tốt đẹp cho xã hội, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, tại các làng quê nhỏ và vùng sâu vùng xa, hình ảnh của Giáo hội vẫn còn bị ảnh hưởng tiêu cực bởi tuyên truyền.

NGƯỜI CÔNG GIÁO THƯỜNG TỰ NHẬN LÀ “NGƯỜI CÔNG GIÁO TỐT VÀ CÔNG DÂN TỐT”: ĐIỀU ĐÓ CÓ LUÔN ĐÚNG KHÔNG?

Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã sử dụng cụm từ này trong chuyến ad limina của các giám mục năm 2009. Dưới ánh sáng Tin Mừng, quan điểm ấy rất rõ ràng, và chính quyền cũng thường dùng câu nói này, dù đôi khi mang sắc thái “chính trị” hơn.

Đối với chúng tôi, điều đó có nghĩa là các tín hữu vừa có đức tin sâu sắc nơi Thiên Chúa, vừa là những công dân gương mẫu, yêu quê hương đất nước và đóng góp thiết thực cho xã hội qua công việc và đời sống của mình.

Đôi khi các quan chức cộng sản cố gắng diễn giải lòng yêu nước như là “yêu chủ nghĩa xã hội”. Tôi muốn nhắc lại ý nghĩa của Thư Chung năm 1980 – nền tảng khởi đầu cho Hội đồng Giám mục Việt Nam – trong đó viết rằng: “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc.” Đó là một điểm khởi đầu rất tốt đẹp cho mối tương quan với xã hội dân sự.

DƯỜNG NHƯ QUAN HỆ SONG PHƯƠNG GIỮA CHÍNH QUYỀN VÀ TÒA THÁNH ĐÃ DẦN ĐƯỢC CẢI THIỆN. LỜI MỜI ĐỨC GIÁO HOÀNG THĂM VIỆT NAM CÓ NẰM TRONG BỐI CẢNH NÀY KHÔNG?

Kể từ năm 1980, quan hệ giữa chính quyền và Tòa Thánh đã được cải thiện. Một cột mốc quan trọng là chuyến thăm Việt Nam của Đức Hồng y Roger Etchegaray năm 1989; có thể nói đó là khởi đầu của một giai đoạn mới, và từ đó người ta bắt đầu nói đến đối thoại.

Nhiều năm sau, vào năm 2011, vị Đại diện không thường trú đầu tiên của Tòa Thánh tại Việt Nam được bổ nhiệm; đến năm 2023, Đức Tổng Giám mục Zalewski trở thành vị Đại diện thường trú đầu tiên tại Việt Nam.

Tiến trình này dẫn tới việc thành lập một nhóm công tác hỗn hợp giữa Tòa Thánh và Việt Nam, vốn đã đạt được nhiều kết quả cụ thể.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng vị Chủ tịch nước tiền nhiệm đã từng gửi lời mời Đức Giáo hoàng đến Việt Nam. Nay, vị Chủ tịch nước mới là ông Tô Lâm, đồng thời là Tổng Bí thư Đảng, cũng đã mời Đức Giáo hoàng Lêô đến Việt Nam vào tháng Tư vừa qua.

Là công dân Việt Nam và là người Công giáo, chúng tôi rất hy vọng vào chuyến viếng thăm này. Đó cũng từng là mong ước của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II khi ngài tuyên thánh cho 117 Thánh Tử đạo Việt Nam tại Rôma năm 1988.

Chúng tôi tin tưởng vào kinh nghiệm ngàn năm của nền ngoại giao Tòa Thánh, vốn luôn biết hành động vì thiện ích không chỉ của Giáo hội tại Việt Nam mà còn của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Trong chuyến ad limina, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam là Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng của Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã chính thức mời Đức Giáo hoàng sang thăm Việt Nam.

CUỘC GẶP GỠ CỦA NGÀI VỚI ĐỨC GIÁO HOÀNG ĐÃ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO?

Đó là một cuộc gặp gỡ rất thân tình và gần gũi. Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã nói với nhiều tình cảm về Giáo hội Việt Nam: ngài biết đây là một Giáo hội nhỏ bé nhưng rất năng động và đầy sức trẻ.

Ấn tượng quan trọng nhất đối với chúng tôi khi đến Rôma và gặp Đức Giáo hoàng chính là cảm giác như “trở về nhà”. Trong tất cả các bộ của Giáo triều mà chúng tôi đến thăm, bầu khí ấy luôn hiện diện; chúng tôi được tiếp đón rất nồng hậu.

Người ta nói với chúng tôi rằng: Anh em không chỉ đến đây để báo cáo, mà còn để củng cố sự hiệp thông và hiệp nhất trong gia đình Giáo hội. Đức Giáo hoàng đã khích lệ chúng tôi trong sứ vụ mục tử.

NGÀI ĐÃ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG LỜI KHUYÊN NÀO TỪ ĐỨC GIÁO HOÀNG?

Lời khuyên đầu tiên là phải đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo linh mục và chủng sinh.

Điểm thứ hai liên quan đến vai trò của giáo dân, không chỉ trong mục vụ mà còn trong lãnh vực quản trị.

Điểm thứ ba là cần đặc biệt quan tâm đến mục vụ giới trẻ.

Điểm thứ tư nhấn mạnh đến sự tham gia tích cực của phụ nữ trong đời sống Giáo hội, với phẩm giá và sự tôn trọng dành cho các quyền lợi của họ.

Cuối cùng, ngài mời gọi chúng tôi chăm sóc các trẻ vị thành niên và những người dễ bị tổn thương, bảo vệ đời sống và sự thuộc về cộng đoàn của họ.

Chúng tôi rời cuộc gặp gỡ với tâm hồn được an ủi và khích lệ bởi lời của Đức Giáo hoàng.

Tôi cũng xin nhắc rằng vào ngày 2 tháng 7 năm 2026, một Đặc sứ Tông tòa của Đức Giáo hoàng sẽ đến Việt Nam để chủ sự lễ phong chân phước cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị tử đạo đã hiến mạng sống năm 1946 như chứng tá bác ái dành cho người nghèo khổ và đau khổ.

Biến cố này chắc chắn sẽ là nguồn khích lệ quý giá cho Dân Chúa tại Việt Nam và thúc đẩy tất cả chúng ta sống và làm chứng cho Tin Mừng cách nhiệt thành hơn nữa.

NẾU ĐỨC GIÁO HOÀNG THẬT SỰ THĂM VIỆT NAM, ĐIỀU ĐÓ SẼ CÓ Ý NGHĨA GÌ ĐỐI VỚI GIÁO HỘI TẠI ĐÂY?

Đối với người Công giáo, đó sẽ là một biến cố vô cùng quan trọng – người ta có thể hình dung niềm vui, sự phấn khởi và sức mạnh đức tin mà chuyến thăm ấy mang lại – nhưng nó cũng sẽ có ý nghĩa lớn lao đối với những người ngoài Công giáo.

Đức Giáo hoàng là vị lãnh đạo của Giáo hội hoàn vũ. Ngay cả những người không phải Công giáo cũng trân trọng Đức Giáo hoàng như một sứ giả hòa bình; vì thế sự hiện diện của ngài chắc chắn sẽ rất ý nghĩa và sẽ được đón tiếp nồng nhiệt.

CÁC NHÀ TRUYỀN GIÁO ĐẦU TIÊN ĐÃ MANG ĐỨC TIN ĐẾN VIỆT NAM ĐƯỢC TƯỞNG NHỚ NHƯ THẾ NÀO?

Người Việt Nam rất biết ơn các nhà truyền giáo. Chúng tôi hạnh phúc vì đã được đón nhận Tin Mừng nhờ các nhà truyền giáo.

Chúng tôi đặc biệt nhớ đến linh mục Dòng Tên người Pháp Alexandre de Rhodes, một nhân vật quan trọng đến Việt Nam vào đầu thế kỷ XVII và đã cộng tác với nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha Francisco de Pina trong việc Latinh hóa tiếng Việt.

Các ngài đã tạo nên hệ thống chữ viết mới cho tiếng Việt mà chúng tôi vẫn sử dụng cho đến ngày nay. Nhờ đó, Việt Nam là quốc gia duy nhất ở châu Á sử dụng mẫu tự Latinh, trong khi nhiều quốc gia khác vẫn dùng hệ thống chữ viết riêng.

Việc xây dựng một hệ thống chữ viết cho cả một dân tộc là một đóng góp vô cùng to lớn. Ngay cả chính quyền và các trường đại học Việt Nam – đôi khi còn dè dặt trong việc nhìn nhận công lao của các nhà truyền giáo – cũng không thể phủ nhận sự thật ấy và phải dành cho Alexandre de Rhodes cùng các cộng sự của ngài sự ghi nhận xứng đáng.

Nhiều dòng tu khác cũng từng hoạt động truyền giáo tại Việt Nam như Dòng Tên, Augustinô, Đa Minh, Phanxicô, Hội Thừa sai Paris và nhiều hội dòng khác.

Hai nhà truyền giáo người Pháp đầu tiên cũng là hai vị giám mục đầu tiên do Tòa Thánh bổ nhiệm tại Việt Nam, ở cả miền Nam lẫn miền Bắc: Đức cha Lambert de la Motte và Đức cha François Pallu. Năm 2024, chúng tôi đã khởi sự tiến trình cấp giáo phận cho án phong chân phước của hai ngài.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng các giáo xứ của chúng tôi thường xuyên tổ chức hành hương đến phần mộ các nhà truyền giáo với lòng biết ơn sâu xa. Nhiều vị được an táng tại Việt Nam; các ngài đã hiến trọn đời mình như những nhà truyền giáo “ad vitam”.

Chúng tôi thực sự xúc động và cảm thấy tình yêu thương sâu đậm khi đứng trước phần mộ các nhà truyền giáo. Các ngài đã để lại cho chúng tôi một chứng tá đức tin sống động.

Ảnh hưởng của các nhà truyền giáo tại Việt Nam rất sâu rộng, không chỉ trên bình diện tâm thức mà còn trong văn hóa và cơ cấu của Giáo hội Việt Nam. Trên hết, chúng tôi biết ơn các ngài vì nhờ sự hiện diện của các ngài mà chúng tôi nhận được hồng ân đức tin.

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI HÔM NAY?

Người Công giáo Việt Nam nói chung rất tự hào và biết ơn các vị tử đạo. Điều đó thể hiện rõ nơi các cộng đoàn Công giáo Việt Nam hải ngoại tại châu Âu, Hoa Kỳ và nhiều nơi khác.

Khi thành lập cộng đoàn hay xây dựng nhà nguyện, người ta thường chọn tên Các Thánh Tử đạo Việt Nam hoặc Đức Mẹ La Vang.

Chúng tôi có lòng tôn kính sâu xa đối với các Thánh Tử đạo Việt Nam, vì thế trên khắp đất nước có vô số đền thánh được dựng lên tại quê hương hay nơi các ngài chịu tử đạo.

Hãy hình dung rằng trong suốt 200 năm biến động và bách hại, ước tính đã có khoảng 130.000 vị tử đạo Việt Nam. Thậm chí có cả những ngôi làng tử đạo: những người bị thiêu sống chỉ vì tin vào Đức Kitô.

Trong số đó, 117 vị đã được tuyên thánh năm 1988 và một vị được tuyên chân phước năm 2000.

Hiện nay, một trung tâm hành hương mới kính Các Thánh Tử đạo đang được hoàn thành tại Hà Nội. Công trình sẽ hoàn tất vào cuối năm 2026 và sẽ được khánh thành vào năm sau, nhân kỳ họp đầu tiên của Hội đồng Giám mục.

Năm 2027 đánh dấu kỷ niệm 400 năm ngày Alexandre de Rhodes đến Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay.

Linh đạo của các vị tử đạo là lòng trung thành với Thiên Chúa. Chúng tôi cố gắng truyền đạt cho các tín hữu rằng tuy ngày nay không còn bách hại như trước, nhưng lòng trung thành ấy vẫn không thay đổi.

Trong xã hội hiện đại, nơi chủ nghĩa tiêu thụ và tục hóa có thể khiến con người xa rời Thiên Chúa, tinh thần của các vị tử đạo – sự trung tín trong đức tin – càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

ĐỨC MẸ LA VANG CÓ Ý NGHĨA ĐẶC BIỆT NHƯ THẾ NÀO ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM?

La Vang là tên một địa danh ở miền Trung Việt Nam, nơi hơn 200 năm trước nhiều tín hữu đã chạy trốn vào rừng để tránh các cuộc bách hại. Theo một số giả thuyết, tên gọi “La Vang” xuất phát từ loại lá có trong khu rừng ấy.

Trong lúc các tín hữu cầu nguyện kinh Mân Côi, Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra với họ. Mẹ khích lệ họ hãy trung thành và nói: “Mẹ luôn ở cùng các con.” Đồng thời, Mẹ hứa rằng mọi ai đến nơi ấy cầu nguyện sẽ được nhận lời.

Từ đó, La Vang dần trở thành trung tâm hành hương Đức Mẹ nổi tiếng trên toàn quốc.

Hơn hai mươi năm trước, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã quyết định thực hiện tượng Đức Maria mang nét mặt và y phục Việt Nam. Một trong những pho tượng đầu tiên đã được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II làm phép trước khi được tôn kính tại Việt Nam.

Ý nghĩa thiêng liêng của nơi này gắn liền với lòng sùng kính Đức Maria rất sâu đậm nơi người dân Việt Nam. Người Việt có tình yêu đặc biệt dành cho Đức Mẹ, bởi hình ảnh người mẹ trong văn hóa Việt Nam là biểu tượng của sự hy sinh, bền bỉ và tình yêu vô điều kiện – nền tảng của gia đình và xã hội.

Không chỉ người Công giáo cầu nguyện với Đức Mẹ, mà ngay cả nhiều người Phật giáo cũng cảm thấy sự gần gũi đặc biệt với Mẹ.

Truyền thống thi ca và văn chương Việt Nam rất phong phú với những bài ca và lời thơ về hình ảnh người mẹ. Chính vì thế, việc các tín hữu tìm đến với Đức Maria để bày tỏ lòng sùng kính và xin ơn đã trở thành một truyền thống sâu đậm. Họ đến với Mẹ để được Mẹ dẫn đưa đến với Đức Kitô.

🏛️ LỊCH SỬ VỀ TƯỢNG CHÚA GÊSU TRONG HUYỆT ĐÁ (SANTO SEPULCRO) CỦA DÒNG THÁNH VÊRÔNICA - ĐỒNG THÁNH PHANXICÔHội Đạo Đức T...
21/05/2026

🏛️ LỊCH SỬ VỀ TƯỢNG CHÚA GÊSU TRONG HUYỆT ĐÁ (SANTO SEPULCRO) CỦA DÒNG THÁNH VÊRÔNICA - ĐỒNG THÁNH PHANXICÔ

Hội Đạo Đức Thánh Giá (La Cofradía de la Veracruz) thuộc tu viện Dòng Phanxicô là một trong những tổ chức sám hối lâu đời nhất được ghi nhận tại Vương quốc Guatemala. Theo sử gia Domingo Juarros, hội được thành lập vào ngày 9 tháng 3 năm 1533. Trong thời kỳ đầu, đây là hội độc quyền dành riêng cho người Tây Ban Nha và người lai Nam Mỹ (Criollos), khẳng định vị thế đặc quyền trong xã hội thuộc địa.

⚔️ Cuộc tranh chấp nghi thức giữa Dòng Đa Minh và Dòng Phanxicô

Cuối thế kỷ XVI, xung đột nổ ra giữa hai dòng Đa Minh và Phanxicô xung quanh nghi thức Hạ Xác Chúa và cuộc rước táng Chúa (Santo Entierro). Năm 1595, một thỏa thuận chính thức đã giải quyết tranh chấp:

Các tu sĩ Phanxicô: Giữ quyền thực hiện nghi thức Hạ Xác Chúa bên trong thánh đường và khuôn viên của mình.

Các tu sĩ Đa Minh: Giữ đặc quyền tổ chức cuộc kiệu công xưng trọng thể qua các đường phố thuộc Santiago de Guatemala.

🩸 Cuộc rước sự thương khó và các bức tượng cổ

Năm 1606: Hội tổ chức cuộc rước đền tội (procesión de sangre) vào đêm Thứ Năm Tuần Thánh, đi qua Nhà thờ Chính tòa, giáo xứ La Merced, Santo Domingo... trước khi trở về lại nhà thờ San Francisco.

Năm 1621: Các tài liệu ghi nhận sự xuất hiện đồng thời của hai bức tượng Chúa Kitô: một tượng Chịu Nạn chính (Crucificado) và một tượng Chúa có các khớp cử động được để phục vụ riêng cho nghi thức Hạ Xác.

Năm 1636 (Sự thật hé lộ): Bản kiểm kê năm 1636 xác nhận sự tồn tại của một bức tượng Chúa Kitô có các cánh tay khớp nối (articulados). Đây chính là bằng chứng kết nối nguồn gốc của bức tượng Chúa Gêsu trong huyệt đá (Santo Sepulcro) Dòng Phanxicô với các nghi thức kịch nghệ phụng vụ thời thuộc địa. Sau các cải cách phụng vụ năm 1664 hạn chế các buổi diễn kịch thánh, bức tượng khớp nối này rất có thể đã được cải tiến dần thành tượng Chúa Táng Xác (tượng nằm) như ngày nay.

⛪ Các nhà nguyện và lòng sùng kính

Tài liệu chứng minh rằng lòng sùng kính tượng Chúa Táng Xác (Cristo Yacente) xuất hiện trước lòng sùng kính Đức Mẹ Sầu Bi (Virgen de Soledad) khoảng 25 năm. Di chúc năm 1692 của ông Juan de Rivera Ponce de León từng xin được an táng "dưới bục ngay chân bàn thờ Chúa trong huyệt đá (Santo Sepulcro)", chứng tỏ vị trí tôn kính đặc biệt của bức tượng này.

Sau trận động đất năm 1773, khi chuyển sang vùng Nueva Guatemala de la Asunción, bức tượng vẫn giữ nguyên vị thế trang trọng với chiếc lọng/hòm kiệu (urna) chạm khắc tinh xảo bậc nhất vương quốc, thể hiện uy tín lớn mạnh của Dòng Phanxicô thời bấy giờ.

📷 Ảnh gốc: Amilcar Gonzalez / Biên tập bằng AI: Cesar Morales

Address

Ho Chi Minh City
72400

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Lời Chúa Mỗi Ngày posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share