01/04/2026
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ VÀ CÔNG NGHIỆP HÀNH ĐẠO MỘT SỐ VỊ HIỀN TÀI BAN THẾ ĐẠO
Kỳ 2: Hiền Tài NGUYỄN LONG THÀNH (1942-1998)
Ở vùng đất Long Phụng, quận Cần Giuộc, tỉnh Long An nơi ruộng đồng hiền hòa, tình người chất phác vào ngày mồng 08 tháng 02 năm Nhâm Ngọ (nhằm thứ ba, ngày 24 tháng 03 năm 1942, trong khai sinh ghi 29-03-1942), ông Nguyễn Long Thành chào đời trong một gia đình làm nghề nông. Ông là con trai thứ của ông Nguyễn Văn Kiến (sinh năm 1913) và bà Phan Thị Vỉ (sinh năm 1914), lớn lên trong nếp sống cần lao mà sớm có chí học hành.
Từ năm 1949 đến 1954, ông theo học tại Trường Tiểu học Rạch Núi, Cần Giuộc, Long An. Tiếp đó, từ năm 1954 đến 1958, ông học tại Trường Tư thục Tấn Thành, xã Long An, Cần Giuộc. Năm 1958, ông thi đậu vào Trường Công lập Petrus Ký, một trong những trường danh tiếng bậc nhất Sài Gòn thời bấy giờ, và đến năm 1961 thì đỗ tú tài toàn phần.
Từ năm 1961 đến 1963, ông là sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn. Sau đó, trong khoảng 1963 đến 1965, ông làm thư ký thống kê tại Bộ Y tế Sài Gòn. Con đường đời lúc bấy giờ tưởng chừng đã định theo hướng học hành và công chức, nhưng cơ duyên tâm linh lại sớm mở lối.
Vào ngày mồng 06 tháng 02 năm Giáp Dần (nhằm 19-03-1964 dương lịch), ông phát tâm ngộ Đạo, nhập môn vào Đạo Cao Đài tại Thánh Thất Đô Thành (891 Trần Hưng Đạo, Sài Gòn). Từ đó, một thanh niên trí thức với áo dài trắng, khăn đóng đen, đã dấn bước vào con đường Đạo giữa chốn phồn hoa đô hội. Ông tích cực tham gia Ban Chức Việc với phẩm Thông Sự, tận tâm lo việc Đạo ngay từ buổi đầu.
Năm 1965, ông thi đậu vào Đại học Sư phạm Sài Gòn (ban Anh văn – khóa cấp tốc). Đến năm 1966, ông tốt nghiệp, đỗ hạng ba, được quyền ưu tiên chọn nơi dạy học. Thay vì chọn nơi gần Sài Gòn, ông lại quyết định về Trung học Tây Ninh, bởi nơi đây gần Tòa Thánh, thuận tiện vừa dạy học vừa tu hành, đúng với tâm nguyện làm môn đệ Đức Chí Tôn. Chính trong giai đoạn này, ông đã viết bài thi như một lời tiên liệu cho con đường phụng sự của mình.
Đến thượng tuần tháng 02 dương lịch năm 1967, một sự kiện đặc biệt xảy ra: trong đêm, ông thấy Thiên Nhãn hiện sáng lòa bốn lần ngay nơi giường ngủ. Sáng hôm sau, ông thuật lại với ông Giáo Hữu Thượng Tý Thanh, và được giải rằng theo kinh nghiệm tâm linh, đó là dấu hiệu được Đức Chí Tôn điểm Đạo, giao cho sứ mạng bí truyền để phổ độ chúng sanh.
Từ đó, ông phát nguyện ăn chay trường suốt đời, sống độc thân, dốc trọn tâm trí vào con đường phụng sự. Ông đạt được phép thông công bằng giáng tâm, thường xuyên tiếp nhận sự hướng dẫn giáo hóa của Đức Lý Đại Tiên, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và các Đấng trọn lành. Trước hết, ông được dạy phải nghiên cứu kỹ Pháp Chánh Truyền và Tân Luật, để việc làm và lời nói không sai với nền Chơn Giáo Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Kế đó, ông được yêu cầu học thuộc toàn bộ Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo. Chỉ trong vòng một tháng, ông đã học thuộc tất cả các bài kinh, vượt qua thử thách về ý chí và tâm lực.
Dù bước vào con đường tâm linh sâu xa, nhưng bên ngoài, ông vẫn giữ nếp sống bình thường, làm tròn bổn phận của một người thầy. Ông luôn giữ được sự quân bình giữa thần trí và xác thân, không để rơi vào trạng thái mê loạn. Tánh tình ông ôn nhu, hòa ái, khiêm tốn, suốt đời không thấy phiền giận một ai. Những người từng sống gần hoặc tiếp xúc đều nhận rõ điều đó. Ông còn hướng dẫn anh chị em trong gia đình nhập môn vào Đạo, và cảm hóa nhiều người hữu duyên bước vào con đường tu học.
Đến ngày 01-12-1976, ông bị câu lưu và trải qua hơn 4 năm tại các trại B4, Cây Cầy và trại cải tạo Bàu Cỏ, cho đến ngày 02-04-1981 thì được trả tự do. Trong suốt thời gian thử thách này, ông vẫn giữ vững đức tin, vẫn ăn chay trường, vẫn tiếp tục tu hành. Sau khi trở về, ông tiếp tục sống và tu tại Tòa Thánh Tây Ninh cho đến cuối đời.
Suốt cuộc đời phụng sự, ông đi trọn ba con đường: ngoài xã hội, ông là người thầy tận tâm, âm thầm giúp đỡ người nghèo; trong Đạo, ông thuyết giảng giáo lý tại văn phòng Khảo Cứu Vụ Tòa Thánh Tây Ninh, tổ chức dạy giáo lý tại các trường Đạo Đức Học Đường và Lê Văn Trung, và từ năm 1971 đến 1998, ông đã viết 12 tác phẩm về Đạo Cao Đài như: Con đường của người Đệ Tử Cao Đài, The Path of Cao Đài Disciple, 24 giờ Đạo, Danh hiệu và tiêu chuẩn lập pháp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Thánh Ngôn yếu lược, Đời sống người Tín đồ Cao Đài, Quan niệm tu chơn, Nhìn lại 50 năm lịch sử Đạo Cao Đài, Luận Đạo sưu tập, Thánh Ngôn tuyển tập, Đường vào cõi tục, Đời người, Bí pháp. Về phương diện tâm linh, ông nâng đỡ và khai mở tâm thức cho những người hữu duyên gặp gỡ.
Về vật chất, ông gần như không có gì riêng, chỉ vài bộ đồ thay đổi, sống nhờ nhà người thân; nhưng về tinh thần, ông là người giàu có giàu ở chỗ tâm linh, ở chỗ hiểu và sống trọn với Đạo. Ông từng viết:
“Một mình một bóng giữa đêm đông,
Khép kín tư phòng để trống không,
Không, không tất cả đều không cả,
Không cả cuộc đời Đạo pháp thông.”
Đến 15 giờ ngày 19 tháng 4 năm Mậu Dần (nhằm 14-05-1998 dương lịch), ông thanh thản rời cõi tạm, trở về cõi vĩnh hằng.
Dẫu biết đời là cõi tạm, nhưng sự ra đi của ông Nguyễn Long Thành vẫn để lại trong lòng người sau nhiều niềm tiếc thương. Tuy vậy, hơn cả nỗi buồn, đó là hình bóng của một con người đã sống trọn đạo làm người, trọn lòng với Đạo, và trọn nghĩa với Đức Chí Tôn như một ngọn đèn lặng lẽ soi đường cho những ai còn đang tìm lối giữa bến mê.
Ngày 30/3/2026
Người Phước Thiện biên soạn