01/07/2026
TƯỞNG NIỆM 52 NĂM NGÀY HÒA THƯỢNG THIỆN CHIẾU VIÊN TỊCH (1974 – 2026)
Hướng về ngày 17 tháng 5 Âm lịch hằng năm – ngày truyền thống mà Chùa Pháp Hoa (quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh) luôn trang nghiêm cử hành lễ tưởng niệm húy kỵ Hòa thượng Thiện Chiếu – năm nay, nhân kỷ niệm 52 năm ngày Ngài viên tịch, chúng ta cùng thành kính ôn lại cuộc đời và sự nghiệp của một bậc chân tu yêu nước, một nhà cải cách Phật giáo tiên phong, một chiến sĩ cách mạng kiên trung đã trọn đời phụng sự Đạo pháp và Dân tộc.
Tinh thần nhập thế mạnh mẽ cùng chí nguyện cứu nước, cứu dân của Hòa thượng đã để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, phản ánh tư tưởng nhập thế quyết liệt của một người con Phật luôn đặt lợi ích của nhân dân và đất nước lên trên hết.
Hòa thượng Thiện Chiếu (1898 – 1974), tên thật là Nguyễn Văn Giảng (Nguyễn Văn Tài), bút hiệu Xích Liên, quê tại xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. Xuất gia từ thuở thiếu thời tại chùa Linh Tuyền dưới sự giáo dưỡng của Hòa thượng Huệ Tịnh, Ngài không chỉ tinh thông Hán học mà còn sớm tiếp cận Tây học và nuôi dưỡng tinh thần yêu nước.
Bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Ngài là cơ duyên được gặp cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lời căn dặn của cụ: “Muốn đánh đuổi được giặc thì phải hiểu giặc, tuổi còn trẻ cố học cho giỏi Pháp văn.” cùng cuốn từ điển Pháp – Việt được trao tặng ngày ấy đã góp phần hun đúc nên tư tưởng của một nhà cải cách Phật giáo lớn sau này.
Năm 1923, khi đảm nhiệm trụ trì chùa Linh Sơn (Sài Gòn), Hòa thượng đã biến ngôi chùa trở thành một trung tâm sinh hoạt Phật giáo giàu tinh thần đổi mới. Tại đây, Ngài biên soạn tác phẩm “Phật hóa tân thanh niên”, kêu gọi tăng ni trẻ vừa tinh thông Phật học vừa am hiểu tri thức xã hội để dấn thân phụng sự nhân sinh và đất nước.
Mặc dù liên tục bị chính quyền thực dân đàn áp, trục xuất khỏi nhiều ngôi chùa như Chúc Thọ, Hanh Thông Tây, Hưng Long…, Hòa thượng vẫn không ngừng thuyết giảng, trước tác và công khai đấu tranh trên mặt trận báo chí.
Năm 1926, Ngài cùng nhiều vị tăng sĩ tiến bộ tổ chức lễ truy điệu chí sĩ Phan Chu Trinh.
Sau đó, Ngài là một trong những người đồng sáng lập Hội Nghiên cứu Phật học, Hội Chấn hưng Phật giáo Nam Kỳ và là cây bút chủ lực của báo Tiến Hóa, góp phần khơi dậy phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Bộ.
Mang tinh thần nhập thế tích cực, năm 1928, Hòa thượng tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và đến năm 1930 chính thức trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngài được biết đến là vị tăng sĩ đầu tiên đứng trong hàng ngũ của Đảng, trực tiếp xây dựng nhiều cơ sở cách mạng ngay trong các ngôi chùa ở Nam Kỳ.
Năm 1936, tại chùa Tam Bảo (Rạch Giá), cùng với Hòa thượng Trí Thiền, Ngài sáng lập Hội Phật học Kiêm tế, mở cô nhi viện nuôi dưỡng hàng trăm trẻ em, đồng thời nơi đây cũng trở thành một điểm liên lạc bí mật của phong trào cách mạng.
Năm 1940, Hòa thượng vận động Phật tử tham gia Khởi nghĩa Nam Kỳ, tổ chức chế tạo vũ khí tại chùa Tam Bảo.
Năm 1943, Ngài bị thực dân Pháp bắt giam và đày ra Côn Đảo.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hòa thượng trở về đảm nhiệm cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính - Kháng chiến tỉnh Gò Công, rồi tiếp tục hoạt động trong chiến khu trên lĩnh vực tuyên huấn.
Sau năm 1954, Ngài tập kết ra miền Bắc, tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học, văn hóa và dịch thuật với cương vị chuyên gia khảo cứu tại Nhà xuất bản Ngoại văn Bắc Kinh và chuyên viên nghiên cứu triết học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam.
Bên cạnh sự nghiệp cách mạng, Hòa thượng còn để lại nhiều công trình Phật học có giá trị như: Chân lý của Tiểu thừa và Đại thừa Phật giáo, Tại sao tôi đã cảm ơn đạo Phật, Phật học vấn đáp, cùng các bản dịch Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Pháp Cú… Đồng thời, Ngài cũng là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học Nga nổi tiếng như Họ đã chiến đấu vì Tổ quốc, Tính cách Nga…
Năm 1974, Hòa thượng viên tịch tại Hà Nội, trụ thế 76 năm.
Đến năm 1993, nhục thân của Ngài được cung thỉnh về hỏa thiêu và tôn trí trang nghiêm tại Chùa Pháp Hoa (nay thuộc phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh).
Phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, hằng năm vào ngày 17 tháng 5 Âm lịch, Chư Tôn đức Chùa Pháp Hoa cùng chư Tôn đức trong tông phong và đông đảo thiện nam tín nữ, Phật tử đều trang nghiêm cử hành lễ húy kỵ, dâng hương tưởng niệm, tri ân công hạnh to lớn của Hòa thượng đối với Đạo pháp và Dân tộc.
Trải qua 52 năm kể từ ngày Hòa thượng viên tịch, thân tứ đại đã trở về với cát bụi, nhưng đạo hạnh, chí nguyện nhập thế và tinh thần phụng sự Đạo pháp – Dân tộc của Ngài vẫn luôn tỏa sáng cùng năm tháng. Cuộc đời của Hòa thượng Thiện Chiếu mãi là tấm gương về trí tuệ, lòng yêu nước, tinh thần dấn thân và hạnh nguyện phụng sự chúng sinh, tiếp tục soi sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau trên con đường phụng sự đạo pháp, phụng sự dân tộc và lợi lạc quần sinh.
Nam Mô Lịch Đại Tổ Sư Tác Đại Chứng Minh.