ƠN GỌI THÁNH HIẾN

ƠN GỌI THÁNH HIẾN God chooses more, people choose God less. "He who offers joyfully is loved by God" (2 Cor 9: 9)
(3)

CHÚA KHÔNG TỪ BỎ AI BAO GIỜTối nay ngồi dưới chân thập giá trong màn đêm yên tĩnh, tôi tự hỏi lòng mình: Tại sao Chúa vẫ...
28/08/2026

CHÚA KHÔNG TỪ BỎ AI BAO GIỜ

Tối nay ngồi dưới chân thập giá trong màn đêm yên tĩnh, tôi tự hỏi lòng mình: Tại sao Chúa vẫn còn thương và gìn giữ tôi trong đời dâng hiến? Sau bao nhiêu lần tôi yếu đuối, bao nhiêu lần tôi vấp ngã, bao nhiêu lần tôi thất vọng về chính mình, và có những lúc tôi đã sống đời thánh hiến bằng một trái tim mỏi mệt, khô khan, thiếu nhiệt huyết, chán chường vậy mà Chúa vẫn ở đó, Ngài không bỏ đi, Ngài không đóng cửa, Ngài không quay lưng, và Ngài vẫn kiên nhẫn chờ tôi trở về. Có lẽ điều làm tôi xúc động nhất trong hành trình đời tu không phải là tôi đã trung thành với Chúa bao nhiêu, nhưng là Chúa đã trung thành với tôi đến dường nào, Ngài đã không bao giờ từ bỏ tôi.

Trong cuộc đời mỗi người chúng ta, có những người bước vào và đem đến cho ta niềm vui, sự bình an, sự nâng đỡ. Nhờ họ, ta cảm thấy cuộc sống này thật đẹp, cộng đoàn thật ấm áp, sứ vụ thật ý nghĩa. Có những người chỉ cần một ánh mắt cảm thông, một lời nói dịu dàng cũng đủ làm dịu đi một ngày mệt mỏi. Nhưng cũng có những người bước vào đời ta và để lại những vết thương: có những lời nói làm ta đau, có những thái độ khiến ta thất vọng, có những hiểu lầm không biết phải giải thích thế nào, có những điều ta đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn bị nhìn nhận sai, có những tổn thương tưởng đã lành, nhưng chỉ cần một lời nói hay một thái độ quen thuộc, vết thương ấy lại nhói lên. Sau những lần như thế ta bắt đầu khép lòng, ta dựng lên những bức tường, ta không còn muốn chia sẻ, không còn muốn gần gũi, không còn muốn tin tưởng. Ta vẫn có thể sống bên nhau, vẫn làm việc với nhau, vẫn phục vụ nhau, vẫn mỉm cười khi cần thiết… nhưng sâu bên trong, cánh cửa trái tim đã âm thầm đóng lại.

Có lẽ đó cũng là một trong những cuộc chiến âm thầm nhất của mỗi người tu sĩ khi bước theo Chúa, học yêu như Chúa. Đời tu không chỉ là học cách yêu những người dễ thương, nhưng còn là học cách yêu cả những người làm ta tổn thương, tu sĩ không chỉ là sống với những người hiểu mình, nhưng còn là ở lại với những người chưa hiểu mình, và đi tu không chỉ là trao ban khi lòng mình đầy tràn, nhưng còn là cố gắng trao ban khi chính mình đang cạn kiệt. Và sau bao năm tháng cuộc đời, tôi nhận ra rằng: thật dễ để yêu một người khi người ấy làm tôi vui, nhưng để vẫn yêu khi người ấy làm tôi đau, đó mới là lúc tôi phải học lại bài học của Tin Mừng.

Đi tu là phải biết yêu như Chúa yêu, mà Thiên Chúa không yêu tôi theo cách con người yêu nhau. Nếu tình yêu của Chúa giống tình yêu của con người, có lẽ tôi đã bị bỏ lại từ lâu. Nếu Chúa chỉ yêu tôi khi tôi tốt, khi tôi ngoan, khi tôi trung thành, khi tôi sống đúng với những gì Ngài mong muốn, thì có lẽ chẳng có tôi ngày hôm nay, bởi tôi đã bao lần làm Chúa buồn, bao lần tôi hứa rồi lại quên, bao lần tôi muốn sống quảng đại nhưng lại chọn sự an toàn cho mình, bao lần tôi phục vụ Chúa bằng đôi tay, nhưng trái tim lại ở một nơi khác, bao lần tôi mỉm cười với mọi người bên ngoài, nhưng bên trong lại đầy những bực dọc, tổn thương và than trách.

Nhìn lại đời mình như thế, tôi tự hỏi: Chúa có thất vọng về tôi không? Và tôi tin chắc chắn Ngài buồn khi tôi xa Ngài, nhưng Ngài không vì thế mà từ bỏ tôi. Tôi có thể chạy xa, nhưng Chúa vẫn chờ, tôi có thể đóng cửa trái tim, nhưng Chúa vẫn đứng ngoài cửa, tôi có thể quên Ngài, nhưng Ngài không quên tôi, tôi có thể phản bội tình yêu của Ngài, nhưng Ngài vẫn trung tín, tôi có thể ngã xuống lần thứ nhất, thứ mười, hay lần thứ một trăm, Chúa vẫn cúi xuống và nói với tôi: “Con hãy đứng lên.”Đó chính là điều làm nên sự khác biệt giữa tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu của con người.

Con người chúng ta thường yêu khi được đáp lại, cònThiên Chúa yêu ngay cả khi tình yêu của Ngài không được đáp lại. Chúng ta dễ nhớ những lỗi lầm của nhau, nhưngThiên Chúa nhìn thấy phía sau lỗi lầm ấy là một người con đang cần được yêu thương. Chúng ta có thể nói: “Tôi không thể tha thứ thêm nữa”, nhưng Thiên Chúa vẫn nói: “Hãy tha thứ đến bảy mươi lần bảy.” Khi chúng ta có thể đóng cửa, nhưngThiên Chúa vẫn để cửa mở. Khi nhìn vào tình yêu của Chúa dành cho tôi, tôi cần nhìn lại chính mình: Tôi là ai mà dám đòi người khác phải hoàn hảo, trong khi chính tôi cũng đầy những giới hạn? Tôi là ai mà dễ dàng kết luận về một người chỉ từ một lời nói, một thái độ, một lần họ làm tôi tổn thương? Tôi là ai mà muốn người khác kiên nhẫn với những yếu đuối của mình, nhưng lại không đủ kiên nhẫn với yếu đuối của anh chị em? Tôi vẫn muốn Chúa tha thứ cho mình, nhưng tôi có thật sự muốn tha thứ cho người khác không? Tôi vẫn muốn Chúa mở rộng vòng tay đón nhận mình sau những lần vấp ngã, nhưng tôi có sẵn sàng mở rộng trái tim để đón nhận một người đã từng làm tôi đau không?

Vì thế mà đời tu chính là một hành trình mà tôi phải học lại cách của Chúa mỗi ngày: cách yêu như Chúa yêu, tha thứ như Chúa tha thứ, kiên nhẫn như Chúa kiên nhẫn, mở cửa trái tim ngay cả khi mình đã từng bị tổn thương. Tôi không nghĩ mình có thể quên ngay những điều đã làm mình đau, vì có những vết thương cần rất nhiều thời gian để chữa lành. Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận nỗi đau, cũng không có nghĩa là cho phép người khác tiếp tục làm tổn thương mình. Nhưng tha thứ là quyết định không để vết thương biến trái tim mình thành một nơi lạnh lẽo, là không để một người làm mình đau khiến mình mất khả năng yêu thương những người khác, là không để những điều đã xảy ra biến mình thành một con người cay nghiệt hơn. Và trên hết, là trao người đã làm mình đau vào lòng thương xót của Chúa.

Sau tất cả những gì tôi đã trải qua, tôi mới hiểu rằng điều quý giá nhất của đời tu không phải là tôi chưa bao giờ yếu đuối, chưa bao giờ tổn thương, chưa bao giờ thất vọng. Nhưng là sau tất cả những điều ấy, tôi vẫn còn muốn ở lại với Chúa, và đẹp nhất là sau tất cả những lần tôi muốn bỏ cuộc, Chúa vẫn chưa bao giờ bỏ cuộc với tôi.

Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa vì Ngài không yêu con theo những gì con đáng được yêu, nhưng yêu con bằng một tình yêu vượt quá mọi giới hạn: khi con phản bội, Chúa vẫn chờ, khi con ngã quỵ, Chúa vẫn đưa tay, khi con khô khan, Chúa vẫn kiên nhẫn, và khi con chạy xa, Chúa vẫn đứng đó đợi con trở về. Xin chữa lành những cánh cửa trong trái tim con đã bị đóng lại bởi những tổn thương. Xin cho con biết phân biệt giữa việc bảo vệ trái tim và việc khép kín trái tim. Xin đừng để những điều con đã chịu đựng khiến con trở nên lạnh lùng, và cũng xin đừng để những người đã làm con đau lấy mất khỏi con khả năng yêu thương.

Và mỗi khi con muốn từ bỏ một ai đó, xin nhắc con nhớ rằng: Chúa đã bao lần không từ bỏ con, mỗi khi con muốn đóng cửa trái tim, xin nhắc con nhớ rằng: Cánh cửa trái tim Chúa vẫn luôn mở, để rồi, dù đời tu có những ngày mệt mỏi, những tương quan có lúc làm con đau, những sứ vụ có khi khiến con muốn buông xuôi, con vẫn có thể bước tiếp, không phải vì con mạnh mẽ, và cũng không phải vì con không còn tổn thương. Nhưng bởi con biết rằng mình đang được yêu bởi một Đấng không bao giờ từ bỏ một ai, và con tin rằng: Chừng nào Chúa còn mở cửa đón con, con cũng không muốn đóng cửa trái tim mình với cuộc đời. Amen.

Sr Mây Trắng, SPP

✝️ R.I.P ✝️Tu sĩ Đa Minh Đỗ Văn Thái, O.P., thuộc Tỉnh Dòng Đa Minh Việt Nam, sinh ngày 19/03/1931 tại Nam Định. Khấn dò...
27/08/2026

✝️ R.I.P ✝️
Tu sĩ Đa Minh Đỗ Văn Thái, O.P., thuộc Tỉnh Dòng Đa Minh Việt Nam, sinh ngày 19/03/1931 tại Nam Định. Khấn dòng ngày 25/12/1954. Đã được Chúa gọi về lúc 19 giờ 00, Thứ Tư, ngày 26/08/2026. Hưởng thọ 95 tuổi, với 71 năm khấn dòng.

Nguyện xin Thiên Chúa thương đón nhận linh hồn Tu sĩ Đa Minh Đỗ Văn Thái vào hưởng Tôn Nhan Chúa, sau một đời tận hiến và trung thành phục vụ Hội Thánh. 🙏

CÔ ĐƠN HAY TÌNH CẢM? TẠI SAO MỘT LINH MỤC RỜI BỎ THỪA TÁC VỤ?Bài viết phân tích những nguyên nhân khiến một số linh mục ...
27/08/2026

CÔ ĐƠN HAY TÌNH CẢM? TẠI SAO MỘT LINH MỤC RỜI BỎ THỪA TÁC VỤ?

Bài viết phân tích những nguyên nhân khiến một số linh mục rời bỏ thừa tác vụ, vượt xa vấn đề khủng hoảng đức tin hay tình cảm. Sự cô đơn, kiệt sức, thiếu nâng đỡ, gánh nặng hành chính và nhu cầu tình huynh đệ cho thấy Giáo hội cần quan tâm hơn đến những điều kiện nhân bản và thiêng liêng giúp linh mục sống trọn vẹn ơn gọi.

Khi một linh mục rời bỏ thừa tác vụ, người ta thường quy nguyên nhân về một trong hai khả năng quen thuộc: khủng hoảng đức tin hoặc xuất hiện một mối quan hệ tình cảm. Tuy nhiên, các nghiên cứu về việc các linh mục rời bỏ thừa tác vụ cho thấy một bức tranh phức tạp hơn. Trong nhiều trường hợp, việc rời bỏ thừa tác vụ dường như không phải là kết quả của một quyết định đột ngột duy nhất, nhưng là giai đoạn cuối của một tiến trình kéo dài, trong đó sự cô đơn, kiệt sức, thiếu sự nâng đỡ và gánh nặng công việc quản trị mục vụ dần dần làm suy giảm khả năng của một linh mục trong việc kiên trì sống ơn gọi của mình.

“Sự cô đơn chức năng”

Một trong những vấn đề ít được nhìn thấy là điều mà các nghiên cứu xã hội học gọi là “sự cô đơn chức năng”. Một linh mục có thể dành gần như mỗi ngày ở giữa rất nhiều người – cử hành Thánh lễ, giải tội, thăm viếng các gia đình, tham dự các cuộc họp và điều hành các hoạt động giáo xứ – nhưng lại có rất ít mối quan hệ trong đó ngài có thể thành thật nói về những nỗi sợ hãi, sự mệt mỏi hay những nghi vấn của chính mình.

Nghiên cứu của nhà xã hội học người Mỹ Dean R. Hoge cho thấy 46% các linh mục đã rời bỏ thừa tác vụ trong số người mà ông nghiên cứu đã đề cập đến hình thức cô đơn này. Nghịch lý thật đáng chú ý: một linh mục có thể được bao quanh bởi rất nhiều người về mặt xã hội, nhưng vẫn bị cô lập về mặt cá nhân.

Sự phân biệt này rất quan trọng, bởi vì đời sống linh mục không đơn thuần là một nghề nghiệp đòi hỏi nhiều nỗ lực. Đời sống ấy đặt một người vào vị trí mà những người khác thường xuyên tìm đến với những vấn đề sâu kín nhất của họ, trong khi chính linh mục lại được mong đợi phải luôn là nguồn đem lại sự bình yên, hướng dẫn và sức mạnh thiêng liêng. Nếu không có những mối quan hệ đáng tin cậy, nơi chính linh mục có thể nhận được sự nâng đỡ, thì sự bất cân xứng này có thể dần trở nên bào mòn.

Một mô thức tương tự cũng xuất hiện trong nghiên cứu của Yulius Sunardi, cho thấy tình trạng cô lập kéo dài có thể góp phần dẫn đến một cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn theo thời gian. Điều này cũng làm phức tạp thêm giả định phổ biến cho rằng một mối quan hệ tình cảm nhất thiết là nguyên nhân khiến một linh mục từ bỏ thừa tác vụ.

Trong một số trường hợp, một mối quan hệ tình cảm có thể xuất hiện sau một thời gian dài những nhu cầu nhân bản và tình cảm không được đáp ứng. Mối quan hệ ấy có thể trở thành biểu hiện của một cuộc khủng hoảng vốn đã âm ỉ từ trước, chứ không phải là biến cố ban đầu gây ra cuộc khủng hoảng.

Điều đó không có nghĩa là mối quan hệ ấy không quan trọng, cũng không loại bỏ trách nhiệm cá nhân. Tuy nhiên, nó cho thấy rằng để ngăn ngừa việc các linh mục rời bỏ thừa tác vụ, cần quan tâm đến những điều kiện thực tế mà các linh mục đang sống, thay vì chỉ tập trung vào thời điểm cuộc khủng hoảng trở nên rõ ràng.

Một áp lực khác đến từ sự biến đổi của chính đời sống giáo xứ

Một người bước vào chủng viện với hy vọng trước hết là rao giảng, cử hành các bí tích và đồng hành thiêng liêng với mọi người, có thể nhận ra rằng phần lớn thời gian làm việc trong tuần của mình lại bị chiếm dụng bởi ngân sách, nhân sự, cơ sở vật chất, giấy tờ, các yêu cầu về quy định, việc sắp xếp lịch trình và những quyết định mang tính tổ chức. Các nhà xã hội học đã mô tả chiều kích hành chính ngày càng gia tăng này bằng thuật ngữ “sự quản trị điều thánh” (administration of the sacred).

Vấn đề không phải là việc quản trị không cần thiết. Các giáo xứ cần được điều hành một cách có năng lực, và các linh mục không thể đơn giản bỏ qua những trách nhiệm vật chất gắn liền với cộng đoàn của mình. Nguy hiểm xuất hiện khi những đòi hỏi về quản trị dần dần lấn át công việc mục vụ và đời sống thiêng liêng, vốn là những điều ban đầu đem lại ý nghĩa cho ơn gọi.

Vivencio Ballano còn nhận diện một yếu tố khác: các linh mục có thể không nhận được đầy đủ sự hỗ trợ và hướng dẫn từ các Bề trên trong Giáo hội. Một thừa tác vụ vốn đã đòi hỏi nhiều sẽ trở nên khó khăn hơn đáng kể khi một linh mục cảm thấy rằng những người có trách nhiệm chăm lo cho mình chủ yếu quan tâm đến việc giáo xứ có hoạt động tốt hay không, hơn là quan tâm đến việc chính vị linh mục ấy có đang xoay xở nổi với những gánh nặng của mình hay không.

Điều này đặt ra một câu hỏi về việc đào tạo linh mục. Việc đào tạo tại chủng viện có thể nghiêm túc về mặt học thuật và sâu sắc về mặt thiêng liêng, nhưng vẫn chưa chuẩn bị đầy đủ cho các linh mục tương lai trước những thực tế tâm lý của nhiều thập niên thi hành thừa tác vụ. Những khó khăn ấy có thể chưa xuất hiện trong thời gian đào tạo, thậm chí cũng chưa xuất hiện trong những năm đầu sau khi chịu chức. Chúng có thể xuất hiện mãi về sau, khi nhiệt huyết ban đầu phải đối diện với sức nặng tích tụ của công việc thường nhật, trách nhiệm và sự cô lập.

Tình huynh đệ giữa các linh mục

Chính vì thế, tình huynh đệ giữa các linh mục cần được nhìn nhận không phải như một điều xa xỉ tùy chọn trong mục vụ, nhưng như một phần của nền tảng cần thiết để duy trì một đời sống linh mục bền vững.

Đức Thánh Cha Lê-ô XIV đã đề cập chính xác đến vấn đề này vào tháng 02 năm 2026, khi lưu ý đến nguy cơ các linh mục bị cô lập và khuyến khích các ngài vun đắp tình bạn cũng như những mối tương quan đích thực giữa mình với tha nhân. Điểm nhấn của ngài về tình huynh đệ hướng đến một nguyên tắc tương đối đơn giản nhưng có thể mang lại những hiệu quả sâu sắc: các linh mục cần có người khác để họ có thể được sống đúng tư cách là linh mục, thay vì lúc nào cũng là những người mà mọi người khác tìm đến.

Điều này cũng có ý nghĩa quan trọng đối với các giám mục và các cơ cấu giáo phận. Nếu một linh mục được kỳ vọng phải gần như một mình gánh vác những gánh nặng thiêng liêng, cảm xúc và hành chính của một giáo xứ ngày càng phức tạp, thì cuối cùng sức mạnh và khả năng chịu đựng của cá nhân sẽ không thể thay thế đầy đủ cho sự hỗ trợ của cơ cấu tổ chức.

Giáo hội Công giáo có những lý do chính đáng để bảo vệ luật độc thân linh mục và tính chất đặc thù của chức linh mục. Nhưng bảo vệ một ơn gọi không có nghĩa là bỏ qua những điều kiện nhân bản cần thiết để ơn gọi ấy có thể phát triển tốt đẹp. Đời sống độc thân không phải là sự phủ nhận nhu cầu về tình bạn, tình cảm hay cộng đoàn; trái lại, chính vì bao hàm việc từ bỏ đời sống hôn nhân và gia đình, nên đời sống độc thân càng làm cho những hình thức tình huynh đệ thiêng liêng và nhân bản vững chắc trở nên đặc biệt quan trọng.

Bài học từ các nghiên cứu

Vì thế, bài học từ các nghiên cứu không chỉ liên quan đến câu hỏi tại sao một số linh mục rời bỏ thừa tác vụ. Vấn đề rộng hơn là Giáo hội có thể giúp các linh mục tiếp tục sống ơn gọi của mình với sự tự do, trưởng thành và niềm vui như thế nào.

Câu trả lời hữu hiệu nhất có thể bắt đầu từ rất lâu trước khi một linh mục nghĩ đến việc rời bỏ thừa tác vụ: chuẩn bị tốt hơn cho những thực tế của đời sống mục vụ; sự lãnh đạo tận tâm của các giám mục; những tình bạn có ý nghĩa giữa các giáo sĩ; bảo vệ các linh mục khỏi tình trạng cô lập kéo dài; và phân bổ các công việc hành chính một cách hợp lý hơn.

Một linh mục không cần phải được bao quanh bởi nhiều người chỉ vì ngài làm việc giữa họ. Ngài cần những mối tương quan nơi mà ngài có thể được người khác biết đến, nâng đỡ và góp ý.

Đối với một ơn gọi được xây dựng trên sự hiệp thông, đây có thể là một trong những nhu cầu thiết yếu nhưng dễ bị bỏ quên nhất.

Nguồn: https://hdgmvietnam.com

⛪ LINH MỤC – TU SĨ – ĐAN SĨ KHÁC NHAU THẾ NÀO?Nhiều người thường gọi chung là “người tu hành”, nhưng Linh mục, Tu sĩ và ...
27/08/2026

⛪ LINH MỤC – TU SĨ – ĐAN SĨ KHÁC NHAU THẾ NÀO?
Nhiều người thường gọi chung là “người tu hành”, nhưng Linh mục, Tu sĩ và Đan sĩ có ơn gọi, đời sống và sứ vụ khác nhau.

✝️ 1. LINH MỤC

Linh mục là người lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh, cộng tác với Giám mục để phục vụ Dân Chúa.

🔹 Sứ vụ chính:
Cử hành Thánh lễ, ban các Bí tích, giảng dạy Lời Chúa và chăm sóc cộng đoàn.

👉 Trọng tâm: Phục vụ cộng đoàn qua chức linh mục.

🙏 2. TU SĨ

Tu sĩ là người tận hiến đời mình cho Thiên Chúa trong một dòng tu hoặc tu hội, sống theo linh đạo và đặc sủng của hội dòng.

🔹 Thường sống theo các lời khuyên Phúc Âm:
Khiết tịnh – Khó nghèo – Vâng phục.

🔹 Có thể phục vụ qua: giáo dục, y tế, truyền giáo, mục vụ, bác ái, cầu nguyện...

👉 Trọng tâm: Sống đời tận hiến và phục vụ theo đặc sủng của hội dòng.

🕊️ 3. ĐAN SĨ

Đan sĩ là người sống đời đan tu, thường gắn với một đan viện và dành nhiều thời gian cho cầu nguyện, chiêm niệm và lao động.

🔹 Đời sống thường nhấn mạnh:
Cầu nguyện – Chiêm niệm – Lao động – Cộng đoàn.

🔹 Một số đan sĩ có thể là linh mục, nhưng không phải mọi đan sĩ đều là linh mục.

👉 Trọng tâm: Tìm kiếm Thiên Chúa qua đời sống đan tu, cầu nguyện và chiêm niệm.

🔎 DỄ NHỚ

LINH MỤC → ✝️ Chức thánh & phục vụ Dân Chúa
TU SĨ → 🙏 Đời sống tận hiến & đặc sủng hội dòng
ĐAN SĨ → 🕊️ Đời sống đan tu, cầu nguyện & chiêm niệm

📌 Lưu ý: Ba khái niệm này không hoàn toàn loại trừ nhau. Một người có thể vừa là linh mục vừa là tu sĩ, và một đan sĩ cũng có thể được truyền chức linh mục."

26/08/2026
MỖI NGÀY MỘT ĐIỀU ĐỂ SUY NGẪM[  …  ĐÃ LÀ LINH MỤC THÌ MÃI MÃI LÀ LINH MỤC!  …  ]Một linh mục đến từ New York từng có dịp...
26/08/2026

MỖI NGÀY MỘT ĐIỀU ĐỂ SUY NGẪM

[ … ĐÃ LÀ LINH MỤC THÌ MÃI MÃI LÀ LINH MỤC! … ]

Một linh mục đến từ New York từng có dịp đến Rome để diện kiến Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Trước cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha, ngài quyết định ghé vào một nhà thờ để cầu nguyện.

Khi bước vào nhà thờ, ngài thấy một người ăn xin đang ngồi trên bậc thềm. Dù việc bắt gặp người ăn xin quanh các nhà thờ ở Rome không phải là chuyện lạ, nhưng người đàn ông này lại mang đến cho ngài một cảm giác quen thuộc đến kỳ lạ.

Sau khi cầu nguyện xong, vị linh mục tiến lại gần và bắt chuyện với người ăn xin. Thật bất ngờ, họ nhận ra mình từng quen biết nhau từ nhiều năm trước và thậm chí đã từng cùng học tại chủng viện.

Người ăn xin sau đó chia sẻ rằng ông từng là một linh mục Công giáo nhưng đã trải qua một biến cố đau lòng khiến ông từ bỏ ơn gọi. Cuộc đời ông rơi vào cảnh khốn cùng và giờ đây ông phải sống kiếp ăn xin nơi đường phố.

Cuối ngày hôm đó, vị linh mục đến từ New York tham dự buổi diện kiến Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Khi xếp hàng cùng mọi người để đến lượt gặp Giáo hoàng, ngài cảm thấy một thôi thúc mạnh mẽ trong lòng: hãy xin Đức Thánh Cha cầu nguyện cho người bạn cùng chủng viện năm xưa của mình.

Đến lượt mình, ngài quỳ xuống trước mặt Giáo hoàng và kể cho ngài nghe về người ăn xin mà mình vừa gặp - một người từng là linh mục nhưng đã đánh mất ơn gọi và hiện đang sống lang thang trên phố.

Giáo hoàng chăm chú lắng nghe. Sau đó, ngài ngỏ ý mời vị linh mục đưa người ăn xin ấy đến dùng bữa tối cùng mình vào tối hôm đó.

Vị linh mục lập tức quay lại nhà thờ và thấy người bạn cũ vẫn đang ngồi trên bậc thềm. Ngài kể cho ông nghe về lời mời của Giáo hoàng.

Người ăn xin vô cùng bối rối và khăng khăng rằng mình không thể nào diện kiến Đức Thánh Cha trong bộ dạng như vậy. Tuy nhiên, vị linh mục nhất quyết không bỏ lại ông. Ngài đưa ông về khách sạn, cho ông mượn quần áo sạch và dao cạo râu để ông có thể chuẩn bị tươm tất cho cuộc gặp gỡ.

Tối hôm đó, hai người đàn ông đến dinh thự của Giáo hoàng và được mời dùng bữa tối cùng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

Sau bữa ăn, Giáo hoàng đề nghị vị linh mục rời khỏi phòng để ngài có thể trò chuyện riêng với người bạn cũ kia.

Những gì diễn ra sau đó đã trở thành phần đặc biệt nhất của câu chuyện.

Giáo hoàng quay sang vị cựu linh mục và hỏi: "Cha có thể giải tội cho con được không?"

Người đàn ông vô cùng sửng sốt.

Ông đáp rằng mình không còn là linh mục nữa và cũng không còn giữ được tư cách thành viên hợp lệ trong Giáo hội. Đức Giáo hoàng nhắc nhở ông rằng thiên chức linh mục của ông không hề mất đi. Theo lời kể, ngài đã nói với ông: "Một khi đã là linh mục, thì mãi mãi là linh mục."

Sau đó, với tư cách là Giám mục thành Rôma, Đức Giáo hoàng đã khôi phục lại tư cách linh mục cho ông để ông có thể tiếp tục thi hành sứ vụ của mình.

Rồi một điều vô cùng cảm động đã diễn ra.

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II quỳ gối trước vị cựu linh mục và xưng tội với ông.

Người đàn ông ấy, quá đỗi xúc động trước lòng thương xót mà mình vừa nhận được, đã phải rất khó khăn mới thốt lên được những lời xá giải. Ngay khi vừa dứt lời, ông quỳ sụp xuống trong nước mắt và xin Đức Giáo hoàng nghe mình xưng tội.

Trong khoảnh khắc ấy, vị cựu linh mục đã được hòa giải với Thiên Chúa và được đón nhận trở lại vào lòng Giáo hội.

Khi việc xưng tội hoàn tất, Đức Giáo hoàng gọi vị linh mục kia quay lại phòng. Ngài hỏi xem ông đã gặp lại người bạn cùng chủng viện năm xưa của mình ở đâu.

Khi biết tên ngôi nhà thờ đó, Đức Giáo hoàng đã giao cho vị linh mục vừa được khôi phục chức vụ một sứ mệnh mục vụ mới.

Ông sẽ trở lại chính ngôi nhà thờ ấy để phục vụ với tư cách là linh mục phó, chuyên trách sứ vụ chăm sóc những người vô gia cư và người ăn xin thường tụ tập tại đó.

Người đàn ông từng bất lực ngồi trên bậc thềm nhà thờ như một kẻ ăn xin, nay lại được cử trở về đúng nơi ấy - không còn là một kẻ bị lãng quên, mà là một linh mục được trao phó sứ mệnh mang lại niềm hy vọng, lòng thương xót và phẩm giá cho những người đang đau khổ.

Câu chuyện của ông trở thành lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng, chương đen tối nhất trong cuộc đời một con người không nhất thiết phải là đoạn kết của câu chuyện ấy.

Đôi khi, sự phục hồi bắt đầu từ một hành động thương xót giản đơn.

Đôi khi, Thiên Chúa dùng một người khác để nhắc nhở chúng ta về con người thật của chính mình.

Và đôi khi, người đang ngồi trên bậc thềm mà ai nấy đều ngó lơ, lại có thể đang mang trong mình một sứ mệnh thiêng liêng đang chờ được khám phá lại.

Nguồn: Fear Not.

NGƯỜI TU SĨ CÓ HÌNH THỨC MÀ THIẾU NỘI DUNG Ngày nay, chúng ta dễ bắt gặp những người tu sĩ rất nổi bật và thu hút ánh nh...
26/08/2026

NGƯỜI TU SĨ CÓ HÌNH THỨC MÀ THIẾU NỘI DUNG

Ngày nay, chúng ta dễ bắt gặp những người tu sĩ rất nổi bật và thu hút ánh nhìn của ta với ngoại hình sáng sủa, cách ăn mặc đẹp, phong thái tự tin, giao tiếp khéo léo, có nhiều tài năng, nhiều bằng cấp, có khả năng sử dụng công nghệ, ngoại ngữ, có năng khiếu tổ chức, giảng dạy, truyền thông… Họ có thể rất “bắt mắt”, rất năng động và rất thành công trong những công việc được trao phó, được nhiều người nể phục, hâm mộ… Những điều ấy tự nó không xấu, mà trái lại, tài năng, tri thức, vẻ đẹp và khả năng của mỗi người đều là những ân huệ Chúa ban. Hội dòng và Giáo Hội rất cần những người tu sĩ có năng lực để phục vụ con người và loan báo Tin Mừng trong một thế giới đang thay đổi từng ngày.

Vấn đề không nằm ở chỗ người tu sĩ có nhiều hay ít tài năng, xấu hay đẹp, sành điệu hay giản dị... vấn đề là đằng sau tất cả những điều ấy, đằng sau cái hình thức hoàn hảo ấy người tu sĩ có một đời sống nội tâm tương xứng hay không? Có khi chúng ta chăm chút rất nhiều cho “cái vỏ” của đời tu, nhưng lại quên chăm sóc “cái ruột” bên trong quan trọng hơn nhiều.

Có thể một tu sĩ có bằng cấp cao nhưng lại thiếu sự khôn ngoan của Tin Mừng, có thể người tu sĩ ấy rất giỏi giang nhưng lại thiếu lòng khiêm nhường, có thể họ nói rất hay về Thiên Chúa nhưng đời sống lại thiếu tương quan mật thiết với Ngài, có thể họ phục vụ rất năng động nhưng lại thiếu tình yêu đối với những người mình phục vụ, có thể họ làm được những việc lớn lao nhưng lại không biết cúi xuống trước một người nhỏ bé, có thể người tu sĩ rất thành công trước mắt người đời nhưng lại nghèo nàn trong đời sống thiêng liêng. Và đáng sợ nhất là khi người tu sĩ bắt đầu nghĩ rằng tài năng của mình có thể thay thế Thiên Chúa. Tài năng là một ân huệ Chúa ban nhưng không, nhưng nếu người tu sĩ không được đặt trong tương quan với Thiên Chúa, tài năng rất dễ trở thành chiếc bệ để cái tôi đứng lên. Khi người tu sĩ càng giỏi càng có nguy cơ nghĩ rằng mình không cần người khác, họ càng có khả năng càng dễ cho rằng ý kiến của mình là đúng, khi họ càng được nhiều người khen ngợi càng dễ quên rằng tất cả những gì mình có đều là hồng ân.

Từ đó, một thứ “cái tôi thiêng liêng” âm thầm lớn lên, họ nghĩ rằng mình hơn người khác, không có mình mọi sự sẽ không có ai làm được, và rồi, rất nhẹ nhàng, người tu sĩ bắt đầu nhìn những người ít khả năng hơn mình bằng ánh mắt coi thường: nếu một người chị em không có bằng cấp cao bằng mình thì bị xem là kém cỏi, một người không có tài ăn nói thì bị xem thường, một người chậm chạp, ít năng khiếu, ít được chú ý thì dễ trở thành người bị bỏ quên.

Trong đời tu, giá trị của một người không được đo bằng số bằng cấp, số tài năng, địa vị hay sự nổi tiếng, mà giá trị của người tu sĩ được đo bằng mức độ người ấy để cho Đức Kitô sống trong mình. Người tu sĩ đẹp nhất là người mang khuôn mặt của Đức Kitô, đời thánh hiến không phải là một cuộc thi xem ai tài năng hơn ai, cũng không phải là một sân khấu để mỗi người chứng minh mình xuất sắc đến đâu. Đời tu trước hết là hành trình để thuộc trọn về Chúa và trở nên giống Chúa hơn mỗi ngày. Vì thế, vẻ đẹp đích thực của người tu sĩ không chỉ nằm ở chiếc áo dòng, dáng vẻ bên ngoài, kiến thức hay khả năng phục vụ, mà vẻ đẹp ấy phải được nhìn thấy trong cách người tu sĩ đối xử với những người bé nhỏ nhất. Một người tu sĩ thật sự đẹp khi biết cúi xuống, đẹp khi biết lắng nghe, đẹp khi biết nói lời xin lỗi, đẹp khi biết nhìn nhận mình sai, đẹp khi biết vui trước thành công của người khác mà không ganh tị, đẹp khi biết trân trọng một người chị em ít khả năng hơn mình, đẹp khi không cần phải chứng minh mình giỏi, đẹp khi có thể làm một việc nhỏ bé mà không cần ai biết đến. Và đẹp nhất là khi người ta gặp người tu sĩ ấy mà cảm nhận được lòng nhân hậu, sự bình an và tình yêu của Đức Kitô.

Nếu một người tu sĩ có rất nhiều khả năng nhưng ngày càng xa Chúa, thì có phải chúng ta đang đi sai hướng không? Nếu càng học cao mà càng kiêu ngạo, càng tài giỏi mà càng coi thường chị em, càng được trọng dụng mà càng thiếu tinh thần hiệp nhất, thì những thành công ấy có thực sự làm cho đời tu trở nên đẹp hơn không? Nếu người tu sĩ có thể chinh phục đám đông nhưng không thể sống hòa thuận với một người chị em trong cộng đoàn, thì đâu là chứng tá Tin Mừng? Nếu có thể nói những điều rất hay về tình yêu Thiên Chúa nhưng lại làm tổn thương người bên cạnh bằng lời nói, thái độ và sự khinh thường, thì những lời ấy còn sức thuyết phục không?

Đời tu ngày hôm nay không thiếu những người tu sĩ có khả năng, có hình thức, nhưng dường như đời tu ngày hôm nay thiếu nhiều những tu sĩ có hình thức mà lại thiếu nội dung. Ngày Chúa gọi, chúng ta không đến với Ngài vì chúng ta tài giỏi, đẹp trai hay đẹp gái.. mà chúng ta đến vì được Ngài yêu thương chọn gọi. Những gì chúng ta có hôm nay như: trí tuệ, sức khỏe, tài năng, bằng cấp, khả năng lãnh đạo, khả năng phục vụ …tất cả đều là quà tặng nhưng không của Ngài. Và nếu là quà tặng, thì không ai có quyền và cũng không có gì để mà kiêu hãnh.

Một người tu sĩ không có hình thức mà có nội dung mới đáng trân quý. Họ có ít tài năng nhưng trung thành với Chúa, sống khiêm nhường, âm thầm cầu nguyện, tận tụy với cộng đoàn và yêu thương mọi người, có khi lại đang sống đời tu sâu sắc hơn một người rất nổi bật nhưng luôn đặt mình ở trung tâm. Trước mặt Thiên Chúa, sự thánh thiện nơi tu sĩ luôn quan trọng hơn sự xuất chúng. Điều đáng sợ nơi người tu sĩ ngày hôm nay không phải là “thiếu tài năng”, mà là “thiếu Chúa”

Chúng ta cũng thấy có những người tu sĩ không nổi bật, không có nhiều bằng cấp, không giỏi giang, không được người khác chú ý, họ sống rất âm thầm. Nhưng họ có một trái tim rất đẹp, họ âm thầm cầu nguyện, họ biết hy sinh, họ biết tha thứ, họ biết cúi xuống phục vụ, họ không cần được khen, họ không tranh phần hơn, họ không coi thường ai, họ biết mình yếu đuối nên luôn cần đến Chúa. Những con người như thế có thể không “bắt mắt” trước mắt thế gian, nhưng lại có thể rất đẹp trong mắt Thiên Chúa.

Và nếu một ngày nào đó tất cả tài năng, bằng cấp, địa vị, sự nổi tiếng và những điều làm nên “hình thức” của tôi không còn nữa, tôi còn lại gì trước mặt Chúa? Nếu lúc ấy tôi vẫn còn một trái tim yêu Chúa, một tâm hồn khiêm nhường, một tình yêu dành cho cộng đoàn và một tấm lòng biết cúi xuống phục vụ, thì tôi vẫn còn giữ được điều cốt lõi nhất của đời tu. Bởi vì cuối cùng, Thiên Chúa không cần những người tu sĩ hoàn hảo về hình thức, mà Ngài cần những trái tim thuộc trọn về Ngài.

Ước gì giữa một thế giới ngày càng coi trọng hình thức, thành công và khả năng, người tu sĩ vẫn đủ tỉnh thức để nhớ mình là ai, họ cố gắng không phải để trở thành người nổi bật nhất, nhưng để trở thành người thuộc về Chúa nhất, và họ phục vụ không phải để người khác nói: “Tu sĩ này giỏi quá!” Nhưng để qua cuộc đời mình, người khác có thể nhận ra: “Thiên Chúa thật sự đang sống nơi người tu sĩ này.” Đó mới là vẻ đẹp đích thực của đời thánh hiến, và đó mới là nội dung làm nên hình thức của một người tu sĩ.

Sr Mây Trắng, SPP

NGƯỜI TA CỨ TƯỞNG…- Người ta cứ tưởng những người đi tu sẽ giỏi giang, cái gì cũng biết… để rồi cứ cúi đầu vâng vâng, dạ...
25/08/2026

NGƯỜI TA CỨ TƯỞNG…

- Người ta cứ tưởng những người đi tu sẽ giỏi giang, cái gì cũng biết… để rồi cứ cúi đầu vâng vâng, dạ dạ, mà không dám trình bày chính kiến của mình.
- Người ta cứ tưởng đi tu sẽ thánh thiện và tốt lành hơn những người trần thế… để rồi thần tượng hóa ông cha, bà xơ còn hơn cả Chúa.
- Người ta cứ tưởng cuộc đời của những người đi tu sẽ an nhàn thư thái…để rồi ao ước trời ơi đi tu sao sướng thế!
- Người ta cứ tưởng những người đi tu sẽ được Chúa nhận lời cầu nguyện nhiều hơn người khác…để rồi mai người này dúi tiền, mốt người kia gửi phong bì nhờ cha cầu nguyện.
- Người ta cứ tưởng thế…Nên những người đi tu cũng phải sống như thế nào cho giống với NGƯỜI TA CỨ TƯỞNG để rồi biết bao nhiêu người lỡ may chọn đời tu mà sống không hợp lại không dám quay đầu trở lại. Sợ miệng đời… Cả một cuộc đời sống trong bế tắc và đau khổ…không lối thoát.
- Sống trong bậc sống nào cũng có những nổi khổ và thánh giá phải mang. Hãy nhìn thánh giá của mình mà cảm thông cho thánh giá của người khác. Người tu sĩ, linh mục không chỉ mang thánh giá nặng của thân xác tội lỗi mình mà còn phải mang vác thánh giá cho tha nhân nữa. Vì thế sẽ dễ dàng vấp ngã hơn bất cứ ai khác.
- Việc khai thác những khía cạnh, những mặt trái của đời tu mà bấy lâu nay nhiều người không biết, của các tu sĩ, linh mục như một thông điệp ĐỪNG THẦN TƯỢNG HÓA TU SĨ, LINH MỤC.
- Thật vậy, tu sĩ, linh mục cũng là những con người yếu đuối mỏng dòn như tất các chúng ta. Để có được một tu sĩ, linh mục tốt lành như lòng Chúa ước mong và lòng dân mong đợi, ngoài ơn Chúa ban, ngoài sự nỗ lực của cá nhân người đó, còn là công sức của cả Giáo hội, trong đó mỗi giáo dân cũng có trách nhiệm.
- Vì thế, để giúp đỡ một tu sĩ, linh mục trở nên tốt lành, thì phải khởi đi bằng ánh nhìn chân thực nhất trong thân phận con người. Đừng cứ tưởng thế này, thế kia.
- Viết những mẫu truyện, những chia sẻ về đời sống của các tu sĩ, linh mục, tuy hơi nghiêng về chiều hướng tiêu cực, khác với những thứ mà bấy lâu nay người ta cứ tưởng, tôi gặp không ít sự chống đối, bất đồng quan điểm. Nhưng bản thân là một tu sĩ, linh mục, tôi muốn viết về đời tu cách chân thực nhất, viết bằng chính sự trải nghiệm của bản thân, viết bằng chính những sự kiện trong đời…để như một hồi chuông gửi đến mọi người thông điệp ĐỪNG THẦN TƯỢNG HÓA ĐỜI TU, mà khinh thường bậc sống đời gia đình.
- Thật vậy, bậc sống nào cũng có giá trị của nó và cũng quý trọng như nhau. Bậc sống nào cũng có hạnh phúc, hoan lạc, khó khăn và thử thách. Quan trọng là qua đời sống của mình, chúng ta có nên thánh hay không?
Đừng cứ tưởng như thế…
- Xin hãy nhìn vào chính thân phận mỏng dòn, yếu đuối của kiếp người để cùng nâng đỡ nhau.
- Cuối cùng, dù sống trong bậc nào đi nữa, dù cuộc đời có dang dở dở dang thì chỉ có Chúa mới là nơi mà tất cả chúng ta hướng đến. Xin hãy để cho Chúa hoàn tất những dở dang dang dở nơi cuộc đời của mỗi người chúng ta. Bởi đơn giản: “Có Chúa Giê-su Thánh Thể rồi, hỏi bạn còn mong gì hơn nữa ở đời này.” (Thánh Eymard).

(Sưu tầm)

Address

Ho Chi Minh City
ONGOITHANHHIEN

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when ƠN GỌI THÁNH HIẾN posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to ƠN GỌI THÁNH HIẾN:

Shortcuts

Share