23/01/2025
Cậu nhóc Kôlia bé nhỏ đã làm bạn với một thiên thần. Đó là vào lúc nửa đêm trăng sáng của ngày lễ Phục Sinh, vị thiên thần đã tới giường của Kolia và nói rằng:
- Chúa Kitô đã sống lại!
Kôlia chưa từng nhìn thấy một vị thần nào đẹp tuyệt vời đến thế. Cả thân hình của ngài tỏa ra ánh rực rỡ hào quang, cùng với khuôn mặt rạng ngời và dường như cả bộ quần áo trắng muốt cũng tỏa sáng lung linh rực rỡ. Cậu bé vui vẻ đáp lời.
Nhưng khi Kôlia kể về cuộc gặp gỡ kì diệu ấy thì lại chẳng một ai tin cậu cả. Người lớn thì nghĩ rằng: “Ôi, nó bịa chuyện đây mà, nhưng thôi cứ kệ nó đi. Sau này đi học, nó sẽ khắc quên hết thôi”.
Thời gian dần dần trôi qua trôi qua...
Vào một buổi sáng nọ, Kôlia thức dậy với cảm giác hứng khởi như thể hôm đó là sinh nhật của mình. Nghĩ một chút rồi cậu bé chợt nhớ ra: “À, hôm nay bà ngoại mình sẽ tới chơi! Chắc hẳn là như vậy rồi!”
Kôlia rất yêu bà của mình. Bà tuy có hơi nghiêm khắc, chẳng bao giờ nuông chiều cũng như khen lấy khen để Kôlia, nhưng bà luôn thích ngồi bên cạnh đứa cháu bé nhỏ của mình. Mắt của bà giờ đây đã hơi mờ, tóc cũng đã điểm bạc. Cậu bé luôn thích thú và nóng lòng chờ đợi những câu chuyện kì diệu của bà . Khi đó bà lại mỉm cười và kể cho cậu bé nghe những câu chuyện cổ tích – những câu chuyện mà Kôlia chưa bao giờ được nghe tới hay đọc trong bất kì cuốn sách nào. Mỗi câu chuyện của bà thường kéo dài đến vài buổi chiều. Khi đó, bên ngoài ô cửa sổ, bóng tối đã dần buông, nhưng ở trong phòng, dường như ánh mặt trời vẫn còn tỏa sáng, có lẽ do sức hấp dẫn từ những câu chuyện của bà.
Lời kể của bà thật mạch lạc như thể chính bà là người đã sáng tác ra chúng, nhưng Kôlia lại không nghĩ vậy. Sau những câu chuyện cổ tích, bà kể về những câu chuyện có thật: bà kể về chiến tranh, về những chiến công của ông ngoại cậu bé. Ông ngoại Kôlia đã mất từ lâu, và mẹ của cậu bé luôn muốn đón mẹ về sống với mình. Nhưng làm sao bà ngoại cậu bé lại có thể rời bỏ ngôi làng quê hương, ngôi nhà đầy ắp tình yêu thương, cái sân nhà với bờ rào xiêu vẹo, cái vườn với những cây táo và cây anh đào – mà mỗi khi tháng năm tới lại tỏa ngát hương thơm...
Nhưng những tháng gần đây, bà hay bị mệt trong người, có lẽ bởi vì bà cảm thấy cô đơn. Thế nên, bà sẽ chuyển tới nhà Kôlia. Bố mẹ cậu bé cũng đã chuẩn bị phòng chờ bà tới.
Khi bà bước vào phòng, sau khi nhìn quanh một lượt, việc đầu tiên bà làm đó là mở chiếc vali to màu đen của mình. Kôlia nhìn chiếc vali một cách thích thú. Sau đó, bà tìm và rải ra từ trong đó những bức hình tượng thánh. Những bức hình đó to có, nhỏ có, làm bằng giấy hoặc làm bằng gỗ,... Chúng nằm thành dãy ở trên bàn và những hình ảnh trên đó dường như cũng đang tỏa sáng lên vậy. Cậu bé chớp hàng lông mi, nhìn chúng một cách say mê.
- Bà ơi, đây là ai vậy? – Những ngón tay bé nhỏ chỉ vào bức ảnh Đấng Cứu Thế được mạ vàng. Bà ngoại cậu mỉm cười và nói:
- Đây là vị Chúa của chúng ta mà. Ôi trời, con không hề biết sao?
Rồi bà vừa xoa chỏm tóc của đứa cháu bé bỏng vừa giải thích:
- Còn đây là vị thần hộ mệnh của con – Nhicalai Ugotnhich, Trydotvopez. Và đây là Đức Mẹ đồng trinh – Mẹ của Đức Chúa Trời.
Kôlia bỗng nhiên cười rạng rỡ:
- Bà ơi, con biết Ngài ấy!
Trên bức ảnh được đóng khung ấy là một vị thần da trắng. Nét mặt của ngài tuy nghiêm nghị nhưng đẹp tuyệt vời, và dường như, với đôi mắt sâu thẳm nặng trĩu ấy, Ngài có thể nhìn thấu mọi điều. Trong bàn tay phải của ngài còn có cầm một cây thánh giá.
- Con biết, bà ơi, con biết Ngài ấy! – Kôlia nghẹn lời vì thích thú – Ngài ấy đã tới giường của con! Ngài ấy trông thật đẹp và phúc hậu làm sao. Bà vừa xoa đầu cậu bé vừa im lặng lắng nghe.
- Vậy Ngài ấy lại không đến thăm con nữa sao? Thế khi nào con mơ thấy Ngài ấy, hãy bảo Ngài ấy ấy đến thăm mình một lần nữa, được chứ?
Mẹ của Kôlia đứng cạnh đó bên cánh cửa, lặng lẽ mỉm cười nhưng cảm thấy day dứt, áy náy
- Lena, con sẽ dẫn Kôlia đến nhà thờ chứ? Bà hỏi mẹ cậu bé. – Hả con?
Mẹ Kôlia siết chặt những ngón tay.
Kể từ đó, Kôlia có một cuộc sống mới. Cứ vào mỗi ngày Chúa nhật, cậu bé lại nắm chặt tay bà, đi dọc theo con phố, vượt qua cả một quãng đường dài để đến nhà thờ mà không một chút nào mệt mỏi. Ở nhà thờ, những chiếc đèn, những vệt sáng và những bức hình tỏa sắc vàng lung linh, còn có những bài hát về thiên đường và những câu chuyện mẫu mực,... Ở đó không chỉ có một vị thần, mọi người thì luôn ca ngợi Chúa và phục vụ Ngài, nhưng chẳng một ai trong số họ biết hay nghe về điều đó cả. Nhưng Kôlia thì biết, bởi bà ngoại đã kể với nó, và chính cậu bé cũng cảm thấy như vậy! Nhưng cậu bé không bắt chước các hành vi của các vị thần, mà sẽ đứng lên một chút một cách cẩn thận, nhẹ nhàng, tập trung cầu nguyện hoặc cúi lạy và ngân vang đoạn điệp khúc: ”Xin các Ngài hãy thương xót” và “Amen”.
Tuy vậy, cậu bé cũng rất hay đi lung tung: trong suốt năm năm giúp các giáo dân dập tắt những ngọn nến còn đang cháy dở, hay đi làm quen với những người bạn khác, và sau đó thì cho chúng một ít kẹo. Bà ngoại cậu bé thường xuyên nghe thấy những câu như: “Chúng ta đi tới bức tượng thánh đi!”, “Con muốn uống nước!”, hay khi cậu bé thấy mệt vì chờ đợi lễ rước Thánh Thể: “ Bà ơi, Thánh Chúa sắp xuất hiện chưa ạ?”
Thật khó để ngồi cạnh với cậu bé hiếu động này. Khi đó, bà ngoại thì cầu nguyện rằng mẹ của Kôlia - người con gái duy nhất của bà, sẽ tin vào Chúa và sẽ đưa cậu bé tới nhà thờ. Mẹ của Kôlia cũng đã không còn trẻ, và rồi sẽ chẳng thể nào bắt cậu bé vâng lời mãi được. Thế rồi, mùa hè cũng đã tới, trên thành phố, nó đem đến những bụi bặm thật khó chịu, nhưng ở làng quê thì vô cùng dễ chịu và tươi mát làm sao. Và gia đình Kôlia quyết định về thăm quê ngoại – một lần nữa, trong ngôi nhà tồn tại đã gần một thế kỉ, trong khu vườn cũ kĩ và trên cái sân nhà với bờ rào xiêu vẹo, những giọng nói lại vang lên.... Kôlia thì chạy nhảy khắp nơi với đám bạn của mình. Khi chúng nghĩ ra những trò càng mạo hiểm, thì càng khó để theo dõi được chúng. Đến nỗi bố mẹ của Kôlia chưa khi nào biết được nó đang làm gì, mà chỉ biết rằng: nó đang chơi trò bí ẩn nào đó bên ngoài cửa sổ mà thôi.
Lần đó, Kôlia và đám bạn đến chơi ở một ngôi nhà cũ. Vì lí do nào đó mà ngôi nhà bị bỏ hoang, nó chẳng còn cửa sổ cũng như cửa ra vào, bị tàn phá đến mức bị lõm xuống - khiến cậu bé liên tưởng đến cây nấm bị chín nhũn ra. Có lẽ chỉ cần cơn gió nào đó thổi mạnh một chút thôi, ngôi nhà cũng sẽ bị cuốn đi mất. Trong nhà tuy bụi bẩn bám đầy nhưng bọn trẻ lại rất thích thú, và ở đó cũng có một chiếc cầu thang gỗ dẫn lên tầng gác mái. Đám nhóc nhanh chóng trèo lên và Kôlia, khi đó bị lôi kéo đi, cũng liền xông tới. Trên tầng gác mái thật tối tăm, có cái gì đó ghê rợn, ma quái nhưng cũng thật thú vị,... Ở đó chỉ có duy nhất một ô cửa sổ tròn nhưng cũng chẳng còn kính, và khi những ánh mặt trời xuyên vào nơi đầy bụi bặm này thì sự hoang tàn, hư nát hiện lên thật rõ nét. Kôlia bị cuốn hút bởi sự dừng lại của những tia sáng. Cậu bé liền chạy tới ô cửa sổ con và nhoài người ra một nửa. Ngay lập tức, nó đã nhận ra có điều gì đó thật thú vị và từ đấy có thể trèo lên mái nhà. Ở đó thật đẹp, và không chút mảy may do dự, Kôlia đã trèo lên đó.
- Này các cậu, tớ bắt đầu trèo lên mái nhà rồi đây này! Kôlia kêu lên với đám bạn. Lũ nhóc liền chạy tới và đứng đông bên cạnh cửa sổ. Khi Kôlia trèo lên đến trên mái nhà, nó cảm thấy thật vui vẻ. Khi quay trở lại ô cửa sổ vì muốn nói điều gì đó với đám bạn, đột nhiên cậu bé bị trượt chân...
Đám trẻ hét toáng lên. Cậu nhóc nào đó đã chạy ra cửa đầu tiên, và rồi tất cả chạy theo. Với những giọng khác nhau, chúng gào lên “ Kôlia ngã rồi!” Khi chúng vừa ùa ra đường, thì nhìn thấy Kôlia đang ngồi vui vẻ ở bên cạnh bức tường, ngay dưới ô cửa sổ đen đủi ban nãy. Xung quanh cậu, trên đám cỏ hoang là đống đá và những mảnh gạch bị đổ vỡ và nếu như không bị chúng làm đến chết, thì nhất định cũng phải bị què.
- Một vị thần đã bế tớ và đặt tớ ngồi ở đây đấy! Kôlia nới với lũ trẻ, Ngài ấy đã mỉm cười với nụ cười rạng rỡ.
Một bác hàng xóm đứng gần đó, đã kể lại chuyện này.....
Từ bác hàng xóm và những lời kể lộn xộn của lũ trẻ, bố mẹ của Kôlia vô cùng hoảng sợ. Nhưng cậu bé thì không hề có một vết xây xát nào, và luôn lặp lại một điều:
- Vị thần đã bế con ở trên tay!
Bà ngoại cậu bé cầu nguyện trong niềm xúc động. Còn bố mẹ cậu bé thì đi xem ngôi nhà cũ – nơi đã xảy ra việc kinh hoàng vừa rồi. Rồi sau khi đã nghĩ rất lâu, bà ngoại nói với Kôlia:
- Dù thế nào thì con vẫn cần phải bị phạt! Vị thần đã cứu con bởi lòng tốt của Ngài, thế nhưng con lại đùa bỡn và làm phiền vị thần hộ mệnh của chính mình. Ngài ấy cũng như một người bạn, và chắc chắn sẽ rất buồn lòng khi có ai đó hành xử giống như con ngày hôm nay.
Một lúc sau thì bố mẹ Kôlia trở về. Bố im lặng đến trầm tư , còn gương mặt mẹ thì đẫm lệ. Cậu con trai bé nhỏ mà họ đã tìm thấy thì im lặng đứng đằng sau một người quen với dáng vẻ thấp bé nhưng oai nghiêm, và trên người thì có chiếc thắt lưng da đã cũ của ông ngoại.
Buổi chiều ngày hôm đó, mẹ của Kôlia ngồi bên cạnh cậu con trai bé nhỏ của mình, ôm chặt lấy cậu bé và khẽ hỏi:
- Vậy là, vị thần, Ngài ấy đã cứu con sao?
- Vâng, Ngài ấy chỉ đơn giản là bế con trên tay mẹ ạ!- Kôlia nói thầm và dúi mũi vào lòng mẹ.
Khi gia đình Kôlia trở về thành phố, trong buổi Chúa nhật đầu tiên cậu bé đã tới nhà thờ. Nhưng lần này là mẹ cậu dẫn đi, và những ngón tay bé nhỏ của cậu được nép chặt trong lòng bàn tay ấm áp của mẹ.
Марина Кравцова