Phật Tử Thiền Phái Trúc Lâm

Phật Tử Thiền Phái Trúc Lâm Trang Phật Tử Thiền Phái Trúc Lâm, là nơi chia sẻ giáo lý tu Thiền theo Thiền Phái Trúc Lâm. Định hướng tu hành theo đường lối Sư Ông Trúc Lâm Tôn Sư chỉ dạy.
(2)

( Phản Quang Tự Kỹ - Soi Lại Chính Mình )

Đến với mọi người con Phật hữu duyên với Pháp môn tu Thiền Trúc Lâm
Kính chúc chư vị Sư Huynh Đệ Đồng Môn, và Quý Phật tử tinh tấn tu thiền, ngộ chân lý nhiệm màu, thành công và hạnh phúc an vui bên chánh pháp. Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

( Con & Đệ Chánh Trúc An )

PHỤNG HOÀNG SÁCH TẤN ( Tập 2 - 2005 )Chương 2 : Thỉnh Nguyện Ni Phần 8.Ngày 28-10 Mậu Dần (16-12-1998)  Hôm rồi có chú T...
31/08/2026

PHỤNG HOÀNG SÁCH TẤN ( Tập 2 - 2005 )

Chương 2 : Thỉnh Nguyện Ni Phần 8.

Ngày 28-10 Mậu Dần (16-12-1998)

Hôm rồi có chú Từ Đức quy y, Thầy cho pháp danh là Chánh Minh. Chú thưa với mấy thầy lớn rằng: "Con lên tập tu, quý thầy dạy ngồi thiền, tới phần xả thiền con xả từ từ theo thứ tự, mà sao thấy quý thầy mới nghe rung chuông liền duỗi chân ra, xả không có thứ tự gì hết, như vậy là sao?". Mấy thầy lớn thưa lại, Thầy thấy chư Tăng coi thường nghi thức xả thiền quá. Mình dạy người ta cách xả thiền một đàng mà Tăng chúng làm một ngả, thành ra người ta nghi ngờ.

Vì vậy thỉnh nguyện kỳ rồi, ở bên Tăng Thầy dạy lại cách ngồi thiền theo thứ tự, kỳ này Thầy dạy cho bên Ni. Thầy dạy rồi mà Tăng chúng hay Ni chúng không làm theo đó, sau Phật tử đến tập tu thưa lên người nào lôi thôi thì Thầy quở nặng. Bởi vì ở đây tụi con không phải tu cho mình thôi mà còn làm gương mẫu cho những người đến tập tu, và mai kia tụi con lớn lên có đủ khả năng sẽ làm Thầy dạy người khác. Vì vậy việc tu hành phải có thứ tự, có nghi thức đúng đắn để cho người ta tu đạt kết quả tốt. Nếu mình cẩu thả quá sau này dạy người khác tu không tiến, đôi khi có hại nữa.

Sau buổi thỉnh nguyện Thầy sẽ dạy lại một lần nữa, chỉ cho cách ngồi thiền và những thứ bệnh, khi nào có gì khác lạ thì biết cách tự chỉnh. Trong những bài Thầy giảng về Thiền Căn Bản một hai kỳ tới sẽ có dạy phần xả thiền, nhưng e rằng trong các buổi giảng người ta quá đông, không cách nào hướng dẫn kỹ lưỡng được. Nếu chỉ hướng dẫn bằng miệng thôi thì chưa đủ, phải ngồi thực hành theo thứ tự mới có thể nắm rõ. Bữa nay Thầy chỉ thực tế cho tụi con thấy, để sau không đổ thừa tại vì không được chỉ kỹ nên ngồi sai. Từ đây về sau nhất định phải ngồi đúng.

Ngồi thiền thường thường có ba giai đoạn: nhập, trụ và xuất. Trước khi chỉ cách ngồi thiền, Thầy nói tổng quát cho tụi con nắm vững. Tu thiền là mình phăng tìm lại, quan sát kỹ coi cái gì là thật mình, cái gì không phải thật mình. Thân năm uẩn này, thân tứ đại này có phải là thật mình không? Nói không thật mà đụng tới thì biết!

Nếu trong cơ thể mình một bộ phận nào đó hư, người ta cắt bỏ rồi đem bộ phận người khác thế vào. Giả sử tay mình hư, cắt bỏ rồi đem tay người khác ráp vô. Khi lành rồi thì mình nói tay này của ai? Rõ ràng là tay của người khác đem tới, làm sao nói của mình được, vậy mà ráp vào liền cho là của mình. Hoặc máu mình thiếu, người ta đem máu người khác đến sang cho, sau đó có khi nào nói máu này không phải của tôi mà là của ai đó, có nói vậy không? Hay là vào đây rồi là của tôi?

Cái ngã này là ngã tạm bợ, mượn đầu này đầu kia hợp lại chứ không có thật. Nhiều khi Thầy tức cười, mình đói bụng cồn cào đi không nổi, người ta chỉ cần cho vài chén cơm với rau muống, nước tương, mình ăn vô một hơi liền đi nổi. Như vậy là cơm và rau muống đi hay mình đi? Cơ thể này nếu thật là mình thì mình làm chủ, lúc nào mình cũng đủ quyền, nhưng khi thiếu tứ đại bên ngoài bồi bổ thì hết làm chủ. Rõ ràng thân là tạm bợ nhờ những thứ bên ngoài phụ trợ nó mới tồn tại.

Thêm một điều nữa. Bây giờ mấy ông bác sĩ thường nói trong người mình có kháng thể, còn hồi xưa Phật dạy trong con người mình có hai thứ trùng: một là hộ trùng, hai là hoại trùng. Vi trùng phá hoại từ ngoài xâm nhập vô, hộ trùng bảo vệ thân tiêu diệt nó. Nói theo bây giờ là vi trùng ở ngoài xâm nhập vào, kháng thể chống lại. Những việc làm đó tụi con có biết không?

Giả sử mấy hôm nay tụi con hít nhằm thứ gì đó, nó đang quậy trong thân, tụi con có biết không? Rồi ở trong thân có đội binh chống lại đám vi trùng đó, tụi con có hay không? Nếu thật thân này là mình thì tất cả hành động nào dù thô hay tế mình đều làm chủ thật. Tóm lại, thân này tạm bợ, đủ duyên tụ hợp thì còn, thiếu duyên liền tan rã. Đó là chân lý, là lẽ thật.

Thân này là giả mà ai động tới thì không được. Học Phật biết nó giả nhưng chạm tới thì thật, phải không? Cuộc đời này người ta đau khổ vì muốn làm thỏa mãn các nhu cầu của thân, nói gần là thỏa mãn sáu căn, rồi giành giật, đâm chém... đủ thứ hết. Vì sự sống của thân mà sát phạt lẫn nhau. Nhưng thân này không thật, vậy có si mê không? Khi biết rõ thân mình không thật thì không nên chiều theo, mà phải làm chủ nó. Đã biết nó giả mà còn chiều theo đòi hỏi của nó là mê lầm điên đảo.

Trong Kỷ Yếu năm năm, nhiều đứa viết bài than thở ngồi thiền đau đủ thứ hết, phải không? Có những người hay phê bình, họ nói tội gì mà hành phạt như thế. Đau thì xả ra, sao phải ráng chịu khổ vậy. Ai bắt tới đây rồi không được đi đây đi kia như ở tù, mà còn hành phạt ngồi thiền đau phải ráng cắn răng chịu. Nhưng Thầy đã thấy rõ, với cơ thể này nếu mình không giành quyền làm chủ thì nó sẽ đòi đủ thứ hết. Nếu mình chiều theo những đòi hỏi của nó là làm nô lệ nó, tạo không biết bao nhiêu tội, bao nhiêu nghiệp. Cho nên giành lại quyền làm chủ thân là điều số một khi bắt chân lên ngồi thiền.

Làm chủ thân thì khi đau chân phải thế nào, rên rồi xả phải không? Có đứa còn muốn khóc nữa chứ! Như vậy thấy như là mình khắt khe hành phạt cái thân, nhưng sự thật đó là điều kiện để mình tập làm chủ. Biết thân không thật, dù mình chiều uốn cách nào đi nữa rồi nó cũng bại hoại, không ra gì. Nên bây giờ trong cuộc sống này mình phải làm chủ nó.

Làm chủ được sự đau nhức của chân thì sẽ làm chủ được những đòi hỏi khác của thân. Một cái làm chủ được thì những cái khác mình sẽ làm chủ được. Nếu việc này mình thua thì những việc khác cũng thua luôn. Như vậy cả đời chạy theo cái hư giả, chấp nhận làm những việc hư giả, đến chết cũng không có nghĩa lý gì hết. Đó gọi là sống như kẻ mù, kẻ mê, chết sẽ tiếp tục làm người mê nữa, không lợi ích gì cho mình và chúng sanh.

Bước đầu vào thiền viện, cái khó nhất là tụi con ngồi cho đủ giờ. Đó là khó nhất, nhưng phải can đảm dù chết thì chết chứ không đứng dậy. Như Thầy từng nói với tụi con nhiều lần, khi Thầy tập ngồi thiền, không ai bắt buộc mà Thầy vẫn ráng, ngồi được một tiếng rồi phải tăng lên tiếng rưỡi, tiếng rưỡi rồi phải tăng lên hai tiếng. Từ tiếng rưỡi tăng lên hai tiếng, có hôm ngồi tê tới bụng chứ không phải chỉ tê ở chân thôi, nhưng Thầy chấp nhận, tê quá thì chết luôn, thà ngồi trên bồ đoàn chết chứ không buông chân. Thật ra có chết đâu, tê riết rồi nó tự hết, cũng chịu được chứ không chết chóc gì.

Qua kinh nghiệm đó Thầy không sợ tụi con ngồi thiền bị tê, bị đau rồi chết. Không chết thì có gì đâu mà quá sợ. Thầy đã kinh nghiệm rồi nên Thầy không sợ, do đó mới bắt tụi con ngồi hai giờ. Tuy nhiên phải chịu đau nhức. Nếu đau nhức không sợ tức là mình thắng được, làm chủ được thân.

Vì vậy bước đầu là làm chủ thân, để mượn nó làm con thuyền chèo đi đâu theo ý mình muốn. Nếu mình không làm chủ, nó quay cuồng thì làm sao chèo tới bờ bến. Mình phải làm chủ lấy nó để hướng đi theo con đường của mình. Đó là điều quan trọng số một về thân.

Điều quan trọng thứ hai là về tâm. Lâu nay tụi con cứ nghe nói mình có Phật tánh, chân tâm, nhưng ở đâu thì không biết. Như vậy tại sao có Phật tánh, chân tâm mà mình không biết? Tại vì mình cứ chạy theo vọng tưởng hoài. Vọng tưởng là hư dối mà cứ đuổi theo. Có khi nào bỗng dưng năm phút, mười phút hoặc nửa giờ tụi con ngồi không có vọng tưởng không? (Đây là nói lúc thường ở ngoài chứ không phải ngồi thiền). Chúng ta ít khi được yên tĩnh bởi vọng khởi liên tục. Chỉ khi mình biết được vọng thì vọng mới lặng. Phải hàng phục được thì chơn thật hiện tiền không ở đâu xa hết.

Cái thật không cần tìm mà nó sẵn như vậy. Tụi con muốn thấy chân tâm thì phải buông vọng tưởng, nếu theo vọng tưởng tức quên chân tâm, không nghi ngờ. Hai cái đó được một thì mất một, bây giờ chọn cái nào? Chọn chơn tâm thì phải bỏ vọng tưởng, còn nếu theo vọng tưởng thì quên chơn tâm. Thầy thường ví dụ như đêm rằm, trên bầu trời có trăng sáng, nhưng mây đen lớp này, lớp kia kéo tới hoài thì mình thấy mặt trăng không? Chỉ khi nào mây không kéo tới nữa thì mặt trăng sáng tỏ, không tìm kiếm mà hiện hữu, đó là lẽ thật.

Bởi vậy chúng ta ngồi tu cốt đi tới chỗ cứu cánh là nhận ra được cái chân thật nơi mình, đó là chân tâm, là Phật tánh... Muốn rõ được cái thật thì phải xả bỏ những vọng tưởng hư dối kia. Không phải chỉ trong lúc ngồi thiền mới xả bỏ mà phải bỏ trong tất cả giờ. Nhưng giờ ngồi thiền là đủ điều kiện xả bỏ hơn hết, vì chung quanh yên lặng không có tiếng ồn cũng không có gì để mình phân tâm, nên dễ chăm chú, dễ thấy để xả bỏ. Nhờ sức mạnh đó giúp mình dễ tu trong lúc hoạt động ở bên ngoài.

Như vậy mục đích ngồi thiền là để thấy rõ thân không thật, làm chủ nó. Kế đó thấy rõ vọng tưởng hư ảo nên không bị nó dẫn đi. Tất cả những hư ảo đó dừng thì chân thật hiện tiền, không tìm cũng tự thấy. Đó là trọng tâm của người tu. Tụi con từ trước đến nay làm chủ được cái nào chưa? Nếu người nào làm chủ được thân tâm thì chân thật hiện tiền. Khi mình không bị thân lôi, vọng tưởng kéo thì lúc đó ông chủ ngồi sờ sờ. Mục đích ngồi thiền rõ ràng như vậy.

Giai đoạn đầu nếu phải bỏ luôn hai thứ chấp thân và tâm một lượt thì khó. Làm chủ cả hai rất khó, nên đầu tiên là làm chủ thân. Phải ngồi nghiêm chỉnh đúng theo cách thức tọa thiền để cho thân được an ổn, làm chủ nó rồi mới làm chủ tâm.

Về thân, Thầy chỉ cho tụi con ngồi thiền, nếu ngồi kiết già, thì chân trái bắt trước, kéo cho sát lên, rồi kế đó chân phải hoặc ngược lại. Chỗ lòng bàn chân bị trũng nên chêm gối nhỏ kê tay. Đó gọi là ngồi kiết già hay là toàn già. Nếu ngồi bán già thì chân phải bắt qua đùi trái hoặc ngược lại. Hồi xưa Thầy không bắt buộc, ngồi kiết già hay bán già cũng được, nhưng sau này quý vị đi học dưỡng sinh về kể Thầy nghe, khi tập dưỡng sinh có nhiều ông già bà già tập ngồi thế hoa sen (kiết già). Tại sao người ta bắt ngồi thế này? Vì ngồi tư thế này máu huyết lưu thông dễ, hơi ấm nhiều. Ngồi toàn già có hai kiểu: kiết tường và hàng ma; bán già cũng có hai kiểu ấy.

Tại sao mình chêm gối kê tay? Để có mặt bằng, mình đặt hai bàn tay lên cho cân, giữ hai vai ngang nhau. Hai đầu ngón tay cái vừa chạm nhau, đừng bắt hai tay lại vì kềm quá không tốt. Để tay như vậy gọi là ấn tam muội. Tụi con thấy tượng Phật đặt bàn tay phải trên tay trái. Ở đây mình cũng làm như vậy.

Ngồi thiền có nhiều trường hợp du di, không có nguyên tắc cố định. Như bồ đoàn, lâu nay Thầy nói bề cao hai tấc, nhưng to cao như người Mỹ ngồi bồ đoàn đường kính hai tấc không được thì phải ngồi bồ đoàn rộng hơn. Còn người thấp, ngồi bồ đoàn ca0 hai tấc, chân họ ngắn nên bắt chân lên không được. Vì vậy tụi con thấy không có luật cố định, người cao tay dài, chân dài thì bồ đoàn phải cao hơn một chút, người mập ngồi bồ đoàn lớn hơn một chút mới vừa. Còn người thấp lùn, bồ đoàn phải thấp hơn vì chân họ ngắn, nhất là người nào bụng to càng khó ngồi. Như vậy bồ đoàn và tọa cụ cũng tùy theo vóc dáng của mỗi người chứ đừng có cứng nhắc.

Bây giờ là phần nhập thiền. Khi bắt chân lên rồi, phải chỉnh thế ngồi cho ngay ngắn, để tay sao cho hai bả vai bằng nhau, cùi chỏ hơi khép vào hông. Đầu hơi cúi, mắt nhìn về phía trước khoảng sáu đến chín tấc. Muốn cho đầu cúi ngước vừa chừng thì phải để hai trái tai đối với bả vai. Muốn giữ đầu không nghiêng bên trái hoặc bên phải thì chót mũi, hai đầu ngón tay cái và rún phải thẳng một hàng. Đó là cách giữ đầu không bị nghiêng qua nghiêng lại. Như vậy tự biết sửa mình, đừng đợi người khác sửa, vì có những lúc phải ngồi riêng một mình, như vào thất thì phải tự kiểm lấy.

Đó là tư thế ngồi khi nhập thiền. Bây giờ bắt đầu vào thiền thì sao? Phải chuyển thân, để nguyên tay ấn xuống, cái đầu mạnh cái thứ hai từ từ nhẹ, bảy lần như vậy. Rồi thở ba lần, khi hít vô tưởng không khí trong sạch vào khắp châu thân, thở ra tưởng tất cả phiền não bệnh hoạn ra hết. Thở ba lần như vậy, hít bằng mũi thở bằng miệng. Rồi ngậm miệng, lưỡi để lên trên - chứ không cần cong lưỡi - để khỏi bị chảy nước miếng.

Đến phần trụ thiền , từ đây về sau thở bằng mũi, không thở bằng miệng nữa. Nếu tụi con chưa thuần thì ban đầu mượn hơi thở để điều tâm. Hít vô sâu thở ra hết, đếm một; hít vô sâu thở ra hết, đếm hai; tới mười, rồi trở lại đếm từ một. Vì tâm mình còn quá loạn nên đếm như vậy, đó là bắt làm hai việc: một là theo hơi thở, để biết hơi thở tới đâu; hai là nhớ số. Nhờ nhớ hơi thở và nhớ số nên quên các thứ khác, đây chỉ là phương tiện ban đầu thôi.

Nếu người khá hơn thì không cần đếm số nữa, chỉ theo hơi thở thôi. Hơi thở vô tới đâu mình biết tới đó, ra tới đâu biết tới đó. Ví như người đòi nợ, người thiếu nợ đi tới đâu thì mình đi theo tới đó để đòi, đi sát sau lưng chứ không bỏ quên.

Tụi con lúc ngồi thiền mặt tươi tỉnh, đừng có quạu đeo. Có nhiều đứa ngồi bặm môi, coi dữ dằn quá. Ngồi thiền dáng vẻ phải tươi tắn, vui vẻ, thanh thoát. Từ khi bắt đầu thở ba lần về sau, mình thở vô ra đều, nhẹ nhàng. Vừa có niệm khởi thì buông, chỉ nhớ hơi thở thôi, đó là đúng. Có những người ngồi thiền nhắm mắt tập trung hồi lâu thì đầu nhức, phải làm sao? Phải trở lại chú ý hơi thở suốt tới đơn điền, nghĩa là hít vô, thở ra nghe động ở đơn điền, theo Minh Sát Tuệ gọi là phình xẹp, chú ý vào đó thì hết nhức đầu. Hơi thở rất quan trọng, tụi con đừng nên xem thường.

Khi nào tâm tụi con bớt vọng thì không cần theo hơi thở nữa, chỉ ngồi yên, rõ biết, vọng dấy lên liền buông. Vọng lặng thì sống với cái hiện tiền.

Nếu ngồi thiền nghe lói là do kềm giữ. Tụi con ngồi thiền có ai nhắm mắt không? Nhắm mắt không phải lỗi, nhưng do ngồi nhắm mắt, chú tâm để kềm giữ cho yên nên mới bị lói. Tụi con nên mở mắt nhìn xuống hoặc tuy nhắm mắt mà nhớ hơi thở động nơi đơn điền. Đừng kềm giữ trên đầu hoặc ở ngực. Đau đầu là do nhắm mắt mà kềm, hoặc tức ngực là do ngồi ễnh. Nếu ngồi nghe đau một bên là do bồ đoàn nghiêng, tụi con sửa lại cho ngay. Khi nào nghe đau thắt lưng là do lưng hơi rùn xuống, phải ngồi thẳng lên. Nếu đau một bên vai là vì vai bị xệ xuống, phải chỉnh cho hai vai ngang nhau.

Đến phần xả thiền , trong lúc ngồi thiền mình nhiếp tâm, nên lúc xả thiền trước hết phải khởi tâm hồi hướng. Kế đến hơi thở, nhưng khác hơn lúc nhập thiền, mọi động tác hay hơi thở từ nhẹ đến mạnh. Khi hít vô tưởng không khí trong lành vào khắp châu thân làm tất cả mạch máu lưu thông. Khi thở ra tưởng bệnh hoạn phiền não theo hơi thở ra hết. Hít vô bằng mũi thở ra bằng miệng ba lần. Tụi con nhớ lúc nhập thiền thì chuyển thân trước rồi mới hít thở ba hơi, còn khi xả khởi niệm hồi hướng trước rồi mới hít thở.

Đến động thân, chuyển hai bả vai mỗi bên năm lần, đầu cúi xuống ngước lên năm lần, quay qua phải qua trái năm lần. Nhớ xả rất nhẹ nhàng, nghiêm chỉnh. Tới phần tay, xòe nắm năm lần, rồi bắt đầu chuyển động toàn thân, bảy lần từ nhẹ đến mạnh. Sau đó bắt đầu xoa, theo kinh nghiệm bản thân Thầy và theo nhiều người chuyên về dưỡng sinh cho biết, ở mặt và tai có rất nhiều huyệt, nếu ngày nào cũng xoa thì rất tốt. Vì vậy Thầy cho xoa mặt hai mươi lần, xoa hai tai hai mươi lần, đầu hai mươi lần, chà gáy hai mươi lần, trước cổ hai mươi lần.

Kế đến một tay đặt trên hai bả vai một tay dưới nách, tay trên vai kéo xuống, tay dưới nách kéo qua, xoa hai mươi lần. Rồi đặt một tay sau lưng (xoa bằng lưng bàn tay), một tay trước ngực, xoa ba phần ngực, bụng và bụng dưới, mỗi điểm năm lần. Sau đó tới thắt lưng, mông và đùi xoa thật kỹ. Cuối cùng xoa mắt, chà hai ngón giữa cho nóng áp lên mắt. Xong, một tay nắm mấy đầu ngón chân, một tay đỡ cổ chân từ từ thả xuống, xoa từ trong ra ngoài, chà lòng bàn chân cho nóng. Ngồi tới hai tiếng nên phải xả kỹ từ mười đến mười lăm phút rồi mới đứng dậy tụng kinh hồi hướng.

Tại sao chúng ta phải ngồi thiền? Bởi vì ông chủ có sẵn rồi nhưng còn mấy chú vọng tưởng hoành hành nên phải đuổi đi, giống như mây che trăng, mây hết thì mặt trăng hiện. Sống với ông chủ thì không theo giả, sống với ông chủ tức là sống với cái hiện tại của mình chứ không bị hư vọng lôi dẫn. Chuyện tu hành tế nhị lắm, phải nắm vững mới thực hành đến nơi đến chốn.

Nãy giờ Thầy dạy tụi con thuộc hết chưa? Bữa nào Thầy bắt trả bài từng đứa, bởi vì sau này làm thầy người ta thì phải dạy cho đúng, chứ ở đây rồi sau về dạy người ta ngồi thiền tầm bậy tầm bạ đâu có được. Tại sao xả kỹ hơn nhập tụi con biết không? Tại vì mình ngồi lâu, nếu không xả kỹ sau này bệnh. Một là gân sẽ bị cứng, vì chân còn tê mà đứng dậy đi, sau gân cứng tê bại rất nguy hiểm. Hai là cơ chân cứ bị giật giật. Vậy nên tụi con ráng xoa kỹ cho quen.

( Trích trong "Phụng Hoàng Sách Tấn Tập 2 - 2005 - Phẩm Chương 2 : Thỉnh Nguyện Ni" - Sư Ông Trúc Lâm Tôn Sư Sách Tấn Cho Chư Vị Tăng Ni Và Phật Tử )

PHỤNG HOÀNG SÁCH TẤN ( Tập 2 - 2005 )Chương 2 : Thỉnh Nguyện Ni Phần 7.Ngày 28-9 Mậu Dần (16-11-1998)  Buổi thỉnh nguyện...
31/08/2026

PHỤNG HOÀNG SÁCH TẤN ( Tập 2 - 2005 )

Chương 2 : Thỉnh Nguyện Ni Phần 7.

Ngày 28-9 Mậu Dần (16-11-1998)

Buổi thỉnh nguyện hôm nay thấy trong chúng đã thuần thục, không còn phạm những lỗi lầm như trước, chỉ có lỗi nhỏ mà biết tự giác sám hối là tốt, cũng là tiến bộ về phần đức hạnh của toàn chúng. Hôm nay Thầy có câu chuyện nhắc cho toàn chúng nghe, ráng nhớ để sau ứng dụng.

Một hôm có vị tăng đến hỏi Thiền sư Thạch Cựu:

- Hạt châu trong tay Bồ tát Địa Tạng là ý nghĩa gì?

Ngài Thạch Cựu hỏi lại:

- Trong tay ông có hạt châu không?

Tăng đáp:

- Không biết.

Ngài bảo:

- Chớ nói dối đại chúng!

Kế đó Ngài đọc bài kệ:

Bất thức tự gia bảo
Tùy tha nhận ngoại trần
Nhật trung đào ảnh chất
Cảnh lý thất đầu nhân.

Tăng hỏi hạt châu trong tay Bồ tát Địa Tạng là ý nghĩa gì, Thiền sư Thạch Cựu hỏi lại: "Trong tay ông có hạt châu không?".

Tăng nói: "Không biết". Ngài bảo: "Chớ nói dối đại chúng!". Sao vậy? Như chúng ta nhìn tượng Phật, tượng Bồ tát với quan niệm đó là tượng thật, diễn tả hình ảnh của các Ngài đúng như thật. Nhưng theo tinh thần Phật giáo Đại thừa thì vậy là chưa hiểu gì hết.

Bởi theo tinh thần Phật giáo Đại thừa thì những hình ảnh đó là biểu trưng, không phải thật. Ai cũng biết Đức Phật Thích Ca là người Ấn Độ, nhưng bây giờ nhìn lên tượng Phật mình thờ coi là người Ấn Độ hay Việt Nam? Nếu nhìn lên sẽ thấy Phật người Việt Nam, như vậy nghệ nhân điêu khắc không biết xuất xứ nên tạc sai phải không? Sự thật không phải, đây là hình ảnh biểu trưng. Phật là bậc giác ngộ, mà giác ngộ đó không chỉ riêng Phật, ai cũng có tâm đó nên gọi là tánh giác.

Chúng sanh nào cũng có tánh giác. Ở Ấn Độ, Ngài phát kiến và sống được với tánh giác nên gọi là Phật, còn chúng sanh có tánh giác mà quên, bị phủ lấp nên làm chúng sanh. Tuy đang làm chúng sanh mà trong đó đã sẵn tánh giác. Vì vậy chúng ta thờ Phật là biết ở Ấn Độ có một vị đã giác ngộ. Còn ở Việt Nam, Trung Hoa hay bất cứ ở đâu, ai biết tu cũng được giác ngộ như vậy. Ai ai cũng có khả năng thành Phật như Đức Phật.

Do đó ở các nước thường thờ Phật có hình tượng như người nước đó, không bắt chước theo hình ảnh người Ấn Độ. Tại sao vậy? Như tụi con thấy trong kinh Kim Cang Phật dạy:

Nếu dùng sắc thấy ta
Dùng âm thanh cầu ta
Người đó hành đạo tà
Không thể thấy Như Lai.

Như vậy biết rằng sắc tướng, âm thanh không phải là Phật. Nhất là sắc tướng mình thờ là tướng bại hoại. Nếu Phật là sắc tướng bại hoại thì đâu phải là giải thoát sanh tử. Vậy Phật giải thoát sanh tử là cái gì khác chứ không phải thân bại hoại đó. Thờ Phật là thờ tinh thần giác ngộ bất sanh bất diệt, chứ không phải thờ hình tướng bại hoại. Do đó Phật tử nước nào thì thờ hình tượng Phật theo dáng dấp người xứ ấy, đó là tinh thần Đại thừa.

Bồ tát Địa Tạng tay phải cầm tích trượng có mười hai vòng khoen, tay trái cầm hạt châu. Tại sao Ngài cầm hạt châu? - Bởi vì tên Ngài là Địa Tạng, đọc đúng là Địa Tàng. Chữ đó đọc là Tàng mà mình quen đọc là Tạng. Tàng là cất, chứa, dấu, tàng trữ; địa là đất. Trong đất có ẩn chứa một hạt ngọc, hạt châu. Như vậy tay Ngài cầm hạt châu để nói lên rằng: Bồ tát Địa Tạng sẵn có hạt châu, hay nói cách khác là ngay trong đất đã chứa sẵn hạt châu.

Thân này là thân tứ đại, mà cái nổi nhất là đất, nếu không có chất cứng thì tạo thành hình tướng được không? Nhờ chất đất nên thành hình tướng con người, rồi nước, gió, lửa phụ họa bên trong. Ngay nơi thân do tứ đại tụ hội mà thành đây có sẵn hạt châu trong đó. Như vậy, ngài Địa Tạng mình thờ chỉ là ngài Địa Tạng bằng hình tượng và hạt châu cũng là biểu trưng, để nói lên rằng nơi thân mọi người đều sẵn có hạt châu trong đó. Hạt châu chỉ cho tánh giác hay Phật tánh của chính mình.

Bởi vì Phật tánh đối với thân này quý giá vô cùng nên trong nhà Phật tượng trưng nó là hạt châu. Trong kinh Pháp Hoa cũng dùng dụ hạt châu nơi chéo áo. Như vậy hạt châu đó ngầm chỉ mọi người đều có tánh giác chứ không riêng Bồ tát mới có, nên ngài Thạch Cựu hỏi: "Trong tay ông có hạt châu không ?".

Tăng nói: "Không biết". Không biết tức là chưa nhận ra, chưa thấy, nên nói không có. Vì vậy Ngài quở: "Chớ nói dối đại chúng!". Có mà nói không, phải nói dối chăng? Tụi con có nói dối đại chúng không? Có cái đó sẵn mà không nhận, cứ nói không thấy, không biết. Nói không thấy, không biết tức là có mà nói không có, vậy có phải là nói dối chăng? Như vậy, tụi con tự dối mình và dối người luôn.

Nếu bị người hỏi câu đó tụi con trả lời sao? Trong tay tụi con có hạt châu không? Ở đâu, đưa đây coi? Bây giờ Thầy chỉ, tụi con chịu thấy không?

Thí dụ cái bàn đây, có người hỏi bàn này láng không? Thầy không cần nhìn mà lấy tay sờ, sờ thì thấy nó láng. Vậy là mắt thấy hay tay thấy? Nếu không thấy sao biết nó láng? Vậy biết láng là mắt thấy hay tay thấy? - À khắp thân đều là tai mắt, tức hạt châu lộ ra đó chứ gì!

Như vậy trong tay ai cũng có hạt châu mà không chịu nhận. Bởi không chịu nhận nên nói không có. Nói không có là gạt đại chúng, nên kế đó Ngài liền làm bài kệ. Bài kệ này tụi con phải thuộc lòng:

Bất thức tự gia bảo
Tùy tha nhận ngoại trần

Hai câu này nói tột cùng chỗ thật của mình. Ai cũng có sẵn hạt châu nhưng không biết nên theo ngoại cảnh mà dính mắc với sáu trần. Khi dính mắc sáu trần rồi thì: Nhật trung đào ảnh chất , nghĩa là trong lúc mặt trời giữa trưa cứ chạy ngoài đường trốn bóng. Trốn được không? Như vậy là khôn hay khờ ?

Đó là kẻ ngu khờ, bởi vì mình tới đâu thì bóng tới đó, bóng đâu có rời mình mà cứ chạy ngoài nắng trốn bóng, trốn chừng nào khỏi. Nếu có ai chạy ngoài trời la lên "tôi trốn bóng mà bóng cứ rượt theo hoài", thì tụi con nghĩ người đó thế nào? Ngu quá sức tưởng tượng phải không? Mà người đó giống tụi con không?

Nói như vậy để thấy cái ngu của mình, có của báu mà không nhận, lại đi nhận cái bóng dáng bên ngoài là vô thường sanh diệt. Ngay nơi mình có hạt châu quý bất sanh bất diệt mà không chịu nhận, cứ nhận bên ngoài rồi nói hơn thua, phải quấy, cãi lộn với nhau thì có phải là người ngu tột cùng không?

Như vậy bữa nào tụi con lỡ cãi nhau, nếu gặp, Thầy sẽ quở: Tụi con ngu vừa vừa chứ, ngu gì quá lắm vậy! Quên hạt châu quý của mình chạy theo sáu trần là đã ngu quá rồi, lại còn phân biệt hơn thua phải quấy thì ngu cỡ nào?

Đến câu cuối:

Cảnh lý thất đầu nhân.

Khi soi gương thấy bóng trong đó, cho là đầu mình, đến lúc úp gương lại không thấy đầu mặt, ôm đầu chạy la mất đầu. Đó là hình ảnh chàng Diễn Nhã Đạt Đa. Như vậy là ngu cỡ nào ?

Kẻ ngu chạy trốn bóng giống như kẻ ngu nhìn gương, thấy bóng mình trong đó, rồi chỉ biết cái đầu trong gương mà không biết đầu thật của mình sẵn có. Khi thấy mất cái đầu bóng trong gương liền ôm đầu bỏ chạy, la lên "tôi mất đầu rồi". Đó là điên loạn, không còn nói ngu nữa, điên rồi. Tụi con giống mấy người điên đó không ?

Hiện giờ tụi con nói "mình", nói "tôi", mà cái suy nghĩ là tôi hay cái hằng tri hằng giác là tôi? Ít có ai biết cái hằng tri hằng giác, chỉ chấp cái suy nghĩ làm tôi, nên: "tôi nghĩ điều này đúng", ai cãi liền nổi sân, "tôi làm như vầy phải", ai cho là trái liền nổi sân. Như vậy là chấp cái tôi nào, cái tôi bóng phải không ?

Suy nghĩ là cái bóng, qua rồi mất. Vậy mà chấp bóng là mình, tới chừng bóng không hiện thì ôm đầu chạy la: "Mất tôi rồi!". Không ngờ cái tôi hằng hữu cũng như cái đầu luôn hiện tiền, còn bóng hiện trong gương, úp gương lại thì mất bóng, lại nói là mất mình. Vậy có ngu không?

Như vậy, tất cả chúng ta hiện giờ đang sống với cái hư ảo chứ không sống với cái chân thật, rồi hài lòng với cái hư ảo đó. Nên đời này sanh tử, cứ như vậy mà sanh tử muôn đời muôn kiếp không lúc nào dừng vì mãi mê chạy theo hư ảo. Mà hư ảo thì biến hoại, ôm cái biến hoại này tới lúc nó hoại mất lại tìm cái biến hoại khác, cứ như vậy mà kiếp kiếp đời đời đi mãi trong sanh tử. Nên Phật nói lang thang nhiều kiếp luân hồi.

Chấp cái hư ảo, bại hoại là mình thì làm sao ra khỏi sanh tử? Có cái thật mà không chịu nhận. Như vậy chẳng những là ngu mà còn điên nữa. Tụi con có khi nào dám vỗ ngực xưng ta có trí tuệ không? Nếu ta có trí tuệ thì tại sao còn cãi với nhau?

Hiểu đạo lý sâu rồi tụi con mới thấy người đời cứ theo đuổi theo cái ngu khờ chứ không bao giờ chịu tỉnh giác. Người tu là tỉnh giác, tức là phải nắm cho được hạt châu ngay trong nhà mình, chứ không chạy theo bóng dáng trần cảnh. Được như vậy mới thật là người biết trở về, biết tìm của báu. Còn nếu cứ chạy theo ảo ảnh bên ngoài hoài thì muôn kiếp trầm luân.

Chỉ bài học này cũng cảnh tỉnh vô cùng rồi, phải không? Tụi con nhớ học thuộc. Bài đó Thầy dịch:

Chẳng biết báu nhà mình
Theo trần nhận ngoại cảnh
Giữa trưa chạy trốn bóng
Kẻ soi gương mất đầu.

Bao nhiêu đó ráng nhẩm đọc để biết mà tu. Thật ra giá trị đạo đức nói cũng không cùng, càng học càng tu tụi con thấy mình càng ngu dại. Do đó, Phật bảo chúng sanh mê muội, nghĩa là ngu si mà ai cũng vỗ ngực xưng ta đây, vậy mới đáng buồn, đáng trách. Nếu ngu mà biết ngu thì đỡ quá, còn ngu mà cứ tưởng mình khôn, thật là đáng trách.

Cho nên chúng ta phải tỉnh giác để tìm lại cái thật, chứ không phải tu để có hình thức, có chùa và một số bổn đạo. Tu là phải trở lại tìm cho ra, nhận cho được của báu nhà mình, phải luôn tỉnh thức mới xứng đáng là người tu.

( Trích trong "Phụng Hoàng Sách Tấn Tập 2 - 2005 - Phẩm Chương 2 : Thỉnh Nguyện Ni" - Sư Ông Trúc Lâm Tôn Sư Sách Tấn Cho Chư Vị Tăng Ni Và Phật Tử )

QUAY  ĐẦU Tức CỐ  HƯƠNG - GIẢNG GIẢI.( N T. Thích Nữ Thuần Bạch )Phần tiếp theo và hết !Sáng ngày 9 – 11, chúng tôi rờ...
31/08/2026

QUAY ĐẦU Tức CỐ HƯƠNG - GIẢNG GIẢI.
( N T. Thích Nữ Thuần Bạch )

Phần tiếp theo và hết !

Sáng ngày 9 – 11, chúng tôi rời cố đô qua đèo Hải Vân đến Đà Nẵng. Hải Vân Sơn là một dãy núi phát xuất từ Trường Sơn chảy thẳng ra biển, cắt ngang Quốc Lộ 1 nằm giữa hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Nam – Đà Nẵng.

Đèo Hải Vân bây giờ rất dễ đi vì những đường ngoằn ngoèo đã được nới rộng ra. Phong cảnh từ đèo nhìn xuống thật là đẹp mắt, nhất là bãi biển Lăng Cô, nằm dưới chân đèo, phía Bắc thành phố Huế.

Vẻ đẹp của Lăng Cô mang sắc thái Đông Phương, vừa thùy mị vừa lặng lẽ. Những chiếc thuyền đánh cá nằm im trên bãi cát vàng óng như trong trạng thái buông xả hoàn toàn. Cũng có những đợt sóng trắng xóa đuổi bắt nhau, nhưng trông chúng không một chút gì giận dữ hung hăng.

Trái lại hiền lành và thơ trẻ như những cậu bé con vào ngày nghỉ học, được tự do tung tăng chơi chạy thỏa thích. Sóng mặc sóng, thuyền đã hạ buồm nên vẫn điềm nhiên không hề xao xuyến hay lo toan. Những cột buồm thẳng đứng trơ trụi in hình trên nền trời xanh, như thách đố với phong ba bão táp.

Những chiếc thuyền trên Lăng Cô đã về nghỉ, đang thong d**g cười đùa với những lượn sóng bé con, hoặc an nhiên nhìn những phiến mây trắng lơ lửng giữa không gian vô tận. Còn con thuyền trong lòng tôi có chịu hạ buồm và dừng bặt những toan tính mông lung, để một ngày nào đó, thay vì chỉ dừng trụ ở một bến Lăng Cô, sẽ tùy xứ đi đâu cũng là bến là nhà, và tha hồ nhìn ngắm mây trời và cười đùa với sóng biển.

Xe từ từ xuống đèo, bên kia là thành phố Đà Nẵng. Sát chân đèo là cầu Nam Ô, cách Đà Nẵng khoảng 30km. Trên đường vào thành phố, chúng tôi ghé chùa Quang Minh ở ngay trên Quốc Lộ 1, về phía Bắc ngoại ô Đà Nẵng.

Thầy Viện Chủ chỉ kịp lên viếng bức tượng Phật Thích Ca lộ thiên rất to, chào hỏi thăm Ni Sư trụ trì, rồi đi nhanh ra Non Nước cho kịp dùng cơm trưa. Xe đã rồ máy, trong chùa còn mang ra một khay nước giải khát và đành đưa mắt nhìn theo.

Chúng tôi đến Non Nước giữa trưa. Leo lên những bậc thang đẫm ướt mồ hôi. Hòn Non Nước, tức Thủy Sơn, thuộc Ngũ Hành Sơn cách thành phố Đà Nẵng 8 km. Thủy Sơn là ngọn núi cao nhất, có hình dáng giống sao Tam Thai nên xưa còn có tên là núi Tam Thai, với hai chùa Linh Ứng và Tam Thai.

Tương truyền chùa Linh Ứng do một vị Tiên Hiền đã khai sáng làng Khải Đông, đến ẩn tu tại động Tàng Chơn mà lập nên chùa. Lúc đầu, chùa chỉ là một cái am thờ Phật tên là Dưỡng Chân Am. Sau đổi tên lại là Dưỡng Chân Đường.

Đến đời vua Minh Mạng đổi thành Ứng Chơn Tự. Đến đời vua Khải Định chùa mới được đổi tên là Linh Ứng cho đến ngày nay. Chư tổ trụ trì chùa thuộc phái thiền Lâm Tế, chi phái của chùa Chúc Thánh (Quảng Nam). Hòa thượng Hương Sơn, tức Thị Năng Trí Hữu ở chùa Linh Ứng, hiện nay là người khai sơn chùa Ứng Quang, Sài Gòn, vào năm 1948 – 1950. Sau đó nhượng lại cho Hòa thượng Thiện Hòa để xây lại thành tổ đình Ấn Quang.

Chùa Tam Thai được lập ra từ khi nào không rõ. Chỉ biết khi Hòa thượng Thạch Liêm đến Đàng Trong vào năm 1695, theo lời thỉnh cầu của chúa Nguyễn, đệ tử của Ngài là thiền sư Hương Liên Quả Hoằng đã trụ trì Tam Thai rồi. Tuy chùa có bị hư hại khi Tây Sơn chiếm Phú Xuân, nhưng sau này được trùng tu lại.

Ngoài hai chùa kể trên, Non Nước còn có hang động đẹp không thua gì miền Bắc, tuy có nhỏ hơn.

Động Tàng Chơn ở phía sau chùa Linh Ứng gồm hai động và ba hang: động Linh Động, động Tam.

Thanh, hang Gió, hang Dơi và hang Chiêm Thành. Hang Chiêm Thành còn hai bức tranh chạm trên đá.

Động Hoa Nghiêm được Hòa thượng Thạch Liêm đặt tên vào năm 1695 khi viếng thăm chùa Thiên Thai.

Động Huyền Không khá rộng và cao. Trên đỉnh có lỗ trống nhìn thấy bầu trời, do đó ánh sáng tuôn xuống chiếu sáng cả hang. Trên vách đá có tượng Phật Quan Âm cao lớn uy nghi.

Sau khi thăm thật chớp nhoáng các hang động, chúng tôi rời Non Nước khoảng 2g và đi tiếp vào địa phận Nghĩa Bình (tức Quảng Ngãi và Bình Định). Sau đó đoàn nghỉ đêm tại Sa Huỳnh, ngay bờ biển. Khi đó trời đã sụp tối, chúng tôi không kịp nhìn biển, chỉ nghe tiếng gió rít và tiếng sóng xô ầm ầm.

Sáng ngày 10 – 11, chúng tôi tiếp tục lên đường thật sớm, không kịp ăn sáng và đến Nha Trang vào buổi chiều. Chúng tôi viếng Tháp Bà ngay khi vào thành phố.

Tháp Bà là ngôi tháp cổ của người Chàm được tạo dựng vào thế kỷ 12 để thờ Nữ Thần Po Nagar, còn gọi là Thiên Y A Na, là vị thần tạo ra trái đất, sinh ra gỗ trầm, kỳ nam và lúa gạo.

Sau đó Thầy nói chuyện với Phật Tử tại tịnh thất của một thầy ở Thường Chiếu, và cả đoàn đều về nghỉ ở khách sạn. Theo đề nghị của các Phật Tử trong đoàn, chương trình sẽ ở lại Nha Trang một hoặc hai ngày để dưỡng sức và cũng để Thầy thuyết pháp theo lời mời của Phật tử Nha Trang. Nhưng rồi hôm sau, cũng sợ bão như hôm ở lại Sa Huỳnh, chúng tôi lại lên đường khi trời còn tối mờ và mưa rỉ rả.

Ngày 11 – 11 chúng tôi đã rời miền quê hương cát trắng. Trời đã mưa suốt ngày, cho đến khi đoàn về đến Long Khánh mới tạnh. Chúng tôi về đến Thường Chiếu lúc 4g chiều, kết thúc 20 ngày hành hương chiêm bái thánh tích.

TRÍCH DẪN VÀ THƯ MỤC :

1- THIỀN SƯ VIỆT NAM - Thích Thanh Từ - 1973
2- KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO VIỆT NAM - Nguyễn Bá Lăng – 1972
3- NHỮNG NGÔI CHÙA DANH TIẾNG – Nguyễn Quảng Tuân – 1990
4 – TẬP SAN: TƯ TƯỞNG – TOÀN CẢNH…

Hết...!

( Trích Trong "Quay Đầu Tức Cố Hương" - N T. Thích Nữ Thuần Bạch Giảng Giải )

Address

13 Đường Linh Trung, P Linh Xuân, Tp. Thủ Đức. Tp. Sài Gòn
Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phật Tử Thiền Phái Trúc Lâm posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Phật Tử Thiền Phái Trúc Lâm:

Shortcuts

Share