Chùa Đồng Lớn

Chùa Đồng Lớn ĐC: 95/4/1 Đường 725, Ấp Đồng Lớn, Xã Trung Lập Thượng, Huyện Củ Chi, TP.HCM. bán hàng

NÓI VỀ TỪ BI Có thể nói một định nghĩa hết sức đơn giản nhưng có giá trị văn hóa phổ quát cao về Phật giáo: Đạo Phật là ...
26/08/2024

NÓI VỀ TỪ BI

Có thể nói một định nghĩa hết sức đơn giản nhưng có giá trị văn hóa phổ quát cao về Phật giáo: Đạo Phật là đạo từ bi
Đương nhiên có người sẽ nói đạo Phật là đạo trí tuệ; đạo Phật là đạo giải thoát; đạo Phật là đạo giác ngộ; đạo Phật là đạo tỉnh thức...
Tất cả những khái niệm trên đều không sai, đều hay, đều có ý nghĩa. Nhưng nếu xét ở góc độ văn hóa phổ quát thì số đông sẽ hiểu và thích cách nói đạo Phật là đạo từ bi cứu giúp chúng sinh hơn.
Từ bi dịch từ chữ Karunâ trong tiếng Pali.
Từ là lành, hiền, yêu thương
Bi là xót thương, đau xót, thương xót
Tiếng Hán, Từ (慈) là một phẩm chất quan trọng của trái tim (tâm người) diễn tả thái độ lành, hiền từ mang lại hạnh phúc và an lạc cho người khác; Bi (悲) cũng là một phẩm chất của trái tim (tâm con người) diễn tả thái độ đau thương, đau buồn trước những nỗi thống khổ của người khác.
Trong các sách tiếng Anh cũng như tiếng Pháp, chữ Karunâ được dịch là compassion. Chữ compassion có gốc từ tiếng Latinh là compassio, có nghĩa là thương hại trước sự đau khổ của kẻ khác. Trong chữ compassion, có chữ passion, chữ này có gốc từ chữ patior, một động từ trong tiếng La tinh có nghĩa là chịu đựng hay trải qua khổ đau, đau đớn.
Nghĩa rộng của chữ từ bi được triển khai trong các kinh Đại thừa
Từ năng dữ nhất thiết chúng sanh chi lạc.
Bi năng bạt nhất thiết chúng sanh chi khổ.
Hoặc nói đơn giản
Từ năng dữ lạc, bi viết độ sanh
Sáng cho người niềm vui, chiều giúp người bớt khổ là từ bi
Từ là ban vui, bi là cứu khổ
Từ là mang lại tất cả niềm vui cho chúng sanh; bi là làm cho mọi nỗi khổ niềm đau của chúng sanh tan biến
Từ là ban vui, bi là độ sanh.
Tâm từ bi là tâm Phật
Hạnh từ bi là hạnh Phật
Trí tuệ là một từ quan trọng bậc nhất của Phật giáo
Trí tuệ là sự nghiệp
Trí tuệ là giải thoát
Trí tuệ là thông đạt chân lý
Nói đơn giản người có trí tuệ là người biết sống thuận theo chân lý. Chân lý thì không hình, không tướng mà căn cơ chúng sanh thấp kém nên khó tin khó hiểu vì thế Phật lập vô số phương tiện dìu dắt chúng sanh tu tập đúng theo chân lý để đạt được sự an vui và giải thoát, giác ngộ
Phẩm Thí dụ thứ ba của kinh Pháp Hoa, một bộ kinh trọng yếu của Phật giáo Đại thừa Tam giới như là nhà lửa, chúng sanh là những đứa con của ngài trưởng giả tức chỉ Đức Phật. Do mãi vui chơi không biết sự nguy hiểm của nhà lửa như thế nào để cứu các con ngài Trưởng giả đã dụ rằng các con mà ra khỏi đây ta sẽ cho các con xe dê, xe hươu, xe trâu tốt đẹp để thoải mái chơi đùa. Khi các đứa con của mình vượt thoát khỏi đó xong, Ngài cho các con chiếc xe trâu trắng hoành tráng, tốt đẹp, trang nghiêm hơn nhiều so với xe dê, xe hươu, xe trâu mà Ngài đã nói. Do vô minh và vọng kiến ngăn che nên chúng sanh cứ đắm chìm trong nỗi khổ vô cùng của nhà lửa tam giới
Đức Phật là bậc lưỡng túc tôn, phước trí nhị nghiêm; bi trí viên mãn
Trí viên mãn, bi viên mãn mới thành Phật được. Thiếu một trong hai không thể gọi là Phật được
Người đệ tử Phật dù xuất gia hay tại gia nên lấy việc nâng cao trí tuệ và từ bi làm chính
Nói cách khác tu tập đúng theo Phật phải lấy từ bi làm lẽ sống, lấy trí tuệ làm sự nghiệp
Cũng có thể nói từ bi và trí tuệ là tiêu chuẩn bất biến về giá trị con người.
Phẩm chất trí tuệ và từ bi cũng là tiêu chí, là điều kiện biểu hiện ra mười cảnh giới Tứ thánh (Phật, Bồ Tát, Duyên giác, Thanh văn); Lục phàm (Trời, người, Atula, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục)
Cảnh giới cao thượng nhất trí tuệ từ bi trọn vẹn viên mãn là cảnh giới Phật
Cảnh giới thấp kém nhất hoàn toàn không có trí tuệ và từ bi chính là cảnh khổ đau bất tận của chúng sanh bị đoạ nơi địa ngục
Trong nhân loại, những người có trí tuệ và từ bi lớn, thường biết tu tập phát triển từ bi trí tuệ là bậc thượng nhân đáng kính
Khái niệm "lương tâm" của ông bà ta là phẩm chất của tâm từ bi
Từ bi và trí tuệ có mối quan hệ mật thiết với nhau không thể tách rời, là mối quan hệ tương tức. Từ bi là biểu hiện của trí tuệ; trí tuệ nguồn gốc của từ bi, soi sáng từ bi
Có trí tuệ sẽ phát triển từ bi; tu tập từ bi sẽ phát sinh trí tuệ
Hàng ngày dành thời gian học Phật, đọc kinh, ngồi thiền, nghe pháp, chánh niệm sẽ tăng trí tuệ
Tập sống chánh niệm tỉnh giác, niệm Phật Quan Âm, lạy Phật, hộ trì Tam Bảo, quán từ bi, cư xử tử tế, làm thiện giúp người, phóng sanh, trồng cây, bảo vệ môi trường... sẽ giúp nuôi lớn tâm từ bi
Người tu hành chọn pháp từ bi tu đến trọn vẹn viên mãn cũng sẽ đạt đến giác ngộ giải thoát
Cổng tam quan của Đạo tràng Minh Trần, bên phải ghi: Trí tuệ thành tựu giác ngộ; bên phải ghi: Từ bi cứu giúp chúng sanh
Bồ tát Quán Thế Âm trong đạo Phật Đại thừa là hiện thân, là biểu tượng của từ bi, luôn lắng nghe những tiếng kêu cứu khổ đau của chúng sanh, con người mà tận tâm cứu giúp.
Một trong những định hướng chân chính cho người học Phật dù là xuất gia hay cư sĩ Phật tử tại gia là lấy từ bi làm lẽ sống, lấy trí tuệ làm sự nghiệp.
Ba đời mười phương chư Phật lấy từ bi làm thể, chư Phật Bồ Tát phát đại nguyện, thị hiện trong sáu nẻo luân hồi, qua lại trong nhân gian chính là để thực thi hạnh từ bi cứu giúp muôn loài chúng sanh, ngoài ra không còn bất kỳ mục đích nào khác.

Đức Phật dạy
Vun bi, trí
Lẽ sống từ bi
Sự nghiệp trí tuệ
Đường chân chính

TS Hạnh Tuệ - TS Thanh Quế
Đạo tràng Minh Trần

NÓI VỀ MẠN, NGÃ MẠNNhân có đệ tử thưa hỏi, làm sao nhận diện và chuyển hoá ngã mạn, kiêu mạn trong đời sống tu học, đời ...
15/08/2024

NÓI VỀ MẠN, NGÃ MẠN

Nhân có đệ tử thưa hỏi, làm sao nhận diện và chuyển hoá ngã mạn, kiêu mạn trong đời sống tu học, đời sống thực tế
Chúng tôi có vài lời:
Làm người, biết tu tập, hiểu rõ, vượt qua mạn, ngã mạn là thượng nhân rồi
Ngã mạn, chữ Hán 我慢, Phạn ngữ là Àtma-màịa, là tâm kiêu mạn do u mê chấp ngã sinh ra
"Mạn" là lòng kiêu căng tự phụ luôn muốn so sánh hơn thua với người khác.
Có rất nhiều loại "mạn",
kinh Thủ lăng nghiêm chỉ ra bảy loại "mạn" phố biển:
- Mạn: Hơn ít mà tưởng hơn nhiều, cho mình là hơn và tỏ vẻ khinh khi đối với người thua kém mình.
- Ngã mạn: Ỷ mình tài giỏi, tự cho mình hơn người, xem thường lấn lướt, chê bai kẻ khác.
- Tà mạn: Vì chấp trước tà kiến điên đảo, theo pháp tu tà đạo sai lầm nhưng vẫn tự cho mình là đúng, nên không cung kính Phật Pháp Tăng
- Quá mạn: Tự chấp hơn hoặc thua mà cho là bằng với người bằng mình, cả với người hơn mình.
- Mạn quá mạn: Thua nhiều mà tự cho là mình hơn, quyết giành lấy phần hơn dù biết mình thua kém vì cho mình vẫn hơn người.
- Tăng thượng mạn: Chưa chứng đắc đạo quả mà tự nói mình đã chứng đắc rồi khoe khoang khoác lác lừa người cung kính mình
- Ty liệt mạn: Mình thua rất nhiều mà cho là thua ít hoặc không thua. Làm bộ khiêm tốn một cách giả dối, nói là mình kém hèn nhưng thật ra trong lòng tự cao tự đại, không phục người hơn mình.
Có thể mô tả một số trạng thái, trường hợp phát sinh tâm kiêu mạn, kiêu hãnh, khinh lờn, ngạo mạn như sau: Ngang ngược tùy tiện, kiêu căng ngã mạn, kiêu kì trịnh thượng, cho mình hơn người, mục hạ vô nhân, kiêu hãnh về chủng tộc cao sang, kiêu ngạo dòng họ quyền quý , kiêu hãnh sức mạnh, kiêu hãnh tuổi trẻ, kiêu hãnh đời sống giàu có, kiêu hãnh có nhiều lợi lộc, kiêu mạn được kính ngưỡng, kiêu ngạo được trọng vọng, kiêu hãnh được tôn vinh, kiêu ngạo có người hầu cận tùy tùng, kiêu mạn có nhiều tài sản, kiêu ngạo dung nhan xinh đẹp, kiêu hãnh học vấn bằng cấp cao, kiêu mạn có tài biện luận, kiêu mạn kinh nghiệm lão thành, kiêu mạn danh dự, kiêu mạn giữ oai nghi, kiêu ngạo có tài năng, kiêu mạn có danh tiếng, kiêu hãnh có đạo hạnh, kiêu mạn có giữ giới, kiêu ngạo có nghề nghiệp giỏi, kiêu hãnh có nhiều sở trường, kiêu hãnh hiểu biết, kiêu mạn địa vị, kiêu ngạo thành tựu....
Các trạng thái kiêu mạn, ngã mạn này làm tâm uế nhiễm mê muội, không sáng suốt. Thường tìm mọi cách tô bồi bản ngã, tôn vinh bản thân và hạ thấp, chê bai người khác, lấy đó để tranh danh dự, dành phần hơn về bản thân, đẩy điều xấu, khó khăn thua thiệt cho người khác
Ngã mạn là cái tâm so sánh, so đo, tính toán cho bản thân, ở chỗ nào, đi đến đâu, tiếp xúc với ai cũng khởi tâm so sánh hơn thua về trình độ địa vị, tài sản, danh tiếng, tu tập để làm ra vẻ, tỏ thái độ kẻ cả, quan trọng, xem mình là trung tâm
Thích khoe khoang, hợm hĩnh, thích khoa trương hình thức, nói quá sự thật về mình, thích đến những nơi đẳng cấp để tạo danh tiếng, tìm mọi cách tiếp cận với giới uy tín, giàu sang quyền chức,,, luôn muốn tạo ra khoảng cách và cách biệt giữa mình và người khác lấy đó làm kiêu hãnh tự mãn, buông lung tùy tiện
Tu tập không đúng pháp, đúng hướng sẽ làm cho tâm ngã mạn cố chấp ngày càng lớn hơn
Một trong những ngọn nguồn của ngã mạn là u mê, hiểu sai, tà kiến, chấp có, hoặc chấp không, hoặc chấp thường, chấp đoạn, chấp ngã, chấp ngã sở
Đôi khi được các bậc cao đức thức giả chỉ bảo cũng nhận biết đó là sai nhưng không chừa bỏ, khi có người chăn thành góp ý chỉ ra cho mình thì tự ái, bao biện, lấp liếm không chịu thừa nhận, nghiêm túc tu tập sửa đổi
Vài cách tu bớt/ hết ngã mạn, kiêu mạn
- Hiểu sâu ngã là không thật có. Nhận diện rõ biểu hiện chấp ngã, ngã mạn, kiêu mạn
- Chánh niệm tỉnh giác, quay vào tâm mình, quan sát những biểu hiện của ngã mạn, kiêu mạn (cả phần thô và vi tế; cả những ngã mạn, kiêu mạn đã biểu hiện ra thành lời nói, hành động, thái độ, sắc mặt, suy nghĩ và cả những chủng tử ngã mạn, kiêu mạn đang âm ỉ trong tâm thức chưa biểu hiện ra rõ ràng
- Biết rõ ngã mạn, kiêu mạn thường đi chung với tâm tham, sân, si, nghi...sẽ ngăn che tánh giác, cản trở tiến trình tu tập giác ngộ, nên thực hành pháp chân thật khiêm nhường và cung kính với tất cả mọi người, hợp với chân lý vô ngã
- Biết rõ ngã mạn, kiêu mạn là một phần của chấp ngã, là pháp ác bất thiện. Cái ngã vốn không có thực tính chỉ là do huân tập vô minh tà kiến lâu ngày hình thành, thì sao lại sinh tâm kiêu căng ngạo mạn.
- Nhìn rõ như thật càng kiêu căng ngạo mạn thì càng dễ thất bại ê chề, là tự mình hại bản thân mình.
- Khi tâm ngã mạn, kiêu mạn khởi lên, thì chánh niệm nhận diện, gọi tên ngay thì vượt thoát sự chi phối, dẫn dắt và nô lệ cho nó
- Học thực hành hạnh khiêm cung của Bồ Tát Thường Bất Khinh trong kinh Pháp Hoa
- Quán như thật thân thể con người là duyên khởi, tánh không nên vô ngã
- Quán như thật con người ngũ uẩn (Sắc thọ tưởng hành thức) là duyên khởi, tánh không, vô ngã

Biết ngã, mạn
Thực tính không
Chấp ngã, khổ sầu
Kiêu mạn, não phiền
Vượt ngã mạn

TS Hạnh Tuệ - TS Thanh Quế
Đạo tràng Minh Trần

THỰC GIẢI KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO 1. Dẫn nhập Đức Phật Thích Ca sau khi giác ngộ hoàn toàn đã nỗ lực không ngừng đi giáo hoá...
23/07/2024

THỰC GIẢI KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO

1. Dẫn nhập
Đức Phật Thích Ca sau khi giác ngộ hoàn toàn đã nỗ lực không ngừng đi giáo hoá liên tục trong 45 năm (theo Năm truyền), 49 năm theo Bắc truyền), với hơn ba trăm pháp hội, khoảng tám vạn bốn ngàn bài pháp, tùy nơi, tùy lúc, tùy người, thuận lý, tùy theo căn cơ trình độ khác nhau để đạt được hiệu quả giác ngộ an lạc cao nhất.
Lịch sử giảng giải kinh điển đã có từ lâu đời và thế tài vô cùng phong phú như chú giải, sớ giải, yếu giải, diễn giải, giảng giải, lược giải, nghĩa giải, thiền giải, huyền giải, tường giải, luận giải, giải mã, thực giải...
Thực giải (cả viết và giảng) là cách phù hợp với tinh thần của đức Phật, cũng như văn hoá của người Việt Nam ta
Thể loại luận trong tam tạng chủ yếu là để giải thích, giảng giải kinh, luật...
Theo đó trách nhiệm của một thầy Tỳ kheo, đệ tử Phật, không chỉ siêng năng học hỏi cặn kẽ, hiểu thông Kinh, Luật, Luận, sống thực hành sâu sắc theo chân lý Phật mà còn phải đem những điều mình hiểu, mình thực hành có kết quả chia sẻ, giảng giải cho đồng bào Phật tử và những người có duyên muốn nghe, làm theo.
2. Nguyên tắc giảng giải Phật pháp
Trong Đại phẩm, đức Phật dạy: “Này các thầy Tỳ-kheo, hãy đi đi, đi khắp nơi vì lợi lạc và hạnh phúc của số đông, vì lòng từ bi đối với cuộc đời, vì lợi lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Chớ đi hai người chung đường với nhau. Này các thầy Tỳ-kheo, hãy thuyết giảng giáo pháp cao thượng toàn hảo ở phần đầu, cao thượng toàn hảo ở phần giữa và cao thượng toàn hảo ở phần cuối, cả về ý nghĩa lẫn văn cú.
Hãy giảng giải sự trọn vẹn viên mãn, đời sống thanh tịnh của trạng thái cao thượng. Có những người mà trí óc chỉ bị lu mờ vì đôi chút bụi bặm, nếu không được nghe pháp thì họ không thể được giải thoát; những người ấy sẽ hiểu pháp”
Đức Phật đã tuyên thuyết điều Ngài biết, Ngài làm. Đấy là sự chân thật.
Trưởng lão Xá-lợi-phất tuân theo lời Đức Phật, huấn luyện chỉ dạy cho các vị tỳ kheo giảng sư sắp đi hoằng pháp ở phương xa. Tôn giả vừa giả định các câu hỏi sẽ được đặt ra cho các giảng sư rồi tự nói câu trả lời: “Đạo sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì? Được hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời: Này chư vị, bậc Đạo sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham. (Tương ưng bộ)
Thường một vị giảng sư cần giữ 5 nguyên tắc về việc thuyết giảng Phật pháp:
Một là, thuyết pháp theo thứ lớp, từ thấp đến cao;
Hai là thuyết y theo các pháp môn của kinh điển, không được sai lầm
Ba là thuyết pháp vì lòng từ bi, muốn lợi ích cho mọi người;
Bốn là thuyết pháp không phải vì lợi ích cá nhân của mình, không mong được đền đáp
Năm là không được tự khen mình, chê bai người khác, tôn giáo khác
Trong kinh Ưu Bà tắc giới đức Phật còn chỉ dạy chi tiết 16 điều cần ghi nhớ trong việc thuyết giảng Phật pháp : 1. Thuyết giảng tùy thời; 2. Thuyết giảng hết lòng; 3.Thuyết giảng theo thứ tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao; 4. Thuyết giảng một cách hòa hợp; 5. Thuyết giảng đúng theo nghĩa lý; 6. Thuyết giảng với tâm hoan hỷ; 7. Tùy ý thuyết giảng; 8. Không khinh thường thính chúng; 9. Không mắng chửi thính chúng; 10. Giảng đúng như pháp; 11. Nói pháp lợi mình và lợi người; 12. Nói pháp không tán loạn; 13. Nói pháp hợp nghĩa lý; 14. Nói chân chính; 15. Giảng pháp với tâm không kiêu mạn; 16. Giảng Phật pháp không cần người đền ơn
3 Phương pháp thực giải kinh điển
Đức Phật thường giảng giải chân lý Phật pháp một cách đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hành nhất trong đời sống thực tế. Thực giải phù hợp với tinh thần của giảng pháp của cả đời đức Phật và văn hóa chọn đơn giản của người Việt Nam ta
Hãy giải nghĩa kinh đơn giản rõ ràng, giữ gìn oai nghi trên pháp toà, lập cấu trúc logic, xác định rõ giảng ở đâu, giảng cho ai nghe, giảng nội dung gì, giảng như thế nào, mong muốn hướng đến kết quả như thế nào, biết cách phân loại bài giảng, chọn chủ đề tài phù hợp, dựa theo kinh gốc Phật dạy, dùng phương pháp thực giải đơn giản dễ hiểu dễ nắm bắt, dễ áp dụng thực hành trong đời sống thực tế hàng ngày
Chú ý đến phong tục tập quán tín ngưỡng, bối cảnh lịch sử, địa lý, không phê phán các tôn giáo khác
Biết vận dụng văn học âm nhạc, ca dao phong dao tục ngữ thành ngữ vào bài giảng cho thêm sinh động
Quan trọng là giảng đúng ý nghĩa giáo lý của văn kinh, chân lý giúp người nghe hiểu được, áp dụng được trong đời sống hàng ngày bớt khổ, thêm vui, hướng thiện, hướng thượng.
Tóm lại một vị giảng sư trước hết phải có phẩm chất đạo hạnh tư cách đạo đức; học hỏi kỹ càng thông đạt Kinh Luật Luận, nắm vững, thực hành giáo lý Phật giáo, sống đúng với tinh thần từ bi trí tuệ của đạo Phật thì mới được gọi là vị giảng sư chân chính của Phật giáo.
4. Vài điều cần cho một giảng sư:
- Một là hãy dành thời gian học hỏi nghiên cứu Kinh Luật Luận, giáo lý Phật học cho thật chắc chắn vững vàng, chỗ nào chưa thông nên thưa hỏi các bậc tôn túc Hoà Thượng đi trước
- Hai là sống, tư duy chiêm nghiệm, tu tập thực hành nghiêm túc các kinh, các pháp, giáo lý đã học
- Nên giảng đúng những điều đức Phật đã dạy giúp người nghe có thể hiểu, thực hành đạt được an lạc, chuyển hóa khổ đau. Không nên giảng, suy diễn cá nhân theo trào lưu, xu thế
- Chỉ nên giảng những điều mà mình đã hiểu thấu đáo chắc chắn, đã thực hành có kết quả bớt khổ, an lạc. Không nên tùy tiện giảng những vấn đề mình còn mơ hồ không chắc chắn, không thuộc giáo lý Phật giáo
- Nên dùng thái độ khiêm cung, chân thật mà giảng giải Phật pháp, tránh khoe khoang, khoa trương tự cao tự đại
- Tránh đề cập đến chính trị, phê phán tôn giáo, tín ngưỡng ngoài Phật giáo
- Theo lời Phật dạy, trên đền bốn ơn, dưới cứu ba cõi mà tuyên dương Phật pháp. Chứ tuyệt không phải có tâm thể cầu danh, mong lợi, muốn nổi tiếng mà đi giảng Phật pháp
- Những người chưa am tường Phật pháp, chưa tư duy chiêm nghiệm thấu đáo giáo lý, chưa sống, thực hành nghiêm túc giáo lý Phật giáo thì không phải là giảng sư, cũng không thể giảng Phật pháp được. Nếu đi giảng Phật pháp chỉ là có hại cho bản thân, hại cho mọi người và có hại cho Phật giáo.

Cách thực giải
Kinh điển Phật
Đơn giản, dễ hiểu
Áp dụng thực hành
Giải như thật

TS Hạnh Tuệ & TS Thanh Quế
Đạo tràng Minh Trần

THỰC GIẢI KINH TRUNG ĐẠO NHÂN DUYÊN Đây là bài kinh số 99, trong Tạp A hàm, nói về chánh kiến, được đức Phật giảng rõ tạ...
16/07/2024

THỰC GIẢI KINH TRUNG ĐẠO NHÂN DUYÊN

Đây là bài kinh số 99, trong Tạp A hàm, nói về chánh kiến, được đức Phật giảng rõ tại ngôi nhà khách ở trong một khu rừng thuộc tụ lạc Na Lợi, khi Tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên thưa hỏi.
Người đời thông thường nghiêng về hai khuynh hướng nhận thức: một là có, hai là không; chấp có hay chấp không cũng đều là chấp cả, hễ chấp sẽ khổ
Vướng mắc, chấp cố là do không thông đạt, bị vướng kẹt vào tri giác, nhận thức, hiểu biết sai lầm của mình. Vì vướng mắc vào nhận thức, tri giác, hiểu biết sai lầm cho nên mới vướng kẹt cố chấp vào hoặc ý niệm có hoặc ý niệm không.
Vượt qua ý niệm chấp có và chấp không là chúng ta đã giải thoát được một phần quan trọng, điều này vận dụng vào thực tế sẽ thấy rõ.
Người đời, hiếm thấy ai không bị kẹt vào chấp (cố chấp) và thủ (nắm giữ) Người không bị kẹt vào chấp và thủ thì không còn nắm giữ, kế đạt và vọng tưởng về cái ngã, cái ta, cái tôi, cái của tôi nữa. Người ấy biết khổ đau phiền não khi có điều kiện phát sinh thì nó phát sinh, khi hết điều kiện tồn tại thì nó mất đi, người ấy không còn nghi hoặc gì nữa cả. Cái thấy của người ấy không do bị ảnh hưởng của kẻ khác, của số đông mà có, trái lại do chính người ấy, nhờ tu tập đúng chánh pháp, đạt được. Cái thấy ấy gọi là chánh kiến. Đó là cách giải thích, trình bày chánh kiến của Như Lai.
Người có chánh kiến (tri kiến chân chính) khi quán sát về sự sinh khởi của thế gian thì không thấy, không chấp thế gian là không. Người có tri kiến chân chính thì khi quán sát về sự hoại diệt của thế gian thì không thấy, không chấp thế gian là có.
Đương nhiên "chấp có" là một biên kiến, "chấp không" là một biên kiến khác; Như Lai, bậc trí tuệ thông đạt xa lìa, vượt lên hai biên kiến đó mà thuyết pháp trung đạo.
Con đường Trung đạo là con đường đua đến giải thoát giác ngộ.
Lý Trung đạo nhân duyên chỉ ra cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh; cái này không vì cái kia không, cái này diệt vỉ cái kia diệt. Mọi thứ trên đời đều do nhiều nhân duyên hợp lại mà thành, cũng do duyên tan rã mà hoại, không có cái gì tồn tại độc lập một mình
Từ vô minh mà có hành, từ hành mà có thức, từ thức mà có danh sắc, từ danh sắc mà có lục nhập, từ lục nhập mà có xúc, từ xúc mà có thọ, từ thọ mà có ái, từ ái mà có thủ, từ thủ mà có hữu, từ hữu mà có sinh, từ sinh mà có lão tử và khổ đau, phiền não, lo sầu chồng chất thành đống thành khối.
Nói đơn giản, con người vì u mê, tham luyến, cố chấp, không biết tu tập nên từ thân, miệng, ý làm tổn hại người vật thiên nhiên, gây ra nhiều nghiệp chướng, phải theo nghiệp chướng ấy mà chịu quả báo khổ đau bất tận trong sáu nẻo sinh tử luân hồi (Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A tu la, người, trời).
Chiều ngược lại, nếu vô minh không còn, thì hành không còn, hành không còn thì thức không còn, thức không còn thì danh sắc không còn, danh sắc không còn thì lục nhập không còn, lục nhập không còn thì xúc không còn, xúc không còn thì thọ không còn, thọ không còn thì ái không còn, ái không còn thì thủ không còn, thủ không còn thì hữu không còn, hữu không còn thì sinh không còn, sinh không còn thì lão tử không còn và nguyên khối khổ đau phiền não lo sầu chồng chất kia bị tiêu diệt hoàn toàn.
Tức là người tu tập thành tựu trí tuệ giác ngộ, chuyển hóa, đoạn trừ hoàn toàn tận gốc vô minh phiền não, thân khẩu ý không còn gây tạo tội nghiệp, vượt qua khỏi tham ái, vướng mắc, chấp thủ thì sẽ vượt thoát mọi nỗi khổ niềm đau trong sinh tử luân hồi
Khi đức Phật giảng kinh này xong, tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên thấy tâm bừng sáng giải thoát, cắt đứt được các võ minh phiền não chứng được thánh quả A La Hán, giải thoát được mọi nỗi khổ đau trong sinh tử luân hồi
Vô minh là u mê, không sáng suốt, ai chưa hiểu rõ về tứ đế, chưa minh tâm kiến tánh, chưa thấu rõ lý duyên khởi, chưa chuyển hóa hoàn toàn tập khí phiền não, chưa thông đạt chân lý Trung đạo, chưa hiểu biết đúng như thật về thực tính của vạn pháp đều là còn vô minh.
Đức Phật dạy chân lý Trung đạo, Khổng Tú nói đạo Trung dung; ông bà ta bảo lẽ vừa phải, không quá tuy có nông sâu nhưng giá trị ứng dụng thực tế thì vô cùng tuyệt vời. Đương nhiên vấn đề này chỉ có đạt nhân mới thấu đáo tường tận
Đọc tụng, tư duy, chiêm nghiệm, thực hành kinh Trung đạo nhân duyên, dùng tuệ giác duyên khởi soi sáng cuộc đời, giúp chúng ta nhìn mọi thứ thông đạt thấu đáo và độ lượng, dần dần không còn vướng chấp vào bất cứ thứ gì, vượt thoát mọi nỗi khổ niềm đau trong cuộc đời

Kinh trung đạo
Lý nhân duyên
Tham chấp khổ sầu
Chánh kiến giải thoát
Nên tu học

TS Hạnh Tuệ - TS Thanh Quế
Đạo tràng Minh Trần

BÁT NHÃ TÂM KINH THỰC GIẢI (Tinh hoa Bát nhã tâm kinh)Trong các tự viện Phật giáo Bắc tông Đại thừa, các thời kinh đều c...
13/07/2024

BÁT NHÃ TÂM KINH THỰC GIẢI
(Tinh hoa Bát nhã tâm kinh)

Trong các tự viện Phật giáo Bắc tông Đại thừa, các thời kinh đều có tụng Bát nhã tâm kinh, các cư sĩ Phật tử tại gia cũng thuộc làu làu nhưng để hiểu đúng và áp dụng thực hành trong đời sống hàng ngày thì ắt hẳn không nhiều. Đây là điều khá đáng tiếc, nói Bát nhã tâm kinh lời lời là châu ngọc, còn quý hơn châu ngọc cũng không quá đáng.
Kinh lòng gồm 260 chữ là tinh hoa cốt tủy của bộ Đại Bát Nhã Ba la mật đa 600 quyển, 25.000 câu và khoảng 4 500.000 chữ
Đây chính là trái tim của Phật giáo, là tâm tông của Phật tổ, là cốt tủy của các kinh Đại thừa, là tuệ giác của Bồ tát, là uyên nguyên của vạn loại chứng sanh, gồm đủ ba Thừa, diệu nghĩa hoàn toàn trọn vẹn, là pháp thân Phật chân thật.
Câu đầu tiên rất quan trọng, cũng là cốt lõi của Bát nhã tâm kinh: Quán Thế Âm Bồ Tát Quán Tự Tại thể nhập trí tuệ Bát Nhã thấu rõ con người năm uẩn sắc thọ tưởng hành thức là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn. Nói cụ thể về thực tính không của năm uẩn: sắc chẳng khác không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc và tương tự thực tính của cả thọ, tưởng, hành, thức cũng là không tính. Tính không của các pháp, của mọi sự vật hiện tượng vốn chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Cho nên trong tính không đó, vốn không có sắc, không thọ, không tưởng, không hành, không thức. Tương tự quán sát như thật về Sáu căn, Sáu trần, Mười tám giới:
Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý; Không có sáu trần: sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có mười tám giới; Không có vô minh, cũng không có hết vô minh. Không có bốn tướng sinh già bịnh chết, mà cũng không có hết sinh tử. Tứ thánh đế khổ tập diệt đạo là giáo lý quan trọng bậc nhất của Phật giáo, phàm phu vô minh dùng làm pháp tu để tu tập hướng đến giác ngộ giải thoát, nhưng khi đã đạt đạo thể nhập tuệ giác Bát nhã thì còn chấp có tứ đế khổ, tập, diệt, đạo; không chấp có thành tựu trí tuệ; cũng không chấp có chứng đắc đạo quả.
Chính vì vì không chấp có sở đắc, nên Bồ tát phát huy diệu dụng trí tuệ Bát Nhã, lúc ấy tâm không còn bất kỳ khúc mắc chướng ngại, vì tâm thanh tịnh sáng suốt không còn vướng mắc chướng ngại nên không còn sợ hãi bất cứ thứ gì trong đời, xa lìa, vượt thoát mọi vọng tưởng, điên đảo, mộng tưởng, ảo tưởng khổ đau phiền não bất an, là cứu cánh Niết Bàn an vui hạnh phúc tuyệt đối.
Các vị Phật xưa nay trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đều tu hành thể nhập trí tuệ Bát Nhã mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.
Phải biết rằng trí tuệ Bát nhã thấu rõ chân lý tính không của vạn pháp chính là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là không có thần chú nào cao hơn, giúp chuyển hóa tiêu trừ tất cả các khổ đau phiền não, là vô cùng chân thật không hư dối.
Cho nên khi nói đến trí tuệ Bát nhã, tức là phải nói đến ý nghĩa thật của câu thần chú: Qua rồi, qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ giải thoát rồi!
Vài bài học thiết thực:
- "Không" là chân lý, là thực tính của vạn pháp, của mọi sự vật hiện tượng, cả những hiện tượng vi tế nhất. Các pháp do duyên sinh, vốn không có tự ngã, tự thể, tự tính nên gọi là không
- Ai thấu rõ con người ngũ uẩn, tứ đại là không sẽ vượt thoát tất cả mọi khổ đau phiền não, ách nạn như Bồ tát Quan Thế Âm
- Tứ đại đất nước gió lửa; ngũ uẩn sắc thọ tưởng hành thức; Sáu căn mắt tai mũi lưỡi thân ý; Sáu trần sắc thanh hương vị xúc pháp; Mười tám giới... đều là không
- Không u mê tham đắm, vướng mắc cố chấp cái ta ( ngã), cái của ta ( ngã sở), danh vọng tiền tài địa vị.
- Tu tập là sống, thực hành chánh pháp, thể nghiệm thấu rõ như thật về tính không của vạn pháp, con người, thế giới.
- Dù tinh tấn siêng năng tu tập cũng không tự cao ngã mạn cho mình giỏi hơn người khác; dù có đạt được chút thành tựu cũng không chấp vào sở đắc của mình
- Tu tập đúng là không chấp vào pháp môn tu học, sẽ dần vượt thoát mọi sự sợ hãi, lo sầu bất an phiền não
- Tu tập đúng là không ảo tưởng, mộng tưởng, vọng tưởng, ảo tưởng điên đảo; không tưởng về quá khứ, không ảo vọng tương lai
- Thành tựu trí tuệ thấu rõ như thật về vạn pháp là mục đích duy nhất của người tu hành.
- Ai hiểu thấu đáo bản kinh lòng 260 chữ này chính là tiếp xúc được với Pháp thân chân thật của Phật tổ

Phật tâm kinh
Trí Bát nhã
Vạn pháp tính không
Vĩnh thoát khổ sầu
Chân lý thực

TS Hạnh Tuệ & TS Thanh Quế
Đạo tràng Minh Trần

NHỮNG VIỆC NÊN LÀM(Sống theo Phật pháp)Phật pháp là phương pháp giải trừ, chuyển hóa khổ đau hữu hiệu, là khắc tinh của ...
07/07/2024

NHỮNG VIỆC NÊN LÀM
(Sống theo Phật pháp)

Phật pháp là phương pháp giải trừ, chuyển hóa khổ đau hữu hiệu, là khắc tinh của phiền lo khổ não. Những điều đức Phật đã dạy dù một bài kệ, một câu kinh đơn giản cũng giúp ta thoát ly phiền khổ lo lắng buồn phiền, ví dụ câu kinh đầu tiên trong Bát đại nhân giác:
Thế gian vô thường
Cõi nước mong manh
Bốn đại khổ, không
Năm uẩn vô ngã
Ai học hiểu và thực hành được 4 câu kệ này sẽ giải quyết được tất cả nỗi khổ niềm đau, thiết lập một đời sống an vui hạnh phúc và hướng thượng. Đây là những lời rất chân thực, không hề hư dối
Khi hiểu rõ được thế gian mọi thứ đều vô thường, thay đổi chuyển biến nhanh chóng, chúng ta sẽ vượt thoát được tâm niệm tham luyến, cố chấp và ích kỷ
Bốn đại đất nước gió lửa hình thành thân thể của chúng ta luôn chống trái tạo nên bịnh hoạn, bất an, chết chóc và vốn không có tự ngã, do duyên hợp thành sẽ do duyên mà tan hoại
Năm uẩn ( sắc, thọ tưởng hành thức) chỉ toàn bộ thân và tâm của con người vốn do duyên hợp thành và vốn không có tự ngã, không có tự thể, không có cái ngã riêng biệt nào. Hiểu rõ như thật điều này giúp ta không cố chấp, không chấp ngã, không chấp cái ta và cái của ta.
Nói đơn giản là giúp ta vượt thoát ý niệm ích kỷ và chấp ngã
Dành thời gian hàng ngày học hiểu và thực hành Phật pháp là cách làm của người trí
- Một là, hàng ngày học hỏi và thực hành những điều đức Phật đã dạy.
Ai học và thực hành lời dạy của đức Phật thì khổ đau tan biến dần như băng tan trước nắng.
Như không sát sinh mà phóng sinh khi có cơ hội. Không gian tham trộm cắp mà biết bố thí giúp đỡ mọi người mọi loài trong khả năng của mình. Giúp một lời chân thành động viên lúc người khác gặp khó khăn buồn khổ cũng là bố thí. Không làm những việc trái với lương tâm đạo đức, mà tập cách sống đứng đắn, đàng hoàng tích cực. Không nói lời gian dối lừa lọc mà nói lời ái ngữ chân thành giúp mọi người hòa hợp thương yêu nhau. Không bài bạc rượu chè hút sách. Ăn uống tinh sạch chừng mực vừa phải để giữ sức khỏe và tinh thần tốt.
- Hại là, gần gủi, thân cận học hỏi những người hiền lành, có đức có trí. Ông bà ta dạy: Gần mực thì đen gần đèn thì sáng; ở bầu thì tròn ở ống thì dài.
Sống trong môi trường nào sẽ dễ bị ảnh hưởng theo môi trường đó. Mẹ của Mạnh Tử ba lần dời nhà, lần cuối dời đến gần trường học cũng là học theo đạo lý này.
Gần gủi người hiền trí như đi trong sương sớm, dù không ước áo nhưng cũng thấm nhuận dần.
- Ba là quyết tâm sống lương thiện và tích cực, không hơn thua, ích kỷ. Tuyệt đối không nói, không làm, không nghĩ những việc tổn hại chúng sinh, tổn hại con người, động vật và thiên nhiên. Dứt hẳn mọi ác nghiệp, từ bỏ mọi thói quen không tốt, đoạn trừ những tập tính bất thiện. Nói không với rượu chè bài bạc hút sách, chơi bời buông lung.
- Bốn là thực tập ngồi thiền, niệm Phật, đọc sách, nghe giảng Phật pháp.
Mỗi ngày hai lần, sáng sớm mới thức dậy và buổi tối trước khi ngủ, tìm chổ thoáng và yên tĩnh, ngồi thẳng lưng thẳng cổ, hai tay để thoải mái trên đầu gối, mắt nhắm hờ, chú tâm.vào hơi thở ra vào, đếm từ 1 đến 10 hoặc niệm thầm: Nam mô A di đà Phật, khoảng 10 phút. Chú tâm và buông lỏng toàn thân, sẽ giúp ích cho thân khỏe và tâm an.
Dành 10 phút đọc sách, 10 phút nghe giảng Phật pháp về một chủ đề mà ta quan tâm, giúp ta nghĩ thông thoáng mọi vấn đề, giải tỏa những vướng mắc bất an trong đời sống.
- Năm là thường làm việc thiện, việc tốt, giúp những người khó khăn, nghèo khổ.
Có thể mỗi ngày làm một việc thiện, dù là rất nhỏ như dắt một bà cụ qua đường, hay lượm một miếng mẻ chai dưới đường cẩn thận bỏ vào thùng rác, để tích lũy phước đức, tiêu bớt nghiệp chướng.
- Sáu là sống đơn giản, ít tham muốn, không làm ác, không cố chấp, không bám víu.
Càng nhiều tham cầu càng ít hạnh phúc. Hãy chọn một lối sống lành mạnh, đơn giản, ít nhu cầu, ít tham muốn ta sẽ dễ đạt đến an lạc hạnh phúc hơn.
Từ bỏ thói quen tiêu cực, nghĩ thông thoáng, tích cực, bao dung, bớt dính mắc, bớt vướng mắc, bớt cố chấp, bớt bám víu, nỗ lực tinh tấn thực hành Phật pháp phát triển phước đức, trí tuệ dần dần ta sẽ an vui tự tại tốt đẹp hơn lên về mọi mặt

Học Phật pháp
Sống hướng thượng
Nâng cao phước trí
Giúp đỡ muôn loài
Đời thăng hoa

TS Hạnh Tuệ

TÔI CHỈ TU TÂM  (Tâm là cái gì, ở đâu mà tu được)Tâm vốn vô hình Tâm vốn vô tướng Không thể thấy bằng mắt, nghe bằng tai...
04/07/2024

TÔI CHỈ TU TÂM
(Tâm là cái gì, ở đâu mà tu được)

Tâm vốn vô hình
Tâm vốn vô tướng
Không thể thấy bằng mắt, nghe bằng tai, ngửi bằng mũi..... vậy làm sao tu tâm được?
Hiện nay có một số người có thiện cảm với đạo Phật, nhà có thờ Phật và ông bà, nhưng không đến chùa lễ Phật, tụng kinh, ngồi thiền, nghe pháp và tham dự các khóa tu tập ngắn hạn. Nếu có người hỏi, sao không đi chùa, học Phật quy y thì trả lời: tôi tu tâm thôi.
Có nhiều lần, khi nghe nói vậy, thì thầy hỏi lại:
Con tu tâm là tu thế nào? Con biết tâm ở đâu mà tu? thì ai cũng làm thinh, không trả lời được
Người tu hành tinh tấn nhiều năm mà còn chưa rõ tâm ở đâu? Chưa biết rõ tâm là gì ? Chưa nhận diện và làm chủ tâm được huống là các thiện nam tín nữ người đời
Thiền tông chủ trương ngộ tâm thành Phật, nhiều vị thiền sư gia công tu hành mấy chục năm còn chưa "ngộ được chân tâm", chưa thấy được tự tính...
Phật pháp cao siêu uyên thâm khó lường, những bậc đại sư trí tuệ tu hành nhiều năm mà còn chưa thông đạt, sáng mắt, biết đường tu đúng. Thì những bà con đồng bào phật tử, thiện nam tín nữ bình thường nếu không có bậc trí tuệ tu hành dẫn đường chỉ lối dạy bảo thì biết đâu mà tu, biết đâu tu tâm.
Người thế gian muốn học một kỹ năng, nghề nghiệp nào đó cũng phải có trường học, có thầy giỏi dạy mới nên được.
Như muốn làm thợ vàng, thợ bạc cũng phải đến học với những sư phụ giỏi nghề mà học; muốn làm giáo viên, giảng viên cũng phải đến trường sư phạm mà học; cả đến sửa xe máy cũng phải có người lành nghề dạy mới sửa được.
Huống chi là Phật pháp rất cao siêu thâm diệu uyên áo rộng lớn,, tâm học, học tu mà không có thầy, không đến chùa thì sai đường lệch hướng là cái chắc
Không ít người lấy cái cớ tu tâm để biện hộ cho việc không siêng năng tinh tấn đi chùa, lễ Phật, tụng kinh hay tìm hiểu giáo lý mà thôi
Không loại trừ khả năng, những thành phần bất tín, bất hảo, nói càng, phá đạo,
Thật sự thì đây , chỉ là lí do của sự thiếu hiểu biết và lười biếng tu tập, tùy ý buông lung chứ không phải do hiểu Phật tại tâm !
Nghĩa sâu sắc của câu "Phật tại tâm" không sai, nhưng cũng không đúng hoàn toàn cho mọi đối tượng, nhất là những người lấy cớ tu tâm
Tâm chúng ta vốn dĩ là Phật chứ không tìm đâu khác bên ngoài. Đức Phật dạy trong nhiều kinh đại thừa: Tất cả chúng sinh đều có tính Phật, đều có khả năng thành Phật; Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành" để khẳng định rõ mỗi người trong chúng ta đã là một vị Phật, chỉ cần tinh tấn tu hành như pháp rồi sẽ đạt được Phật quả.
Chính vì vậy nên thay vì đi tìm cầu một vị Phật bên ngoài thì hãy quay trở lại cái tâm thanh tịnh sáng suốt, tỉnh giác của chính mình.
Nghĩa sâu thì là như vậy, nhưng chúng ta phải nhìn rõ, tâm chúng sinh, chúng ta, khi chưa được tu tập đã chứa đựng huân tập bao nhiêu chủng tử nghiệp xấu ác tham, sân, si từ vô lượng kiếp cho đến nay còn tiếp tục gây tạo nghiệp duyên bất thiện
Những chủng tử (hạt giống) vô minh phiền não bất thiện nhiều đến mức che lấp hoàn toàn tính Phật chúng ta ví như viên kim cương rơi xuống hầm phân nhiều lớp thì dù kim cương có sáng đến đâu cũng bị phân che lấp.
Đi chùa, lễ Phật, tụng kinh, nghe pháp, tọa thiền tìm hiểu giáo pháp chính là để tiêu nghiệp chướng tăng định tuệ.
Chỉ có tinh tấn tu tập liên tuc và đúng pháp, mới tạo ra đủ năng lực giúp ông Phật trong tâm chúng ta bừng sáng phát quang
Muốn tu học đúng pháp thì phải thường xuyên đến chùa nghe pháp học kinh dưới sự hướng dẫn của chư Tăng chư Ni đức hạnh trí tuệ
Ngôi chùa là trường học Phật, Tăng Ni là thầy dạy Phật học, Phật tử cư sĩ là những người học trò học cách sống lương thiện, an vui, hạnh phúc và tích cực thành tựu giới định tuệ hướng đến giác ngộ giải thoát hoàn toàn khỏi mọi nỗi khổ đau
Cần nhận diện rõ, những người tự xưng Phật tử mà bất kính Tam Bảo, hoặc nói Nhị Bảo, hoặc nói tôi chỉ tu tâm không cần quy y học Phật
Thân người khó được, Phật pháp khó nghe, tín tâm khó sinh, nghiệp chướng khó chuyển, nên những bà con đồng bào có tín ngưỡng Phật giáo, có thiện cảm với đạo Phật, muốn theo Phật đúng đường, lợi ích an vui giải thoát hiện tại và mai sau thì nên nghĩ kỹ những điều này

Nói ba hoa
Tôi tu tâm
Tạo nghiệp bất thiện
Phá hoại tín tâm
Khổ triền miên

TS Hạnh Tuệ
Đạo tràng Minh Trần

Address

95/4/1 Đường 725, Ấp Đồng Lớn, Xã Trung Lập Thượng, Huyện Củ Chi
Ho Chi Minh City
008428

Telephone

+84786685515

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Đồng Lớn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Chùa Đồng Lớn:

Share