Đường Cầu Đạo

Đường Cầu Đạo Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Đường Cầu Đạo, Religious organisation, Ho Chi Minh City.

04/03/2017
Tứ diệu đế: cũng gọi là Tứ thánh đế , là bốn chân lí cao cả, là gốc cơ bản của Phật giáo. Tứ diệu đế là nội dung của kin...
04/03/2017

Tứ diệu đế: cũng gọi là Tứ thánh đế , là bốn chân lí cao cả, là gốc cơ bản của Phật giáo. Tứ diệu đế là nội dung của kinh nghiệm giác ngộ của Phật Thích-ca Mâu-ni, và cũng là nội dung chính của bài kinh đầu tiên, kinh Kinh Chuyển Pháp Luân.
Thực chất Tứ Diệu Đế là một phương pháp đủ cả hai "lý thuyết và thực hành", đưa hành giả tới giác ngộ giải thoát. Tứ Diệu Đế đòi hỏi có sự tu tập thực hành trong cuộc sống hàng ngày, nếu chỉ lý thuyết chỉ là giả thuyết.
Thông suốt được những điểm giáo lý này có thể được xem như đã thâm nhập toàn bộ con đường giác ngộ giải thoát của Ðức Phật.
Tứ diệu đế: có 4 Phần: (1Khổ Đế, 2 Tạp Đế, 3 Diệt Đế, 4 Đạo Đế)
1.Khổ đế: chân lý về sự Khổ: Chân lý thứ nhất cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn. Sinh, lão, bệnh, tử, xa lìa điều mình ưa thích, không đạt sở nguyện, gặp gỡ với người hoặc sự vật mình không thích đều là khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm, Ngũ uẩn là các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ.
2.Tập đế: chân lý về sự phát sinh của khổ: Nguyên nhân của khổ là sự tham ái ,tìm sự thỏa mãn dục vọng, thỏa mãn được trở thành, thỏa mãn được hoại diệt. Các loại ham muốn này là gốc của Luân hồi
3.Diệt đế: chân lý về diệt khổ: Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt.
4.Đạo đế: chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ: Phương pháp để đạt sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo. Không thấu hiểu Tứ diệu đế được gọi là Vô minh

Bác Chánh ĐạoBất Chánh Đạo gồm tám yếu tố:1.- Chánh kiến 2.- Chánh Tư Duy 3.- Chánh Ngữ 4.- Chánh Nghiệp 5.- Chánh Mạng ...
04/03/2017

Bác Chánh Đạo
Bất Chánh Đạo gồm tám yếu tố:
1.- Chánh kiến
2.- Chánh Tư Duy
3.- Chánh Ngữ
4.- Chánh Nghiệp
5.- Chánh Mạng
6.- Chánh Tinh Tấn
7.- Chánh Niệm
8.- Chánh Định
1. Chánh Kiến: là hiểu biết đúng đắn, tức am hiểu tận tường Tứ Diệu Đế. Nói một cách khác, Chánh Kiến là thấu triệt thực tướng của bản thân mình.Tất cả chân lý trong vũ trụ đều nằm vỏn vẹn trong con người.
Chánh Kiến là yếu tố tất yếu trong Phật Giáo để thành tựu mục tiêu cứu cánh.
2. Chánh Tư Duy: là suy niệm chân chánh, gạt bỏ những ý tưởng và những khái niệm sai lầm, đồng thời tạo những tâm sở có tánh cách thiện.
Chánh Tư Duy gồm ba phần:
a/ Xuất gia, là sự từ khước những dục vọng trần tục, hay lòng vị tha, nghịch nghĩa với tâm luyên ái, vị kỹ, bám níu vào tư sản.
b/ từ ái, thiện chí , hay hảo tâm, nghịch nghĩa với thù hận, ác ý, ganh ghét.
c/ không hung bạo, hay ôn hòa, hiền lương, bi mẫn, nghịch nghĩa với tính hung bạo, tàn ác.
3. Chánh Ngữ: là lời nói chân chánh, không nói dối, không nói đâm thọc, làm cho người nầy phiền giận người kia, không nói lời thô bỉ và nói nhảm nhí. Người đã tận diệt tham vọng tất nhiên không thể có lời nói giả dối, phỉ báng, thô bỉ vì một mục tiêu ích kỷ nào, mà luôn chân thành, trung tín, luôn tìm cái đẹp cái tốt nơi người khác hơn là lừa dối, vu oan sĩ nhục, chia rẽ những người bạn đồng cảnh ngộ với mình. Một nhân vật hòa nhã và đượm nhuần tâm Từ không thể có lời nói thô lổ cộc cằn để làm suy giảm giá trị mình và gây tổn hại đến người khác. Lới lẽ của người giàu lòng từ ái bi mẫn không những chân thật dịu dàng mà còn hữu ích và luôn đem lợi lộc lại cho kẻ khác.
4. Chánh Nghiệp: là hành động chân chánh, khả dĩ tạo thiện nghiệp. Hành động chân chánh là không sát sanh, không trộm cắp, và không tà dâm.
Nguyên nhân của tâm luyến ái, thù hận, và tánh hung bạo độc ác là tham, sân, si. Hành giả đã tẩy sạch tham sân si, và giữ tâm hoàn toàn thanh tịnh thì những xu hướng xấu xa không khởi sanh lên được. Tâm thanh ý tịnh thì đời sống cũng được trong sạch. Người không tham, không sân, không si, ắt cũng không thể sát sanh, trộm cắp, tà dâm.
5. Chánh Mạng: là hành nghề sinh sống chân chánh. Giữ thân, khẩu, ý trong sạch, hành giả cố gắng sống đời trong sạch, lánh xa năm nghề nuôi mạng khả dĩ tạo nghiệp xấu là buôn bán khí giới, buôn bán nô bộc, nuôi thú vật để bán cho người ta ăn thịt hoặc làm nghề đồ tể, bán vật thực có chất say, và buôn bán độc dược.
6. Chánh Tinh Tấn: là cố gắng chân chánh,chia làm 4:
a.- Cố gắng tiêu trừ các ác pháp phát sanh.
b.- Cố gắng đè nén các ác pháp đang, hoặc chưa phát sanh.
c.- Cố gắng làm cho thiện pháp phát sanh.
d.- Cố gắng trau giồi các thiện pháp đã phát sanh.
Chánh Tinh Tấn rất quan trọng. chính sự cố gắng liên tục là yếu tố cần thiết để giải thoát chớ không phải nương nhờ hay van vái ai mà thực hiện được mục tiêu. Bên trong mỗi người đều có một kho tàng đức hạnh cao thượng và một hầm tật xấu đê hèn. Chánh Tinh Tấn là đè nén, tuyệt trừ tật xấu và cố gắng vun xới đắp bồi tánh tốt.
Tóm tắt, Chánh Tinh Tấn là cố gắng chú tâm kiểm soát thân, khẩu, ý.
7. Chánh Niệm: tức liên tục chú tâm quán tưởng đến thân, thọ, tâm,pháp . Niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, và niệm pháp.
Suy niệm chân chánh về bốn đề mục trên có khuynh hướng tận diệt bốn sai lầm rất phổ thông trong đời sống là:
- Ưa thích cái không được ưa thích.
- Thấy đau khổ là hạnh phúc.
- Xem cái vô thường là trường tồn bất biến.
- Vô ngã lại cho là linh hồn trường cửu.
8. Chánh Định: nhiếp tâm an trụ vào một điểm duy nhất. Chánh Định là yếu tố rất cần thiết giúp minh sát sự vật để thấy rỏ thực tướng của vạn hữu.
Trong tám yếu tố hay chi nầy:
- Chánh Kiến và Chánh Tư Duy thuộc về Trí tuệ
- Chánh Ngữ , Chánh Nghiệp, và Chánh Mạng thuộc về Giới Hạnh
- Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định thuộc về Định

Tứ Chánh Cần: (1 Ngăn Ác, 2 Diệt ác, 3 Sinh Thiện, 4 Tăng Trưởng Thiện)1.Ngăn Ác: tức là ngăn các niệm khởi. Nhưng khi t...
04/03/2017

Tứ Chánh Cần: (1 Ngăn Ác, 2 Diệt ác, 3 Sinh Thiện, 4 Tăng Trưởng Thiện)
1.Ngăn Ác: tức là ngăn các niệm khởi. Nhưng khi trong tâm chúng ta có khởi niệm thiện thì chúng ta phải làm sao? Dù niệm đó thiện nhưng vì tâm chúng ta chưa ly dục ly ác pháp hết nên thiện đó vẫn còn là ác pháp chớ không phải là thiện pháp thật sự.
Hiện giờ trong tâm chúng ta có một niệm thiện duy nhất đó là tâm BẤT ÐỘNG. Trong pháp môn TỨ CHÁNH CẦN dạy SINH THIỆN TĂNG TRƯỞNG THIỆN, tức là làm cho niệm thiện TÂM BẤT ÐỘNG sanh ra (SINH THIỆN) và kéo dài ra (TĂNG TRƯỞNG THIỆN). Như vậy, niệm TÂM BẤT ÐỘNG này thì không nên diệt mà phải tăng trưởng, sống cho được với TÂM BẤT ÐỘNG này. Còn tất cả niệm thiện khác đều diệt sạch.
Khi tâm khởi ra niệm nào thì phải mau mau đình chỉ niệm đó, không cho có niệm đó. Do ngăn các niệm khởi nên tâm sẽ BẤT ÐỘNG. Tâm BẤT ÐỘNG là chúng ta đã đạt được mục đích giải thoát của Phật giáo. Vì thế chúng ta chỉ cần tu một pháp mà thôi, chỉ cần tu pháp NGĂN ÁC, tứcđình chỉ niệm khởi là đủ rồi. Nói tu tập TỨ CHÁNH CẦN là tu 4 pháp, chớ thực ra chỉ có tu tập pháp NGĂN ÁC mà thôi.
Pháp NGĂN ÁC là pháp đầu tiên, nó là một trong 4 pháp của pháp môn TỨ CHÁNH CẦN. Xin quý vị lưu ý trong khi tu tập pháp môn này.
Con đường tu tập theo Phật giáo, nếu không tu tập pháp môn TỨ CHÁNH CẦN thì không bao giờ có pháp nào tu tập được giải thoát cả. Cho nên pháp môn TỨ CHÁNH CẦN rất quan trọng, nó là đệ nhất pháp XẢ TÂM của Phật giáo. Những ai không tu tập TỨ CHÁNH CẦN mà tu tập pháp môn nào khác là không biết đường lối tu tập của Phật giáo. Không biết đường lối tu tập của Phật giáo mà tu tập thì tu sai, làm mất căn bản con đường tu tập của mình.
Pháp môn TỨ CHÁNH CẦN như đội quân tiền phong luôn luôn đi trước DIỆT CÁC NIỆM để cho quân đoàn thiện chiến TÂM BẤT ĐỘNG tiến sâu vào căn cứ giặc, nhờ đó nó mới san bằng những căn cứ của giặc KHỞI NIỆM để TỨ NIỆM XỨ thành lập chánh quyền TÂM BẤT ĐỘNG cai trị.
Cho nên những ai tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ mà chưa tu tập pháp môn TỨ CHÁNH CẦN là không biết đường lối tu tập của Phật giáo. Xin lưu ý quý vị pháp môn TỨ CHÁNH CẦN bao giờ cũng tu tập trước pháp môn TỨ NIỆM XỨ. Tu khác như vậy là sai, chẳng bao giờ có giải thoát, vì tu không đúng pháp Phật
2.Diệt Ác: các suy nghĩ, vọng tưởng hiện ra phải dập tắt ngay không cho chúng tồn tại.
3.Sinh thiện: là không hại mình, hại người, hại chúng sanh, ơ đây không phai đi làm từ thiện, giúp người hay suy nghĩ làm những việc thiện mà tâm không suy nghĩ ( tâm trống không) là thiện
4.Sinh trưởng thiện: là kéo dài thời gian sinh thiện
*NHƯ LÝ TÁC Ý: là một pháp môn độc đáo, tuyệt vời nhất, cũng là một pháp môn nòng cốt nhất của đạo Phật. Bắt đầu từ tu tập giới luật xả tâm đến tu tập Thiền định và Tam Minh đều dùng nó. Duy chỉ có pháp môn nầy mới có đủ đạo lực, đủ khả năng làm chủ sanh, lão, bệnh, tử. Vậy, Như Lý tác Ý là gì? Như Lý Tác Ý (còn gọi là Pháp Hướng Tâm, Pháp Dẫn Tâm) là phương pháp dẫn tâm vào lý chân chính giải thoát của đạo. Đây là phương pháp giống như “tự kỷ ám thị” (auto suggestion), dùng một câu nói tác ý (khởi ý) để gom tâm lại, tập trung thành một khối nội lực, không để tâm phân tán. Thí dụ: Khi tâm đang suy nghĩ miên man, thì dùng pháp hướng tâm mà nhắc tâm như sau: “Tâm hãy quay vào, định trên thân, không được phóng dật quay ra ngoài”. Khi ngồi thiền mà ngủ gục, muốn cho tỉnh thức thì dùng câu tác ý: “Tâm phải tỉnh thức, không được ngủ và nằm chiêm bao”.
-- Chỉ có tu tập pháp môn nầy mới trở thành một đạo lực siêu việt không thể nghĩ lường được.
-- Muốn xa lià và đoạn dứt tâm tham, sân, si, mạn nghi, thì duy nhất chỉ có pháp môn nầy mới ly và đoạn dứt các dục và ác pháp, ngoài ra không còn có pháp môn nào khác nữa.
--Muốn nhập các định Như Y Túc thì pháp môn này đủ nghị lực để giúp cho hành giả muốn nhập loại định nào thì tuỳ ý nhập được liền.
-- Muốn nhập được Tam Minh và Thần Túc Thông thì ngoài pháp môn nầy ra không có pháp môn nào thực hiện được.
-- Tóm lại, pháp Như Lý tác Ý là một pháp môn độc nhất của đạo Phật để đưa con người thoát ra cảnh khổ của kiếp người, và biến hành giả thành một siêu nhân, một thánh nhân. (V/184-185)
-- Người tu thiền định mà không biết sử dụng Như Lý tác Ý thì không thể nào nhập các định được.
-- Đại Thừa và Thiền Đông độ nhắm diệt trừ vọng tưởng (Không niệm thiện, không niệm ác), tìm cái tĩnh lặng của Niết Bàn (bốn tánh của Niết Bàn là:thường, lạc, ngã, tịnh).
-- Phật dạy tu Thiền không phải ở chỗ nhiếp tâm, hết vọng tưởng để nhập định và nhất tâm định tĩnh. Ngược lại, Phật dùng pháp Như Lý tác Ý để trừ diệt, đi đến diệt vọng tâm, tham, sân, si, mạn nghi. Chính nhờ diệt trừ chúng, mới đạt được nhất tâm, nhập được tứ thánh định.
-- Dùng Như Lý tác Ý để ly dục, ly ác pháp, diệt ngã, xả tâm, quét sạch ngũ triền cái, đoạn dứt thất kiết sử, tâm vô lậu thanh tịnh, không còn đắm nhiễm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp của thế gian, tâm được thanh tịnh, gọi nó là Định. ( V/198)
-- Với Thiền Nguyên Thuỷ, vọng tưởng không thành vấn đề. Đối tượng tu tập là diệt tham, sân, si, mạn, nghi và thất kiết sử . (V/199-200).
-- Trong Sơ Thiền có Tầm, có Tứ. Tầm không phải là định tướng (như một bài đăng trên báo Giác Ngộ) mà là hướng về thiện pháp. Tứ không phải là bám sát vào định tướng, mà Tứ là Như Lý Tác Ý để diệt ác pháp. Như trong bài Kinh Xuất Tức, Nhập Tức, Phật đã dạy về Định Niệm Hơi Thở, Như Lý Tác Ý rất rõ ràng: “Quán ly tham, tôi biết tôi hít vô. Quán ly si, tôi biet tôi thở ra”. Đó là Tứ Như Lý Tác Ý để xả tâm tham, sân, si, mạn, nghi, tức là xả ngũ triền cái. Thiền của đạo Phật không phải là Thiền ức chế tâm, mà dùng hơi thở để xả tâm. Cho nên Phật dạy:”Muốn nhập Sơ Thiền cho đến Tứ Thiền thì phải Định Niệm Hơi Thở khéo tác ý”.
-- Muốn hướng tâm Như Lý tác Ý (ám thị) có kết quả, nghĩa là hết tham, sân, si thì phải giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh, ăn ngủ độc cư, sống trầm lặng một mình, thường sống biết nhẫn nhục tùy thuận, bằng lòng, chớ không phải chờ hết vọng tưởng như nhiều người tu thiền lầm tưởng.
-- Đó là lấy tâm “ám thị”, vừa lấy giới phòng hộ sáu căn, vừa sống lập đức, lập hạnh. Tu đúng như vậy thì tâm lần lượt sẽ được thanh tịnh, lần lượt ly dục, ly ác pháp, cho đến thanh tịnh hoàn toàn (tham sân si quét sạch).

Tứ Niệm Xứ: (1 Quán niệm về than, 2 Quán niệm về thọ, 3 Quán niệm về tâm, 4 Quán niệm về pháp)1.Quán Niệm Về  Thân: Quán...
04/03/2017

Tứ Niệm Xứ: (1 Quán niệm về than, 2 Quán niệm về thọ, 3 Quán niệm về tâm, 4 Quán niệm về pháp)
1.Quán Niệm Về Thân: Quán niệm về thân có nghĩa là thực hành thiền định về thân. Thực hànhphép quán niệm này để ý thức được về sự bình yên, thanh thản trong cuộc sống hiện tại, để thực hành nếp sống oai nghi và để thấy được mặt trái của thân này.Quán niệm than có 3 quán: hơi thở, cử chỉ và bất tịnh
a/ Quán thân thông qua hơi thở
Đếm hơi thở. Tuy nhiên, quán thân thông qua hơi thở không chỉ có đếm hơi thở mà còn phải theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra dài ngắn như thế nào và biết rõ như vậy. Nói cách khác, lúc ấy ta đang ý thức và nhận biết chính mình. Khi hơi thở và thân thể được điều hòa thì trạng thái an tịnh của thân sẽ sanh khởi.
Thật ra, việc hít vào thở ra sâu cạn chưa phải là điều quan trọng. Điều quan trọng hơn cả là ta có ý thức được trong khi thở.Con người có thể thực tập phép quán niệm hơi thở để đem lại sức khỏe cũng như năng suất công việc. Ở mức độ cao hơn, nó giúp hoàn thiện và phát triển trí lực.
b/ Quán thân thông qua các cử chỉ hoạt động
Đây là hình thức quán thân thông qua đi, đứng, ngồi, nằm, các hoạt động khác của thân, nhằm kiểm soát hoạt động của thân bằng chánh niệm. Ngôn từ mà ta nói ra đều hàm chứa những tâm tư, suy nghĩ của mình.
Khi ta ý thức, tỉnh táo trước một hành động thì có hai khả năng xảy ra: hoặc ta đang đắm mình trong hành động, sống với hành động mà không nghĩ gì khác ngoài chánh niệm, giác tỉnh, không thấy mình trong hành động thì ngay đó đã là một kết quả tốt đẹp rồi. Hoặc là ta tự ý thức đến cái «tôi« trong hành động, tức tư duy hữu ngã gắn liền với hành động. Như vậy, ý thức về hành động của thân để nhiệt tâm tinh cần thì đó là ý nghĩa đích thực của chánh niệm tỉnh giác. Như vậy, quán thân thông qua các hành động nhằm giúp ta kiểm soát hoạt động của thân bằng chánh niệm, để thực tập oai nghi chánh hạnh, đưa ta trở về sống với hiện tại; xa lìa lối sống tìm cầu hạnh phúc bằng tưởng tượng, bằng mong cầu và bằng hồi tưởng.
c/ Quán thân bất tịnh thông qua các bộ phận sai biệt cấu thành
Thường ta chỉ quan tâm về những nhu cầu như ăn uống, ngủ nghỉ... làm thế nào cho có sức khỏe, cho thân hình cân đối đẹp đẽ. Ta tự hào và trân quí thân ta, vì dưới con mắt mọi người ta có được một thân thể đẹp đẽ, nhan sắc... Ta nâng niu, nuôi dưỡng và bảo vệ nó tối đa. Ngược lại ta thật khổ đau và hổ thẹn khi ta có một khuyết tật nào đó trên thân như mắt lé, mũi tẹt... ta cảm thấy khổ tâm khi đối diện với mọi người.
Thế nhưng dù đẹp hay xấu, thân này vẫn là bất tịnh, là duyên sinh, vô thường, vô ngã. Phương pháp quán sát thân tứ đại như sau: quán từ lòng bàn chân lên đến đỉnh tóc được bọc bởi lớp da và chứa đầy những thứ sai biệt bất tịnh. Thân bất tịnh ngay khi còn nằm trong bụng mẹ, hấp thụ huyết khí mà sống. Khi than nầy chết đi: thứ nhất là thân trương phồng lên, thối rữa ra. Thứ hai thân bị các loài côn trùng ăn thịt. Thứ ba thân chỉ còn lại bộ xương kết dính với nhau nhờ vào các sợi gân.Thứ tư là thân chỉ còn lại các đốt xương trắng rời rạc, theo thời gian tan hoại thành bột trắng. Trong khi quán niệm như vậy biết rõ rằng: «Thân này tính chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh ấy«. Đấy là lời khẳng định chắc thật của Thế Tôn. Thân này chịu sự chi phối của sanh, già, bệnh, chết. Thời gian trôi qua thì mạng sống cũng giảm dần. Một thân thể mà ta yêu chuộng ngày nào giờ đây chỉ còn lại đống tro tàn nguội lạnh. Xấu - đẹp, giàu - nghèo, sang - hèn... đều như thế cả.
Mục đích của quán thân bất tịnh là nhằm đưa con người vượt khỏi những vướng mắc, quị lụy đau khổ chấp trước vào thân này. Quán như vậy nhằm để đối trị lòng ham muốn sắc dục.
Tóm lại, quán thân có thể được hiểu trên hai mặt: quán phần thô và quán phần tế. Phần thô là quán các hoạt động bên ngoài của thân như đi, đứng, ngồi, nằm... Phần tế là quán thân này do tứ đại hợp thành, được kết cấu với nhau qua các thứ bất tịnh.

Tứ Như Ý Túc(1 Dục Như Ý Túc, 2 Tinh Tấn Như Ý Túc, 3 Tâm Như Ý Túc, 4 Quán Như Ý Túc)1.Dục Như Ý Túc:  Mong muốn một cá...
04/03/2017

Tứ Như Ý Túc
(1 Dục Như Ý Túc, 2 Tinh Tấn Như Ý Túc, 3 Tâm Như Ý Túc, 4 Quán Như Ý Túc)
1.Dục Như Ý Túc: Mong muốn một cách thiết tha, cho kỳ được, cho đến khi mãn nguyện mới thôi
Trước tiên không phải mong muốn thỏa mãn những thú tánh, những tham vọng, tội lỗi. Mà là mong muốn hướng thượng, trong lành, sống một cuộc đời đẹp đẽ, thanh cao, được giải thoát ra ngoài biển khổ sanh tử, đó là thứ mong muốn hợp lý, đáng khuyến khích. Mong muốn được thành đạt pháp thiền định mình đang tu, để tiến lên chứng các Thánh quả. Thứ mong muốn này rất cần cho người tu hành; nếu không mong muốn thiết tha, mãnh liệt thì khó mà đi đến đích giải thoát được. Đây cũng là một sự cải chính rất hùng hồn để đánh tan quan niệm sai lầm cho rằng: diệt dục nghĩa là diệt tất cả, diệt luôn cả sự sống. Thật ra diệt dục ở đây tức là dục vọng, diệt những phần ham muốn xấu xa đê hèn, làm cho con người bị đọa xuống hàng thấp thỏi như loài súc sanh, địa ngục, chứ đâu có diệt luôn cả những chí nguyện, những mong ước, những đức tánh tốt đẹp của con người.Cần hướng về cái đích mình đang nhắm, những pháp mình đang tu. Người tu hành mong muốn thành tựu những pháp thiền định của mình phải mạnh mẽ .Có như thế, hành giả mới tăng tiến mãi trên bước đường tu hành của mình.
2. Tinh tấn như ý túc: Là dũng mãnh, chuyên nhất vào pháp thiền định mình đang tu. Ra công, gắng sức, luôn luôn bền tâm vững chí.
- Tinh tấn không phải chỉ là sự hắng hái, bồng bột trong chốc lát, như sự ồ ạt, bốc cháy của ngọn lửa rơm. Tinh tấn là nghị lực tu tập mạnh mẽ, thường hằng, không bao giờ gián đoạn.
- Vậy người muốn chứng đạo quả, phải thường Tinh tấn đầy đủ như ý mình ước nguyện.
3. Nhất tâm như ý túc: Là tâm chuyên nhất vào định cảnh, không bào giờ tán loạn. Một con sông lớn, nếu bị chia nhiều ngành tất nhiên sức chảy của nó bị yếu. Trái lại, một dòng suối nhỏ, nếu chỉ chảy một đường, cũng đủ sức xối thủng đá. Người tu hành, tâm được chuyên nhất, không bị tán loạn, thì muôn sự đều thành. Người tu hành giữ nước trí tuệ, phải khéo tu thiền định, chớ cho tán động".
4. Quán như ý túc: Quán nghĩa là dùng trí tuệ sáng suốt quán sát pháp mình đang tu. Quán trí ấy do định mà phát sanh, trí ấy là tịnh trí. Vì tịnh cho nên nó có thể như thật thông đạt thật nghĩa (chân lý) của các pháp (vũ trụ).

LỜI THẦY THÍCH THÔNG LẠCThầy có đôi lời muốn nhắn nhủ cùng các con trong sự tu tập.  Các con hãy cố lắng nghe, chỗ nào c...
04/03/2017

LỜI THẦY THÍCH THÔNG LẠC
Thầy có đôi lời muốn nhắn nhủ cùng các con trong sự tu tập. Các con hãy cố lắng nghe, chỗ nào các con tu tập đúng thì hãy tiếp tục tu học, chỗ nào các con tu tập sai thì phải sửa đổi lại ngay liền, không khéo chỉ mất thì giờ vô ích và có khi còn bịnh tật rất nguy hiểm.
Thời gian thắm thoát trôi qua quá nhanh. Mới đó mà đã hết một năm tu tập của chúng ta. Giờ đây kiểm điểm lại sau một năm tu tập xem có tiến bộ không hay dậm chân tại chỗ. Ðể xác định điều nầy, Cô Diệu Quang đã trắc nghiệm tuyển thi để chọn và đưa các con lên tu tập lớp Thiền Ðịnh II. Nhưng hoàn toàn thất vọng. Một năm tu tập đã qua, và tất cả các con đều thi rớt. Chỉ có một mình Huệ Ân là đủ đậu ở Giai-Ðoạn thứ nhất, phần I. Các con đành phải ở lại một năm nữa để tu tập ở Giai-Ðoạn I ly cho được bản ngã ác pháp của mình. Tại sao các con lại rớt? Xét ra có nhiều nguyên nhân tu sai mà các con không biết:
1/ Tu sai mà không biết mình tu sai.
2/ Cô Diệu Quang nhắc nhở mà không chịu nghe theo.
3/ Cứ dựa vào Thầy để nghe thuyết giảng, tích luỹ sự hiểu biết suông nên tạo thành bản ngã to lớn.
4/ Học tập, thuộc nhiều, nói nhiều, đến khi hành thì sai hết. Lớp nầy tu tập chưa xong, lại tu lớp khác.
5/ Hạnh ăn, ngủ chưa trọn vẹn.
6/ Hạnh độc cư giai-đoạn I chưa xong, lại vượt qua giai-đoạn 2, 3.
7/ Nhẫn-nhục chưa tròn mà vội tuỳ thuận, bằng lòng là nén tâm, ức chế tâm; đó là tu sai. 8/ Thiếu lòng tin ở người thiện hữu tri thức gần gũi bên mình, như cô Diệu Quang.
9/ Không nghe lời dạy bảo khuyên răn của thiện hữu tri thức.

10/ Thường sống trong bản ngã ác pháp, cố giữ kiến chấp khư khư không chịu bỏ, không chịu thấy và xa lìa các lỗi lầm nhỏ nhặt. Thường hay tự lý-luận, che đậy lỗi lầm và cố tranh chấp, cãi lý, nên tâm thường bất an.
11/ Sống thiếu lục hoà, sanh tâm ganh tị.
12/ Sống độc cư sai, tạo cảnh nén tâm, ức chế tâm: miệng làm thinh không nói, nhưng ý nói rất nhiều.
13/ Tu sai, không thưa hỏi kỹ thiện hữu tri thức để trở thành lối tu có hình thức bên ngoài. 14/ Tình cảm người thân không chịu quán xét, xa lìa, nên tâm thường bị phân tán.
15/ Khi nghe nhắc nhở, thiếu trí thông minh, không chịu thưa hỏi kỹ lại. 16/ Thường che dấu thững lỗi lầm tu sai của nhau.
17/ Tâm luôn luôn sợ hãi, không dám chỉ mặt, vạch tên bạn đồng tu có lỗi lầm để giúp nhau sửa sai. Ðó là thiếu lòng dũng cảm, không gan dạ để xây dựng mình tốt, bạn tốt, tập thể tốt.
18/ Không dám thẳng thắng nhận lỗi mình, chỉ lỗi người là tánh thiếu can đảm.
19/ Vị tình, thương bạn đồng tu, không dám chỉ lỗi là đặt tình thương không đúng chỗ, để bạn mình sai lại càng sai hơn.
20/ Sợ bạn bè đồng tu xấu hổ vì phạm lỗi lầm, không dám chỉ sai cho người khác sửa đó là làm hại bạn mình, hại tập thể.
21/ Mỗi bữa ăn nào cũng không giữ yên lặng để nghe lời chỉ bảo của thiện hữu tri thức để tu sửa thân tâm trong khi ăn uống. Trong khi ăn uống thường tranh luận, biện lý kiến chấp và che đậy lỗi lầm của mình.
22/ Thường nương tựa kiến thức thế gian, sanh kiến chấp, nuôi lớn ngã mạn, khinh thường người thiện hữu tri thức trợ giúp mình tu học.
23/ Không chịu nương kiến thức xuất thế gian để diệt ngã, xả tâm, kính trọng người thiện hữu tri thức của mình.
24/ Thiếu lòng tôn kính với người thiện hữu tri thức gần bên, họ là người tạo nghịch duyên để
mình tu xả tâm giải thoát.
25/ Không chịu động não, suy tư, quán xét để tìm ra các kiến chấp và sự tu tập sai của mình
để dẹp bỏ và sửa lại.
26/ Cứ dựa vào lời giải thích lòng vòng của Thầy, mà không chịu nghe lời chỉ thẳng của Cô Diệu Quang.
27/ Không chịu động não, quán xét lỗi mình, để sửa sai theo lời chỉ thẳng của Cô Diệu Quang.
28/ Nghe Thầy ở xa, không nghe Cô Diệu Quang ở gần. Ðó là bỏ mồi bắt bóng.
29/ Nghe tiếng nói của Thầy, không chịu nghe tiếng nói của Cô Diệu Quang, đó là ôm vang, bỏ tiếng.
30/ Không nghe lời chỉ thẳng của Cô Diệu Quang để triển khai trí tuệ vô sư, ly dục, ly bất thiện pháp.
Do 30 nguyên nhân trên đây mà các con thi rớt. Và cũng nhờ sự tuyển thi nầy, các con được biết mình rõ hơn, giải thoát ở mức độ nào sau một năm tu tập.
Sau đây là những điều quan trọng mà các con cần ghi nhớ trong khi tu tập Thiền Ðịnh ở Giai- Ðoạn I trở lại.

12 ÐIỀU QUAN TRỌNG CẦN NHỚ(Ðể ly dục, ly bất thiện pháp):1. Thường tu tập tỉnh giác trong mọi hành động của thân, khẩu, ...
04/03/2017

12 ÐIỀU QUAN TRỌNG CẦN NHỚ
(Ðể ly dục, ly bất thiện pháp):
1. Thường tu tập tỉnh giác trong mọi hành động của thân, khẩu, ý.
2. Thường tu tập cẩn thận, từ việc làm việc nhỏ nhất, đến việc làm lớn nhất. Phải dè dặt, kỹ lưỡng.
3. Thường ý tứ trong mọi hành động thân, khẩu, ý trong thiện pháp và tránh ác pháp.
4. Thường tu tập, bảo vệ và giữ gìn tâm mình thanh thản, an lạc và vô sự để được sáng suốt bình tĩnh và đẩy lùi các chướng ngại pháp.

5. Thường tu tập nghị lực để chiến đấu với tâm mình, ly dục, ly ngã, ly bất thiện pháp, trước mọi nghịch cảnh tức là ác pháp.
6. Phải tỏ lòng tôn kính, cầu xin thiện hữu tri thức thân cận của mình để được nghe những lời chỉ thẳng, vạch trần những lỗi lầm, những chỗ tu sai lạc để xả ngã ác pháp và tu tập lại cho đúng.
7. Khi thiện hữu tri thức bảo làm gì thì phải làm đúng, không nên làm sai. Ðó là tu tập đức tùy thuận ở người, làm sai lời dạy là tùy thuận ở mình.
8. Khi người thiện hữu tri thức nói oan ức và mắng chửi mình là để mình tu tập đức nhẫn nhục.
9. Khi người thiện hữu tri thức nói trái ý mình là để dạy mình tu tập đức bằng lòng.
10. Khi người thiện hữu tri thức chê mình là để mình rèn luyện cách thức xả ngã ác pháp.
11. Khi người thiện hữu tri thức khen mình là để xem mình xả ngã ác pháp được chưa.
12. Khi người thiện hữu tri thức bảo mình phải tự tìm cách xả tâm, ly dục, ly ác pháp, không được học thuộc lòng. Ðó là chỉ cho mình động não, khai triển trí tuệ vô sư, ly dục, ly bất thiện pháp.
Trong 12 điều trên đây, các con cần phải ghi nhớ cho kỹ. Những gì chưa hiểu, phải thưa hỏi thêm để biết cách tu tập cho đúng.
Rút tỉa ưu khuyết một năm tu tập đã qua, các con đã có nhiều kinh nghiệm hơn. Bước sang năm mới, các con hãy chuẩn bị tinh thần dõng mãnh, nghị lực kiên cường để luôn luôn chiến đấu trong mặt trận ly dục, ly bất thiện pháp để đem lại cho các con một tâm hồn thanh bình, yên vui, để được kết quả tuyển thi sắp tới, để bước sang giai-đoạn cao hơn, và thực hiện cho được giấc mộng làm chủ sanh, già, bịnh, chết. Cố gắng! Các con hãy cố gắng lên! Phần thưởng chiến thắng dành cho những ai biết cố gắng đang chờ đón ở phía trước. Chiến thắng cái gì?
Không phải ở chỗ thần thông phép tắc các con ạ! Không phải ở chỗ ngồi thiền bảy tám ngày các con ạ! Không phải ở chỗ nhất tâm bất loạn, mà ở chỗ tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ.
Ðừng lấy những gì thất bại đã qua mà hối tiếc, mà hãy nhìn hiện tại và hướng đến vị lai mà tiến bước tu tập. Có quyết tâm, phải có thành công. Sự tu tập không khó, mà chỉ vì không có quyết tâm, thiếu ý chí và nghị lực.
Những lời sách tấn nầy, các con phải nhớ mãi trên bước đường tu tập Thiền Ðịnh. Các con
đừng ngại khó khăn, vì bên cạnh các con đã có Cô Diệu Quang, kế đó còn có Thầy. Ðường
đi khó là vì chưa biết đường. Nhưng khi đã biết đường, thì dù đường đi có khó đến đâu cũng đi đến đích. Mạnh dạn tiến lên hỡi các con để chấm dứt sanh tử luân hồi muôn đời. Ðừng để thân tâm nầy trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, tiếp diễn mãi đau khổ muôn kiếp.
Sau khi nghe lời Thầy giảng trạch tu chỗ tu sai, các con đã hiểu rõ rồi, và đã nhận ra, bây giờ các con cố gắng suy tư, động não, tìm hiểu chỗ sai của mình, để tu sửa lại, để được giải thoát, để được tu tập lớp cao hơn. Thầy sẽ bắt đầu giảng trạch bổ túc thêm những điều các con đang tu tập dở dang.
Hôm nay bắt đầu cho một năm tu tập mới, Thầy xin nhắc lại trên con đường tu tập theo Ðạo Phật, có ba giai đoạn tu Thiền Ðịnh:
1/ LY: có nghiã là rời xa, lìa xa, cách xa.
2/ DIỆT: có nghiã là đóng lại, làm cho ngưng hoạt động, dừng lại.
3/ XẢ: có nghiã là bỏ ra, ném ra, không cần dùng nữa, không còn trở lại thói quen tật cũ tức là nghiệp cũ.
Giai-đoạn thứ nhất trong một năm tu tập, các con chỉ có tu tập ly dục, ly bất thiện pháp. Thế mà các con đã lầm lẫn nên chỉ tu tập diệt và xả. Vì thế sự tu tập của các con trở thành mù mờ, nên không biết tu cái nào chánh, cái nào phụ. Cái chính là ly dục, ly bất thiện pháp; tức là tu tập ba đức, ba hạnh. Còn cái tu phụ là nhiếp tâm trong hơi thở. Nó chỉ phụ trợ cho sự tu tập LY mà thôi. Các con đã lầm nên lấy cái tu chính làm cái tu phụ; còn cái tu phụ làm cái tu chính. Vì thế, khi thi các con đều rớt hết là phải. Qua một năm tu tập, các con có nhiều kinh nghiệm cho cuộc tuyển thi tới. Nhờ cuộc tuyển thi vừa qua các con mới nhận ra cái tu sai của các con. Bây giờ Thầy sẽ giảng trạch giai đoạn thứ nhất là LY để các con hiểu đúng cách, rồi nương vào Cô Diệu Quang chỉ thẳng, đập thẳng mà tu tập. Xưa Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni phải tu ở giai đoạn nầy sáu năm khổ hạnh mới ly dục. Còn ở giai- đoạn II, III, Thầy không giảng, vì nếu giảng thì các con sẽ hiểu lộn xộn, rồi không biết lớp lang tu tập. Chờ khi nào các con tu tập xong giai đoạn I Thầy sẽ giảng giai đoạn II. Tu xong giai đoạn II, Thầy sẽ giảng tiếp giai đoạn III.
Tu tập ở giai đoạn I là phải xét lại ba đức, ba

LY DỤCLY DỤC là xa rời lòng ham muốn của mình. Muốn lìa xa thì các con phải tìm xem đối tượng của lòng ham muốn là gì.Tr...
04/03/2017

LY DỤC
LY DỤC là xa rời lòng ham muốn của mình. Muốn lìa xa thì các con phải tìm xem đối tượng của lòng ham muốn là gì.
Trong đời sống hàng ngày của con người có năm đối tượng dục lạc khiến các con sanh tâm ham muốn. Ðó là: ăn, ngủ, sắc dục, danh, lợi.
Muốn lìa các thứ dục nầy các con phải tập ba hạnh sau đây: ăn, ngủ, độc cư. Các con cần phải hiểu rõ cái lợi và cái hại của ăn, ngủ, độc cư như thế nào?
HẠNH ĂN:
Hạnh ăn uống là một phương tiện để tu tập ly dục về ăn uống. Người đời thường nói ham ăn, hốt uống là để chỉ những hạng người xấu ham ăn, ham uống. Chúng ta là những tu sĩ tu tập hạnh giải thoát mà chưa giải thoát được cái ăn thì còn giải thoát được cái gì? Vậy, chúng ta phải ăn ngày một bữa để nuôi sống thân chúng ta mà thôi. Không được ăn uống lặt vặt, không được ăn uống phi thời, không được chạy theo dục lạc của ăn uống. Phải luôn luôn cố gắng khắc phục trong ăn. Ăn uống mà không khắc phục được thì còn tu cái gì?
Phật không dạy chúng ta tuyệt thực hay tiết thực (ăn quá ít) như ngoại đạo đã dạy, cũng không dạy chúng ta ăn uống phi thời. Ðức Phật dạy: Thừa tự pháp không nên thừa tự thực phẩm.
Xưa kia Ngài đã tu khổ hạnh, tiết thực ăn uống quá ít, thấy cơ thể suy mòn, tinh thần không còn sáng suốt nên Ngài bỏ. Tu khổ hạnh như thế là tu sai, không tìm được giải thoát, cho nên Ngài quyết định ăn ngày một bữa cho đủ sống, để cơ thể khoẻ mạnh mà tu tập. Chỉ ăn ngày một bữa mà Ðức Phật vẫn khoẻ mạnh và sống đến 80 tuổi mới chết. Chúng ta bây giờ cũng vậy. Các con đang ăn mỗi ngày một bữa mà vẫn khoẻ mạnh. Trong những ngày lao động các con cũng vẫn tham gia lao động mà cơ thể vẫn bình thường.
Các con cần xét kỹ dục ăn uống rất là quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.
Người ngoài đời vì ăn uống mà người ta xâu xé lẫn nhau, giết hại nhau, chà đạp lên nhau không chút lòng xót thương, so sánh với loài vật thì chúng ta cũng như vậy. Vì ăn uống mà người ta nghèo đói, khổ sở, nợ nần. Vì ăn uống mà người ta làm đủ điều gian lận, mánh khoé. Vì ăn uống mà sản nghiệp tiêu tan. Vì ăn uống mà cốt nhục tương tàn. Vì ăn uống mà phải dầm sương, dãi nắng, chạy xuôi, chạy ngược, buôn tảo, bán tần.
Các con có thấy không? Cái dục về ăn uống đối với đời người nó khổ biết là dường nào! Vậy từ đây về sau, các con phải dùng nghị lực dũng mãnh chống lại cái dục về ăn uống. Chỉ ăn ngày một bữa mà thôi, ngon dở nguội lạnh không màng. Chỉ cần giải quyết nghiệp đói của thân là đủ lắm rồi, đủ để thân yên ổn, thanh tịnh, tu tập Thiền Ðịnh, giải quyết luân hồi sanh tử. Ðừng có nay đòi ăn thứ nầy, mai đòi ăn thứ kia. Ai cho gì ăn nấy, ngon cũng ăn, dở cũng ăn. Không khen, không chê, không ham, không thích, chỉ đủ no lòng mà thôi. Ðừng sanh tâm lý luận ăn như vậy thiếu chất bổ. Ðó là cái lý luận chạy theo ăn uống. Các con phải hiểu thân là một khối do các duyên hợp lại mà thành, nên không có bản ngã thường hằng trong đó. Vậy mà muôn đời người ta lầm chấp thân nầy là bản ngã chân thật của
mình. Lại có một số người cho rằng trong cái khối nầy có cái bản thể chân thật của mình. Chính vì cái lầm chấp đó nên luôn luôn lo bảo vệ và giữ gìn không cho ai chạm đến. Vì thế mà duyên sanh sanh ra muôn ngàn thứ đau khổ, phiền lụy và luôn tranh đấu.
Các con cũng vậy, cũng lầm chấp như bao nhiêu người khác. Ngày nào các duyên tan rã thì ô hô, còn lại cái gì là của các con nữa? Chết chỉ còn một khối nghiệp lực nhân quả, thiện ác tiếp tục tái sanh mà các con đã lầm chấp trong suốt cuộc đời của mình, cho nó là linh hồn thần thức, Phật Tánh, Bản Lai, v.v... Sự tiếp diễn luân hồi nầy mãi mãi muôn đời muôn kiếp để trả vay vay trả, không bao giờ tàn phai. Các con có biết rằng trong cuộc đời nầy không có
một sự việc gì xảy ra mà ngẫu nhiên cả. Tất cả đều có nguyên nhân, đều có lý do. Không phải như các nhà Nho ngày xưa và một số người ngày nay bài bác lý nhân quả. Họ cho rằng tất cả đều là ngẫu nhiên. Họ còn cho thí dụ là những chiếc lá vàng ở trên cây kia vô tình (do ngẫu nhiên đưa đẩy), gió thổi bay đi, cái rơi xuống đất, cái xuôi dòng nước, cái rơi xuống bùn. Ðời sống nghèo đói, giàu sang của con người cũng như vậy.
Thực ra gió nào có phải là ngẫu nhiên; mà chính là do nhân duyên mặt trời nung đốt không khí. Không khí bị cháy, trống đi một khoảng, các không khí chỗ khác ập vào, lấp vô chỗ trống, tạo thành cơn gió, bão.
Sự nghèo đói và giàu sang của chúng ta không thể do ngẫu nhiên mà có được. Hỏa hoạn, thủy tai, giặc giã cướp mất sự giàu sang, để lại sự nghèo đói cho muôn người. Ðây là những cận duyên trong hiện kiếp. Còn những duyên sâu xa trong nhiều kiếp quá khứ nữa. Duyên nhân quả khởi trùng trùng tạo thành khối nghiệp nhân quả đi luân hồi sanh tử bất tận. Ðức Phật trong bài thuyết pháp Mười Hai Nhân Duyên đã chỉ rõ kiếp sống của một con người từ khi sanh ra, lớn lên cho đến khi tan rã. Chỉ là Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. Không có gì tồn tại ngoài 12 Nhân Duyên này tiếp diễn nối nhau mãi trong lộ trình nhân quả (Thầy sẽ giảng rõ hơn về 12 Nhân Duyên vào một dịp khác). Thế nên, cuộc đời con người chẳng qua chỉ là một khối nhân duyên Vô Minh nhân quả trả vay, vay trả triền miên, cùng với duyên tan hợp mà thôi. Cho nên trong gia đình, cha mẹ, vợ chồng, con cái luyến ái, gắn bó hoặc đau khổ, phân ly cũng là do nợ nần muôn đời muôn kiếp trong nghiệp lực nhân quả. Có gì đâu mà thương nhớ, tiếc mong. Bỏ xuống đi, hãy bỏ xuống đi! Ðời chẳng có gì đáng cho ta lưu luyến cả.
Quyết một đời tu tập không lui, Giữ thân tâm thanh thản an vui. Nhập Thiền Ðịnh xa lìa nhân quả, Ðạo quả viên thành, độ chúng vui.
Bây giờ các con đã thấu rõ được hạnh ăn uống là đối tượng diệt ngã ác pháp. Từ nay về sau, các con cố gắng khắc phục nó để mỗi ngày ăn một bữa, đủ sống mà thôi, đừng bắt chước các vị thầy khác mà sống vào con đường tu hành không đúng Ðạo Phật, nhưng cũng không nên ăn quá ít, hoặc ăn quá nhiều. Ăn ít là tiết thực, điều nầy tai hại cho sự tu tập vì sức khỏe yếu kém. Ăn nhiều là dư thừa, sanh dục, ham ngủ, mê muội, cũng hại cho đường tu. Phải sáng suốt, linh động. Ăn đúng cách là tu. Tu đúng cách là làm chủ cái ăn.
Ðừng bắt chước người khác mà ăn ít (vì bản chất người ấy không ăn nhiều được), và cũng đừng ráng ăn nhiều (vì sợ đói). Phải tùy ở thể tạng của mình, và phải làm chủ mình trong khi tu hạnh ăn uống.
a) HẠNH NGỦ:
Ngủ cũng là một đối tượng để chúng ta tu tập lập hạnh ngủ ly dục, mê muội. Ngủ là một nghiệp dục nặng của thân. Nếu không ngủ sẽ sanh ra bệnh, rồi chết; cũng như ăn vậy. Ngủ là một thói quen của nghiệp lực. Nó sanh ra vô minh, lười biếng, khiến cho thân tâm ta uể oải, bần thần, mỏi mệt, dã-dượi. Thiếu nó con người thiếu nghị lực, không còn siêng năng, tinh tấn làm việc hay tu tập học hành. Cũng vì nó mà người ta sanh ra tâm lười biếng, gian tham, biển lận, trộm cướp. Vì nó mà người ta đần độn, ngu si, không thông minh, không bao giờ làm việc lớn, thường sống trong cảnh nghèo đói. Ngủ là một dục lạc trong năm thứ dục lạc của thế gian, khiến người ta rất thích thú ham mê. Khi không ngủ là họ quá sợ, nhưng khi ngủ nhiều thì lại ám độn, mê muội.
Người tu hành cần phải khắc phục nó, chiến đấu trường kỳ với nó. Nó khiến chúng ta không tỉnh táo để phán xét mọi việc đúng sai, thiện ác trên bước đường ly dục, ly bất thiện pháp.
Chính nó khiến tâm ta không tỉnh giác, nên tâm thường ở trong tà niệm, sanh ra nhiều duyên làm đau khổ cho mình cho người. Chính nó khiến ta làm càng, làm bậy, thiếu suy tư, thiếu cẩn thận, nên thường mắc phải lỗi lầm. Nó khiến cho tâm ta mù mờ, không thanh thản, an
lạc và vô sự, vì thế sanh ra loạn tưởng, trạo hối. Nó khiến tâm ta mất bình tĩnh, thiếu sáng suốt, vì thế dễ sinh ra hờn giận, đau khổ, nghi nan, phiền toái. Chính nó khiến cho tâm ta mù mờ, không rõ. Chính nó khiến cho tâm ta rơi vào năm loại vô ký:
1. Vô ký hôn trầm.
2. Vô ký thùy miên.
3. Vô ký mộng tưởng.
4. Vô ký hôn tịch.
5. Vô ký ngoan không.
Chính nó lặng đi, khiến ta tọa thiền mất tự chủ, thân nhúc nhích rung động, làm cho thân không bất động, khó nhập chánh định, rơi vào tà định. Những điều Thầy nêu ở trên đây cho thấy ngủ tai hại đến sự tu tập biết là dường nào. Ðã biết rõ nó, các con phải cố gắng tu tập:
1. Ði kinh hành nhiều.
2. Vừa đi kinh hành, vừa hướng dẫn theo bước chân, vừa hướng tâm theo bước chân.
3. Thường xuyên nhắc tâm tỉnh thức theo hành động của thân mà Ðức Phật gọi là Thân Hành Niệm.
4. Thường xuyên hướng tâm như lý tác ý, nhắc tâm chớ ham ngủ.

5. Khi gặp hôn trầm thùy miên nặng bằng mọi cách không phá được thì phải lấy kinh sách ra nghiên cứu về một điều gì để động não thì mới phá được ngủ.
6. Phải làm một việc gì để động thân.
7. Không được ngồi hoặc nằm một chỗ.
8. Chạy bộ, hoặc đi tắm.
9. Phải tập thể dục, tập vài thế dưỡng sinh, hoặc đi một bài quyền (võ thuật).
10. Cử tạ, đào đất.
Các con nên nhớ kỹ: ngũ là một thứ dục lạc rất khó trị. Thế nên luôn luôn lúc nào cũng đề cao cảnh giác, chiến đấu với nó bằng tất cả nghị lực của mình. Nếu các con không chiến đấu hết sức, chừng đó nó sẽ thành thói quen lười biếng, các con sẽ thất bại ê chề trong cuộc đời tu hành. Biết bao nhiêu người tu hành đã qua, cũng vì nó mà tu hành chẳng tới đâu. Các con nên nhớ ngủ là một thứ dục lạc trong thân nên phải thường xuyên tu tập đi kinh hành, và siêng năng hướng tâm như lý tác ý tỉnh táo mới ly nó được. Phải trường kỳ tranh đấu với nó. Ðến khi nhập định xả bỏ thân tâm, nó mới hết được. ĂN cũng vậy, phải nhập định, xả bỏ thân tâm, nó mới hết. Hai thứ dục lạc nầy là cội gốc, mầm sống của thân; nếu không ngủ, không ăn thì thân phải chết. Còn ba thứ dục lạc kia (sắc dục, danh, lợi) là cội gốc của tâm nên chúng ta tu tập dễ ly hơn. Xa lìa ăn ngủ nghiêm chỉnh, là xa lìa được năm thứ dục lạc. Phải khéo léo, linh động, tùy theo sức mình, tu tập dần dần lên. Không được ép chế không ngủ. Ngủ phải đúng giờ khắc, ngủ phải có tập luyện hướng tâm ngủ. Không được muốn ngủ hồi nào là ngủ, muốn tu hồi nào là tu. Ngủ đúng cách là tu tập, tu tập đúng cách là làm chủ ngủ. Hành động ngủ là tu tức là tỉnh thức, hành động tu là ngủ tức là ly dục ly ác pháp, ly dục ly ác pháp tức là tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh tức là định.
b) HẠNH ÐỘC CƯ:
Ðây là hạnh khó nhất trong ba hạnh. Nghe thì dễ, mà hành thì khó vô cùng. Ðộc cư là phương tiện tu tập để bảo vệ, phòng hộ, giữ gìn, hộ trì, ngăn ngừa, che chở sáu căn tức là thân tâm được an ổn, tránh các loại duyên bên ngoài, khiến cho tâm, cảnh an vui, tu tập dễ dàng. Ðộc cư còn giúp cho tâm các con có dịp tuôn tràn bao nhiêu ký ức, kỷ niệm. Ðộc cư cũng là dịp giúp cho các con nhận ra được dục lạc ham ngủ, ham vui là tai hại trên đường tu tập. Ðộc cư là đối tượng để các con dùng mọi phương tiện tu tập thu nhiếp thân tâm thành khối nội lực. Người không sống trong hạnh độc cư được là người hay phân tâm.
Người phân tâm là người không có sức tỉnh thức cao, không có sức tập trung mạnh, chỉ có ức chế tâm bằng tưởng pháp. Người thích quay ra ngoài thường rất sợ cô đơn, tâm thường bị phân tán theo các duyên. Tâm chúng ta có, vốn từ nhân quả mà ra, nên thường bị các duyên nhân quả chi phối. Vì thế tâm lúc nào cũng bị phân chia tan nát, không hợp nhất lại được. Chỉ một vài giây hợp lại là bị phân ra liền theo các duyên trong ba thời gian: quá khứ, hiện tại, vị lai. Từ ngày nầy sang ngày khác, từ năm nầy sang năm kia, tâm chúng ta luôn luôn bị phân tán liên tục cho đến khi nằm xuống lòng đất. Mục đích của người tu thiền là gom tâm lại, dù là thiền dưới bất cứ hình thức nào, chỉ trừ loại thiền do các nhà học giả sản xuất ra dùng để ức chế tâm. Bởi thế người tu thiền mà không sống trong rừng núi thanh vắng, độc cư thì không làm sao nhập định được. Tại sao vậy? Ðó là vì ba lý do sau đây:
1. Tâm phân tán.
2. Tâm không thành khối.
3. Tâm không nội lực.
Muốn cho tâm thành khối, có nội lực dũng mãnh, để đóng mở sáu căn và tiến vào giai đoạn II của Thiền Ðịnh là DIỆT thì phải sống độc cư một trăm phần trăm.
Muốn tu hạnh sống độc cư phải tu tập ba giai đoạn:
1. Tập sống ít nói chuyện, chuyện gì đáng mới nói.
2. Tập sống riêng, làm việc riêng một mình.
3. Tập sống, không làm việc.
Sau đây là phần thứ nhất của hạnh độc cư là
Tập sống ít nói chuyện
Các con phải biết lựa chọn cái gì cần thiết mới nói, mới thưa hỏi; không cần thiết thì không được nói, không được thưa hỏi. Duy nhất chỉ thưa hỏi về chuyện tu tập, và phải thưa hỏi riêng, không phải hỏi trước đại chúng vì hỏi như thế các con sẽ bị phân tán tâm lo ngại, khó tập trung. Phải hỏi thiện tri thức để chỉ cho rõ, hành cho đúng. Ngoài ra, những chuyện khác phải cẩn thận khi muốn nói ra. Không được hỏi linh tinh.
Có mười hai điều để giữ gìn im lặng (Tránh Tiếp Duyên)
1. Tránh nói chuyện tào lao, nhảm nhí.
2. Tránh kết tình nghĩa, kết bạn bè thân.
3. Tránh nghe chuyện người khác, vì chuyện người khác khiến tâm ta bị động, bất an, thường sanh ra nhiều chuyện và phải nói ra.
4. Tránh gặp nhau, vì gặp nhau dễ sanh nói chuyện. Nếu có gặp nhau thì không nói chuyện là tốt nhất.
5. Không nên đem sự hiểu biết cũng như kinh nghiệm về tu hành của mình đi dạy người khác khi mình tu chưa xong, tức là bị tâm tham danh khoe khoang.
6. Thấy bạn mình tu sai, không được đến dạy bảo, mà phải báo cho thiện tri thức chỉ dạy người ấy, vì đến dạy bảo làm động mình, động người và thành quen thuộc với nhau, nên không giữ hạnh độc cư được.
7. Thấy bạn đồng tu buồn khổ, không được đến an ủi, chia xẻ. Chỉ cần báo thiện tri thức giúp là đủ.
8. Tránh đổ lỗi người khác, vì như thế sẽ tạo duyên bất an trong tâm, gây nên cãi cọ, tranh tụng.
9. Tránh đi đến thất của người khác vì như thế là làm động mình, và làm động tâm người.
10. Làm lao động chung, tránh nói chuyện cười đùa.
11. Khi giúp bạn đồng tu đang bệnh, tránh nói chuyện ngoài vấn đề thăm bệnh. Tốt hơn hết là chỉ hỏi thăm bệnh để dùng phương tiện trị liệu.
12. Khi làm việc chung với người khác nên tùy thuận để tránh cãi cọ, đổ thừa.
13. Thường tập sống thơ thẩn một mình để đẩy lui các chướng ngại pháp trong tâm.
14. Luôn giữ tâm thanh thản, an lạc và hướng tâm đến thanh thản, an lạc.
15. Thường giữ tâm vô sự, và hướng tâm đến vô sự.
16. Thường tránh xa các duyên để giữ tâm không bị phân tán.
17. Không nên đem tâm sự của mình nói cùng ai, ngoài người thiện hữu tri thức của mình.
18. Thấy việc làm nặng nhọc, cùng nhau chia xẻ làm, nhưng không được nói chuyện.
19. Thấy ai làm chưa xong, cùng làm phụ, nhưng không nói chuyện.
20. Thường sống im lặng trong và ngoài tâm, và hướng tâm đến sự im lặng.
Các con phải ghi nhớ 20 điều kể trên để giữ tâm im lặng. Tốt nhất là tránh xa, tránh xảy ra các duyên, tránh tạo các duyên mới để tâm không bị phân tán. Càng tiếp duyên thì càng tạo hoàn cảnh bất an, tâm bị phân chia, khó tu thành khối nội lực, và tu tập sẽ dẫm chân tại chỗ, không tiến bộ được. Cố tránh duyên thì hoàn cảnh mới thuận tiện, yên vui tu hành.
Các con nên nhớ độc cư ở giai-đoạn I là TỊNH KHẨU. Tịnh khẩu là nói lời thanh tịnh, không nói lời bất tịnh. Tịnh khẩu là nói lời thiện, tức là nói lời làm vui lòng mình và vui lòng người. Nói lời bất tịnh là nói lời ác, làm đau khổ mình và đau khổ người. Tịnh khẩu là nói lời thiện, không có nghĩa là á khẩu, vì á khẩu là câm, không nói được. Thế nên, các con phải cẩn thận, kẻo rơi vào tu hình thức, ít nói mà thành nói rất nhiều. Chuyện gì cũng nói, khi tâm b**g ra, phân tán nói thôi không hết, như nước vỡ bờ.
Hạnh độc cư khó lắm, là bí quyết thành công của thiền định. Ðộc có ba nhiệm vụ:
(1) - Bảo vệ tâm tránh các duyên.
(2) - Gom tâm hợp nhất thành khối.
(3) - Làm cho tâm tuôn tràn ra hết.
Sáu năm trời tu khổ hạnh của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni là sáu năm tu ly dục. Nhờ đó Ðức
Phật tránh được các duyên, thu nhiếp thân tâm thành khối nội lực. Khi tâm đã thành khối có nội lực, Ðức Phật đã xả bỏ khổ hạnh tối đa, vì khổ hạnh chỉ làm hại cho sức khỏe, chỉ giữ lại đời sống bình thường của một tu sĩ đi khất thực ăn ngày một bữa và chỉ khác năm anh em ông Kiều Trần Như là Ngài đã nhận thêm sữa do cô bé chăn dê cúng dường. Trong 49 ngày dưới cội bồ đề, Ðức Phật dùng nội lực nơi tâm đã có, đem ra chiến đấu với nội tâm mình để ly dục ly bất thiện pháp. Lúc bấy giờ Ðức Phật gọi là hàng phục Ma Vương, kế đó Ðức Phật diệt tầm tứ, đóng mở sáu căn, nhập Nhị Thiền, sau khi nhập Nhị Thiền Ngài loại trừ tưởng thức nhập Tam Thiền, sau khi nhập Tam Thiền xong Ngài dừng các hành trong thân, nhập Tứ Thiền, nhập Tứ Thiền xong Ngài dẫn tâm đến Tam Minh, thành tựu giải thoát.
Tóm lại, ly dục là lìa xa ý muốn của mình. Nghe nói ly dục thì rất dễ dàng, mà lìa xa ý muốn của mình thì khó vô cùng. Bậc Thánh như Ðức Khổng Phu Tử đến 70 tuổi mới dám tuyên bố: Ta đến tuổi nầy mới làm theo ý muốn của mọi người. Nghĩa là đến 70 tuổi, ông mới ly dục và ác pháp nơi tâm ông. Theo Thầy nghĩ, muốn ly dục lìa ác pháp thì ít ra phải ba năm rèn luyện. Còn tu lơ mơ thì 30 năm cũng chưa chắc đã làm được. Cái ý muốn của mình là cái gì? Là BẢN NGÃ ÁC PHÁP. Bản ngã ác pháp không ly thì làm sao có Niết Bàn? Vô Ngã ác pháp là Niết Bàn, chứ không phải vô ngã là Niết Bàn, vì vô ngã ác lẫn thiện là cây đá.
Ði tu cũng như đi học. Người ngoài đời, nếu học không đến nơi đến chốn thì chẳng có ích lợi gì cho mình mà còn là gánh nặng cho xã hội. Người tu cũng vậy, tu không đến nơi, đến chốn sẽ làm bại hoại tôn giáo, như hiện giờ chúng ta thấy phần đông tu sĩ Phật Giáo tu không đến nơi đến chốn làm hư hoại Phật Giáo. Người tu đến nơi đến chốn làm sáng tỏ Phật Pháp qua gương hạnh sống của mình, khiến cho mọi người quy ngưỡng và tôn kính Phật Pháp.
Chúng ta quyết chọn con đường tu thì phải tu cho đến nơi đến chốn. Người tu lừng chừng không có ích cho mình, cho người mà còn có hại cho tôn giáo. Ðức Phật dạy: Tu là phải lìa xa ý muốn của mình . Tu là quyết tâm buông bỏ, bỏ để được giải thoát, thảnh thơi, an vui một đời. Bỏ cái gì? Bỏ lòng muốn.
Tóm lại, trong Giai Ðoạn I của Thiền Ðịnh là giai-đoạn LY, dùng ba hạnh ĂN, NGỦ, ÐỘC CƯ làm đối tượng để tu tập, khắc phục cho được tâm ly dục. Các con nên nhớ, chúng ta là tu sĩ của đạo tu hạnh giải thoát thì thời gian nào, ngày nào, tháng nào, năm nào cũng là mùa Xuân, mùa Xuân vĩnh cửu trong tâm hồn của chúng ta, mùa Xuân không có nhân quả, mùa Xuân không có diễn biến luân hồi. Vì thế, chúng ta không có chúc thọ, không có mừng tuổi mùa Xuân thế gian. Hãy sống bình thường, hãy giữ tâm bình thường trước mọi diễn biến của không gian và thời gian bằng một tâm hồn thanh thản.

Address

Ho Chi Minh City
7000000

Telephone

0939755659

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đường Cầu Đạo posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share