Phật Tử Thiền Phái Trúc Lâm

Phật Tử Thiền Phái Trúc Lâm Trang Phật Tử Thiền Phái Trúc Lâm, là nơi chia sẻ giáo lý tu Thiền theo Thiền Phái Trúc Lâm. Định hướng tu hành theo đường lối Sư Ông Trúc Lâm Tôn Sư chỉ dạy.
(4)

( Phản Quang Tự Kỹ - Soi Lại Chính Mình )

Đến với mọi người con Phật hữu duyên với Pháp môn tu Thiền Trúc Lâm
Kính chúc chư vị Sư Huynh Đệ Đồng Môn, và Quý Phật tử tinh tấn tu thiền, ngộ chân lý nhiệm màu, thành công và hạnh phúc an vui bên chánh pháp. Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

( Con & Đệ Chánh Trúc An )

26/11/2025

🙏🙏🙏 Mô Phật kính nguyện chư vị đồng đạo cùng nhau, cầu nguyện trong tâm niệm thanh tịnh cho cơn bão 15 đi qua nhẹ nhàng. Nguyện cho mọi người đều được bình an 🙏

Nếu bão có đến hãy đến dịu dàng
Đem những cơn mưa xanh tốt mùa màng
Cho người thương người sống đời tử tế
Để cõi đất này hạnh phúc bình an.

🙏 Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Mâu Ni 🙏
🙏 Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm 🙏

TRONG TAI ƯƠNG, PHẬT GIÁO GÓP PHẦN CHUYỂN HÓA KHỔ ĐAU..Nhìn lại những ngày mưa lũ vừa qua, dễ thấy một điều: hình ảnh Tă...
26/11/2025

TRONG TAI ƯƠNG, PHẬT GIÁO GÓP PHẦN CHUYỂN HÓA KHỔ ĐAU
..Nhìn lại những ngày mưa lũ vừa qua, dễ thấy một điều: hình ảnh Tăng Ni và Phật tử giữa dòng nước xiết là biểu tượng không chỉ của lòng từ bi mà còn của tinh thần nhập thế - luôn đứng cạnh người dân khi họ cần nhất. Từ hộp cơm nóng, gói mì, thùng nước sạch đến những lời kinh trầm lắng - tất cả đều là cách để Phật giáo hóa giải khổ đau, dựng lại niềm tin cho người dân, xoa dịu, chuyển hóa.

Tai ương rồi sẽ qua. Nhưng bài học về tình người, về tỉnh thức và trách nhiệm với môi trường sẽ còn ở lại. Phật giáo không thể ngăn được bão lũ, nhưng có thể giúp xã hội chữa lành, tái lập truyền thông giữa người với người (ít nhiều nguội lạnh), giữa người với thiên nhiên (ít nhiều chủ quan, vô cảm) và sống bền vững hơn trong tinh thần tùy duyên, thuận tự nhiên, rõ lý duyên sinh cùng luật nhân quả. Và cũng chính trong khốn khó, đạo Phật lại tỏa sáng bằng sự bình thản, từ bi và trí tuệ - những giá trị mà con người đang cần hơn bao giờ hết.

Từ đây, như đã nói trên, Phật giáo nhắc về lẽ vô thường để mỗi người tỉnh thức, trân quý hơn phút giây đang là (bây giờ và ở đây), đồng thời biết chấp nhận biến cố để đối mặt với nỗi khổ niềm đau một cách nhẹ nhàng nhất có thể…

Nguồn : Www.giacngo.vn

🙏🙏🙏 Mô Phật 10 ngày nay admin đóng của cách ly, sám hối công phu tìm về chính mình, tối nay lướt mạng thấy trên màng hìn...
24/11/2025

🙏🙏🙏 Mô Phật 10 ngày nay admin đóng của cách ly, sám hối công phu tìm về chính mình, tối nay lướt mạng thấy trên màng hình toàn hình ảnh đau thương cho bà con Đắk Lắk Phú Yên. Admin chỉ biết cúi đầu và sám hối và sám hối.

🙏 Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni 🙏

Mô Phật admin xin tạm ngưng trang nhà một thời gian, admin tập trung lo việc bên ngoài khi nào ổn định, admin quay trở l...
15/11/2025

Mô Phật admin xin tạm ngưng trang nhà một thời gian, admin tập trung lo việc bên ngoài khi nào ổn định, admin quay trở lại phụng sự chư vị đồng đạo. Cuối đầu sám hối và xin lỗi chư vị đồng đạo trang nhà dạ Mô Phật.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

14/11/2025

ĐỨC PHẬT TRONG ĐỜI.
( S P.H T. Thích Thông Phương Giảng Giải )

🙏 Mô Phật trang nhà kính mời Quý Đạo Hữu, cùng nhau nghe thời Pháp buổi tối hôm nay.
👉 Do H T. Thông Phương giảng gải phẩm Có tựa đề ( Đức Phật Trong Đời
) dạ Mô Phật.
🙏 Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni 🙏


https://vn.shp.ee/QSJXKe5

14/11/2025

❤ PHẬT HỌC THAM VẤN ❤

🙏 Buổi Vấn Đáp : Nói Chuyện Với Chư Tăng Ni Và Phật Tử Thiền Viện Phúc Đức Úc Châu Chủ Đề "KHI QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ CÓ QUÁN CHIẾU SÁU CĂN HAY KHÔNG...?" - Do H T. Thích Thông Thông Vấn Đáp. P.2/2 🌷
🙏 Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni 🙏


https://vn.shp.ee/QSJXKe5

14/11/2025

THANH TỪ TOÀN TẬP - Quyển 49 - P.1/15 - Thiền Tông Phật Giáo Trong Mạch Nguồn Dân Tộc Giảng Giải.
( Giọng Đọc Thy Mai Mp3 )

🙏 Mô Phật trang nhà kính mời Quý Đạo Hữu, cùng nhau nghe thời Pháp buổi chiều hôm nay.
👉 Do Thy Mai đọc mp3 phẩm có tựa ( Thanh Từ Toàn Tập ), dạ phẩm Thanh Từ Toàn Tập Quyển 49 có 15 Phần dạ Mô Phật.
🌷 Chánh Trúc An xin mời Chư Vị Đồng Đạo cùng nhau nghe phần Một dạ Mô Phật.
🙏 Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni 🙏


https://vn.shp.ee/QSJXKe5

14/11/2025

🌷 PHẬT HỌC PHỔ THÔNG 🌹

👉 Phật Học Phổ Thông "ĐẠO PHẬT* - DUY THỨC HỌC. P.14/22 - N T. Thích Nữ Thuần Tuệ Giảng Giải Mp3.

👉 Lời đầu Admin "DUY THỨC HỌC...?" - Duy thức học là một trường phái triết học Phật giáo Đại thừa, tập trung nghiên cứu bản chất của tâm thức và cách nó kiến tạo thực tại. Tông phái này được sáng lập bởi hai vị đại sư Vô Trước và Thế Thân, với các khái niệm cốt lõi như tám thức và A-lại-da thức (tàng thức) lưu trữ nghiệp. Duy thức học không chỉ có giá trị triết học sâu sắc mà còn là phương pháp thực hành giúp con người vượt qua vô minh và đạt giác ngộ.

Các khái niệm cốt lõi :

Tám thức : Duy thức học phân tích tâm thức một cách chi tiết thông qua tám loại thức khác nhau, trong đó có ý thức (thức thứ sáu), các giác quan (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) và A-lại-da thức (tàng thức) là thức thứ tám, chịu trách nhiệm lưu trữ chủng tử nghiệp và các hạt giống tâm thức.

A-lại-da thức : Đây là thức nền tảng, là kho chứa tất cả mọi kinh nghiệm, nghiệp và chủng tử, là nguyên nhân sâu xa cho sự luân hồi sinh tử của chúng sinh.

Duy thức : Học thuyết này nhấn mạnh rằng mọi hiện hữu mà chúng ta nhận thức đều là "duy thức"
- chỉ là sự biểu hiện của tâm thức, không có thực thể bên ngoài độc lập với tâm.

Các khái niệm cốt lõi :

Tám thức : Duy thức học phân tích tâm thức một cách chi tiết thông qua tám loại thức khác nhau, trong đó có ý thức (thức thứ sáu), các giác quan (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) và A-lại-da thức (tàng thức) là thức thứ tám, chịu trách nhiệm lưu trữ chủng tử nghiệp và các hạt giống tâm thức.

A-lại-da thức : Đây là thức nền tảng, là kho chứa tất cả mọi kinh nghiệm, nghiệp và chủng tử, là nguyên nhân sâu xa cho sự luân hồi sinh tử của chúng sinh.

Duy thức : Học thuyết này nhấn mạnh rằng mọi hiện hữu mà chúng ta nhận thức đều là "duy thức" - chỉ là sự biểu hiện của tâm thức, không có thực thể bên ngoài độc lập với tâm.

Ý nghĩa và ứng dụng :

Giá trị triết học : Cung cấp một hệ thống tư tưởng sâu sắc về tâm lý và nhận thức luận.

Phương pháp thực hành : Đưa ra một con đường thực hành cụ thể giúp con người chuyển hóa tâm thức, thanh lọc nghiệp và đạt được giải thoát.

Ứng dụng trong đời sống : Giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nguồn gốc của khổ đau, cách tâm thức tạo ra thế giới quan của mình, từ đó có thể ứng dụng để sống có đạo đức và đạt an lạc hơn.
🙏 Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni 🙏


https://vn.shp.ee/QSJXKe5

THANH TỪ TOÀN TẬP - QUYỂN 10 KINH HOA NGHIÊM TRÍCH GIẢNG GIẢI ( Phần 1 )( Sư Ông Trúc Lâm Tôn Sư )Kinh Hoa Nghiêm Trích ...
14/11/2025

THANH TỪ TOÀN TẬP - QUYỂN 10 KINH HOA NGHIÊM TRÍCH GIẢNG GIẢI ( Phần 1 )
( Sư Ông Trúc Lâm Tôn Sư )

Kinh Hoa Nghiêm Trích Giảng (Phần 1)
Phẩm Như Lai Xuất Hiện

Đây là phẩm thứ 37, trong kinh Hoa Nghiêm đức Phật trở lại cội bồ-đề nói phẩm Như Lai Xuất Hiện và kể mục đích chư Phật ra đời. Phẩm này chúng ta nghe thật kỹ sẽ thấy tương tự như kinh Pháp Hoa.

Bấy giờ đức Thế Tôn từ trong tướng bạch hào giữa chặng mày, phóng đại quang minh tên là Như Lai Xuất Hiện, có vô lượng trăm ngàn ức a-tăng-kỳ quang minh na-do-tha làm quyến thuộc. Quang minh đó chiếu khắp mười phương tất cả thế giới tận hư không pháp giới, hữu nhiễu bảy vòng hiển hiện Như Lai vô lượng tự tại, giác ngộ vô số chúng Bồ-tát, chấn động tất cả thập phương thế giới, trừ diệt tất cả khổ ác đạo, chói che tất cả cung điện ma, hiển thị tất cả chư Phật Như Lai ngồi tòa bồ-đề, thành Đẳng chánh giác và cùng tất cả đạo tràng chúng hội.

Trước khi nói phẩm này đức Phật phóng hào trắng giữa chặng mày, hào quang tên Như Lai Xuất Hiện nói lên ý nghĩa của pháp Phật sắp diễn bày. Hào quang này có vô lượng ức na-do-tha làm quyến thuộc, biểu trưng khi Phật ra đời thì có muôn vạn ức ánh sáng cùng xuất hiện chiếu phá tối tăm của thế gian.

Hào quang của Phật chiếu khắp tất cả hư không giới, xoay bên hữu bảy vòng, tượng trưng sức tự tại của Phật giác ngộ vô số Bồ-tát. Hào quang này mang ý nghĩa đức Phật đã đầy đủ các trí giác và phương tiện để độ tất cả chúng sanh.

Quang minh đó đã hiển thị như vậy rồi trở lại hữu nhiễu chúng Bồ-tát, nhập vào đảnh đầu của Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ-tát.

Hào quang đó sau khi hiển thị các điều của Bồ-tát Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức, nói lên ý nghĩa Bồ-tát này có duyên hỏi Phật về lý do Như Lai xuất hiện.

Lúc đó tất cả đại chúng trong đạo tràng này thân tâm hớn hở rất hoan hỷ mà nghĩ rằng: “Rất là ít có, nay đây đức Như Lai phóng đại quang minh tất sẽ để diễn nói thậm thâm đại pháp.”

Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ-tát ở trong pháp tòa liên hoa trịch y bày vai hữu, quỳ gối hữu chắp tay nhất tâm hướng lên Phật mà nói kệ rằng:

Ý nghĩa phóng quang trong kinh Hoa Nghiêm rất có thứ tự. Ban đầu khi nói về Thập tín, Phật phóng quang ở dưới lòng bàn chân, nói đến Thập hạnh hay Thập trụ, phóng hào quang ở đầu gối, dần dần phóng hào quang trước ngực, rồi đến đây phóng hào quang ở giữa chặng mày. Phật phóng quang tuần tự như vậy để nói lên ý nghĩa của sự tu hành, tuy có thứ lớp nhưng không rời chỗ viên đốn. Khi phóng quang xong, chiếu tới đỉnh đầu của các vị Bồ-tát, biểu hiện sự giao cảm bất tư nghì giữa Phật và Bồ-tát. Bởi có sự giao cảm nên Bồ-tát thâm hiểu được ý của Phật, biết Phật sắp muốn nói điều gì, hỏi đúng ý Phật. Đây là sự giao cảm nhân quả không rời nhau.

Bồ-tát Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức từ nơi pháp tòa nhất tâm hướng về Phật thưa hỏi.

Chánh giác công đức đại trí hiện

Khắp đạt cảnh giới đến bỉ ngạn

Đồng với tam thế chư Như Lai

Vì thế nay tôi cung kính lễ.

Trước hết Bồ-tát tán thán đức Phật là bậc chánh giác, công đức đại trí hiện nơi thế gian. Ngài đã đạt được cảnh giới của Phật và đến được bờ bên kia. Ngài đồng với ba đời chư Phật, vì vậy chúng Bồ-tát kính lễ.

Đã lên bờ cảnh giới vô tướng

Mà hiện thân diệu tướng trang nghiêm

Phóng ra ngàn quang minh ly cấu

Phá dẹp quân ma đều hết sạch.

Khen ngợi Phật đã nhập pháp giới tánh hay đã vào pháp thân, nên nói Đã lên bờ cảnh giới vô tướng. Cảnh giới vô tướng tức là cảnh giới của pháp thân. Từ pháp thân khởi ra báo thân đầy đủ muôn đức, nên nói hiện thân diệu tướng trang nghiêm, phóng ra ngàn quang minh ly cấu, tức là hào quang sáng vô lượng lìa tất cả cấu nhiễm. Phá dẹp quân ma đều hết sạch, hào quang sáng ấy phá dẹp hết quân ma.

Chúng ta học Phật nên để ý điểm này, phần nhiều những hội thuyết pháp lớn trong các kinh điển Đại thừa đều diễn tả Phật phóng quang trước, sau rồi nói pháp. Tại sao? Đạo Phật chủ trương giác ngộ, hào quang tượng trưng cho trí giác. Trí giác sáng suốt nên hiện tướng phóng quang trước rồi thuyết pháp sau. Hình ảnh Phật ngồi trên tòa sen là ý nghĩa ở trong cõi trần không nhiễm, phóng hào quang giác ngộ để dẹp hết mê mờ của chúng sanh.

Mười phương bao nhiêu những thế giới

Đều hay chấn động không có thừa

Chưa từng kinh sợ một chúng sanh

Thần lực đức Thiện Thệ như vậy.

Thần lực của Phật khi phóng quang thì mười phương thế giới đều chấn động. Ngài là một vị thuyết pháp vô úy không kinh sợ điều gì.

Hư không pháp giới tánh bình đẳng

Đã được như vậy mà an trụ

Tất cả quần sanh vô số lượng

Đều khiến dứt ác trừ những lỗi.

Hư không pháp giới tánh bình đẳng, pháp giới tánh bình đẳng như hư không, không có hình tướng lớn nhỏ, thấp cao. Pháp giới tánh bình đẳng như hư không, nhưng không phải là hư không. Đã được như vậy mà an trụ, tức là an trụ trong pháp giới tánh bình đẳng. Tất cả quần sanh vô số lượng, đều khiến dứt ác trừ những lỗi. Mặc dù trụ trong pháp giới tánh bình đẳng, mà có công dụng khiến cho tất cả chúng sanh dứt ác trừ lỗi.

Khổ hạnh siêng nhọc vô số kiếp

Thành tựu tối thượng đạo Bồ-đề

Ở các cảnh giới trí vô ngại

Cùng tất cả Phật đồng thể tánh.

Phật đã siêng tu khổ hạnh không biết bao nhiêu đời kiếp nên thành tựu đạo Bồ-đề tối thượng này. Ngài ở trong cảnh giới trí vô ngại, tức là trí biết suốt khắp không còn ngăn ngại. Ngài cùng đồng một thể tánh với chư Phật.

Đạo sư phóng ra quang minh này

Chấn động mười phương các thế giới

Đã hiện vô lượng sức thần thông

Rồi lại trở vào nhập thân tôi.

Nhắc lại cảnh tượng trong hội này, Phật phóng quang khắp nơi rồi trở lại chiếu soi trên đỉnh Bồ-tát.

Trong pháp quyết định khéo học được

Vô lượng Bồ-tát đều đến nhóm

Khiến tôi phát khởi lòng vấn pháp

Thế nên nay tôi thỉnh Pháp vương.

Đây nói lý do muốn hỏi pháp, bởi Bồ-tát thấy Phật phóng quang chiếu trên đỉnh của mình và đại chúng đều nhóm họp đầy đủ, nên ngài đứng ra để thỉnh pháp.

Nay chúng hội này đều thanh tịnh

Khéo độ thoát được các thế gian

Trí tuệ vô biên không nhiễm trước

Những bậc Hiền này đều về nhóm.

Hội chúng trong đây rất thanh tịnh, trí tuệ vô biên không nhiễm trước, đều đã nhóm họp đầy đủ.

Lợi ích thế gian đấng Đạo sư

Trí tuệ tinh tấn đều vô lượng

Nay đem quang minh chiếu đại chúng

Khiến tôi thỉnh hỏi pháp Vô thượng.

Khen ngợi Phật phóng quang soi đại chúng, tạo cơ hội nhân duyên để ngài thỉnh pháp.

Ai ở cảnh giới của Như Lai

Mà hay chân thật khai diễn đủ?

Ai là Pháp Trưởng tử của Phật?

Thế Tôn đạo sư xin hiển thị.

Cầu thỉnh đức Phật dạy cho hội chúng biết, ai là người trụ được trong cảnh giới của Phật để khai diễn lẽ chân thật? Ai là đệ tử lớn nhất của Phật?

Đến đây chúng ta thấy rõ ý thâm sâu của kinh điển Đại thừa. Bồ-tát Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức hỏi đức Phật, người nào là pháp trưởng tử, người nào trụ trong cảnh Như Lai để nói đủ những cảnh của Phật. Nếu theo lẽ thường đức Phật trả lời, ở đây chỉ có Văn-thù đủ khả năng đó, nhưng trong đoạn kinh này ngài không nói mà chỉ phóng hào quang.

Bấy giờ đức Như Lai liền ở trong miệng phóng ra đại quang minh tên là Vô Ngại Vô Úy, có trăm ngàn ức a-tăng-kỳ quang minh làm quyến thuộc, chiếu khắp mười phương tất cả thế giới tận hư không pháp giới, hữu nhiễu mười vòng, hiển hiện Như Lai các thứ tự tại, khai ngộ vô lượng những chúng Bồ-tát, chấn động tất cả mười phương thế giới, diệt trừ tất cả những khổ ác đạo, chói che tất cả những cung điện ma, hiển thị tất cả chư Phật Như Lai ngồi tòa Bồ-đề thành Đẳng chánh giác và đến tất cả chúng hội đạo tràng.

Trước tiên hào quang đó soi khắp hết mười phương, hiển thị tất cả những sự tự tại của Phật, khai ngộ chúng Bồ-tát. Kế làm chấn động cả mười phương thế giới, diệt trừ tất cả khổ ác đạo, che chói tất cả cung điện của ma, hiển bày cảnh Phật thành đạo dưới cội bồ-đề, rồi đi đến với chúng hội đạo tràng. Hào quang là trí giác của Phật, có tất cả công dụng đặc biệt như thế.

Đại quang minh này làm những sự như vậy rồi trở lại hữu nhiễu chúng hội Bồ-tát, nhập vào miệng của Phổ Hiền đại Bồ-tát. Đại quang minh nhập xong thời thân và tòa sư tử của Phổ Hiền Bồ-tát hơn lúc trước và hơn thân tòa của chư Bồ-tát gấp trăm lần, chỉ trừ tòa sư tử của Như Lai.

Khi hào quang nhập vào miệng ngài Phổ Hiền thì ngài Phổ Hiền hơn tất cả những vị Bồ-tát ở trong hội chúng. Ý chỉ rằng Phật không nói ai là trưởng tử mà dùng hào quang hiển thị cho chúng hội thấy. Hào quang phóng vào miệng Bồ-tát Phổ Hiền là ý nói Bồ-tát Phổ Hiền sẽ thay Phật nói pháp. Đó là việc của Phật đã xong. Vì vậy Bồ-tát Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức liền hỏi Bồ-tát Phổ Hiền.

Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ-tát hỏi Phổ Hiền đại Bồ-tát:

Thưa Phật tử! Đức Thế Tôn đã thị hiện thần biến quảng đại làm cho chúng Bồ-tát đều sanh hoan hỷ chẳng thể nghĩ bàn, thế gian chẳng biết được. Đó là thoại tướng gì?

Phổ Hiền đại Bồ-tát nói:

Phật tử! Thuở xưa, tôi thấy chư Như Lai Ứng Đẳng chánh giác thị hiện thần biến quảng đại như vậy, liền nói pháp môn Như Lai xuất hiện. Cứ theo tôi suy gẫm: Nay đức Như Lai hiện tướng này tất sẽ nói pháp môn đó.

Đáp câu hỏi của Bồ-tát Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức, Bồ-tát Phổ Hiền nói Phật hiện tướng này là sẽ nói pháp môn Như Lai xuất hiện, tức nói lên ý nghĩa chư Phật ra đời.

Lúc Phổ Hiền Bồ-tát nói lời trên xong, tất cả đại địa thảy đều chấn động, xuất sanh vô lượng quang minh vấn pháp.

Bồ-tát Phổ Hiền nói xong câu đó, cả đại địa đều chấn động và phát ra vô lượng hào quang hỏi pháp. Tại sao nói có một câu mà lại chấn động cả đại địa? Đây giới thiệu pháp môn Như Lai xuất hiện, mà Như Lai xuất hiện là làm cho cả thế gian đều chuyển mê thành ngộ nên đại địa chấn động. Những hình ảnh tượng trưng này nói lên ý nghĩa sâu xa trong văn học Phật giáo Đại thừa.

Ngài Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ-tát hỏi Phổ Hiền Bồ-tát:

Thưa Phật tử! Đại Bồ-tát phải thế nào để biết pháp xuất hiện của chư Phật Như Lai? Xin Phật tử nói cho. Vô lượng trăm ngàn ức na-do-tha chúng hội Bồ-tát này đều tu tịnh nghiệp đã lâu, niệm tuệ thành tựu, đã đến bờ rốt ráo đại trang nghiêm, đủ tất cả hạnh oai nghi của Phật, chánh niệm chư Phật chưa từng quên mất, lòng đại bi quán sát tất cả chúng sanh, quyết định biết rõ thần thông cảnh giới của chư đại Bồ-tát, đã được thần lực của chư Phật gia hộ, hay thọ tất cả diệu pháp của Như Lai, đủ vô lượng công đức như vậy đều đến nhóm họp tại đây.

Bồ-tát Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức kể ra những công hạnh của chư Bồ-tát nhóm họp đầy đủ.

1. Đều tu tịnh nghiệp đã lâu, tức là ba nghiệp thanh tịnh đã lâu.

2. Niệm tuệ thành tựu, tức là trí tuệ thành tựu.

3. Đã đến bờ rốt ráo đại trang nghiêm, tức là được đến chỗ đại trang nghiêm cứu cánh.

4. Đầy đủ hạnh oai nghi của Phật.

5. Chánh niệm chư Phật chưa từng quên mất, tức là lúc nào cũng niệm Phật nhớ Phật.

6. Đại bi quán sát tất cả chúng sanh.

7. Quyết định biết rõ thần thông cảnh giới của chư đại Bồ-tát, tức là hiểu rõ thần thông của các Bồ-tát không còn ngờ vực.

8. Được thần lực của chư Phật gia hộ.

9. Thọ diệu pháp của Như Lai.

Chín điểm then chốt đó, chư Bồ-tát ở đây đã đủ.

Chúng ta tuy chưa phải là Bồ-tát nhưng cũng bập bẹ học nói, học làm theo Bồ-tát thì trước hết phải làm sao? Phải tịnh tu ba nghiệp cho thanh tịnh, ráng tập cho có trí tuệ, ráng tu các công đức trang nghiêm, ráng tập theo hạnh của Như Lai, thường tưởng nhớ Phật, hằng thương nhớ chúng sanh... thọ học giáo pháp của Phật để được Phật gia hộ. Đây kể tư cách đầy đủ của Bồ-tát. Chúng ta muốn học theo hạnh của Bồ-tát, nếu chưa đủ ít ra cũng phải tập từ từ những điểm đó.

Phật tử đã từng ở chỗ vô lượng trăm ngàn ức na-do-tha Phật, thừa sự cúng dường, thành tựu diệu hạnh tối thượng của Bồ-tát, nơi môn tam-muội đều được tự tại, vào chỗ bí mật của tất cả chư Phật, biết các Phật pháp, dứt những nghi lầm, được thần lực của Phật gia hộ, biết căn khí của chúng sanh tùy theo sở thích của họ mà nói pháp chân thật giải thoát, tùy thuận Phật trí, diễn nói Phật pháp đến nơi bỉ ngạn, có vô lượng công đức như vậy.

Đây là khen ngợi công đức của những vị Bồ-tát, có nhiều phương tiện khéo diễn hóa để làm lợi ích cho chúng sanh.

Lành thay Phật tử! Xin nói pháp xuất hiện của Như Lai Đẳng chánh giác, những thân tướng, ngôn âm, tâm ý, cảnh giới, hạnh đã làm, thành đạo, chuyển pháp luân, nhẫn đến thị hiện nhập đại Niết-bàn, thấy nghe thân cận được sanh thiện căn. Những sự như vậy xin Phật tử nói cho.

Bồ-tát xin hỏi về thân của Phật tướng hảo thế nào, âm thanh của Phật, tâm ý của Phật, cảnh giới của Phật, hạnh của Phật đã làm, Phật thành đạo, chuyển pháp luân, nhẫn đến thị hiện nhập đại Niết-bàn. Đời sống của Phật nếu chúng sanh được thấy nghe thân cận sẽ sanh thiện căn.

Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ-tát muốn tuyên rõ nghĩa này bèn hướng về Phổ Hiền Bồ-tát mà nói kệ rằng:

Lành thay vô ngại đại trí tuệ

Khéo tỏ vô biên cảnh bình đẳng

Nguyện nói công hạnh của chư Phật

Đại chúng được nghe đều mừng rỡ.

Đây là khen ngợi và khuyến thỉnh.

Bồ-tát thế nào tùy thuận nhập

Chư Phật Như Lai hiện ra đời

Cảnh giới thân, ngữ, ý thế nào

Và chỗ thật hành xin đều nói.

Thế nào chư Phật thành Chánh giác?

Thế nào Như Lai chuyển pháp luân?

Thế nào Thiện Thệ nhập Niết-bàn?

Đại chúng được nghe lòng hoan hỷ.

Xin Bồ-tát nói về cuộc đời của Như Lai từ sơ sanh đến nhập Niết-bàn.

Nếu có thấy Phật đại Pháp vương

Thân cận thêm lớn các thiện căn

Xin nói những tạng công đức kia

Chúng sanh thấy rồi được những gì?

Những câu hỏi này vì lợi ích chúng sanh, được nghe và thân cận chư Phật sẽ được lợi ích lớn.

Nếu ai được nghe tên Như Lai

Hoặc hiện tại thế hoặc Niết-bàn

Nơi phước tạng kia sanh thâm tín

Có những lợi gì xin tuyên nói

Chúng Bồ-tát đây đều chắp tay

Chiêm ngưỡng Như Lai, ngài và tôi.

Cảnh giới biển công đức quảng đại

Bậc tịnh chúng sanh xin vì nói

Xin dùng nhân duyên và thí dụ

Diễn nói diệu pháp nghĩa tương ưng

Chúng sanh nghe rồi phát đại tâm

Hết nghi trí sạch như hư không

Chư Phật đã hiện thân trang nghiêm

Nguyện dùng diệu âm và nhân dụ

Dạy Phật Bồ-đề cũng như kia.

Hội chúng Bồ-tát đều hết lòng lắng nghe cảnh giới biển công đức rộng lớn của chư Phật. Tất cả chúng sanh được nghe rồi phát tâm, trí dứt sạch nghi ngờ. Vì thế yêu cầu kể hết công đức quảng đại của chư Phật, dùng những phương tiện thí dụ cho hội chúng nghe hiểu dễ dàng, để cho tâm hồn được trong sạch.

Mười phương ngàn muôn những cõi nước

Ức na-do-tha vô lượng kiếp

Như nay Bồ-tát chúng tập họp

Nơi kia tất cả đều khó thấy.

Chư Bồ-tát đây đều cung kính

Nơi nghĩa vi diệu sanh khát ngưỡng

Nguyện dùng tịnh tâm khai diễn đủ

Pháp quảng đại Như Lai xuất hiện.

Bồ-tát trong mười phương ngàn muôn cõi Phật, các bậc Bồ-tát như thế rất khó gặp mà lại cùng nhóm họp ở đây, chỉ vì cung kính khát ngưỡng nghĩa vi diệu. Xin ngài dùng tâm thanh tịnh khai diễn pháp rộng lớn Như Lai xuất hiện.

Phổ Hiền đại Bồ-tát bảo Như Lai Tánh Khởi Diệu Đức Bồ-tát và đại chúng chư Bồ-tát:

Chư Phật tử! Chỗ này chẳng thể nghĩ bàn. Nghĩa là đức Như Lai Đẳng chánh giác, do vô lượng pháp mà được xuất hiện. Vì chẳng phải do một duyên, chẳng phải do một sự, Như Lai xuất hiện được thành tựu, mà do mười vô lượng trăm ngàn vô số sự mới được thành tựu.

Mở đầu, Bồ-tát Phổ Hiền nói việc xuất hiện của Như Lai không thể nghĩ bàn. Bồ-tát nghĩ bàn còn không thể được, huống là phàm phu chúng ta. Tại sao không thể nghĩ bàn? Vì có quá nhiều nhân duyên chẳng phải một, Như Lai xuất hiện được thành tựu do mười vô lượng trăm ngàn vô số sự việc. Đây chỉ kể ra mười nhân duyên.

Những gì là mười?

Một là do quá khứ vô lượng Bồ-đề tâm nhiếp thọ tất cả chúng sanh làm thành.

Hai là do quá khứ vô lượng chí nguyện thanh tịnh thù thắng làm thành.

Ba là do quá khứ vô lượng đại từ đại bi cứu hộ tất cả chúng sanh làm thành.

Bốn là do quá khứ vô lượng hạnh nguyện tương tục làm thành.

Năm là do quá khứ vô lượng tu các phước trí tâm không nhàm đủ làm thành.

Sáu là do quá khứ vô lượng cúng dường chư Phật giáo hóa chúng sanh làm thành.

Bảy là do quá khứ vô lượng trí tuệ phương tiện thanh tịnh đạo làm thành.

Tám là do quá khứ vô lượng thanh tịnh công đức tạng làm thành.

Chín là do quá khứ vô lượng trang nghiêm đạo trí làm thành.

Mười là do quá khứ vô lượng thông đạt pháp nghĩa làm thành.

Vô lượng a-tăng-kỳ pháp môn viên mãn như vậy làm thành Như Lai.

Đây là mười nhân duyên của thuở quá khứ mà đức Như Lai xuất hiện. Nếu người tu mong ngày nào đó xuất hiện như Phật thì mười nhân quá khứ này không thể thiếu. Nếu thiếu thì không thể xuất hiện như Phật, không thể thành Phật. Mười nhân duyên này, tuy nói là của Phật song chính là dạy những người tu chúng ta.

Nhân duyên thứ nhất là do thuở quá khứ phát Bồ-đề tâm, như chúng ta đã học là do chánh tín rồi phát Bồ-đề tâm, để nhiếp thọ tất cả chúng sanh. Thử hỏi ai tu muốn thành Phật mà thiếu phát Bồ-đề tâm có thể thành được không? Đó là nguyên do không thể thiếu được.

Nhân duyên thứ hai là do vô lượng chí nguyện thanh tịnh thù thắng. Phát Bồ-đề tâm rồi mà không lập chí nguyện tiến mãi không dừng, đời đời kiếp kiếp không chán, thì có thể thành tựu không? Vì thế, kế việc phát Bồ-đề tâm là lập chí thệ nguyện tiến tới, không bao giờ lay chuyển. Đó là điều tối cần đối với người muốn thành Phật.

Nhân duyên thứ ba là tâm đại từ bi cứu hộ tất cả chúng sanh. Đã có chí nguyện tiến tu, kế đến phải khởi lòng từ bi độ chúng sanh.

Nhân duyên thứ tư là vô lượng hạnh nguyện tương tục. Khởi lòng từ bi mà không khởi công hạnh tiếp tục thực hiện, lòng từ bi ấy có thể đầy đủ được không? Vì thế sau khi khởi lòng từ bi liền khởi hạnh nguyện, tức là khởi công hạnh lợi tha. Phát Bồ-đề tâm, lập chí, khởi tâm từ bi, rồi khởi hạnh lợi tha là bốn điều do vô lượng quá khứ tu pháp cứu cánh, tâm không nhàm đủ.

Nhân duyên thứ năm là tu các phước trí, tức là vừa tu tuệ vừa tu phước, hai cái lúc nào cũng song hành.

Nhân duyên thứ sáu là cúng dường chư Phật, giáo hóa chúng sanh. Trên đối với chư Phật thì thành tâm cung kính cúng dường, dưới đối với chúng sanh lúc nào cũng sẵn sàng dạy dỗ. Đó là lòng chân thành của người cầu Phật đạo.

Nhân duyên thứ bảy là do trí tuệ phương tiện thanh tịnh đạo làm thành, tức là nhờ trí tuệ khéo tạo nhiều phương tiện nên tâm được thanh tịnh.

Nhân duyên thứ tám là do vô lượng thanh tịnh công đức tạng làm thành, tức là do công đức chứa nhóm thường thanh tịnh mà được.

Nhân duyên thứ chín là do vô lượng trang nghiêm đại trí làm thành. Chúng ta thường nghe nói Bồ-tát trang nghiêm tịnh độ, trang nghiêm bằng cách nào? Dùng trí giáo hóa chúng sanh, đó là trang nghiêm cõi Phật.

Nhân duyên thứ mười là do vô lượng thông đạt pháp nghĩa làm thành, tức là do hiểu thấu đạo lý của Phật nên thành tựu được quả vị Phật.

Đó là mười nhân duyên quá khứ mà người tu phát khởi hạnh nguyện mong thành Phật đều phải đầy đủ, nếu thiếu thì không thể thành tựu. Mười nhân duyên này chỉ là nói gọn của mười vô lượng trăm ngàn vô số sự mà Như Lai xuất hiện, nếu thiếu thì không thể thành tựu. Vô lượng a-tăng-kỳ pháp môn viên mãn như vậy làm thành Như Lai, Phật có vô lượng pháp môn không thể tính kể mới thành tựu sự xuất hiện nơi đời.

Chư Phật tử! Ví như Đại thiên thế giới này chẳng phải do một duyên, chẳng phải do một sự mà được thành tựu, phải do vô lượng duyên, vô lượng sự mới được thành. Những là nổi giăng mây lớn, tuôn xối mưa lớn, bốn thứ phong luân nổi tiếp làm sở y.

Thí dụ về sự thành lập thế giới, do nhiều nhân duyên, vô lượng sự mới thành. Đầu tiên do trong hư không nổi lên những đám mây to lớn, sau đó có những trận mưa to xối xuống, kế nổi bốn thứ gió tiếp tục, mới trụ thành thế giới.

Gì là bốn thứ?

Một tên là năng trì, vì hay trì đại thủy.

Hai tên là năng tiêu, vì hay tiêu đại thủy.

Ba tên là kiến lập, vì kiến lập tất cả xứ sở.

Bốn tên là trang nghiêm, vì trang nghiêm phân bố đều thiện xảo.

Công năng của phong luân, thứ nhất là gìn giữ nước; thứ hai là hay làm nước tiêu, tức là làm nước bốc hơi; thứ ba là kiến lập, tức là do nơi gió làm tụ lại những phần đất đai khiến nổi lên cồn đảo ở trong nước thành ra lục địa; thứ tư là công năng phân bố trang nghiêm thế giới là tùy theo duyên của chúng sanh mà chỗ thì tốt, chỗ thì xấu, chỗ màu mỡ, chỗ núi non... Như vậy thế giới hình thành do biết bao nhân duyên, nhưng nói gọn là do mây, mưa, gió. Nhờ gió mới giữ được nước, có phong luân rồi có lục địa. Chúng sanh nương thế giới mà sanh sống, tùy nghi sử dụng.

Như trên đây đều do cộng nghiệp của chúng sanh và thiện căn của chư Bồ-tát phát khởi, làm cho tất cả chúng sanh trong đó đều tùy sở nghi mà được thọ dụng.

Vô lượng nhân duyên như vậy mới thành Đại thiên thế giới. Pháp tánh như vậy không có sanh giả, không có tác giả, không có tri giả, không có thành giả, nhưng Đại thiên thế giới vẫn được thành tựu.

Đây chỉ ra các pháp thành tựu mà không có người sanh, không có người tạo, không có người biết, không có người làm thành nhưng thế giới vẫn được thành.

Theo quan niệm thông thường trước hết là do có ông chủ cất nhà, rồi sắp bày bàn ghế, tủ giường có trật tự, người ta liền nói nhà có chủ, tức là có tác giả. Từ trong gia đình ra ngoài vũ trụ, người ta thấy trong vũ trụ có núi sông, biển cả, đất bằng. Đất bằng để cất nhà làm vườn, sông đem nước tới để sinh hoạt, cày cấy, núi non để cây cối sanh trưởng. Thấy dường như có sự sắp đặt nên người ta quan niệm có tạo hóa làm tác giả, hay có sanh giả.

Người học Phật thì không quan niệm như vậy. Vì sao? Các pháp đều do duyên hợp lại thành, không có tác giả, sanh giả, thành giả. Tuy không có người tạo, người làm, người sanh, nhưng thế giới vẫn thành tựu. Xem xét kỹ vấn đề, chúng ta thấy quan niệm có đấng tạo hóa là chỉ do tưởng tượng, không đúng lý thật. Nếu trong thế giới có một đấng tạo hóa, vậy khi tạo ra thế giới tạo hóa ở đâu? Vì lúc đó chưa có thế giới? Hình dáng tạo hóa ra sao, giống con người không? Nếu có hình tướng như chúng ta thì ai sanh ra tạo hóa? Cứ vậy mà đi trong vòng lẩn quẩn.

Cũng vậy, Như Lai xuất hiện chẳng phải do một duyên, chẳng phải do một sự mà được thành tựu, phải do vô lượng duyên vô lượng sự mới thành tựu được. Những là từng ở chỗ Phật quá khứ lắng nghe thọ trì đại pháp vân, đại pháp vũ. Do đây có thể khởi Như Lai bốn thứ đại trí phong luân.

Đây nói về thế giới thành tựu để thí dụ cho đức Phật ra đời. Thế giới xuất hiện có nhiều nhân duyên, thì đức Phật ra đời cũng có nhiều nhân duyên. Nhân duyên quan trọng nhất là do quá khứ ngài đã từng ở chỗ chư Phật nghe pháp, nhờ nghe pháp mới khởi ra bốn thứ đại trí của Như Lai.

Một là đại trí phong luân đà-la-ni niệm trì chẳng quên, vì hay trì tất cả đại pháp vân đại pháp vũ của Như Lai.

Trí thứ nhất là Đà-la-ni niệm trì chẳng quên. Đà-la-ni là Tổng trì, nghĩa là hay nghĩ nhớ lời chư Phật quá khứ chỉ dạy không quên.

Hai là đại trí phong luân xuất sanh chỉ quán, vì hay tiêu diệt tất cả phiền não.

Trí thứ hai là xuất sanh chỉ quán. Chỉ quán phương pháp thiền định, do dùng phương pháp thiền định này mà dứt trừ tất cả phiền não.

Ba là đại trí phong luân hồi hướng thiện xảo, vì hay thành tựu tất cả thiện căn.

Trí thứ ba là hồi hướng thiện xảo, nghĩa là khéo léo hồi hướng để đầy đủ những căn lành.

Bốn là đại trí phong luân xuất sanh ly cấu sai biệt trang nghiêm, vì khiến quá khứ những chúng sanh được hóa độ, thiện căn của họ thanh tịnh, thành tựu sức thiện căn vô lậu của Như Lai.

Trí thứ tư là xuất sanh ly cấu sai biệt trang nghiêm. Ly cấu là lìa tất cả các thứ nhơ nhớp. Phật dùng đại trí chỉ dạy tất cả chúng sanh tùy theo căn cơ, kẻ cao dạy cao, người thấp dạy thấp, kẻ sân dạy phương pháp trị sân, người si dạy phương pháp trị si... để họ lìa các cấu nhiễm. Vì dạy chúng sanh căn cơ không đồng nên gọi là sai biệt trang nghiêm. Tùy theo căn tánh của mỗi chúng sanh, dạy dỗ cho họ được thanh tịnh, do đó thành tựu sức thiện căn vô lậu của Như Lai.

Bốn trí này là gốc để đức Phật ra đời.

Đức Như Lai thành Đẳng chánh giác như vậy, pháp tánh như vậy, vô sanh vô tác mà được thành tựu.

Khi đức Phật thành Đẳng chánh giác là ngài thể nhập pháp tánh. Pháp tánh ấy không sanh diệt nên gọi là vô sanh, không phải là pháp tạo tác nên gọi là vô tác, mà vẫn thành tựu nhân duyên để Như Lai xuất hiện. Thế giới không có sanh giả, không có tác giả mà vẫn thành tựu, đây nói Phật thể nhập pháp tánh không sanh, không tác cũng được thành tựu.

Đây là tướng xuất hiện thứ nhất của đức Như Lai Đẳng chánh giác, chư đại Bồ-tát phải biết như vậy.

Từ trước đến đây, chúng ta mới học tướng xuất hiện thứ nhất của đức Phật.

Lại nữa, chư Phật tử! Ví như Đại thiên thế giới lúc sắp thành mây lớn tuôn mưa gọi là hồng chú. Tất cả phương xứ chẳng thể thọ, chẳng thể trì, chỉ trừ Đại thiên thế giới lúc sắp thành. Cũng vậy, đức Như Lai Đẳng chánh giác nối đại pháp vân, tuôn đại pháp vũ, gọi là thành tựu Như Lai xuất hiện, tất cả hàng Nhị thừa tâm chí hẹp kém không thọ được, không trì được, chỉ trừ sức tâm tương tục của chư đại Bồ-tát.

Đây là tướng xuất hiện thứ hai của đức Như Lai Đẳng chánh giác, đại Bồ-tát phải biết như vậy.

Tướng xuất hiện thứ hai khi đức Phật ra đời, ngài nói pháp Đại thừa cao tột, hàng Thanh văn Duyên giác không thể nào thu nhận nổi, chỉ trừ chư đại Bồ-tát. Chẳng khác nào một trận mưa to khi thế giới sắp thành, lúc đó không chỗ nào chịu nổi, chỉ có Đại thiên thế giới chứa nổi. Thế giới Đại thiên thí dụ cho chư đại Bồ-tát có sức tâm tương tục mới nghe thọ được mưa pháp của Như Lai, còn hàng Thanh văn Duyên giác nghe không được.

Lại nữa, chư Phật tử! Ví như chúng sanh vì do nghiệp lực, mây lớn tuôn mưa, đến không từ đâu, đi không về đâu.

Thí dụ thứ ba như mây lớn tuôn mưa, song mưa đó không từ đâu đến, đi cũng không về đâu. Đó là do nghiệp lực của chúng sanh mà hiện, không nói từ nơi chốn nào. Thật ra đó chỉ là duyên hợp như huyễn, đến không có chỗ nơi, đi không có chỗ về.

Cũng vậy, đức Như Lai Đẳng chánh giác, do sức thiện căn của chư Bồ-tát, nổi đại pháp vân, tuôn đại pháp vũ, cũng đến không từ đâu, đi chẳng đến đâu.

Đây là tướng xuất hiện thứ ba của đức Như Lai Đẳng chánh giác, đại Bồ-tát phải biết như vậy.

Tướng xuất hiện thứ ba của chư Phật, do sức thiện căn của chư Bồ-tát nên tuôn mưa pháp cho chư đại Bồ-tát. Những lời nói pháp ấy xuất phát từ đức Phật là có chỗ đi, lọt vào tai chư Bồ-tát là có chỗ đến. Tại sao đức Phật nói pháp lớn như vậy mà đến không từ đâu, đi chẳng về đâu? Vì Như Lai xuất hiện là pháp thân vô ngã không có năng sở, vì không năng sở nên không có chỗ đến, không có chỗ đi.

Lại nữa, chư Phật tử! Ví như mây lớn tuôn xối mưa lớn. Trong Đại thiên thế giới tất cả chúng sanh không biết được số. Nếu muốn tính đếm, chỉ luống phát cuồng. Duy có Ma-hê-thủ-la, chủ của Đại thiên thế giới, do sức thiện căn đã tu từ quá khứ, nhẫn đến một giọt đều biết rõ cả.

Tướng xuất hiện thứ tư thí như cơn mưa to, chúng sanh không ai có thể đếm hết bao nhiêu giọt mưa, muốn tính đếm hết càng thêm cuồng loạn. Chỉ có Ma-hê-thủ-la chủ của Đại thiên thế giới, do có thiện căn nhiều đời nên có thể đếm biết không sót một giọt.

Cũng vậy, đức Như Lai Đẳng chánh giác nổi đại pháp vân, tuôn đại pháp vũ, tất cả chúng sanh, Thanh văn, Duyên giác đều không biết được. Nếu muốn nghĩ lường tâm ắt cuồng loạn. Chỉ trừ đại Bồ-tát, chủ của tất cả thế gian, do sức giác tuệ đã tu từ khứ, nhẫn đến một văn một câu nhập vào tâm chúng sanh đều biết rõ cả.

Đây là tướng xuất hiện thứ tư của đức Như Lai Đẳng chánh giác. Đại Bồ-tát phải biết như vậy.

Trước dùng dụ mưa lớn, chúng sanh không tính đếm được số giọt nước mưa, chỉ có Ma-hê-thủ-la mới biết được. Cũng vậy, khi Phật xuất hiện nói đại pháp quá cao siêu nên hàng phàm phu, Nhị thừa, Duyên giác muốn biết mà không được, chỉ luống nhọc sanh cuồng. Chỉ có hàng Bồ-tát do sức giác ngộ ở đời quá khứ nên mới thâm nhập được từng câu từng chữ.

Đoạn này có hai ý: Ý thứ nhất nói theo thiền sư, sở dĩ các hàng Thanh văn, Duyên giác không thể nghe được là vì khởi tâm phân biệt, khởi tâm phân biệt nên chỉ phát cuồng loạn mà không thể hiểu được. Ý thứ hai nói theo kinh giáo thì hàng Thanh văn, Duyên giác trí hẹp thấy cạn nên không hiểu được lý sâu xa. Hàng Bồ-tát đã gieo chủng tử căn lành quá khứ từ nhiều đời nên các ngài mới kham lãnh thọ.

Lại nữa, chư Phật tử! Ví như lúc mây lớn tuôn mưa, có mây lớn mưa lớn tên là Năng diệt, diệt được hỏa tai. Có mây lớn mưa lớn tên là Năng khởi, hay khởi đại thủy. Có mây lớn mưa lớn tên là Năng chỉ, hay ngăn đại thủy. Có mây lớn mưa lớn tên là Năng thành, hay thành tất cả các báu ma-ni. Có mây lớn mưa lớn tên Phân biệt, hay phân biệt Tam thiên đại thiên thế giới.

Cũng vậy, đức Như Lai xuất hiện nổi đại pháp vân, tuôn đại pháp vũ. Có đại pháp vũ tên là Năng diệt, hay diệt tất cả phiền não chúng sanh. Có đại pháp vũ tên là Năng khởi, hay khởi tất cả thiện căn của chúng sanh. Có đại pháp vũ tên là Năng chỉ, hay ngăn kiến hoặc của tất cả chúng sanh. Có đại pháp vũ tên là Năng thành, hay thành tất cả trí tuệ pháp bảo. Có đại pháp vũ tên là Phân biệt, phân biệt tất cả tâm sở thích của chúng sanh.

Đây là tướng xuất hiện thứ năm của đức Như Lai Đẳng chánh giác, đại Bồ-tát phải biết như vậy.

Tướng xuất hiện thứ năm của đức Phật, lại dùng bốn thí dụ. Như mây lớn tên Năng diệt, Năng khởi, Năng chỉ, Năng thành. Khi Như Lai xuất hiện ngài nói pháp có công năng diệt các phiền não cho chúng sanh. Pháp của Phật có công năng khởi tất cả căn lành cho chúng sanh, có công năng dừng tất cả kiến hoặc của chúng sanh, có công năng thành tất cả trí tuệ pháp bảo cho chúng sanh, có công năng phân biệt tất cả tâm sở thích của chúng sanh.

Khi thế giới lập thành, mây lớn tuôn mưa có công năng lợi ích cho thế gian. Khi chư Phật xuất hiện nơi đời, nổi lên mây mưa đại pháp có năm công năng lợi ích cho chúng sanh. Đó là điều đặc biệt quý trọng.

Lại nữa, chư Phật tử! Ví như mây lớn tuôn nước đồng một vị mà tùy những chỗ mưa có vô lượng sai biệt. Cũng vậy, đức Như Lai xuất hiện tuôn đại bi pháp thủy đồng một vị mà tùy sở nghi thuyết pháp có vô lượng sai biệt.

Đây là tướng xuất hiện thứ sáu của đức Như Lai Đẳng chánh giác, đại Bồ-tát phải biết như vậy.

Tướng xuất hiện thứ sáu của Như Lai, như mây lớn tuôn mưa chỉ có một vị, Phật xuất hiện thuyết pháp chỉ một vị, nhưng vì căn lượng sai biệt của chúng sanh nên có vô lượng pháp sai biệt. Đó là do chúng sanh, không phải do tâm bất bình đẳng của Phật.

Lại nữa, chư Phật tử! Ví như Đại thiên thế giới, lúc mới bắt đầu thành, trước hết thành cung điện của trời cõi Sắc, kế đến thành cung điện của trời cõi Dục, kế đến thành chỗ ở của loài người và những loài khác.

Cũng vậy, đức Như Lai xuất hiện, trước hết khởi những hạnh trí tuệ Bồ-tát, kế khởi những hạnh trí tuệ Duyên giác, kế khởi những hạnh trí tuệ thiện căn Thanh văn, kế khởi những hạnh trí tuệ thiện căn hữu vi của các chúng sanh khác.

Như mây lớn tuôn nước một vị, vì theo thiện căn của chúng sanh sai khác nên khởi các loại cung điện chẳng đồng. Đại bi pháp vũ nhất vị của Như Lai tùy căn khí của chúng sanh mà có sai khác.

Đây là tướng xuất hiện thứ bảy của đức Như Lai Đẳng chánh giác, đại Bồ-tát phải biết như vậy.

Tướng xuất hiện thứ bảy của Như Lai, dùng thí dụ chỗ thành lập thế giới bắt đầu từ cung điện trời Sắc giới... cho đến chỗ ở các loài.

Thế giới chúng ta ở tùy theo phước duyên đã tạo. Cõi trời thì cung điện sẵn dành, hưởng đủ thứ vui ngũ dục. Cõi người thì phải tự tạo dựng mới có nhà ở, cơm ăn, áo mặc. Đó là do nghiệp lực của chúng sanh mà có sai biệt.

Hợp pháp về Như Lai xuất hiện, trước hết ngài làm khởi lên hạnh trí tuệ của Bồ-tát, kế đến khởi hạnh của Duyên giác, kế đến khởi hạnh của Thanh văn, rồi đến khởi những hạnh trí tuệ hữu vi của chúng sanh. Tất cả đồng nghe một pháp Phật nói, nhưng kết quả sai biệt vì căn cơ sai biệt, không phải đức Phật thuyết pháp không đồng. Trong một hội nghe pháp mà có người thành tựu quả Bồ-tát, có người thành Thanh văn, Bích-chi...

Tôi lấy thí dụ nơi chính mình. Những gì tôi biết thì tôi nói ra cho mọi người cùng hiểu. Nhưng nếu có người chưa từng biết tu đến hỏi đạo, làm sao tôi chỉ dạy về Tối thượng thừa thiền hay nói các pháp đều như huyễn? Đối với người mới học thì phải nói các pháp nhân quả, làm nhân lành hưởng quả lành, làm nhân ác bị quả ác. Như vậy mới dễ hiểu dễ nhận, nếu dạy tu thì bắt đầu dạy thọ tam quy ngũ giới... Chúng ta tùy trình độ sai biệt mà nói pháp có thấp cao. Đức Phật cũng vậy, vì trình độ sai biệt của chúng sanh, tùy nghi nói pháp làm khởi lên tất cả hạnh sai khác.

Lại nữa, chư Phật tử! Ví như lúc thế giới ban đầu sắp thành, có đại thủy khởi đầy khắp Đại thiên thế giới, sanh hoa sen lớn tên là Như Lai xuất hiện công đức bảo trang nghiêm, che khắp trên mặt nước, ánh sáng chiếu tất cả thế giới mười phương. Lúc đó Ma-hê-thủ-la và Tịnh Cư thiên thấy hoa sen đó, liền quyết định biết trong kiếp này có bao nhiêu đức Phật như vậy xuất thế.

Bấy giờ trong đó có phong luân nổi lên tên là Thiên tinh quang minh hay làm thành cung điện chư thiên cõi Sắc. Lại có phong luân tên là Tịnh quang trang nghiêm hay thành cung điện chư thiên cõi Dục. Lại có phong luân tên là Kiên mật vô năng hoại hay thành những đại và tiểu Luân Vi Sơn cùng Kim Cang Sơn. Lại có phong luân tên là Thắng cao hay thành núi Tu-di. Lại có phong luân tên là Bất động hay thành mười núi lớn là núi Khư-đà-la, núi Tiên Nhân, núi Phục Ma, núi Đại Phục Ma, núi Trì Song, núi Di-dân-đà-la, núi Mục-chân-lân-đà, núi Ma-ha Mục-chân-lân-đà, Hương Sơn và Tuyết Sơn. Có phong luân tên là An trụ hay thành đại địa. Có phong luân khởi tên là Trang nghiêm hay thành cung điện của Địa thiên, Long cung, Càn-thát-bà cung. Có phong luân khởi tên là Vô tận tạng hay thành tất cả đại hải trong Đại thiên thế giới. Có phong luân khởi tên là Phổ quang minh tạng hay thành những ma-ni bảo trong Đại thiên thế giới. Có phong luân khởi tên là Kiên cố căn hay thành tất cả Như Ý thọ.

Mây lớn tuôn mưa một thứ nước đồng một vị không có sai khác. Do chúng sanh thiện căn chẳng đồng nên phong luân chẳng đồng. Phong luôn sai khác nên thế giới sai khác.

Cũng vậy, Như Lai xuất hiện đầy đủ thiện căn công đức, phóng quang minh đại trí vô thượng tên là Trí bất tư nghì chẳng dứt Như Lai chủng, chiếu khắp tất cả thế giới mười phương, thọ Như Lai quán đảnh ký cho chư Bồ-tát sẽ thành Chánh giác xuất hiện ra đời.

Đây dùng thí dụ về thế giới của chúng ta tuần tự mà thành từ trên xuống dưới. Sự thành tựu đó gốc từ trời mưa, mưa rồi nổi gió, tùy theo mỗi vùng, gió tụ đất thành núi, có những vùng gió biến động tùy theo nghiệp của chúng sanh. Gió là nghiệp, là động. Trong thân người, gió là hơi thở, tâm ý theo hơi thở mà tiếp nối liên tục phát khởi ra hoạt động, những hoạt động đó là gốc tạo nghiệp. Vì thế nói gió làm thành tựu cho đất, nước, lửa... tùy theo nghiệp cao thấp của chúng sanh. Như kinh nói, mưa thì chỉ có một vị mà do căn tánh của chúng sanh cao thấp, nên gió khởi lên những cảnh sai biệt.

Đức Phật cũng thế, ngài phóng hào quang đại trí vô thượng tên là Trí bất tư nghì chẳng dứt hạt giống Như Lai, chiếu khắp mười phương thế giới, các Bồ-tát đều được được quán đảnh và đều được thọ ký thành Phật. Như Lai xuất hiện nơi đời để cứu độ chúng sanh, chỉ có một việc ấy thôi, nhưng vì căn tánh chúng sanh không đều, nên xuất hiện quang minh đại trí có nhiều tên khác nhau.

Chư Phật tử! Như Lai xuất hiện lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Thanh tịnh ly cấu hay thành Phật trí vô lậu vô tận.

Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Phổ chiếu hay thành Trí bất tư nghì Như Lai khắp vào pháp giới.

Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Trì Phật chủng tánh hay thành Sức chẳng khuynh động của Như Lai.

Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Quýnh xuất vô năng hoại hay thành Trí vô úy vô hoại của Như Lai.

Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Nhất thiết thần thông hay thành Những pháp bất cộng nhất thiết chủng trí của Như Lai.

Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Xuất sanh biến hóa hay thành Trí chẳng hư mất của Như Lai khiến người thấy nghe thân cận sanh thiện căn.

Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Phổ tùy thuận hay thành Thân trí tuệ phước đức của Như Lai, vì tất cả chúng sanh mà làm lợi ích.

Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Bất khả cứu cánh hay thành Diệu trí thậm thâm của Như Lai, tùy chỗ khai ngộ làm cho Tam bảo chủng vĩnh viễn chẳng đoạn tuyệt.

Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Chủng chủng trang nghiêm hay thành Thân tướng hảo trang nghiêm của Như Lai, khiến tất cả chúng sanh đều hoan hỷ.

Lại có quang minh đại trí vô thượng tên là Bất khả hoại hay thành Thọ mạng thù thắng vô tận đồng với hư không giới pháp giới của Như Lai.

Đây là tướng Như Lai xuất hiện thứ tám, có nhiều quang minh. Hào quang trí vô thượng tên Thanh tịnh ly cấu, hay thành tựu Phật trí vô lậu. Hào quang đại trí vô thượng tên Phổ chiếu hay thành tựu Trí bất tư nghì Như Lai khắp vào pháp giới. Lại có hào quang đại trí vô thượng tên là Trì Phật chủng tánh, hào quang đại trí vô thượng tên là Quýnh xuất vô năng hoại... Mỗi mỗi hào quang trí lớn vô thượng có nhiều công năng thành tựu tất cả pháp của Như Lai, khiến lợi ích cho chúng sanh, khiến người nghe thân cận sanh thiện căn, khiến thành thọ mạng vô tận... Bao nhiêu hào quang sai biệt đều xuất hiện cùng một thể tánh chân thật.

Chư Phật tử, nước một vị đại bi của Như Lai không có phân biệt, vì các chúng sanh sở thích chẳng đồng căn tánh đều khác nên khởi nhiều thứ phong luân sai khác, khiến các Bồ-tát thành tựu pháp Như Lai xuất hiện.

Tất cả Như Lai đồng một thể tánh, trong đại trí phong luân xuất sanh các thứ trí tuệ quang minh.

Chư Phật tử phải biết, đức Như Lai ở nơi một vị giải thoát, xuất sanh vô lượng bất tư nghì các thứ công đức. Chúng sanh nghĩ rằng đây là thần lực của Như Lai tạo ra.

Như Lai chỉ ở nơi một vị giải thoát mà hiện ra các công đức khác nhau, chúng sanh tưởng rằng thần lực của Như Lai có nhiều sai khác.

Chư Phật tử! Đây chẳng phải thần lực của Như Lai tạo ra.

Chư Phật tử! Chẳng bao giờ có nhẫn đến một Bồ-tát chẳng ở nơi chỗ Phật từng gieo căn lành mà có thể được ít phần trí tuệ của Như Lai.

Có các Bồ-tát đến pháp hội nghe Phật nói pháp, liền được thần thông quảng đại, chúng ta nghĩ rằng các Bồ-tát đó là do thần lực của Phật tạo ra. Phật bảo chẳng phải, sở dĩ các Bồ-tát được thần thông tự tại như trên là do gốc đã gieo căn lành ở chỗ chư Phật nhiều đời, nếu không từng gieo căn lành thì không thể được ít phần trí tuệ. Như vậy chứng tỏ chỉ người có công tu tập mới được, không có thứ gì từ người khác mà được. Đến khi người ta hiểu lầm, không chịu lo tu rồi đinh ninh đến nơi đó nơi kia... khiến mình được thần thông, trí tuệ.

Phật phóng quang chiếu khắp mười phương, thọ ký cho các Bồ-tát được thành Phật. Các Bồ-tát được điều đặc biệt này chính là nhờ công đức tu tập của các ngài đã chín muồi, đã đầy đủ nên được hào quang của Phật chạm đến thọ ký cho. Đây nói chẳng bao giờ có nhẫn đến một Bồ-tát, chẳng ở nơi chỗ Phật từng gieo căn lành mà có thể được ít phần trí tuệ của Như Lai, tất cả đều như vậy.

Chỉ do sức oai đức của chư Phật khiến các chúng sanh đủ công đức của Phật. Mà đức Phật Như Lai không phân biệt, không thành không hoại, không có tác giả, cũng không có pháp làm.

Đây là tướng xuất hiện thứ tám của đức Như Lai Đẳng chánh giác, chư đại Bồ-tát phải biết như vậy.

Tại sao nói oai đức của chư Phật khiến các chúng sanh được đủ công đức của Phật? Phải hiểu đúng nghĩa nếu không sẽ bị lầm. Oai đức của Phật tức là do Phật dùng oai đức cảm hóa chúng sanh, khiến họ bỏ tà về chánh, làm lành tránh dữ, từ đó được đầy đủ công đức lành của Phật, không phải do Phật cho chúng sanh công đức.

Đức Phật Như Lai không phân biệt, không thành không hoại, không có tác giả, cũng không có pháp làm. Đây có hai lối giải thích: Thứ nhất, nhìn theo Phật bên ngoài. Đức Phật đã thành Phật đầy đủ oai đức giáo hóa chúng sanh dễ dàng, nên chúng sanh thấy ngài liền mến. Đã cảm mến thì ngài dạy họ tu bỏ ác làm lành, chuyển xấu thành tốt không khó, do đó họ được bao nhiêu công đức. Dù Phật dạy chúng sanh nhưng tâm ngài vẫn thanh tịnh, không chấp trước, không phân biệt, vì thế nói không phân biệt, không thành không hoại, tức là giáo hóa mà không mong thành công, đã không mong thành công nên không thấy có thành hoại.

Thứ hai, nhìn theo Phật bên trong. Nơi mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, từ Phật tánh đó khởi ra diệu dụng, nên nói từ oai đức chư Phật khiến các chúng sanh đầy đủ căn lành, bao nhiêu niệm thiện dấy lên đều gốc từ Căn bản trí hay là Phật tánh. Phật tánh bất sanh bất diệt, không thành không hoại, không có tác giả, không thấy có pháp tạo tác. Tóm lại, oai đức của Phật là chỉ cho oai đức của Phật tánh khiến chúng ta được những căn lành. Phật tánh vô phân biệt, không thành không hoại, không có tác giả, không có tác pháp.

Lại nữa, chư Phật tử! Như y hư không khởi bốn phong luân hay giữ lấy thủy luân: một tên là an trụ, hai tên là thường trụ, ba tên là cứu cánh, bốn tên là kiên cố.

Bốn phong luân này hay giữ lấy thủy luân. Thủy luân hay giữ lấy đại địa cho khỏi tan hư.



Vì thế nên nói địa luân y nơi thủy luân, thủy luân y nơi phong luân, phong luân y nơi hư không, hư không không chỗ y. Dầu không chỗ y mà hư không có thể làm cho Đại thiên thế giới được an trụ.

Cũng vậy, Như Lai xuất hiện y nơi quang minh vô ngại tuệ phát khởi bốn thứ đại trí phong luân của Phật hay giữ lấy thiện căn của tất cả chúng sanh.

Một là đại trí phong luân nhiếp khắp chúng sanh đều làm cho hoan hỷ.

Hai là đại trí phong luân kiến lập chánh pháp khiến các chúng sanh đều sanh ưa thích.

Ba là đại trí phong luân giữ gìn thiện căn của tất cả chúng sanh.

Bốn là đại trí phong luân đủ tất cả phương tiện thông đạt vô lậu giới.

Chư Phật Thế Tôn đại từ cứu hộ tất cả chúng sanh, đại bi độ thoát tất cả chúng sanh, đại từ đại bi lợi ích khắp cả. Nhưng đại từ đại bi y đại phương tiện thiện xảo. Phương tiện thiện xảo y Như Lai xuất hiện. Như Lai xuất hiện y vô ngại tuệ quang minh. Vô ngại tuệ quang minh không chỗ y.

Đây là tướng xuất hiện thứ chín của đức Như Lai Đẳng chánh giác, đại Bồ-tát phải biết như vậy.

Đây là tướng xuất hiện thứ chín, dùng thí dụ nói về chỗ vô y, không có chỗ y cứ mà công năng vô cùng vô tận. Như quả địa cầu này, địa luân là phần đất, đất y cứ vào nước, nước y cứ vào gió, gió y cứ vào hư không. Hư không y cứ vào đâu? Hư không không có chỗ y cứ nhưng giữ được quả địa cầu. Tất cả hành tinh đều nằm trong hư không, mà hư không không nương vào đâu.

Dùng thí dụ hợp pháp trước tiên, nói lòng đại từ đại bi của Thế Tôn làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, lòng đại từ đại bi ấy y cứ vào phương tiện thiện xảo. Phương tiện thiện xảo y cứ vào Như Lai xuất hiện. Như Lai xuất hiện y cứ vào vô ngại tuệ quang minh, tức là Phật tánh, chân tâm hay viên giác tánh. Vì vậy vô ngại tuệ quang minh này không còn sở ngại, nó là chỗ viên mãn cứu cánh không còn y. Như hư không không có chỗ tựa mà hay bảo vệ tất cả thế giới, cũng vậy Phật tánh không có chỗ tựa mà hay sanh ra tất cả pháp.

Lại nữa, chư Phật tử! Ví như Đại thiên thế giới đã thành tựu rồi, nhiêu ích vô lượng chúng sanh. Những loài thủy tộc được lợi ích nơi nước. Lục địa chúng sanh được lợi ích nơi đất liền. Cung điện chúng sanh được lợi ích nơi cung điện. Hư không chúng sanh được lợi ích nơi hư không.

Cũng vậy, Như Lai xuất hiện nhiều thứ lợi ích cho vô lượng chúng sanh. Những là người thấy Phật sanh hoan hỷ thời được lợi ích nơi sự hoan hỷ. Kẻ an trụ nơi tịnh giới thời được lợi ích nơi tịnh giới. Kẻ trụ nơi các thiền định và môn vô lượng thời được lợi ích nơi Thánh xuất thế đại thần thông Kẻ trụ pháp môn quang minh thời được lợi ích nhân quả chẳng hoại. Kẻ trụ vô sở hữu quang minh thời được lợi ích tất cả pháp chẳng hoại. Vì thế nên nói rằng đức Như Lai xuất hiện lợi ích tất cả vô lượng chúng sanh.

Đây là tướng xuất hiện thứ mười của đức Như Lai Đẳng chánh giác, đại Bồ-tát phải biết như vậy.

Tướng xuất hiện thứ mười, dùng thí dụ giải thích về những lợi ích khi Như Lai xuất hiện. Như thế giới thành tựu rồi thì tới nước, nước làm lợi ích cho cá và các loài thủy tộc. Đất làm lợi ích cho chúng ta và các loài thú. Hư không lợi ích cho các loài chim, chỗ nào cũng có lợi ích.

Đức Phật ra đời khiến tất cả chúng sanh đều có lợi ích. Người nào thấy Phật sanh tâm hoan hỷ thì có lợi ích nơi hoan hỷ. Được gặp Phật là nhân, sau này thành tựu quả Phật dễ dàng, vì thế trong tâm sanh hoan hỷ. Người an trụ tịnh giới thì được lợi ích của tịnh giới, chúng ta nương nơi Phật mà được thọ giới, thọ giới rồi gìn giữ thanh tịnh, thế là được lợi ích giới thanh tịnh. Người an trụ nơi thiền định và các môn vô lượng tức là tứ vô lượng tâm, thời được lợi ích Thánh xuất thế đại thần thông, vì độc cư thiền định và độc cư tứ vô lượng tâm là nhân của thần thông xuất thế tối thắng. Người trụ trong pháp môn quang minh được lợi ích nhân quả chẳng hoại.

Pháp môn quang minh này có hai cách giảng. Theo các kinh A-hàm, pháp môn quang minh là Tỳ-kheo quán hào quang được ánh sáng trùm khắp. Theo kinh đây, pháp môn quang minh là pháp môn trí tuệ, pháp môn này nhân quả chẳng hoại vì trí tuệ không sanh không diệt. Người trụ nơi vô sở hữu quang minh thì được lợi ích tất cả pháp chẳng hoại. Vô sở hữu là ngoại cảnh, biết ngoại cảnh không thật thì thấy các pháp không lầm, không có thành trụ hoại không. Như Lai xuất hiện lợi ích cho tất cả chúng sanh như thế.

Chư Phật tử! Đại Bồ-tát biết Như Lai xuất hiện thời biết vô lượng, vì biết thành tựu vô lượng hạnh.

Câu này nói rất gọn, nếu đại Bồ-tát biết Như Lai xuất hiện thì biết vô lượng, vì biết thành tựu vô lượng hạnh vậy. Chúng ta muốn biết nguyên nhân Như Lai xuất hiện, tức là muốn biết nguyên nhân tu hành thành Phật. Có nhiều nguyên nhân, tu vô lượng công đức mới thành tựu quả Phật, vì thế nói biết thành tựu vô lượng hạnh.

Thời biết quảng đại, vì biết cùng khắp mười phương.

Như Lai trùm khắp mười phương, nên biết Như Lai là biết khắp mười phương.

Thời biết không lai khứ, vì biết lìa sanh, trụ, diệt.

Kinh Kim Cang nói: “Như Lai vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai”, tức là Như Lai không từ đâu đến cũng không có chỗ đi, vì lìa sanh trụ diệt. Khi nói tôi từ đâu đến thì tất nhiên phải có chỗ đến, có chỗ đến là thấy đến thật có đến, sanh thật có sanh. Nói tôi đi về đâu thì thật có chỗ đi về. Thấy có thân thật cảnh thật thì có đến đi sanh diệt. Pháp thân Phật trùm khắp không tướng mạo, không sanh trụ diệt nên không từ đâu đến, không đi về đâu.

Thời biết vô hành, vô sở hành, vì biết lìa tâm ý thức.

Như Lai xuất hiện là từ pháp thân thị hiện báo thân hóa thân, nhận được pháp thân thì báo thân hóa thân vô hành, vô sở hành. Vô hành nghĩa là vô nhân hành, vô sở hành tức là vô cảnh sở hành. Không thấy có hai, không thấy có Phật là nhân hành, không thấy có pháp là sở hành. Tại sao? Vì biết lìa tâm ý thức, tức là lìa tâm phân biệt ý thức.

Thời biết không thân, vì biết như hư không.

Biết Như Lai xuất hiện là nhận được pháp thân, biết pháp thân không có tướng mạo. Tuy nói pháp thân mà không có thân, rỗng rang như hư không.

Thời biết bình đẳng, vì biết tất cả chúng sanh đều vô ngã.

Biết Như Lai xuất hiện là biết pháp thân, biết pháp thân là biết bình đẳng. Tại sao? Vì không còn thấy có ngã, không còn ta người! Phàm phu chấp có ngã riêng tư nên không biết bình đẳng.

Thời biết vô tận, vì biết khắp tất cả cõi vô tận.

Như Lai xuất hiện là biết pháp thân khắp tất cả chỗ.

Thời biết vô thoái, vì biết tận hậu tế không đoạn tuyệt.

Biết Như Lai xuất hiện là biết vô thoái tức không lui sụt, vì thấy tột mé sau không đoạn dứt. Thường chúng ta chấp có thân có cảnh đang sống trong tam tế: mé trước, mé sau, mé giữa. Thấy có ba mé thì có mất có đoạn. Pháp thân không thuộc về tam tế, suốt tận hậu tế không đoạn dứt.

Thời biết vô hoại, vì biết Như Lai trí không có đối đãi.

Biết Như Lai xuất hiện là biết vô hoại. Vô hoại là trí của Phật vượt qua tất cả phân biệt đối đãi, không còn hoại diệt. Trí của phàm phu là trí đối đãi, khi thấy cảnh, thấy người liền khởi niệm suy nghĩ phân biệt về người về cảnh. Trí ấy khi có người, có cảnh thì có, khi không người, không cảnh thì không. Trí của chư Phật thì hằng còn không mất, không bao giờ hoại được.

Còn tiếp....?

Nguồn : Https://Thientruclam.info


https://vn.shp.ee/QSJXKe5

Address

13 Đường Linh Trung, P Linh Xuân, Tp. Thủ Đức. Tp. Sài Gòn
Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phật Tử Thiền Phái Trúc Lâm posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Phật Tử Thiền Phái Trúc Lâm:

Share