Phật Giáo Nguyên Thủy- Theravada

Phật Giáo Nguyên Thủy- Theravada Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Phật Giáo Nguyên Thủy- Theravada, Religious Center, 111/71, đường trục, phường 13, quận Bình Thạnh, TP HCM, Ho Chi Minh City.

“Cư sĩ, nguy hiểm đến tính mạng khó biết trước, nên sống không phóng dật”. Ông hỏi: “Bạch Ngài, con sẽ gặp nguy hiểm sao...
14/01/2026

“Cư sĩ, nguy hiểm đến tính mạng khó biết trước, nên sống không phóng dật”. Ông hỏi: “Bạch Ngài, con sẽ gặp nguy hiểm sao?”. “Đúng vậy, cư sĩ chỉ còn sống được bảy ngày nữa”.

_______________________________________

“Mùa mưa này ta sẽ ở đây” – Đức Thế Tôn khi đang trú tại Jetavana (Kỳ Viên Tịnh Xá) đã thuyết bài pháp này liên quan đến một đại thương gia giàu có (mahādhanavāṇija).

Thương gia ấy từ thành Bārāṇasi (Ba-la-nại) chở năm trăm xe đầy vải đỏ kusumbha (vải đỏ thắm quý giá) đến Sāvatthī (Xá-vệ) để buôn bán. Khi đến bờ sông, ông nghĩ: “Ngày mai sẽ qua sông”, bèn cởi xe nghỉ lại tại chỗ. Đêm ấy, mây lớn kéo đến, mưa lớn suốt bảy ngày, sông nước đầy tràn. Dân thành cũng nhân dịp bảy ngày ấy mở hội xem sao (nakkhattaṃ kīḷiṃsu). Việc mua bán vải đỏ chưa xong. Thương gia suy nghĩ: “Ta đã đi đường xa đến đây. Nếu quay về thì sẽ chậm trễ. Ta sẽ ở lại đây suốt mùa mưa, mùa lạnh và mùa nóng, làm ăn rồi bán hết hàng mới về”.

Đức Thế Tôn khi đi khất thực trong thành, biết tâm ông ấy, liền mỉm cười. Trưởng lão Ānanda (A-nan) hỏi duyên cớ, Ngài đáp: “Này Ānanda, ngươi có thấy đại thương gia kia không?”. “Bạch có ạ”. “Ông ấy không biết mình sắp gặp nguy hiểm đến tính mạng, đang định ở lại đây suốt năm để bán hàng”. “Bạch Thế Tôn, ông ấy sẽ gặp nguy hiểm gì?”. “Này Ānanda, ông ấy chỉ còn sống được bảy ngày nữa, rồi sẽ rơi vào miệng tử thần”.

Nói xong, Ngài thuyết hai bài kệ (đã có trong Tiểu Bộ Kinh – Mahāvagga):

“Ngày nay hãy nỗ lực làm việc,
Ai biết chết sẽ đến ngày mai?
Không có thỏa hiệp nào với
Đại quân tử thần ấy cả.

Người sống nhiệt tâm như vậy,
Ngày đêm không biếng nhãi,
Bậc Muni gọi đó là
Người sống một đêm tốt đẹp (bhaddekaratta).”

Trưởng lão Ānanda thưa: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đi báo cho ông ấy biết”. Ngài bảo: “Hãy đi đi, Ānanda, ngươi cứ tự nhiên”. Trưởng lão đến chỗ xe, đi khất thực. Thương gia cúng dường thức ăn cho Trưởng lão. Trưởng lão hỏi: “Cư sĩ định ở đây bao lâu?”. Ông đáp: “Bạch Ngài, con từ xa đến, nếu về thì chậm trễ, con sẽ ở đây suốt năm nay, bán hết hàng rồi mới về”. Trưởng lão dạy: “Cư sĩ, nguy hiểm đến tính mạng khó biết trước, nên sống không phóng dật”. Ông hỏi: “Bạch Ngài, con sẽ gặp nguy hiểm sao?”. “Đúng vậy, cư sĩ chỉ còn sống được bảy ngày nữa”.

Ông hoảng sợ, liền mời Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu thọ trai suốt bảy ngày, làm đại thí rộng lớn. Ngày cuối, ông cầm bát để nghe lời tùy hỷ. Đức Thế Tôn làm lễ tùy hỷ, dạy rằng: “Này cư sĩ, người trí không nên nghĩ ‘ta sẽ ở đây suốt mùa mưa, mùa lạnh, mùa nóng, làm việc này việc kia’. Chỉ nên nghĩ đến nguy hiểm của chính mạng sống mình”.

Nói xong, Ngài thuyết bài kệ:

286.
“Mùa mưa này ta sẽ ở đây,
Mùa lạnh, mùa nóng cũng ở đây”;
Kẻ ngu nghĩ vậy,
Không biết nguy hiểm đến tính mạng.

Giải thích từ ngữ:
- “Idha vassaṃ vasissāmi”: Ở nơi này, làm việc này việc kia, ta sẽ ở suốt bốn tháng mùa mưa.
- “Idha hemantagimhisu”: Cũng vậy, suốt mùa lạnh và mùa nóng, nghĩ rằng sẽ ở đây làm ăn.
- “Iti bālo vicinteti”: Kẻ ngu (bāla) nghĩ như vậy, chỉ biết lợi ích hiện tại và đời sau gần (diṭṭhadhammikasamparāyika), không biết gì khác.
- “Antarāyaṃ na bujjhati”: Không hay biết nguy hiểm đến tính mạng mình, không biết rằng “vào thời gian này, nơi này, tuổi này ta sẽ chết”.

Kết thúc bài pháp: Đại thương gia chứng quả Dự lưu (sotāpattiphale patiṭṭhahi). Bài pháp cũng mang lại lợi ích cho những người có mặt. Sau đó, ông theo Đức Thế Tôn một đoạn rồi trở về, nói: “Con như bị nhức đầu nặng”, nằm xuống giường, ngay khi đang nằm như vậy đã mệnh chung và tái sinh vào cõi trời Đẩu-suất (Tusita).

Mahādhanavāṇijavatthu là chuyện thứ mười

____________________

10. Chuyện đại thương gia giàu có (Mahādhanavāṇijavatthu)
Tích truyện pháp cú 286.

"Con mong rằng, bạch Thế Tôn, các bà con huyết thống thân ái của con được huyễn thuật dụ dỗ này dụ dỗ. Như vậy, những bà...
06/01/2026

"Con mong rằng, bạch Thế Tôn, các bà con huyết thống thân ái của con được huyễn thuật dụ dỗ này dụ dỗ. Như vậy, những bà con huyết thống của con tất cả được hạnh phúc an lạc lâu dài!"

___________________________

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli tại Mahàvana trong ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Licchavii Bhaddiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Licchavii Bhaddiya bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: “Là một nhà huyễn thuật, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo”. Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: “Sa-môn Gotama là một huyễn thuật sư, biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo”, những người ấy, bạch Thế Tôn, có phải nói đúng ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật. Có phải họ trả lời về pháp hợp với chánh pháp? Và ai là vị đồng pháp, theo đồng môt quan điểm, không có lý do để chỉ trích? Bạch Thế Tôn, chúng con không muốn xuyên tạc Thế Tôn”.

2.- Này Bhaddiya, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Ðạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào tự mình ông biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này là bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh và khổ đau”, thời này Bhaddiya, Ông hãy từ bỏ chúng!

3. Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya! Lòng tham khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?

– Bất hạnh, bạch Thế Tôn.

– Người này có tham, này Bhaddiya, bị tham chinh phục, tâm mất tự chủ, giết loài hữu tình, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

4. – Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, lòng sân … lòng si … lòng hung bạo khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?

– Bất hạnh, bạch Thế Tôn.

– Người này có lòng hung bạo, này Bhaddiya, bị hung bạo chinh phục, tâm mất tự chủ, giết loài hữu tình, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

5. – Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, các pháp này là thiện hay bất thiện?

– Là bất thiện, bạch Thế Tôn.

– Có tội hay không có tội?

– Có tội, bạch Thế Tôn.

– Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách?

– Bị người có trí quở trách, bạch Thế Tôn.

– Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến bất hạnh đau khổ không, hay ở đây là thế nào?

– Ðược thực hiện, được chấp nhận, chúng đem lại bất hạnh đau khổ. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.

6.- Như vậy, này Bhaddiya, điều ta vừa nói với các Ông: “Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt với những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Ðạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào tự mình ông biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này là bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh và khổ đau”, thời này Bhaddiya, Ông hãy từ bỏ chúng!”. Như vậy, đã được nói lên, chính do duyên này được nói lên như vậy.

7. Này Bhaddiya, chớ có tin vì nghe truyền thuyết … chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Ðạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào ông tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này không có tội; các pháp này là không bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này Bhaddiya, Ông hãy chứng đạt và an trú.

8. Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya! Không tham khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?

– Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.

– Người này không tham, này Bhaddiya, không bị tham chinh phục, tâm không mất tự chủ, không giết loài hữu tình, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

9. – Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, không sân … không si … không hung bạo khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?

– Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.

– Người này không có lòng hung bạo, này Bhaddiya, không bị hung bạo chinh phục, tâm không mất tự chủ, không giết loài hữu tình, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

10 – Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, các pháp này là thiện hay bất thiện?

– Là thiện, bạch Thế Tôn.

– Có tội hay không có tội?

– Không có tội, bạch Thế Tôn.

– Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách?

– Ðược người có trí tán thán, bạch Thế Tôn.

– Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đem lại hạnh phúc an lạc không, hay ở đây là thế nào?

– Ðược thực hiện, được chấp nhận, Bạch Thế Tôn. chúng đem lại hạnh phúc an lạc. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.

11.- Như vậy, này Bhaddiya, điều ta vừa nói với các Ông: “Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Ðạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào tự mình ông biết rõ như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này là không có tội; các pháp này được người có trí tán thán; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc và an lạc”, thời này Bhaddiya, Ông hãy chứng đạt và an trú”. Ðiều này đã được nói lên, chính do duyên này được nói lên như vậy.

12. Này Bhaddiya, tất cả những bậc Chân nhân tịch tịnh ở đời, khích lệ đệ tử như sau: “Hãy đến, này bạn! hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham! Do sống nhiếp phục tham, bạn sẽ không làm nghiệp do tham sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục sân! Hãy nhiếp phục sân! Do sống nhiếp phục sân, bạn sẽ không làm nghiệp do sân sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục si! Hãy nhiếp phục si! Do sống nhiếp phục si, bạn sẽ không làm nghiệp do si sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục hung bạo! Hãy nhiếp phục hung bạo! Do sống nhiếp phục hung bạo, bạn sẽ không làm nghiệp do hung bạo sanh, về thân, về lời, về ý!”.

13. Khi được nói như vậy, Bhaddiya người Licchavi bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, … Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

– Này Bhaddiya, Ta có nói với Ông như sau: “Hãy đến, này Bhaddiya; hãy đến làm đệ tử của Ta, này Bhaddiya! Ta sẽ là Ðạo sư (của Ông)” không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Như vậy, này Bhaddiya, những Sa-môn, Bà-la-môn nói như sau, tuyên bố như sau, những vị ấy là không thiện, trống không, nói láo, xuyên tạc với điều không thật: “Là một huyễn thuật sư, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo!”.

– Bạch Thế Tôn, hiền thiện là huyễn thuật dụ dỗ này. Bạch Thế Tôn, hiền lành là huyễn thuật dụ dỗ này. Con mong rằng, bạch Thế Tôn, các bà con huyết thống thân ái của con được huyễn thuật dụ dỗ này dụ dỗ. Như vậy, những bà con huyết thống của con tất cả được hạnh phúc an lạc lâu dài! Bạch Thế Tôn, nếu tất cả những người Sát-đế-lỵ được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, tất cả các Sát-đế-lỵ được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài! Bạch Thế Tôn, nên tất cả người Bà-la-môn … tất cả người Phệ xá … tất cả Thủ đà được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, tất cả các Thủ đà ấy được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!

– Như vậy là phải, này Bhaddiya! Như vậy là phải, này Bhaddiya! Này Bhadiya, nếu tất cả những người Sát-đế-lỵ được cám dỗ (với sự dụ dỗ này) để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy tất cả các Sát-đế-lỵ được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài! Này Bhàddiya, nếu tất cả người Bà-la-môn … tất cả người Phệ xá … tất cả mọi người Thủ đà được cám dỗ (với sự dụ dỗ này) để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy tất cả các Thủ đà được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!

Này Bhaddiya, nếu thế giới cùng với chư Thiên, Màra, Phạm thiên, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy chúng được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!

Này Bhaddiya, nếu các cây sala to lớn này được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy tất cả cây sala to lớn này được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài nếu chúng có thể suy nghĩ được, còn nói gì với con người!

_________________________________

Tăng Chi - 4 Pháp - (III) (193) Bhaddiya

Do nhân gì, thưa Tôn giả Gotama, do duyên gì, ngày nay loài người lại bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các ...
02/01/2026

Do nhân gì, thưa Tôn giả Gotama, do duyên gì, ngày nay loài người lại bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không phải quốc độ?
____________________________________

Rồi một Bà-la-môn giàu có lớn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn giàu có lớn bạch Thế Tôn:

– Con có nghe, thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn thuở xưa, các trưởng lão lớn tuổi, bậc thầy của các bậc Thầy nói rằng: “Thuở xưa, thế giới này quá sung mãn, với người, – người ta nghĩ như một vực sâu không có sóng, các làng, các thị trấn, các kinh thành quá gần để một con gà trống có thể bước từ chỗ này qua chỗ kia.”

Do nhân gì, thưa Tôn giả Gotama, do duyên gì, ngày nay loài người lại bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không phải quốc độ?

– Ngày nay, này Bà-la-môn, loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục, bị tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, chúng cầm gươm sắc bén sát hại lẫn nhau. Do vậy, nhiều người mạng chung. Ðây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không quốc độ.
Lại nữa, này Bà-la-môn, ngày nay, các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục, bị các tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, trời không mưa xuống đều đặn. Vì vậy, bữa ăn khó tìm, mùa màng hư mất, trắng xóa với côn trùng, chỉ còn lại cọng dẹp. Do vậy, nhiều người mạng chung. Ðây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, vì sao ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không phải quốc độ.

Lại nữa, này Bà-la-môn, ngày nay, các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục, bị các tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, các loài Yakkha (Dạ-xoa) thả ra các loài phi nhân dữ tợn. Vì vậy, nhiều người mạng chung. Ðây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không phải quốc độ.

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

___________________________________

Tăng Chi Bộ Kinh - Chưong 3 Pháp - 56.- Người Giàu Có

“Này các Tỳ-kheo, khi người có phước lớn tu đạo, Thiên vương Đế Thích, Thần Mặt Trăng, Mặt Trời, bốn Đại Thiên vương đều...
27/11/2025

“Này các Tỳ-kheo, khi người có phước lớn tu đạo, Thiên vương Đế Thích, Thần Mặt Trăng, Mặt Trời, bốn Đại Thiên vương đều đến hộ trì. Chính Ta cũng không thể ngồi yên mà phải đứng canh ở cổng."
________________________________

Bài pháp “Udakañhi nayanti…” này Đức Thế Tôn giảng tại Kỳ Viên, liên quan đến Sa-di Paṇḍita (Trí Tuệ).

**Nguồn gốc câu chuyện:**

Thuở trước, vào thời Đức Phật Ca-diếp (Kassapa), Ngài cùng hai mươi nghìn vị A-la-hán viếng thành Ba-la-nại (Bārāṇasi). Dân chúng góp mười người, tám người cùng nhau cúng dường các vị khách Tăng. Một hôm, sau bữa ăn, Đức Phật nói lời tùy hỷ:

“Này các cư sĩ, có người chỉ tự mình cúng dường, không khuyến khích người khác – đời sau được giàu có nhưng không có quyến thuộc.
Có người khuyến khích người khác cúng nhưng mình không cúng – đời sau có quyến thuộc đông đảo nhưng không giàu có.
Có người cả hai đều không – đời sau vừa nghèo vừa không quyến thuộc, chỉ ăn đồ thừa như chó.
Có người vừa tự cúng vừa khuyến khích người khác – đời sau vừa giàu có vừa có quyến thuộc đông đảo.”

Nghe vậy, một người trí đứng gần nghĩ: “Ta sẽ làm sao để cả hai phước ấy đều đầy đủ.” Ông đảnh lễ Đức Phật và thưa:
“Bạch Thế Tôn, ngày mai xin Ngài cùng toàn thể Tăng chúng nhận bữa cơm tại nhà con.”
“Ông cần bao nhiêu vị Tỳ-kheo?”
“Bạch Thế Tôn, Tăng chúng của Ngài có bao nhiêu vị?”
“Hai mươi nghìn vị.”
“Bạch Thế Tôn, xin cả hai mươi nghìn vị cùng Ngài nhận bữa cơm tại nhà con.”

Đức Phật im lặng nhận lời. Ông về thành, loan báo khắp nơi:
“Ngày mai tôi đã thỉnh Đức Phật và Tăng chúng, mọi người hãy cúng theo khả năng của mình.” Ông đi khắp thành, ghi vào sổ: người cúng mười vị, hai mươi vị, trăm vị, năm trăm vị…

Lúc ấy ở thành có một người cực kỳ nghèo khổ, được gọi là Mahāduggata (Đại Bần Khổ). Ông gặp người ấy, hỏi:
“Này Mahāduggata, ngày mai dân thành cúng Tăng, ông sẽ cúng bao nhiêu vị?”
“Thưa ngài, tôi có gì mà cúng Tăng? Người ta cúng Tăng là để có phước, còn tôi ngày mai còn không có nổi một nắm gạo nấu cháo, tôi đi làm thuê sống qua ngày, Tăng có liên quan gì đến tôi?”

Người khuyến khích không nản, nói tiếp:
“Trong thành này bao người ăn ngon mặc đẹp, nằm giường quý, hưởng phước lớn. Còn ông ngày làm thuê cũng không đủ nuôi thân. Ông không biết rằng chính vì trước đây không làm phước nên giờ mới nghèo khổ sao?”
“Tôi biết chứ, thưa ngài.”
“Thế sao giờ không làm phước? Ông còn trẻ khỏe, đi làm thuê cũng có tiền, sao không cúng dường chút ít?”

Nghe đến đây, Mahāduggata xúc động:
“Thôi được, ghi cho tôi một vị Tỳ-kheo, tôi sẽ đi làm thuê để cúng một vị.”

Người kia nghĩ “một vị thì có nghĩa lý gì” nên không ghi. Mahāduggata về nhà nói với vợ:
“Này mình, ngày mai dân thành cúng Tăng lớn, người ta bảo tôi cũng cúng một vị. Ta cùng cúng một vị nhé!”
Vợ không những không trách mà vui vẻ:
“Hay lắm mình ơi! Trước đây ta không cúng nên giờ nghèo khổ. Mai cả hai ta cùng đi làm thuê, cúng một vị Tỳ-kheo!”

Cả hai ra đi làm thuê.

Đại phú thương thấy Mahāduggata, hỏi:
“Này Mahāduggata, hôm nay cũng đi làm thuê à?”
“Dạ.”
“Làm gì đây?”
“Ngài bảo làm gì thì làm cái ấy.”
“Thôi được, ngày mai ta cúng hai ba trăm vị, lại đây đốn củi đi.”
Ông đưa búa rìu. Mahāduggata buộc thắt lưng thật chặt, làm hăng say như có sức mạnh phi thường. Phú thương ngạc nhiên:
“Hôm nay ông làm việc hăng quá, có chuyện gì vậy?”
“Thưa ngài, mai tôi cúng một vị Tỳ-kheo.”

Nghe vậy, phú thương cảm động: “Người nghèo khổ thế mà còn phát tâm cúng một vị!”
Phu nhân phú thương cũng thấy vợ Mahāduggata, hỏi:
“Nàng làm gì đây?”
“Làm gì bà bảo thì làm.”
Bà cho vào cối giã gạo. Người vợ giã gạo mà nhảy nhót như đang múa, miệng cười tươi. Phu nhân hỏi:
“Sao hôm nay nàng vui thế?”
“Thưa bà, làm công này để tôi cúng một vị Tỳ-kheo.”

Phu nhân cũng cảm động vô cùng.

Phú thương trả công cho Mahāduggata tám nāḷi gạo (bốn nāḷi tiền công, bốn nāḷi thưởng). Phu nhân cũng cho vợ ông dầu, mỡ, gia vị, thêm một nāḷi gạo sạch. Tổng cộng hai vợ chồng có chín nāḷi gạo. Họ vui mừng: “Đã có vật cúng dường rồi!”

Sáng sớm, người vợ bảo chồng:
“Đi kiếm rau đi anh.”
Ông ra bờ sông, lòng hỷ lạc, vừa đi vừa hát. Một người đánh cá nghe tiếng hát vui lạ thường, gọi lại hỏi:
“Sao hôm nay ông vui thế?”
“Tôi đi kiếm rau.”
“Để làm gì?”
“Để cúng một vị Tỳ-kheo.”
“Ôi, vị Tỳ-kheo ấy thật có phước! Ông định cho vị ấy ăn rau thôi sao?”
“Tôi chỉ có rau thôi.”
“Thôi được, lại đây.”
Ông cho ông chọn cá. Mahāduggata chọn cá, cân thành từng bó, dân thành lần lượt mua hết để cúng Tăng. Khi gần đến giờ Tăng khất thực, ông nói:
“Tôi phải về, giờ chư Tăng sắp đến rồi.”
“Còn cá nào không?”
“Hết rồi.”
“Ta còn bốn con cá trầu (rohitamaccha) lớn đào dưới cát để dành, nếu ông muốn cúng Tăng thì mang đi.”
Ông nhận cá, vui mừng khôn xiết.

Cùng ngày, Đức Thế Tôn vào lúc bình minh quán sát thế gian, thấy Mahāduggata trong lưới trí tuệ của Ngài, biết rằng:
“Ngày mai người này vì muốn cúng một vị Tỳ-kheo mà cùng vợ đi làm thuê. Không biết ông ấy sẽ được vị nào?”
Rồi Ngài thấy: “Người ta sẽ theo danh sách đã ghi mà thỉnh Tăng, chỉ có Ta là không ai dám thỉnh. Mahāduggata sẽ không được ai ngoài Ta.”
Chư Phật thường thương xót người nghèo khổ. Nên sáng sớm, Đức Phật đã chuẩn bị y bát, ngồi trong hương thất.

Trong lúc Mahāduggata mang cá về, ngai vàng của Thiên chủ Đế Thích (Sakya) nóng lên. Đế Thích quán sát, biết chuyện, nghĩ:
“Mahāduggata vì một vị Tỳ-kheo mà cố gắng đến thế, Ta cũng nên giúp.”
Ngài hóa thành người lạ, đến gần nhà Mahāduggata, hỏi lớn:
“Có ai cần làm thuê không?”
Mahāduggata hỏi:
“Ngài làm được gì?”
“Tôi biết hết mọi nghề, nấu cháo cơm cũng giỏi.”
“Chúng tôi cần người nấu cơm cúng một vị Tỳ-kheo, nhưng không có tiền công.”
“Nếu ông cúng Tỳ-kheo thì tôi không cần tiền công, chỉ mong được chút phước.”
“Tốt quá! Mời ngài vào.”

Người lạ (Đế Thích) bảo mang gạo, dầu… rồi nói:
“Ông đi thỉnh vị Tỳ-kheo đã ghi tên ông đi.”
Người lo việc cúng dường (veyyāvaṭika) theo danh sách đưa Tỳ-kheo về từng nhà.

Mahāduggata đến hỏi:
“Cho tôi vị Tỳ-kheo của tôi!”
Người ấy giật mình: “Ta quên mất ông rồi!”
Mahāduggata như bị dao đâm vào bụng, khóc lóc:
“Ngài bảo tôi cúng một vị, hôm qua vợ chồng tôi đi làm thuê từ sáng sớm, giờ tôi mang cả cá về rồi, xin cho tôi một vị!”
Mọi người tụ tập, trách người kia:
“Ông đã khuyến khích người ta, giờ lại không cho một vị nào, thật quá đáng!”
Người ấy xấu hổ nói:
“Này Mahāduggata, đừng giận, hôm qua ta quên ông thật. Dân chúng đã thỉnh hết theo danh sách, không còn vị nào. Chỉ có Đức Thế Tôn còn ngồi trong hương thất, thái tử, đại thần đang chờ Ngài. Phật thường thương người nghèo. Ông đến vihara, đảnh lễ và thưa: ‘Con là người rất nghèo, xin Thế Tôn thương xót nhận bữa cơm của con.’ Nếu ông có phước thì chắc chắn được.”

Mahāduggata đến vihara. Thái tử, đại thần thấy ông, nói:
“Mahāduggata, chưa đến giờ ăn, sao ông đến sớm vậy?”
“Dạ con biết, nhưng con đến đảnh lễ Đức Thế Tôn.”
Ông đến cửa hương thất, đặt đầu xuống đất, đảnh lễ năm vóc, thưa:
“Bạch Thế Tôn, trong thành này không ai nghèo hơn con. Xin Ngài thương xót nhận bữa cơm của con!”

Đức Phật mở cửa, đưa bát cho ông. Ông cầm bát như cầm vương miện Chuyển luân vương. Thái tử, đại thần nhìn nhau kinh ngạc. Không ai dám cướp bát Đức Phật đã trao. Họ van xin:
“Mahāduggata, cho chúng tôi bát của Đức Thế Tôn, chúng tôi sẽ cho ông bao nhiêu tiền tùy thích!”
Ông đáp:
“Tôi không bán, không cần tiền, tôi chỉ muốn cúng Đức Thế Tôn!”

Vua biết chuyện, nghĩ:
“Người này dù được dụ bằng tiền vẫn không bán bát Đức Thế Tôn trao. Bát ấy không ai cướp được. Không biết ông ta cúng bao nhiêu mà dám thỉnh cả Đức Thế Tôn? Ta sẽ theo sau, khi ông cúng xong sẽ thỉnh Đức Phật về cung, cho ông ấy ăn đồ ta chuẩn bị.”
Vua đi theo Đức Phật.

Đế Thích đã chuẩn bị đầy đủ cháo, bánh, cơm, canh, rau… và trải tọa cụ cho Đức Phật.

Mahāduggata mời:
“Bạch Thế Tôn, xin Ngài vào.”
Nhà ông thấp, không cúi không vào được. Nhưng chư Phật khi vào nhà không bao giờ cúi đầu – mặt đất tự thấp xuống hoặc nhà tự cao lên. Đó là quả của sự cúng dường đúng pháp. Khi ra về, mọi thứ trở lại bình thường.

Đức Phật vào nhà, ngồi lên tọa cụ do Đế Thích trải. Vua thấy, nói:
“Này Mahāduggata, chúng tôi van xin mà ông không cho bát Đức Thế Tôn, giờ xem ông cúng dường ra sao?”
Đế Thích mở nắp các món ăn, hương thơm lan khắp thành. Vua kinh ngạc:
“Bạch Thế Tôn, con nghĩ ông này cúng ít, nên muốn thỉnh Ngài về cung ăn đồ ngon hơn. Con chưa từng thấy món ăn nào như thế này. Con ở đây chỉ làm ông ấy mệt thêm. Con xin cáo lui.”
Vua đảnh lễ rồi đi.

Đế Thích cúng dường Đức Phật xong, nói lời tùy hỷ, Đức Phật cũng nói lời tùy hỷ rồi ra về.

Đế Thích hiện nguyên hình, đứng trước cửa nhà Mahāduggata, nhìn lên trời. Lập tức bảy thứ báu từ trời rơi xuống đầy nhà, đầy cả bình bát. Không còn chỗ đứng. Vợ ông bế con ra ngoài. Ông theo Đức Phật một đoạn, quay về thấy con đứng ngoài cửa, hỏi:
“Chuyện gì vậy?”
“Nhà mình đầy bảy thứ báu, không vào được!”
Ông nghĩ: “Hôm nay quả phước cúng dường đã hiện tiền!”
Ông đến tâu vua:
“Tâu đại vương, nhà thần đầy bảy thứ báu, xin đại vương nhận lấy.”
Vua nghĩ: “Quả của sự cúng dường cho Phật thật kỳ diệu, ngay hôm nay đã thành tựu!”
Vua cho một nghìn xe chở báu về, chất thành đống cao bằng cây thala. Vua triệu tập dân chúng hỏi:
“Trong thành có ai giàu bằng đống báu này không?”
“Không, tâu đại vương.”
“Vậy phải làm gì?”
“Phong làm đại phú thương, tâu đại vương.”
Vua phong ông làm đại phú thương, ban đất cũ của một phú thương trước đây. Khi san đất xây nhà, đào được vô số hầm báu. Vua bảo: “Đó là quả phước của ông, ông cứ giữ.”
Ông xây nhà lớn, cúng dường bảy ngày cho Đức Phật và Tăng chúng, rồi suốt đời làm phước, sau khi chết sinh lên cõi trời.

Sau một Phật kỳ hưởng phước trời, đến thời Đức Phật chúng ta, ông tái sinh làm con gái đại phú thương, là người hầu cận Tôn giả Xá-lợi-phất ở Xá-vệ. Khi mang thai, bà có thai nghén kỳ lạ: muốn được nghe Tôn giả Xá-lợi-phất thuyết pháp đầu tiên, cúng cơm cá trầu cho năm trăm Tỳ-kheo, mặc y vàng, ngồi cuối hàng ăn cơm thừa của chư Tăng. Bà làm đúng như vậy, thai nghén hết. Cả bảy lần sinh nở sau đều cúng như thế. Đây chính là quả của lần cúng cá trầu cho Đức Phật Ca-diếp.

Ngày đặt tên, mẹ thưa với Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Bạch ngài, xin ngài ban giới cho con trai con.”
“Đứa bé tên gì?”
“Bạch ngài, từ khi thụ thai đứa bé này, trong nhà con dù kẻ ngu, con ở cũng trở nên thông minh. Vậy con muốn đặt tên là Paṇḍita (Trí Tuệ).” Tôn giả ban giới.

Từ nhỏ, mẹ nghĩ: “Ta sẽ không cản trở chí xuất gia của con.”
Năm bảy tuổi, cậu nói với mẹ:
“Mẹ ơi, con muốn xuất gia với Tôn giả.”
“Tốt lắm con, mẹ cũng mong thế.”
Bà thỉnh Tôn giả về cúng dường, thưa:
“Bạch ngài, con trai con muốn xuất gia, chiều nay con sẽ đưa nó đến.” Bà tổ chức lễ lớn cho con như khi còn tại gia, rồi đưa đến vihara, giao cho Tôn giả.

Tôn giả giảng về sự khó khăn của đời xuất gia. Cậu thưa:
“Bạch ngài, con sẽ vâng lời dạy.” Tôn giả xoa đầu cậu, dạy đề mục tóc da năm uẩn, rồi cho xuất gia làm Sa-di.

Cha mẹ ở lại vihara bảy ngày, cúng cơm cá trầu cho Đức Phật và Tăng chúng, ngày thứ bảy mới về.

Ngày thứ tám, Tôn giả đi khất thực trong làng, dẫn Sa-di theo (không đi với đại chúng vì cậu còn nhỏ, chưa biết cách đi đứng trang nghiêm, và Tôn giả còn phải quét dọn vihara). Tôn giả có thói quen: khi Tăng vào làng, ngài quét dọn toàn vihara, đổ nước uống nước rửa, sắp lại giường ghế, rồi mới đi khất thực, để ngoại đạo không thể nói: “Xem kìa, vihara của sa-môn Gotama bỏ hoang!”

Trên đường, Sa-di thấy kênh dẫn nước, hỏi:
“Bạch thầy, cái này tên gì?”
“Đây là mương dẫn nước, này Sa-di.”
“Người ta dùng để làm gì?”
“Dẫn nước từ chỗ này sang chỗ kia để tưới ruộng.”
“Nước có tâm không thầy?”
“Không có.”
“Thế mà người ta dẫn được vật không tâm theo ý mình?”
“Đúng vậy.”

Sa-di suy nghĩ: “Nếu vật không tâm còn dẫn được theo ý mình, sao người có tâm lại không điều phục được tâm mình để tu đạo?”

Đi tiếp, thấy thợ làm tên lửa đỏ trong lò rồi uốn thẳng, cậu hỏi:
“Những người này là ai?”
“Thợ làm tên.”
“Họ làm gì?”
“Nung đỏ rồi uốn thẳng.”
“Cái này có tâm không thầy?”
“Không có.”
Sa-di nghĩ: “Vật không tâm còn uốn được, sao người có tâm lại không điều phục tâm mình để tu đạo?”

Lại thấy thợ mộc bào gỗ làm bánh xe, cậu hỏi tương tự, được trả lời “gỗ không tâm”. Sa-di lại nghĩ y như vậy.

Cậu thưa:
“Bạch thầy, nếu thầy giữ bát y giúp con, con xin quay về.”
Tôn giả nghĩ: “Mới xuất gia mà đã dám nói thế”, nhưng không phản đối, cầm bát y giúp.

Sa-di đảnh lễ, quay về, dặn:
“Bạch thầy, khi mang cơm về nhớ mang cơm cá trầu nhé!”
“Lấy đâu ra?”
“Nếu phước thầy không đủ thì phước con sẽ đủ.”

Tôn giả sợ Sa-di ngồi ngoài vihara bị hại, đưa chìa khóa:
“Con mở cửa phòng thầy, vào trong ngồi.”
Cậu làm theo, ngồi thiền quán thân, hướng tâm vào thân. Nhờ phước lực lớn, ngai vàng Đế Thích nóng lên. Đế Thích quán thấy, bảo bốn Đại Thiên vương đuổi chim trong vườn, canh giữ bốn hướng, bảo Thần Mặt Trăng, Mặt Trời giữ nguyên vị trí, tự mình đứng canh chỗ kéo dây cửa, khiến vihara im lặng tuyệt đối. Sa-di nhiếp tâm, ngay trong buổi sáng chứng ba quả Thánh (Dự lưu, Nhất lai, Bất lai).

Tôn giả vào nhà một thiện tín, hôm ấy họ vừa bắt được cá trầu, đang chờ ngài. Họ cúng cơm cá trầu đầy bát mang về. Tôn giả vội về.

Đức Thế Tôn hôm ấy ăn sớm, về vihara, quán sát:
“Sa-di Paṇḍita đã chứng ba quả, có duyên chứng A-la-hán. Trước bữa có chứng được không?” – Có.
Ngài nghĩ: “Xá-lợi-phất sắp mang cơm về, có thể làm gián đoạn. Ta sẽ đứng canh ở cổng, hỏi bốn câu hỏi, khi Xá-lợi-phất trả lời, Sa-di sẽ chứng A-la-hán cùng Tứ tuệ phân tích.”

Đức Phật đứng ở cổng, hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất bốn câu:

1. “Sāriputta, ông được gì?”
“Bữa ăn, bạch Thế Tôn.”
2. “Bữa ăn mang cái gì đến?”
“Thọ (cảm thọ).”
3. “Thọ mang cái gì đến?”
“Sắc (sắc thân đẹp đẽ).”
4. “Sắc mang cái gì đến?”
“Xúc.”

(Khi đói ăn vào, hết đói → lạc thọ. Lạc thọ → sắc thân đẹp. Sắc thân đẹp → tiếp xúc dễ chịu.)

Trong lúc trả lời bốn câu này, Sa-di Paṇḍita chứng quả A-la-hán cùng Tứ tuệ phân tích.

Đức Phật bảo:
“Đi đi Sāriputta, đưa cơm cho Sa-di của ông.”

Tôn giả gõ cửa. Sa-di ra nhận bát, đặt một bên, lấy quạt đảnh lễ quạt cho thầy. Tôn giả nói:
“Này Sa-di, ăn đi.”
“Thầy ăn chưa?”
“Thầy ăn rồi, con ăn đi.”
Cậu bé bảy tuổi, xuất gia ngày thứ tám, ngay lúc ấy chứng A-la-hán. Cậu ngồi ăn, quán chiếu các tầng thánh quả. Ăn xong rửa bát, khi mặt trời đã quá ngọ, các vị thần mới buông sự canh giữ, mặt trời lặn về đúng chỗ.

Chư Tăng xôn xao:
“Bóng cây dài quá, mặt trời lặn sớm, Sa-di mới ăn xong, chuyện gì vậy?”

Đức Thế Tôn đến, hỏi:
“Các ông đang nói gì?”
Chư Tăng bạch lại. Ngài dạy:
“Này các Tỳ-kheo, khi người có phước lớn tu đạo, Thiên vương Đế Thích, Thần Mặt Trăng, Mặt Trời, bốn Đại Thiên vương đều đến hộ trì. Chính Ta cũng không thể ngồi yên mà phải đứng canh ở cổng. Sa-di thấy người dẫn nước, thợ làm tên, thợ mộc điều phục vật không tâm, liền nghĩ: ‘Nếu vật không tâm còn điều phục được, sao ta không điều phục tâm mình?’ Chỉ với ba duyên ấy, bậc trí đã điều phục được tự tâm, chứng quả A-la-hán.”

Rồi Ngài thuyết kệ:

80.
“Udakañhi nayanti nettikā, usukārā namayanti tejanaṃ;
Dāruṃ namayanti tacchakā, attānaṃ damayanti paṇḍitā”ti.

Nghĩa:
Người dẫn nước dẫn dòng nước,
Thợ làm tên uốn thẳng tên,
Thợ mộc uốn cong thẳng gỗ,
Bậc trí điều phục tự tâm.

Giải thích:
Người dẫn nước dẫn nước theo ý mình, thợ làm tên uốn thẳng mũi tên, thợ mộc uốn gỗ thành bánh xe… đều là vật không tâm. Bậc trí thấy vậy, tự điều phục tâm mình, chứng các quả Thánh, đạt A-la-hán – hoàn toàn điều phục.

Khi pháp thoại kết thúc, rất nhiều người chứng quả Dự lưu và các quả vị khác.

Câu chuyện Sa-di Paṇḍita là câu thứ năm.

_________________________________

Chương VI – Phẩm Người Trí (Paṇḍitavaggo)
(Kệ 76 – 89)
5. Paṇḍitasāmaṇeravatthu (Câu chuyện Sa-di Paṇḍita) – Kệ 80

Address

111/71, đường Trục, Phường 13, Quận Bình Thạnh, TP HCM
Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phật Giáo Nguyên Thủy- Theravada posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share