15/03/2024
BAN SOẠN THẢO
Chủ biên
ĐGM. Giuse Đỗ Mạnh Hùng, Chủ Tịch UBMVDD.
Cố vấn
Đ.G.M. Tôma Nguyễn Văn Trâm, GP. Bà Rịa.
Đ.G.M. Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn, GP. Bà Rịa.
Đ.G.M. Luy Nguyễn Anh Tuấn, TGP. Sài gòn.
Đ.G.M. Đaminh Nguyễn Văn Mạnh, GP. Đà Lạt.
Lm. Gioan Bùi Thái Sơn, Đại diện Tư pháp TGP. Sài gòn.
Lm. JB. Lê Ngọc Dũng, Đại Diện Tư Pháp GP. Nha Trang.
Lm. Giuse Đậu Quang Luật, O.F.M, chuyên viên Giáo Luật.
Điều hành
Lm. Giuse Đào Nguyên Vũ, S.J, TTK UBMVDD.
Thành viên
Quý Linh mục đặc trách di dân các Giáo phận.
Ban biên tập
Nt. Anne Vũ Thị Kim Dung, F.M.S.R, TK UBMVDD.
Lm. Giuse Trần Thiện Nguyễn, C.S, TK UBMVDD.
Anh Giuse Phan Trần Huy Hoàng, Trợ lý TT UBMVDD.
—–
1 Xem Từ Điển Công giáo, HĐGMVN, UB Giáo lý đức tin, Ban từ vựng Công giáo, trang 906.
2 Xem Từ Điển Công giáo, HĐGMVN, UB Giáo lý đức tin, Ban từ vựng Công giáo, trang 907.
3 Xem Công đồng Vaticanô II, Gravissimum Educationis 2 (Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo); GL. 217.
4 Xem Công đồng Vaticanô II, Lumen Gentium 31, 33 (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội); Apostolicam Actuositatem 2- 4 (Sắc lệnh Tông đồ giáo dân); Ad Gentes 21, 36 (Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền giáo); GLHTCG s. 1270; GL. 225 §1, §2.
5 Xem Công đồng Vaticanô II, Lumen Gentium 37 (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội); Presbyterorum Ordinis 9 (Sắc Lệnh Chức vụ và đời sống linh mục); GL. 213.
6 Xem Công đồng Vaticanô II, Ad Gentes 11 (Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền giáo); GLHTCG s. 2221-2226; GL. 226 §1, §2.
7 Xem Công đồng Vaticanô II, Gaudium et Spes 32, 49, 61 (Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay); GL. 208.
8 Xem Công đồng Vaticanô II, Apostolicam Actuositatem 10 (Sắc lệnh Tông đồ giáo dân).
9 Xem Công đồng Vaticanô II, Apostolicam Actuositatem 8, 10, 21 (Sắc lệnh Tông đồ giáo dân); Ad Gentes 36 (Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền giáo); GL. 209 §1, §2, 222 §1, §2; Gaudium et Spes 11-13, 23, 30 (Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay), Lumen Gentium (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội).
10 Tùy theo nhận định của linh mục chính xứ mà thời gian dự tòng có thể được đặc cách nhưng cần đảm bảo rằng mục đích của việc học giáo lý là để hiểu và thấm nhuần tinh thần Kitô giáo chứ không phải là một thủ tục hành chánh có thể tiến hành cách hời hợt.
11 Xem Công đồng Vaticanô II, Lumen Gentium 11 (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội).
12 Xem TYGLHTCG s. 248; GLHTCG s. 1250-1251; Gaudium Et Spes 48 (Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay), Lumen Gentium 11, 41 (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội); GL. 867.
13 Xem GL. 854, 861.
14 Khuyến khích chứ không bắt buộc vì cư sở hay bán cư sở thủ đắc theo luật chứ không do việc đăng ký với linh mục chính xứ (xem GL. 96 và 102§1, §2, §3).
15 Xem Tông Hiến Exsul Familia Nazarethana 32.
16 Xin tham khảo các mẫu đơn trong phần phụ lục.
17 Xem HDMVDD 23-27.
18 Xem HDMVDD, 31-36.
19 Tham khảo phụ lục mẫu xác nhận nhân thân linh mục.
20 Xem Công đồng chung Vaticanô II, Lumen Gentium 10-11a, 18, 37a (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội).
21 Xem GL. 276 §2.10, 1177 §3.
22 Bộ Giáo Lý Đức Tin, Instr. Pastoralis actio, 20 oct. 1980, 30-31; GL. 868.
23 Xem GLHTCG 1250; GL. 867.
24 Xem GL. 1071 §1.
25 Giáo xứ hay cộng đoàn mục vụ đối nhân được áp dụng cho những Kitô hữu khác biệt với giáo phận sở tại về: ngôn ngữ, sắc tộc hay lễ nghi Phụng tự.
26 Xem GL. 1115.
27 Xem GL. 137 §4.
28 Chuẩn bị cho bí tích Hôn Nhân 35, Ủy ban Giáo Hoàng về gia đình, phát hành ngày 13-5-1996.
29 Giáo luật mới không quy định cử hành hoặc ưu tiên cử hành Hôn Phối tại giáo xứ bên nữ.
30 Giáo luật không nói xin phép linh mục chính xứ hay Bản Quyền của cả hai bên nam và nữ hay chỉ một bên. Beal chú giải là chỉ cần của một bên, X. BEAL J.P. et alii, 1333.
31 Để tránh những trường hợp đã đăng ký kết hôn dân sự, mà linh mục chính xứ lại không thể cử hành hôn phối được vì có ngăn trở. Ngoài ra, vì ích lợi mục vụ và theo văn hóa gia đình Việt Nam, khi đến gặp linh mục chính xứ, nên có sự hiện diện của cha mẹ đôi bên, hoặc ít là của cha hoặc mẹ. Trường hợp cha mẹ ở xa, có thể cho số điện thoại để liên lạc nhờ đó có thể giúp lượng định sự trung thực của đôi bạn cách đầy đủ rõ ràng hơn.
32 Ví dụ: Anh A và chị B, đang sinh sống tại Mỹ, muốn xin cử hành hôn phối tại Việt Nam, nếu linh mục chính xứ tại Việt Nam chấp nhận cho cử hành tại giáo xứ mình thì có hai trường hợp lưu ý: (1) Linh mục chính xứ tại Việt Nam lo thành lập hồ sơ; (2) linh mục chính xứ ở Mỹ gởi hồ sơ đến linh mục chính xứ Việt Nam để tiến hành hồ sơ hôn nhân.
Trong trường hợp (1) linh mục chính xứ tại Việt Nam cần phải có giấy cho phép cử hành hôn nhân của linh mục chính xứ nơi anh A và chị B cư ngụ; và tiến hành các bước điều tra và lập hồ sơ thông thường nếu người đó cư ngụ chưa được một tháng, của linh mục chính xứ hay Bản Quyền riêng của họ và cha lo lập thủ tục hồ sơ bằng cách yêu cầu họ xin các chứng nhận cần thiết hay ngay cả tra vấn kết hôn nơi linh mục chính xứ của họ và các giấy tờ dân sự cần thiết khác. Nếu có ngăn trở mà có thể chuẩn được, Bản Quyền của họ hoặc Bản Quyền nơi cử hành đều có thể ban miễn chuẩn. Nếu muốn tha rao thì linh mục chính xứ xin tha rao theo quy định thông thường.
33 Lý do khác biệt là vì một số quốc gia công nhận việc chứng hôn của linh mục có giá trị luật.
34Xem Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thông cáo về việc tôn kính Ông bà Tổ tiên và các bậc Anh hùng liệt sĩ, 20.10.1964; Hội nghị Nha Trang, 14.11.1974, trong văn phòng Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Giáo Hội Công giáo Việt Nam, Niên giám 2004, Hà Nội 2004, “Giáo Hội Việt Nam với việc thờ kính tổ tiên”, tr. 487-490.
35 Xem BEAL J.P. et alii, New Commentary on the Code of Canon Law, Paulist Press, New York 2000, 1127.
36 Xem BEAL J.P. et alii, New Commentary on the Code of Canon Law, Paulist Press, New York 2000, 1128.
37 Xem Mt 28, 19-20; GLHTCG 1223.
38 Xem Erga migrantes caritas Christi 80-85.
39 Xem De Pastorali Migratorum Cura 53,2.
40 Theo luật quốc gia Việt Nam, kết hôn có yếu tố nước ngoài, đôi bạn cần có hồ sơ sau:
– Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu
– Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam, và giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó là người không có vợ hoặc không có chồng
– Giấy khám sức khỏe
– Bản sao Hộ chiếu và các giấy tờ có giá trị như giấy thông hành hoặc thẻ cư trú đối với công dân nước ngoài
– Bản sao sổ Hộ khẩu đối với công dân Việt Nam cư trú trong nước
(x.Nghị định 24/2013/NĐ-CP Hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài)
41 Nếu là người VN đang ở nước ngoài, do tạm trú, mới nhập cư … mà không thể có giấy chứng nhận của chính quyền nước đó thì buộc phải có giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân của chính quyền VN hay Đại Sứ Quán VN tại nước đó.
42 Khi có lý do chính đáng, ít nhất phải có giấy hẹn của Sở Tư Pháp. Trường hợp nghi ngờ khả năng bảo lãnh để có thể chung sống, thì phải có giấy nhập cảnh (visa)
Thủ tục đăng ký kết hôn tại Vỉệt Nam trải qua những giai đoạn sau:
– Bước 1: Các bên tiến hành nộp hồ sơ đăng ký kết hôn tại tư pháp
– Bước 2: Sở Tư pháp sẽ tiến hành phỏng vấn hai bên nam, nữ để làm rõ về nhân thân và sự tự nguyện kết hôn của hai bên nam, nữ
– Bước 3: Sở Tư pháp tiến hành thẩm tra hồ sơ, sau đó báo cáo kết quả và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định ký giấy chứng nhận đăng ký kết hôn
– Bước 4: Sở Tư pháp tiến hành lễ đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ
43 Giấy này có thể không buộc phải có nếu không thể có được. Như ở một số giáo xứ bên Mỹ, linh mục chính xứ từ chối cấp giấy giới thiệu vì không biết rõ về tình trạng của giáo dân
44 Nếu có khó khăn về ngôn ngữ, nên nhờ một cha khác giúp một số vụ việc, như hướng dẫn về giáo lý hôn nhân cho người ngoài Công giáo ngoại quốc, thẩm vấn về nhân thân và tình trạng hôn nhân…
45Không được rút gọn thời gian dự tòng với lý do là chỉ được tạm trú ở Việt Nam trong thời gian ngắn. Có thể chấp nhận cho họ học và theo đạo tại quốc gia quê hương họ và sau đó có giấy giới thiệu của linh mục chính xứ nơi họ ở. Cũng nên biết, một số giáo phận ở VN có thông báo là không chấp nhận cho miễn chuẩn hôn nhân dị giáo hay cho hưởng đặc ân thánh Phaolô khi kết hôn với người ngoại kiều.
46Thời các Tông đồ, họ là những người tân tòng, nghe rao giảng và đã theo đạo
47Có lẽ vì không muốn vợ hay chồng mình là Kitô hữu hoặc chống lại việc giữ đạo. Do đó bên người ngoài Công giáo được hỏi là có muốn sống chung mà không xúc phạm đến Chúa không? Trong trường hợp người ngoài Công giáo vẫn muốn sống chung, nhưng chống lại việc giữ đạo của bên Công giáo thì Giáo luật vẫn kể là chia tay
48 Giấy ly dị dân sự không thay thế được cho việc chất vấn. Nếu không chất vấn và cũng không xin phép miễn chất vấn, hôn nhân vô hiệu.
49 Trả lời của Bộ GLĐT, 30-8-1976, CLD 8, 837-840.
50Ví dụ: Anh A và chị B, cả hai đều không Công giáo, cưới nhau. Sau một khoảng thời gian chung sống, anh A được ơn hoán cải và muốn chịu Phép Rửa để gia nhập Công giáo. Nhưng chị B không đồng ý khiến đời sống vợ chồng lục đục. Anh A chịu Phép Rửa và chị B quyết định ly hôn. Trong trường hợp này, anh A và một người Công giáo hoặc không Công giáo khác có thể cưới nhau với phép của Bản Quyền địa phương [Đức Giám Mục Giáo Phận].
51Ví dụ: Anh A và chị B, cả hai đều không Công giáo, cưới nhau. Sau một khoảng thời gian chung sống, anh A được ơn hoán cải và muốn chịu Phép Rửa để gia nhập Công giáo. Chị B không đồng ý. Dù không ly hôn nhưng sau khi anh A chịu Phép Rửa, chị B luôn lớn tiếng xúc phạm đến Chúa khiến cho đời sống của hai vợ chồng không thể tốt đẹp được. Họ quyết định ly hôn. Trong trường hợp này, anh A và một người Công giáo hoặc không Công giáo khác có thể cưới nhau với phép của Bản Quyền địa phương [Đức Giám Mục giáo phận].
52Ví dụ 1: Anh A và chị B, cả hai đều không Công giáo, cưới nhau. Sau một khoảng thời gian chung sống, anh A, vì muốn cưới cô C là người Công giáo, nên đã xin gia nhập Công giáo, rồi về kiếm cớ gây gỗ, khiến cô B phải ly hôn anh để anh có thể cưới cô C. Hoặc anh A kiếm cớ gây gỗ khiến cô B phải ly hôn, rồi sau đó anh A xin Rửa Tội gia nhập Công giáo để cưới cô C. Đây là điều không được phép và đặc ân Phaolô không áp dụng trong trường hợp này.
Hoặc:
Ví dụ 2: Anh A và chị B, cả hai đều không Công giáo, cưới nhau. Sau một khoảng thời gian chung sống, anh A muốn chịu Phép Rửa để gia nhập Công giáo. Chị B không có ý kiến gì và đời sống của họ không có gì trục trặc. Nhưng không lâu sau đó, anh A, vì muốn cưới chị C là người Công giáo, nên về nhà kiếm cớ gây chuyện để ép chị B phải ly hôn. Đây là điều không được phép và đặc ân Phaolô không áp dụng trong trường hợp này.
53Ví dụ: Chị B trong các ví dụ trên, hỏi xem chị ta có muốn chịu phép rửa giống người kia (anh A) không hoặc ít ra là có muốn sống hòa thuận với anh A mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa không?