21/05/2026
ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC GIUSE VŨ VĂN THIÊN: “GIÁO HỘI VIỆT NAM BIẾT ƠN CÁC NHÀ TRUYỀN GIÁO VÀ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO, CẤT LÊN BÀI CA MAGNIFICAT”
Vatican (Hãng tin Fides) – Với khoảng 30.000 người lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy mỗi năm, cộng đồng Công giáo tại Việt Nam đang cho thấy@ sức sống mạnh mẽ của đức tin “trong bối cảnh một xã hội có nhiều phức tạp và khó khăn”, theo lời Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên của Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, trong cuộc phỏng vấn với Fides bên lề chuyến viếng thăm ad limina Apostolorum của các giám mục Việt Nam.
Đức Tổng Giám mục cho biết cộng đồng Công giáo – được khơi nguồn từ các nhà truyền giáo tiên khởi và được củng cố nhờ chứng tá của các vị tử đạo – hiện có khoảng 7,5 triệu tín hữu, 7.400 linh mục, 27.000 tu sĩ nam nữ, 2.500 chủng sinh và 70.000 giáo lý viên.
THƯA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC GIUSE VŨ VĂN THIÊN, NGÀI MÔ TẢ ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?
Người ta có thể nói rất nhiều, trong tinh thần của kinh Magnificat, về những điều kỳ diệu mà Chúa đã thực hiện nơi Giáo hội Việt Nam. Tôi muốn nhấn mạnh đến sức sống và sự năng động của Giáo hội giữa một xã hội phức tạp và đầy thử thách. Chính đời sống của các tín hữu là một bài Magnificat sống động. Có rất nhiều điều tốt đẹp trong đời sống Kitô hữu Việt Nam.
Nhờ sức sống ấy, chúng tôi chứng kiến nhiều ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến. Nhiều người trẻ chọn con đường linh mục, tu trì hoặc dấn thân vào công việc mục vụ. Để hiểu được lý do của sự phát triển này, trước tiên phải nhìn nhận công trình và thánh ý của Thiên Chúa; còn “bí quyết nhân loại” chính là gia đình – nền tảng của một đức tin sống động.
Tại các giáo xứ Việt Nam, việc giáo lý bắt đầu từ rất sớm. Trước hết là trong gia đình, và từ khoảng bảy tuổi, các em đã được học giáo lý để chuẩn bị Rước lễ lần đầu và Thêm sức. Có một tiến trình khai tâm Kitô giáo được tổ chức khá bài bản nhằm củng cố và đào sâu đức tin nơi thiếu nhi và giới trẻ.
Tôi cũng đặc biệt muốn nhấn mạnh rằng việc phục vụ bàn thánh là một con đường giúp giới trẻ đến gần ơn gọi linh mục. Các em bắt đầu với vai trò giúp lễ. Qua việc phục vụ này, các em phát triển đời sống đức tin vững chắc và có sự gần gũi đặc biệt với bàn thờ; đồng thời, các em cũng được gia đình khích lệ. Mọi sự đều bắt đầu từ gia đình.
XIN ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC CHO BIẾT MỘT VÀI DỮ KIỆN VỀ CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO VIỆT NAM?
Với 7,5 triệu tín hữu trên tổng số 102 triệu dân, chiếm khoảng 7,3% dân số, Giáo hội tại Việt Nam vẫn là một cộng đồng nhỏ. Giáo hội được tổ chức thành 27 giáo phận. Vì khoảng 75–80% tín hữu thực hành đức tin cách tích cực, nên Giáo hội Việt Nam tiếp tục sinh nhiều hoa trái phong phú.
Theo số liệu năm 2025, Việt Nam hiện có 7.453 linh mục triều và dòng, 27.000 tu sĩ nam nữ, cùng 2.500 chủng sinh tại 11 đại chủng viện. Có khoảng 70.000 giáo lý viên trẻ đang hoạt động trong các giáo xứ, hội đồng mục vụ và các đoàn thể Công giáo.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng đất nước chúng tôi đang ở trong một giai đoạn lịch sử mà cuộc cách mạng công nghệ thông tin, tiến bộ khoa học và tăng trưởng kinh tế vừa là hồng ân vừa là cám dỗ, có thể khiến nhiều người xa rời Thiên Chúa. Trước những khó khăn và thách đố ấy trong Giáo hội cũng như ngoài xã hội, chúng tôi – với tư cách là các mục tử – nỗ lực đào luyện mỗi người đã lãnh Bí tích Thánh Tẩy trở thành môn đệ đích thực và mang tinh thần truyền giáo.
Mỗi năm chúng tôi có khoảng 30.000 người lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy; riêng năm 2025 có khoảng 33.000 người. Đó là một hồng ân lớn lao.
Các giáo xứ và cộng đoàn dòng tu đang thực hiện nhiều sáng kiến và hoạt động nhằm làm chứng và loan báo Tin Mừng. Đồng thời, nhiều linh mục Việt Nam thuộc các giáo phận và dòng tu cũng đang thi hành sứ vụ truyền giáo tại nhiều quốc gia khác nhau.
XÃ HỘI NHÌN NHẬN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VÀ NGƯỜI CÔNG GIÁO NHƯ THẾ NÀO?
Việt Nam được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản vô thần. Người Công giáo chỉ là thiểu số trong một xã hội phần lớn theo Phật giáo cũng như các tín ngưỡng dân gian và thuyết vật linh.
Một mặt, có những tuyên truyền cho rằng Kitô giáo “đến từ bên ngoài”, do người nước ngoài mang tới nên xa lạ với văn hóa và dân tộc Việt Nam. Kiểu tuyên truyền này hiện diện không chỉ trên truyền thông mà còn trong hệ thống giáo dục. Người ta cố gắng gắn các nhà truyền giáo đầu tiên với chủ nghĩa thực dân để tạo nên cái nhìn tiêu cực về họ. Đây là một ngộ nhận lịch sử nhưng vẫn được cố tình nuôi dưỡng.
Chúng ta biết rằng các nhà truyền giáo đầu tiên đã đến Việt Nam từ thế kỷ XVII, trong khi người Pháp chỉ đến vào cuối thế kỷ XIX.
Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, những người ngoài Công giáo lại thấy Giáo hội Công giáo là một cộng đồng có tổ chức tốt, có cơ cấu phẩm trật rõ ràng và vì thế là một thực tại vững chắc, đem lại sự bảo đảm. Người Công giáo thường được tôn trọng nhờ đóng góp cho công ích qua các hoạt động bác ái và xã hội.
Ngay cả các viên chức chính quyền, khi có cơ hội đối thoại, cũng nhìn nhận rằng tỷ lệ tội phạm thấp hơn tại những khu vực có đông người Công giáo. Ở các thành phố lớn với dân trí cao hơn, người dân hiểu Công giáo rõ hơn và có cái nhìn tích cực về các giáo xứ nhờ các hoạt động bác ái và việc giáo dục những giá trị tốt đẹp cho xã hội, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, tại các làng quê nhỏ và vùng sâu vùng xa, hình ảnh của Giáo hội vẫn còn bị ảnh hưởng tiêu cực bởi tuyên truyền.
NGƯỜI CÔNG GIÁO THƯỜNG TỰ NHẬN LÀ “NGƯỜI CÔNG GIÁO TỐT VÀ CÔNG DÂN TỐT”: ĐIỀU ĐÓ CÓ LUÔN ĐÚNG KHÔNG?
Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã sử dụng cụm từ này trong chuyến ad limina của các giám mục năm 2009. Dưới ánh sáng Tin Mừng, quan điểm ấy rất rõ ràng, và chính quyền cũng thường dùng câu nói này, dù đôi khi mang sắc thái “chính trị” hơn.
Đối với chúng tôi, điều đó có nghĩa là các tín hữu vừa có đức tin sâu sắc nơi Thiên Chúa, vừa là những công dân gương mẫu, yêu quê hương đất nước và đóng góp thiết thực cho xã hội qua công việc và đời sống của mình.
Đôi khi các quan chức cộng sản cố gắng diễn giải lòng yêu nước như là “yêu chủ nghĩa xã hội”. Tôi muốn nhắc lại ý nghĩa của Thư Chung năm 1980 – nền tảng khởi đầu cho Hội đồng Giám mục Việt Nam – trong đó viết rằng: “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc.” Đó là một điểm khởi đầu rất tốt đẹp cho mối tương quan với xã hội dân sự.
DƯỜNG NHƯ QUAN HỆ SONG PHƯƠNG GIỮA CHÍNH QUYỀN VÀ TÒA THÁNH ĐÃ DẦN ĐƯỢC CẢI THIỆN. LỜI MỜI ĐỨC GIÁO HOÀNG THĂM VIỆT NAM CÓ NẰM TRONG BỐI CẢNH NÀY KHÔNG?
Kể từ năm 1980, quan hệ giữa chính quyền và Tòa Thánh đã được cải thiện. Một cột mốc quan trọng là chuyến thăm Việt Nam của Đức Hồng y Roger Etchegaray năm 1989; có thể nói đó là khởi đầu của một giai đoạn mới, và từ đó người ta bắt đầu nói đến đối thoại.
Nhiều năm sau, vào năm 2011, vị Đại diện không thường trú đầu tiên của Tòa Thánh tại Việt Nam được bổ nhiệm; đến năm 2023, Đức Tổng Giám mục Zalewski trở thành vị Đại diện thường trú đầu tiên tại Việt Nam.
Tiến trình này dẫn tới việc thành lập một nhóm công tác hỗn hợp giữa Tòa Thánh và Việt Nam, vốn đã đạt được nhiều kết quả cụ thể.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng vị Chủ tịch nước tiền nhiệm đã từng gửi lời mời Đức Giáo hoàng đến Việt Nam. Nay, vị Chủ tịch nước mới là ông Tô Lâm, đồng thời là Tổng Bí thư Đảng, cũng đã mời Đức Giáo hoàng Lêô đến Việt Nam vào tháng Tư vừa qua.
Là công dân Việt Nam và là người Công giáo, chúng tôi rất hy vọng vào chuyến viếng thăm này. Đó cũng từng là mong ước của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II khi ngài tuyên thánh cho 117 Thánh Tử đạo Việt Nam tại Rôma năm 1988.
Chúng tôi tin tưởng vào kinh nghiệm ngàn năm của nền ngoại giao Tòa Thánh, vốn luôn biết hành động vì thiện ích không chỉ của Giáo hội tại Việt Nam mà còn của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Trong chuyến ad limina, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam là Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng của Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã chính thức mời Đức Giáo hoàng sang thăm Việt Nam.
CUỘC GẶP GỠ CỦA NGÀI VỚI ĐỨC GIÁO HOÀNG ĐÃ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO?
Đó là một cuộc gặp gỡ rất thân tình và gần gũi. Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã nói với nhiều tình cảm về Giáo hội Việt Nam: ngài biết đây là một Giáo hội nhỏ bé nhưng rất năng động và đầy sức trẻ.
Ấn tượng quan trọng nhất đối với chúng tôi khi đến Rôma và gặp Đức Giáo hoàng chính là cảm giác như “trở về nhà”. Trong tất cả các bộ của Giáo triều mà chúng tôi đến thăm, bầu khí ấy luôn hiện diện; chúng tôi được tiếp đón rất nồng hậu.
Người ta nói với chúng tôi rằng: Anh em không chỉ đến đây để báo cáo, mà còn để củng cố sự hiệp thông và hiệp nhất trong gia đình Giáo hội. Đức Giáo hoàng đã khích lệ chúng tôi trong sứ vụ mục tử.
NGÀI ĐÃ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG LỜI KHUYÊN NÀO TỪ ĐỨC GIÁO HOÀNG?
Lời khuyên đầu tiên là phải đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo linh mục và chủng sinh.
Điểm thứ hai liên quan đến vai trò của giáo dân, không chỉ trong mục vụ mà còn trong lãnh vực quản trị.
Điểm thứ ba là cần đặc biệt quan tâm đến mục vụ giới trẻ.
Điểm thứ tư nhấn mạnh đến sự tham gia tích cực của phụ nữ trong đời sống Giáo hội, với phẩm giá và sự tôn trọng dành cho các quyền lợi của họ.
Cuối cùng, ngài mời gọi chúng tôi chăm sóc các trẻ vị thành niên và những người dễ bị tổn thương, bảo vệ đời sống và sự thuộc về cộng đoàn của họ.
Chúng tôi rời cuộc gặp gỡ với tâm hồn được an ủi và khích lệ bởi lời của Đức Giáo hoàng.
Tôi cũng xin nhắc rằng vào ngày 2 tháng 7 năm 2026, một Đặc sứ Tông tòa của Đức Giáo hoàng sẽ đến Việt Nam để chủ sự lễ phong chân phước cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị tử đạo đã hiến mạng sống năm 1946 như chứng tá bác ái dành cho người nghèo khổ và đau khổ.
Biến cố này chắc chắn sẽ là nguồn khích lệ quý giá cho Dân Chúa tại Việt Nam và thúc đẩy tất cả chúng ta sống và làm chứng cho Tin Mừng cách nhiệt thành hơn nữa.
NẾU ĐỨC GIÁO HOÀNG THẬT SỰ THĂM VIỆT NAM, ĐIỀU ĐÓ SẼ CÓ Ý NGHĨA GÌ ĐỐI VỚI GIÁO HỘI TẠI ĐÂY?
Đối với người Công giáo, đó sẽ là một biến cố vô cùng quan trọng – người ta có thể hình dung niềm vui, sự phấn khởi và sức mạnh đức tin mà chuyến thăm ấy mang lại – nhưng nó cũng sẽ có ý nghĩa lớn lao đối với những người ngoài Công giáo.
Đức Giáo hoàng là vị lãnh đạo của Giáo hội hoàn vũ. Ngay cả những người không phải Công giáo cũng trân trọng Đức Giáo hoàng như một sứ giả hòa bình; vì thế sự hiện diện của ngài chắc chắn sẽ rất ý nghĩa và sẽ được đón tiếp nồng nhiệt.
CÁC NHÀ TRUYỀN GIÁO ĐẦU TIÊN ĐÃ MANG ĐỨC TIN ĐẾN VIỆT NAM ĐƯỢC TƯỞNG NHỚ NHƯ THẾ NÀO?
Người Việt Nam rất biết ơn các nhà truyền giáo. Chúng tôi hạnh phúc vì đã được đón nhận Tin Mừng nhờ các nhà truyền giáo.
Chúng tôi đặc biệt nhớ đến linh mục Dòng Tên người Pháp Alexandre de Rhodes, một nhân vật quan trọng đến Việt Nam vào đầu thế kỷ XVII và đã cộng tác với nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha Francisco de Pina trong việc Latinh hóa tiếng Việt.
Các ngài đã tạo nên hệ thống chữ viết mới cho tiếng Việt mà chúng tôi vẫn sử dụng cho đến ngày nay. Nhờ đó, Việt Nam là quốc gia duy nhất ở châu Á sử dụng mẫu tự Latinh, trong khi nhiều quốc gia khác vẫn dùng hệ thống chữ viết riêng.
Việc xây dựng một hệ thống chữ viết cho cả một dân tộc là một đóng góp vô cùng to lớn. Ngay cả chính quyền và các trường đại học Việt Nam – đôi khi còn dè dặt trong việc nhìn nhận công lao của các nhà truyền giáo – cũng không thể phủ nhận sự thật ấy và phải dành cho Alexandre de Rhodes cùng các cộng sự của ngài sự ghi nhận xứng đáng.
Nhiều dòng tu khác cũng từng hoạt động truyền giáo tại Việt Nam như Dòng Tên, Augustinô, Đa Minh, Phanxicô, Hội Thừa sai Paris và nhiều hội dòng khác.
Hai nhà truyền giáo người Pháp đầu tiên cũng là hai vị giám mục đầu tiên do Tòa Thánh bổ nhiệm tại Việt Nam, ở cả miền Nam lẫn miền Bắc: Đức cha Lambert de la Motte và Đức cha François Pallu. Năm 2024, chúng tôi đã khởi sự tiến trình cấp giáo phận cho án phong chân phước của hai ngài.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng các giáo xứ của chúng tôi thường xuyên tổ chức hành hương đến phần mộ các nhà truyền giáo với lòng biết ơn sâu xa. Nhiều vị được an táng tại Việt Nam; các ngài đã hiến trọn đời mình như những nhà truyền giáo “ad vitam”.
Chúng tôi thực sự xúc động và cảm thấy tình yêu thương sâu đậm khi đứng trước phần mộ các nhà truyền giáo. Các ngài đã để lại cho chúng tôi một chứng tá đức tin sống động.
Ảnh hưởng của các nhà truyền giáo tại Việt Nam rất sâu rộng, không chỉ trên bình diện tâm thức mà còn trong văn hóa và cơ cấu của Giáo hội Việt Nam. Trên hết, chúng tôi biết ơn các ngài vì nhờ sự hiện diện của các ngài mà chúng tôi nhận được hồng ân đức tin.
CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI HÔM NAY?
Người Công giáo Việt Nam nói chung rất tự hào và biết ơn các vị tử đạo. Điều đó thể hiện rõ nơi các cộng đoàn Công giáo Việt Nam hải ngoại tại châu Âu, Hoa Kỳ và nhiều nơi khác.
Khi thành lập cộng đoàn hay xây dựng nhà nguyện, người ta thường chọn tên Các Thánh Tử đạo Việt Nam hoặc Đức Mẹ La Vang.
Chúng tôi có lòng tôn kính sâu xa đối với các Thánh Tử đạo Việt Nam, vì thế trên khắp đất nước có vô số đền thánh được dựng lên tại quê hương hay nơi các ngài chịu tử đạo.
Hãy hình dung rằng trong suốt 200 năm biến động và bách hại, ước tính đã có khoảng 130.000 vị tử đạo Việt Nam. Thậm chí có cả những ngôi làng tử đạo: những người bị thiêu sống chỉ vì tin vào Đức Kitô.
Trong số đó, 117 vị đã được tuyên thánh năm 1988 và một vị được tuyên chân phước năm 2000.
Hiện nay, một trung tâm hành hương mới kính Các Thánh Tử đạo đang được hoàn thành tại Hà Nội. Công trình sẽ hoàn tất vào cuối năm 2026 và sẽ được khánh thành vào năm sau, nhân kỳ họp đầu tiên của Hội đồng Giám mục.
Năm 2027 đánh dấu kỷ niệm 400 năm ngày Alexandre de Rhodes đến Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay.
Linh đạo của các vị tử đạo là lòng trung thành với Thiên Chúa. Chúng tôi cố gắng truyền đạt cho các tín hữu rằng tuy ngày nay không còn bách hại như trước, nhưng lòng trung thành ấy vẫn không thay đổi.
Trong xã hội hiện đại, nơi chủ nghĩa tiêu thụ và tục hóa có thể khiến con người xa rời Thiên Chúa, tinh thần của các vị tử đạo – sự trung tín trong đức tin – càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
ĐỨC MẸ LA VANG CÓ Ý NGHĨA ĐẶC BIỆT NHƯ THẾ NÀO ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM?
La Vang là tên một địa danh ở miền Trung Việt Nam, nơi hơn 200 năm trước nhiều tín hữu đã chạy trốn vào rừng để tránh các cuộc bách hại. Theo một số giả thuyết, tên gọi “La Vang” xuất phát từ loại lá có trong khu rừng ấy.
Trong lúc các tín hữu cầu nguyện kinh Mân Côi, Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra với họ. Mẹ khích lệ họ hãy trung thành và nói: “Mẹ luôn ở cùng các con.” Đồng thời, Mẹ hứa rằng mọi ai đến nơi ấy cầu nguyện sẽ được nhận lời.
Từ đó, La Vang dần trở thành trung tâm hành hương Đức Mẹ nổi tiếng trên toàn quốc.
Hơn hai mươi năm trước, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã quyết định thực hiện tượng Đức Maria mang nét mặt và y phục Việt Nam. Một trong những pho tượng đầu tiên đã được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II làm phép trước khi được tôn kính tại Việt Nam.
Ý nghĩa thiêng liêng của nơi này gắn liền với lòng sùng kính Đức Maria rất sâu đậm nơi người dân Việt Nam. Người Việt có tình yêu đặc biệt dành cho Đức Mẹ, bởi hình ảnh người mẹ trong văn hóa Việt Nam là biểu tượng của sự hy sinh, bền bỉ và tình yêu vô điều kiện – nền tảng của gia đình và xã hội.
Không chỉ người Công giáo cầu nguyện với Đức Mẹ, mà ngay cả nhiều người Phật giáo cũng cảm thấy sự gần gũi đặc biệt với Mẹ.
Truyền thống thi ca và văn chương Việt Nam rất phong phú với những bài ca và lời thơ về hình ảnh người mẹ. Chính vì thế, việc các tín hữu tìm đến với Đức Maria để bày tỏ lòng sùng kính và xin ơn đã trở thành một truyền thống sâu đậm. Họ đến với Mẹ để được Mẹ dẫn đưa đến với Đức Kitô.