Chùa Phước Thạnh Quận Tân Phú TPHCM

Chùa Phước Thạnh Quận Tân Phú TPHCM Thiên thượng thiên hạ,
Duy ngã độc tôn. Nhất thiết thế gian,
Sinh lão bệnh tử Đạo tràng là nơi sinh hoạt của các phật tử trong khu vực.

TỰ THƯƠNG LẤY MÌNHTrong cuộc sống, rất nhiều khi tâm hồn thật mỏi mệt. Sống ở đời, có nhiều lúc thấy đau tận đáy lòng. L...
19/02/2019

TỰ THƯƠNG LẤY MÌNH

Trong cuộc sống, rất nhiều khi tâm hồn thật mỏi mệt. Sống ở đời, có nhiều lúc thấy đau tận đáy lòng. Lúc mỏi mệt chỉ muốn có bờ vai để dựa vào; khi đau đớn chỉ mong nghe thấy một câu an ủi.

Thông thường khuyên người khác rất dễ dàng, tới phiên mình mới cảm thấy bối rối. Vật ngoài thân thì nhận định rõ ràng, đến tình cảm lại không thể tỉnh táo.

Ai cũng mong khi mình khóc sẽ có người vỗ về, lúc mệt mỏi có nơi để nương tựa, gặp vất vả có người quan tâm đến, thời gian lâu vẫn có kẻ nhớ thương,... Nhưng chúng ta đều hiểu: Cuộc sống là tự mình lo, nước mắt cũng tự mình lau, mưa gió tự che chắn lấy, hương vị tự mình cảm nhận.

Người bản lĩnh đến đâu cũng có lúc không vững, lòng kiên định thế nào cũng có khi bị trúng thương. Nếu mệt rồi thì phải biết nghỉ ngơi, tim đủ đau thì nhanh tay buông bớt.

Kiềm nén lâu ngày cũng nên nói ra một lần, chất chứa quá nhiều thì cũng cần bày tỏ, ấm ức quá sâu hãy cứ khóc một trận. Vì nếu không bộc bạch, ai biết bạn áp lực nặng mức nào; không nói ra, ai hiểu hết những khó khăn bạn gặp phải; không chia sẻ, ai hay đâu những cảm nhận bạn đeo mang...

Mệt rồi thì nghỉ ngơi, vất vả quá thì điều chỉnh lại, nhịn nhiều rồi cũng nên nói bớt ra. Trên thế gian này, nếu không biết tự thương mình, còn chờ ai thương bạn?

(Suối Thông biên dịch)

THỨC TỈNHKiếp trước không tu mới chịu nghèoKiếp này khổ não đó đeo theo.Người sao thông thả còn dư dảNghĩ lại phận mình ...
13/02/2019

THỨC TỈNH
Kiếp trước không tu mới chịu nghèo
Kiếp này khổ não đó đeo theo.
Người sao thông thả còn dư dả
Nghĩ lại phận mình túi vắng teo.
Trồng đậu phộng thì bòn đậu phộng
Trồng dưa leo thì hái dưa leo.
Ấy là công quả mỗi người đó
Niệm Phật ăn chay tiêu mất nghèo.

Kiếp trước có tu mới được giàu
Kiếp này hưởng phước lại quên sao ?
Sống lo bòn mót cho đầy túi
Chết có đeo theo được chút nào.
Con cháu dẫu thương cúng bảy thất
Vô thường cứ việc bỏ đề lao.
Ráng lo niệm Phật để dành đó
Niệm Phật ăn chay chẳng tốn hao.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

ĐẠI BI CHÚChú Đại Bi được rút ra từ Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni của Phật Quán Thế Âm, gọi tắt là Chú Đại Bi. Chú Đại Bi có ...
12/02/2019

ĐẠI BI CHÚ
Chú Đại Bi được rút ra từ Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni của Phật Quán Thế Âm, gọi tắt là Chú Đại Bi. Chú Đại Bi có thảy là 84 câu, 415 chữ.
Chú Đại Bi thường được sử dụng trong các nghi thức tụng niệm phổ thông.

Lễ khai giảng khóa học hè tại Chùa Phước Thạnh năm 2018.
03/06/2018

Lễ khai giảng khóa học hè tại Chùa Phước Thạnh năm 2018.

Chùa Phước Thạnh long trọng tổ chức Đại Lễ Phật Đản PL 2562 - DL 2018.
29/05/2018

Chùa Phước Thạnh long trọng tổ chức Đại Lễ Phật Đản PL 2562 - DL 2018.

Tất Đạt Đa ra đời năm 624 trước Tây Lịch tại một vương quốc nhỏ ngay dưới chân rặng núi Hy Mã Lạp Sơn. Cha của Ngài là v...
03/05/2017

Tất Đạt Đa ra đời năm 624 trước Tây Lịch tại một vương quốc nhỏ ngay dưới chân rặng núi Hy Mã Lạp Sơn. Cha của Ngài là vua của bộ tộc Thích Ca (Skakya). Mười hai năm trước khi ra đời, các tu sĩ Ấn Giáo đã tiên tri rằng Ngài sẽ là một vị vua vĩ đại hoặc sẽ trở thành một nhà hiền triết lừng danh của thế giới loài người. Vì không muốn Ngài trở thành tu sĩ, cha của Ngài đã giữ Ngài bên trong cung điện. Thái tử Tất Đạt Đa lớn lên trong sự xa hoa của một bậc vua chúa, không được phép nhìn thấy thế giới bên ngoài, được các vũ nữ giúp vui, và được các tu sĩ Bà La Môn dạy học. Thái tử còn học cưỡi ngựa, bắn cung, đánh kiếm, đánh vật, bơi lội… Khi đến tuổi trưởng thành, Thái tử thành hôn với công chúa Gia Du Đà La và có một con trai.

Ngày nay chúng ta có thể nói là Ngài là người có tất cả mọi thứ trên đời, nhưng Ngài cảm thấy mình thiếu một cái gì đó, và chính điều đó đã lôi kéo Ngài ra khỏi những bức tường của cung điện. Ở ngoài đó, trên những đường phố của kinh thành Ca Tỳ La Vệ, Ngài đã trông thấy ba cảnh tượng thông thường nhất đối với mọi người khác: một người bị bệnh, một người già yếu, và một xác chết đang được người ta đưa đi hỏa thiêu. Ngài chưa bao giờ được sửa soạn để chứng kiến những cảnh bi thảm như thế này, cho đến khi người đánh xe nói với Ngài rằng tất cả mọi người đều phải chịu sự già yếu, bệnh tật và chết chóc, Ngài cảm thấy mình không thể nào an tâm sống trong sự xa hoa như trước nữa. Trên đường trở về cung điện, Ngài trông thấy một tu sĩ đang bước đi một cách thong d**g trên đường phố, và Ngài đã quyết định rời khỏi cung điện để đi tìm giải pháp cho vấn đề đau khổ của cuộc đời. Trong đêm khuya Ngài lặng lẽ từ giã vợ con mà không đánh thức họ, rồi phi ngựa đến một khu rừng, nơi đó Ngài đã dùng gươm cắt tóc và thay bộ trang phục vua chúa bằng một chiếc áo tu sĩ đơn sơ. Đó là năm Ngài 29 tuổi, (595 BC).

Với hành vi này Thái tử Tất Đạt Đa đã gia nhập vào hạng người từ bỏ xã hội Ấn Độ để tìm giải thoát. Thái tử đã tìm đến học hỏi với nhiều vị thầy khác nhau, từ những vị theo chủ nghĩa duy vật, cho đến những người theo chủ nghĩa lý tưởng và phái ngụy biện. Từ rừng núi đến thị thành, đâu đâu cũng sôi nổi với những cuộc tranh luận và triết lý. Sau cùng Thái tử đã theo học hai vị Thầy nổi tiếng, vị thứ nhất là Đạo Sư Alara-Kalama, thuộc phái Samkhya (phái Số luận), đang có ba trăm đệ tử theo tu học. Với vị này, Thái tử đã học và đắc ngũ thần thông, đạt đến bậc thiền Vô Sở Hữu Xứ. Nhưng sau đó dù Đạo Sư Arada Kalama mời Ngài ở lại để dạy đạo như một người đồng đẳng với ông, nhưng Ngài thấy đây không phải là pháp giải thoát tối hậu, nên Ngài đã ra đi. Ngài đến học với vị thầy thứ hai là Đạo Sư Uddaka Ramaputta (Uất-đầu-lam-phất), người đang có 700 đệ-tử theo học. Sau vài ngày tu học, Ngài đã chứng được tầng thiền Phi-tưởng phi-phi-tưởng. Nhưng đây không phải là con đường giải thoát sinh tử khổ đau, và Tất Đạt Đa cũng đã quyết định từ giả vị thầy này.

Trong sáu năm, Thái tử Tất Đạt Đa cùng với năm người bạn Kiều Trần Như cùng tu khổ hạnh và thiền định, chỉ ăn một hạt cơm mỗi ngày, lấy tâm trí thi đua với thể xác, và chỉ còn da bọc xương. Khi Ngài quyết định dùng nhiều thực phẩm hơn và không áp dụng pháp tu khổ hạnh nữa, năm người bạn kia đã từ bỏ Ngài. Ngài đến một ngôi làng để khất thực, ở đó một cô gái tên là Sujata mời Ngài dùng một bát cháo sữa với mật ong. Khi sức khỏe phục hồi, Ngài xuống tắm dưới sông Nairanjana (Ni Liên Thiền) rồi ngồi thiền dưới cội Bồ Đề, trên một tấm tọa cụ làm bằng cỏ kusha. Ngài ngồi đó sau khi đã nghe tất cả các vị thầy, học tất cả những kinh sách và thực hành tất cả pháp môn, bây giờ không có gì vướng bận, không có ai để nương tựa, không có nơi nào để đi nữa. Ngài thiền tọa bất động và cương quyết như một quả núi, cho đến bảy ngày sau, Ngài mở mắt ra, trông thấy sao mai vừa mọc trên bầu trời và Ngài hiểu ra rằng mình đã tìm ra cái chưa bao giờ mất, dù là đối với Ngài hay bất cứ một người nào khác trên thế gian này. Vì vậy không có gì để chứng đắc, không có gì để tìm kiếm nữa.

Ngài nói: “ Điều kỳ diệu nhất là sự giác ngộ này vốn là chân tánh của chúng sanh, nhưng họ lại không an lạc vì thiếu nó”. Vậy Thái Tử Tất Đạt Đa đã giác ngộ vào năm ba mươi lăm tuổi (589 BC) và trở thành một vị Phật, tức đấng giác ngộ, được tôn vinh là Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni), tức là nhà hiền triết thuộc bộ tộc Thích Ca.

Trong bảy tuần lễ sau đó, Đức Phật thọ hưởng pháp lạc tự tại giải thoát của chính mình. Lúc đầu Ngài không có ý định nói về sự chứng ngộ của mình, vì Ngài thấy đây là điều khó hiểu đối với phần lớn loài người, nhưng khi Phạm Thiên (Brahma), vị vua của ba ngàn thế giới, thỉnh cầu Ngài thuyết pháp, vì cũng có những người :’’mắt chỉ bị mờ một chút mà thôi”. Đức Thế Tôn đã chấp thuận.

Hai vị thầy của Đức Phật, Udaka và Ramaputra đều đã qua đời trước đó mấy ngày, vì vậy Ngài đi tìm năm người bạn đồng tu khổ hạnh mà trước kia đã rời bỏ mình. Khi thấy Ngài đi tới Vườn Nai ở thành Ba La Nại (Benares), họ làm lơ với Ngài, vì Ngài đã không tiếp tục thực hành khổ hạnh với họ. Nhưng rồi họ thấy có một cái gì tỏa sáng trong sự hiện diện của Ngài, họ đứng lên, sửa soạn chỗ ngồi và lấy nước cho Ngài rửa chân, rồi ngồi xuống nghe Ngài thuyết pháp. Đó là bài pháp đầu tiên của Đức Phật. Đức Phật đã nói bài pháp Tứ Diệu Đế cho các vị này.

Trong Tứ Diệu Đế của Đức Phật, chân lý thứ nhất, Khổ đế, nói rằng bản chất của cuộc đời này là đau khổ và không thỏa mãn, ngay cả những lúc hạnh phúc cũng có mầm móng của khổ đau nếu chúng ta bám giữ vào chúng, hay khi chúng đã đi vào ký ức, chúng vẫn bóp méo hiện tại vì tâm trí của chúng ta cố gắng dựng lại quá khứ một cách tuyệt vọng. Giáo lý của Đức Phật dựa trên sự quan sát trực tiếp đời sống, và là lời phê bình cấp tiến đối với lối suy nghĩ mơ mộng cũng như vô số những lối thoát ly, như chủ nghĩa không tưởng chính trị, môn tâm lý trị liệu, chủ nghĩa hưởng lạc, hay thuyết cứu rỗi hữu thần của thần bí học, đây là điểm chính yếu phân biệt giữa Phật giáo với đa số những tôn giáo khác trên thế giới. Khổ là chân lý thứ nhất và là nền móng để hiểu một cách trọn vẹn chứ không phải để trốn tránh hay để giải thích. Kinh nghiêm về sự khổ, về sự hoạt động của tâm trí, đưa đến chân lý thứ hai là Nguyên Nhân của Khổ (Tập Đế), thường được mô tả là tham muốn lạc thú, nhưng cũng được giải thích một cách căn bản hơn là bám giữ vào sự sống hoặc sự không hiện hữu, tức chấp có và chấp không. Việc nghiên cứu tính chất của sự tham muốn này dẫn đến tâm điểm của chân lý thứ hai, đó là ý tưởng tự ngã hay cái ta, với tất cả những điều mong cầu và những điều lo sợ của nó, và chỉ khi nào hiểu đúng về tự ngã này và thấy nó không có tự tính, không có thật một cách vĩnh cữu), thì mới có thể hiểu chân lý thứ ba, sự diệt khổ (Diệt Đế). Năm tu sĩ nghe bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật ở Vườn Nai trở thành hạt nhân của cộng đồng các tu sĩ PG, tức là Tăng Đoàn (Sangha), là những người đi theo con đường mà Đức Phật đã trình bày trong chân lý thứ tư, con đường đưa đến sự diệt khổ (Đạo Đế), đó là Bát Chánh Đạo, chân chánh trong tám phương diện: ý kiến, ý nghĩ, lời nói, hành vi, nghề nghiệp, nỗ lực, ý thức và thiền định. Các tu sĩ Phật Giáo, tức Tỳ Kheo (Bikkhu), sống rất đơn giản, chỉ có một bình bát, một cái áo, một cây kim, một cái lọc nước, một con dao cạo đầu, đó là dấu hiệu của sự ly gia cắt ái. Họ đi khắp miền đông bắc Ấn Độ, hành thiền một mình hay trong những nhóm nhỏ và khất thực.

Tuy nhiên giáo lý của Đức Phật không chỉ dành cho đoàn thể các tu sĩ, Ngài đã dạy họ truyền bá giáo lý cho mọi người “Này các Tỳ kheo, hãy lên đường, đi khắp nơi vì lợi lạc, vì hạnh phúc của số đông, do lòng từ bi đối với đời, vì lợi lạc và hạnh phúc của trời và người”.

Trong bốn mươi lăm năm, Đức Phật đã đi qua những thôn làng và những thành phố của Ấn Độ, nói bằng ngôn ngữ phổ thông, dùng những lối nói giản dị mà ai cũng có thể hiểu. Ngài dạy dân làng thực hành chánh niệm trong khi kéo nước giếng, và khi một bà mẹ đau khổ ôm xác một đứa con đến xin Ngài cứu cho nó sống lại, Ngài đã không làm một phép lạ mà bảo bà ta mang về cho Ngài một nắm hạt cải của một nhà nào đó không có ai chết trước đó. Sau khi đi tìm, bà ta trở về tay không, nhưng hiểu ra một sự thật rằng cái chết đến với tất cả mọi người.

Khi được nghe nói đến Đức Phật, từ phú gia đến các bậc vua chúa đều phát tâm cúng dường những khu vườn ngự uyển để xây dựng tinh xá. Đức Phật tiếp nhận những khu vườn này, nhưng Ngài vẫn tiếp tục sống như mình đã từng sống từ năm hai mươi chín tuổi: một tu sĩ khất thực và thiền định dưới gốc cây. Bây giờ chỉ có một điều khác là gần như mỗi ngày sau khi thọ trai vào giữa trưa Ngài thuyết pháp. Không có một bài pháp nào được ghi chép lại trong khi Ngài còn tại thế.

Năm 544 (Trước TL), Đức Phật nhập Niết Bàn tại thành Câu Thi Na (Kusinagar) ở tuổi tám mươi sau khi ăn một bữa ăn có nấm. Trong số những người tu tập bên cạnh Đức Phật có những người đau buồn. Đức Phật nằm giữa hai cây Sala, đầu hướng về phương bắc, mình nghiêng về bên phải, bàn tay phải để ngửa lót dưới mặt, tay trái để xuôi trên hông trái, chân trái nằm dài trên chân phải, hơi thở nhẹ nhàng đều đặn. Ngài nhắc với các đệ tử rằng mọi vật đều vô thường và khuyên họ hãy nương tựa vào chính mình và vào giáo pháp. Ngài hỏi có ai muốn hỏi điều gì lần cuối cùng thì hỏi. Sau đó Ngài nói lời di chúc cuối cùng: “Này các đệ tử, hãy nghe Như Lai nói đây: Vạn pháp vô thường, có sinh thì có diệt. Các thầy hãy tinh tấn lên để đạt tới giải thoát”.

Vào mùa mưa đầu tiên sau khi Đức Phật nhập diệt, năm trăm đệ tử Tỳ Kheo hội họp tại một hang núi gần thành Vương Xá để ôn tụng lại những lời dạy của Ngài. Tại cuộc kiết tập Kinh Điển lần thứ nhất này, Tôn giả A Nan, vốn là thị giả của Đức Phật, được mời nói lại tất cả những bài thuyết pháp của Phật mà mình đã nghe. Tôn giả Ưu Ba Ly ôn tụng lại các giới điều của tu sĩ, còn Ngài Đại Ca Diếp thì nhắc lại Luận Tạng, gồm những điều nói về tâm lý và siêu hình học Phật Giáo. Ba loại sưu tập này được viết trên lá bối vài thế kỷ sau đó và được gọi là “Tripitaka” tức là Tam Tạng Kinh Điển, đã trở thành những giáo lý cốt lõi cho tất cả những giáo điển nhà Phật ngày nay./.

Dịch xong tại Chùa Việt Nam, thành phố St. Louis, tiểu bang Missouri, nhân tham dự chuyến hoằng pháp của HT Thích Như Điển tại Mỹ Quốc từ 15-3 đến 10-5-2009.

Nam Mô A Di Đà Phật
TK. Thích Nguyên Tạng

Kinh của Ngài, Phật Thế Tôn cứu độSĩ-đạt-ta là Thái tử giáng trần,Trong đất, trời, địa ngục chẳng ai bằngBậc Tối thắng, ...
03/05/2017

Kinh của Ngài, Phật Thế Tôn cứu độ
Sĩ-đạt-ta là Thái tử giáng trần,
Trong đất, trời, địa ngục chẳng ai bằng
Bậc Tối thắng, Đại từ bi, Trí tuệ
Được tất cả muôn loài đồng kính lễ
Bậc Đạo Sư dạy Giáo pháp Niết bàn.
Như vầy Ngài tái thế cứu nhân gian:
Dưới cõi tối cao, Tứ Thiên Vương (1) ngự
Trị thế gian, và dưới đó là miền
Cao nhưng gần, nơi các vị thánh hiền
Sẽ sống lại ba mươi ngàn năm tới
Chầu Đức Phật, trên trời cao chờ đợi
Vì nhân gian, hiện năm tướng giáng sanh,
Nên Chư Thiên hiểu biết các điềm lành
Đồng bảo:” Phật tái sanh giúp thế giới”.
“- Phải, ta đi giúp trần gian, Ngài nói,
Đời cuối cùng qua bao kiếp tử sanh
Đến với ta và kẻ học pháp lành
Ta sẽ xuống giữa Thích-ca (2) bộ tộc
Dưới sườn núi miền nam Hy-mã-lạp (3)
Có thần dân mộ đạo với minh quân”.
Một đêm kia, chánh hậu Tịnh Phạn Vương (4)
Bà Mà-Yà (5), ngủ yên bên chúa thượng,
Thấy mộng lạ: sao từ trời hiện xuống
Sáu hào quang màu hồng ngọc huy hoàng
Từ sao kia là một đại tượng vương
Sáu ngà (6) trắng như sữa thần tham dục (7)
Giữa cõi không, chiếu vào bà lập tức
Nhập mẫu thai bên phải. Tỉnh gìấc mơ
Diễm phúc siêu phàm tràn ngập long bà
Và nửa cõi đất, hào quang mầu nhiệm.
Ngay trước ban mai, hào quang xuất hiện:
Các đồi cây lay động, sóng ngàn trùng
Lặng yên dần, hoa nở rộ tưng bừng
Như giữa ngọ, tận các miền ngục tối
Niềm hân hoan của bà hoàng chiếu dọi.
Khi mặt trời ấm áp nhuộm màu vàng
Các khu rừng, xuyên tận các đại dương.
Một tiếng thì thầm dịu dàng vang vọng
“ Hỡi các người chết kia, nay phải sống,
Dậy mà nghe, hy vọng: Phật–đà sanh!
Ở Lâm-tì-ni (8) vạn vật an bình
Đang trải rộng, tâm thế gian náo nức
Làn gió mát, lạ, lướt qua biển, đất.
Khi bình minh ló dạng, chuyện đem trình
Những người đoán mộng tâu:”Chính điềm lành!
Sao con Cua cùng mặt trời tụ hội,
Hoàng hậu sanh một hoàng nam nối dõi,
Bậc Thánh hiền đại tuệ lợi quần sanh
Sẽ giải thoát loài người khỏi vô minh
Hoặc chiếu cố thế gian và ngự trị (9)
*
Theo cách này, đức Phật–đà giáng thế:
Đúng giữa trưa, Hoàng hậu đứng lâm bồn
Dưới Sa-la (10) đại thọ trong khu vườn,
Thân hùng vĩ, thẳng cao như ngọn tháp,
Dưới tàng lá sum sê, hoa thơm ngát,
Cùng muôn loài, khi biết đã đến thời,
Cây khôn liền uốn nhánh lá cao vời
Xuống đất để làm mái che Hoàng hậu.
Mặt đất bỗng hiện đủ ngàn hoa báu
Trải tọa sàng. Chuẩn bị tắm hoàng nam
Đá kế gần phun nước suối trong nguồn (11)
Pha lê chảy, mẫu hoàng ôm con trẻ
Thật bình an. Ngài vẹn toàn thân thể,
Ba mươi hai tướng tốt báo điềm lành (12)
Tin mừng vui vang đến tận cung đình.
Nhưng khi chúng đem kiệu hoa đến đón
Ngài hồi cung, đám người khiêng đôi cáng
Hoá ra là bốn vị Đại Thiên Vương
Từ núi Tu-di (13) canh giữ bốn phương:
Thần phương Đông có biệt danh Trì Quốc (14)
Đoàn tùy tùng khoác xiêm y bằng bạc,
Và mang theo những khiên mộc ngọc trai.
Thần phương Nam,Tăng Trưởng chính tên ngài,
Đoàn kỵ mã, Cưu-bàn-trà đại quỷ,
Cỡi ngựa xanh, mang khiên thanh ngọc quý,
Thần phương Tây là Quảng Mục Thiên Vương (16),
Đoàn quân hầu là các vị Long thần (17)
Cỡi tuấn mã màu máu đào rực rỡ,
Mang các tấm khiên bằng san hô đỏ.
Đa Văn là chúa tể ở Bắc phương (18)
Đoàn Dạ-xoa hộ tống mặc toàn vàng (19)
Cỡi hoàng thố, mang khiên vàng chói sáng.
Các thiên thần vẫn tàng hình hiện xuống
Khiêng cáng và mặc y phục thường dân,
Song thật ra là các đại lực thần
Cùng rảo bước cùng phàm nhân hôm đó,
Dù loài người không làm sao biết rõ:
Trên cõi trời tràn ngập nỗi hân hoan
Cũng chỉ vì hạnh phúc của trần gian
Khi biết Phật Thế Tôn vừa giáng thế.
Việc này Tịnh Phạn Vương chưa hiểu nghĩa,
Các điềm kia làm chúa thượng lo âu,
Cho đến khi các người giải mộng tâu
Hoàng tử sẽ cầm quyền khắp cõi thế,
Là một Chuyển luân vương (20) lên ngự trị,
Một ngàn năm mới chỉ có một lần,
Ngài chủ quyền luôn bảy thứ bảo trân (21)
Bánh xe báu, ngọc thần kỳ, tuấn mã,
Ngựa báu sẽ dẫm lên ngàn mây gíó,
Một tượng vương sắc như tuyết trắng ngần
Được sinh ra để chở vị Thánh quân,
Đại thần giỏi và tướng quân vô địch,
Một hoàng hậu với dung nhan toàn bích,
Dáng yêu kiều hơn thần nữ Rạng đông (22)
Vì bảy báu kia cùng vị Đông cung,
Vua ra lệnh kinh thành khai đại lễ:
Mọi lối đi được quét chùi sạch sẽ,
Nước hoa hồng được rảy khắp trên đường,
Cây treo đèn, cờ xí rợp mười phương
Trong lúc đó, từng đám đông vui vẻ
Trố mắt nhìn người múa gươm oai vệ,
Bọn làm trò, nhữ rắn, bọn leo dây,
Bọn nhào lộn và vũ nữ từng bầy
Váy lấp lánh với chuông rung thánh thót
Như cười nhẹ quanh đôi chân nhảy nhót,
Bọn mang mặt nạ da báo, hươu, nai,
Bọn đá chim, luyện cọp và quăng dây,
Bọn đánh trống và những bầy đô vật,
Làm mọi người thật hân hoan hạnh phúc.
Còn thương nhân tấp nập tự đằng xa,
Nghe tin đản sanh đem tặng lắm quà
Trong mâm vàng, đầy khăn quàng, ngọc biếc,
Cây hương liệu, sắc trời chiều tơ dệt
Thật mỏng manh dẫu xếp mười hai tầng
Cũng không thể che khuôn mặt thẹn thùng,
Những chiếc váy được thêu đầy ngọc trắng,
Gỗ đàn hương từ thị thành phụ cận
Cung kính chào “ Hoàng tử Sĩ-đạt-ta”(23),
“ Toàn thành công” họ nói đúng tên kia.
Giữa khách lạ từ phương xa từng đám,
Một bậc Thánh tóc râu màu tro xám,
A-tư-đà (24), người có một đôi tai
Dài chấm đất, nghe âm hưởng từ trời,
Khi cầu nguyện dưới gốc cây sung mãn (25).
Các Thiên thần đồng ca bài “Phật đản”,
Người tinh thông kiến thức bởi tu thiền,
Người đến gần, dáng điệu thật trang nghiêm,
Vua đảnh lễ và mẫu hoàng ra lệnh
Đưa hoàng nhi đặt dưới chân bậc Thánh.
Nhưng khi nhìn Thái tử, lão Hiền nhân
Thốt tiếng kêu: “Đừng làm vậy, Nương nương!”
Và đặt khuôn mặt già nua lập tức
Tại chỗ ấy, tám lần người chạm đất,
Nói:” Ta xin đảnh lễ đấng Hài đồng!”
Ngài thật là vị cứu thế chính tông!
Với hồng quang (26), lòng bàn chân có ấn (27),
Cuộn lông mềm, cuốn theo hình chữ Vạn (28),
Ba mươi hai tướng tốt của Thánh hiền,
Và tám mươi tướng phụ đã hiển nhiên (29)
Ngài quả thật chính là người Giác ngộ,
Ngài sẽ thuyết pháp lành và cứu độ
Những người nào được học pháp sau này,
Dù chẳng bao giờ ta được nghe Ngài,
Vì ta sắp phải lìa đời quá sớm,
Ta trước đây chỉ mong ngày số tận,
Tuy nhiên nay ta đã thấy được Ngài.
Phải biết rằng, tâu chúa thường ở đời,
Đây chính Đóa Hoa trên cây nhân loại,
Hằng vạn năm mới nở ra sáng chói,
Nhưng nở rồi, làm tràn ngập thế gian
Với hương thơm của trí tuệ siêu phàm,
Và mật ngọt của tấm lòng Từ ái,
Từ gốc rễ của Hoàng gia vĩ đại
Một đóa Hoa sen Thiên giới nở ra,
Ôi! Muôn vàn hạnh phúc hỡi Hoàng gia!
Tuy nhiên cũng chẳng hoàn toàn ân phước,
Vì một lưỡi gươm kia đành xuyên suốt
Cõi lòng bà, do Thái tử ra đời,
Trong lúc bà, hỡi Chánh hậu tuyệt vời,
Được Thiên thần và loài người yêu quý
Vì đã sanh bậc Thánh nhân kỳ vĩ,
Nên từ đây bà quá đỗi thiêng liêng
Không thể nào còn chịu lắm ưu phiền,
Mà cuộc đời này chính là khổ hải,
Do vậy trong vòng bảy ngày trở lại,
Lệnh bà không đau đớn dứt sầu bi”.
Việc xảy ra: ngày thứ bảy đêm kia,
Hoàng hậu Màyà mỉm cười say ngủ,
Và từ đấy, đức bà không đi nữa,
Thật hài lòng lên cõi Đâu-suất đà (30)
Vô số Thiên nhân sùng bái đức bà,
Và hầu hạ Mẫu hoàng thành Thiên nữ.
Còn Hoàng gia tìm mẹ nuôi Hoàng tử,
Đó chính là Di mẫu Go-ta-mì (31),
Bầu sữa thanh cao nuôi nấng Ấu-nhi,
Đôi môi ấy sẽ cứu toàn thế giới.
Như vậy theo truyền thuyết, tất cả chư Thiên và loài người đều hân hoan trước sự ra đời của Đức Phật, cho nên bốn vị Thiên Vương đã đích thân đem đoàn tùy tùng của mình xuống vườn Lâm-tì-ni để khiêng kiệu hoa hộ tống Hoàng hậu và Thái tử hài nhi về kinh thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) cùng với đoàn người hầu cận vua, và bày tỏ sự hân hoan trước niềm hạnh phúc lớn lao của loài người hôm ấy.

Hiến máu cứu người là thiết thực cúng dường ngày Đức Phật đản sanh (15/4 ÂL).Chùa Phước Thạnh tổ chức chương trình Hiến ...
28/04/2017

Hiến máu cứu người là thiết thực cúng dường ngày Đức Phật đản sanh (15/4 ÂL).
Chùa Phước Thạnh tổ chức chương trình Hiến Máu Nhân Đạo vào ngày Chủ Nhật 07/5/2017, từ 6h30 đến 10h30 (vui lòng mang theo CMND).

Address

5-7 Nguyễn Văn Dưỡng, Phường Tân Quý, Quận Tân Phú
Ho Chi Minh City
700000

Opening Hours

Monday 05:00 - 20:30
Tuesday 05:00 - 20:30
Wednesday 05:00 - 20:30
Thursday 05:00 - 20:30
Friday 05:00 - 20:30
Saturday 05:00 - 20:30
Sunday 05:00 - 20:30

Telephone

02838471361

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Phước Thạnh Quận Tân Phú TPHCM posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share