Trung tâm Caravario cộng tác viên Salêdiêng Don Bosco Việt Nam

Trung tâm Caravario cộng tác viên Salêdiêng Don Bosco Việt Nam Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Trung tâm Caravario cộng tác viên Salêdiêng Don Bosco Việt Nam, Religious organisation, Ho Chi Minh City.

ĐGH GIOAN PHAOLO II VÀ BỨC ẢNH MỚI ĐƯỢC CÔNG BỐ. Vào ngày 13.5.1981, tên khủng bố Mehmet Ali Agca, người Thổ Nhĩ Kỳ, đã ...
22/02/2020

ĐGH GIOAN PHAOLO II VÀ BỨC ẢNH MỚI ĐƯỢC CÔNG BỐ.
Vào ngày 13.5.1981, tên khủng bố Mehmet Ali Agca, người Thổ Nhĩ Kỳ, đã cố ý giết chết Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bằng ba phát súng lục trong một cuộc tiếp kiến chung tại quảng trường Thánh Phêrô ở Roma. Mãi cho đến hôm nay nguyên nhân vụ ám sát Đức Gioan Phaolô II của Ali Agca vẫn chưa được hoàn toàn giải thích
ĐGH GIOAN PHAOLO II VÀ BỨC ẢNH MỚI ĐƯỢC CÔNG BỐ

Vào ngày 13.5.1981, tên khủng bố Mehmet Ali Agca, người Thổ Nhĩ Kỳ, đã cố ý giết chết Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bằng ba phát súng lục trong một cuộc tiếp kiến chung tại quảng trường Thánh Phêrô ở Roma. Mãi cho đến hôm nay nguyên nhân vụ ám sát Đức Gioan Phaolô II của Ali Agca vẫn chưa được hoàn toàn giải thích một cách rõ ràng, mặc dù người ta đã biết được rằng Agca thừa hành lệnh của mật vụ Bảo Gia Lợi (Bulgarie). Có sự nghi ngờ cho rằng vụ ám sát Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là được cơ quan mật vụ Liên Sô KGB ở Mạc Tự Khoa trao cho mật vụ Bảo Gia Lợi thi hành, đã lan rộng ra liền ngay sau vụ ám sát.
Đức Gioan Phaolô II chỉ bị trọng thương qua vụ ám sát. Và việc ngài sống sót là cà một phép lạ. Dĩ nhiên, sức khỏe vốn cường tráng trước kia của ngài đã bị ảnh hưởng rất nặng bởi vụ ám sát, khiến ngài phải chịu đau đớn thường xuyên, kéo dài mãi cho tới lúc ngài băng hà năm 2005.

Hai năm sau vụ ám sát, vào ngày 23.12.1983, Đức Gioan Phaolô II đã đích thân vào phòng giam thăm tên khủng bố Ali Agca, nói chuyện với y và nhất là ngài đã tha thứ cho y.

ĐHY Stanislaw Dziwisz tường thuật lại là trong cuộc gặp gỡ và nói chuyện này tại nhà tù, Ali Agca chỉ lặp đi lặp lại với Đức Thánh Cha một câu hỏi duy nhất:

“Tại sao Ngài lại không chết? – Tôi biết chắc chắn là tôi đã nhắm rất trúng đích. Tôi cũng biết rằng phát đạn tôi bắn ra có hiệu quả tàn phá và gây tử thương một cách chắc chắn. Nhưng tại sao Ngài lại không bị tử thương?”

Về phần Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thì hoàn toàn xác tín rằng chính nhờ bàn tay hiền mẫu của Đức Mẹ Fatima che chở nên ngài mới có thể thoát chết một cách lạ lùng như thế. Bởi vì, ngày ngài bị ám sát tại Rôma – ngày 13 tháng 5 năm 1981 – cũng chính là ngày Đức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ chăn chiên năm xưa tại Fatima, ngày 13 tháng 5 năm 1917. Hơn nữa, theo Đức Gioan Phaolô II, thì vị Giám Mục mặc áo trắng phải chịu đau khổ nhiều mà Đức Mẹ đã cho ba trẻ trông thấy trong một thị kiến khi hiện ra với ba trẻ tại Fatima, chính là ngài.

Do đó, đúng một năm sau vụ ám sát (1982), Đức Gioan Phaolô II đã đích thân đi hành hương Fatima để tạ ơn cứu sống của Đức Mẹ và trong dịp này ngài cũng mang theo một trong các đầu đạn mà Mehmet Ali Agca đã bắn vào ngài để dâng kính Đức Mẹ. Và kìa một sự lạ lùng đã làm chính Đức Gioan Phaolô II và tất những người chứng kiến không khỏi sửng sốt và kinh ngạc, là đầu viên đạn mà ngài mang theo kia khi được gắn vào một lỗ hổng duy nhất còn sót lại ở mão triều thiên trên đầu tượng Đức Mẹ Fatima, mà các đoàn thể phụ nữ Bồ Đào Nha đã dâng cúng cho Đức Mẹ vào năm 1946, thì hoàn toàn vừa vặn như thể người ta đã cốt ý làm cái lỗ hổng đó sẵn cho viên đạn vậy.
Và đây là bức ảnh mới được công bố gần đây, cho thấy sự can thiệp nhiệm mầu của Đức Mẹ Maria vào ngày Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô bị ám sát, ngày 13 tháng 5 năm 1981

Chúng ta không hiểu tại sao Đức thánh Cha Gioan-Phaolô II đã muốn cất dấu tấm hình chụp nầy trong nhiều năm. Vatican đã vừa mới công bố tấm hình chụp nầy lần đầu tiên. Tấm hình được một vệ sĩ của Người chụp ngay chính lúc Đức Thánh Cha bị tấn công và đang ngã xuống trong chiếc xe đặc chế (papamobil) của Người. Các bạn có thể nhìn thấy đau đớn hiện trên mặt Người.

Joaquin Navarro Valls, phát ngôn nhân Toà Thánh vào thời gian đó, đã tuyên bố người ta mất nhiều năm để nghiên cứu tấm hình chụp khó tin nầy và tất nhiên là về chất lượng rửa hình, vì khi được chuẩn bị kỹ càng, không ai có thể nhìn rõ ràng bởi vì tấm hình không sáng sủa. Cuối cùng, sau nhiểu kiểm duyệt và tìm tòi, dưới sự kiểm soát của các chuyên gia nhiếp ảnh trên thế giới, họ đã quyết định không hề có “giả mạo’ thuộc thuật nhiếp ảnh và ngày nay họ cho chúng ta món quà đẹp đẽ nầy về Mẹ Thiên Chúa.

Các bạn có thể nhìn thấy Mẹ Thiên Chúa ôm Đức Gioan-Phaolô II trong tay Mẹ.

Lm Nguyễn Hữu Thy

Vào ngày 13.5.1981, tên khủng bố Mehmet Ali Agca, người Thổ Nhĩ Kỳ, đã cố ý giết chết Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bằng ba phát súng lục trong một cuộc tiếp kiến chung...

19/02/2020

Bill Gates: “Tôi đã rất may mắn, tôi hàm ơn sự may mắn đó bằng cách giảm thiểu sự bất công trên thế giới. Đó chỉ là một chút đức tin tôn giáo”. (Ảnh: stoogles.com) Luôn giữ vị trí là người giàu nhất thế giới trong bảng xếp hạ...

NGƯỜI TRỤ CỘT TRONG GIA ĐÌNH. Bạn giống như người kéo xe, trên có bố mẹ, dưới có vợ con, chỉ cần một phút sơ sẩy, cả gia...
19/02/2020

NGƯỜI TRỤ CỘT TRONG GIA ĐÌNH.
Bạn giống như người kéo xe, trên có bố mẹ, dưới có vợ con, chỉ cần một phút sơ sẩy, cả gia đình của bạn sẽ lâm nguy!
Có thể trong mắt người khác, bạn chỉ là cỏ cây, nhưng với gia đình, bạn là cả một bầu trời.
Làm một người đàn ông, sống là phải biết gánh vác.
Làm một người phụ nữ, sống phải biết yêu thương, chia sẻ.
Người đàn ông mệt, là bởi vì không có người phụ nữ ở đằng sau hỗ trợ đẩy xe.
Người phụ nữ mệt, là bởi vì không có người đàn ông kéo xe ở phía trước.
Bố mẹ mệt, là bởi vì không có con cái để cậy nhờ.
Con cái mệt, là bởi vì không có một mái ấm đủ đầy.
Đừng cảm thấy mình sống khổ sở, mệt mỏi mà chán nản. Mỗi một người sống trên đời vốn dĩ đã không phải chuyện đơn giản, dễ dàng, phải trải qua mọi cảm giác vui, buồn, sướng, khổ,... vượt qua được thì cuộc sống mới có nhiều ý nghĩa.
Mệt mới phải, bởi chỉ có người chết mới không phải làm gì.
Khổ mới phải, bởi đời là bể khổ, sống là phải biết vươn lên.
Đàn ông có ba trách nhiệm lớn, đó là làm cho bố mẹ tự hào, làm cho vợ mình hạnh phúc và làm tấm gương sáng cho con.
Phụ nữ có ba trách nhiệm lớn, đó là cổ vũ, động viên chồng xây dựng sự nghiệp, chăm sóc gia đình & giáo dục nhân cách cho con cái và cuối cùng là làm cầu nối, gắn kết các mối quan hệ trong gia đình.
Có ba thứ rất dễ hủy hoại cuộc đời một con người, đó chính là sự nóng giận, sự tham lam và ích kỷ.
Ba thứ vô thường nhất, đó chính là thành công, tài sản và cơ hội.
Ba thứ vô giá nhất, đó chính là sức khỏe, lương thiện và tri thức.
Ba thứ có thể giúp chúng ta thực hiện ước mơ, đó chính là khát khao, nỗ lực và kiên trì.
Ba thứ có thể giúp chúng ta có thêm bạn tốt, đó chính là cởi mở, nhiệt tình và chính trực.
Ba thứ cần phải hoàn thiện, đó chính là kỹ năng, tư duy và thái độ.
Và cuối cùng, ba thứ giúp chúng ta luôn vui vẻ, hạnh phúc, đó là tình yêu thương, sự cho đi và biết đủ đầy.
(Sưu tầm)

CON CÁI SỰ DỮ KIÊU NGẠO VÀ CHỐNG ĐỐI THIÊN CHÚA. KHÔNG VÂNG PHỤC ĐẤNG TOÀN NĂNG NÊN ĐẠI HỌA ĐÃ ĐỔ ẬP XUỐNG NHÃN TIỀN TRÊ...
18/02/2020

CON CÁI SỰ DỮ KIÊU NGẠO VÀ CHỐNG ĐỐI THIÊN CHÚA. KHÔNG VÂNG PHỤC ĐẤNG TOÀN NĂNG NÊN ĐẠI HỌA ĐÃ ĐỔ ẬP XUỐNG NHÃN TIỀN TRÊN ĐẤT NƯỚC TÀU +

Cha Renato Chiera, thực sự không hối hận vì đã rời vị trí giáo sư triết học. Trên đường phố, cha có...

KINH HÒA BÌNHhttps://youtu.be/hu_-CaBcQ24Lạy Chúa từ nhân xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy...
18/02/2020

KINH HÒA BÌNH
https://youtu.be/hu_-CaBcQ24
Lạy Chúa từ nhân xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm; để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng; để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.
Lạy Chúa xin hãy dạy con tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân; vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.
Ôi Thần Linh thánh ái xin mở rộng lòng con, xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí ơn an bình.

Dịch virus corona đã diễn ra được nhiều tuần, Indonesia vẫn hoàn toàn chưa có ca nhiễm, dù các nước trong khu vực đang phát hiện ngày càng nhiều trường hợp.

17/02/2020

Cha Giuse Nguyễn Duy Tân đang coi sóc việc xây dựng Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ Núi Cúi tại Giáo phận Xuân Lộc giới thiệu về trung tâm này hiện đang tiến hàn...

Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội: Thông báo về dịch bệnh viêm phổi cấp – do virus corona (Covid-19)
17/02/2020

Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội: Thông báo về dịch bệnh viêm phổi cấp – do virus corona (Covid-19)

Nhà thờ Giáo xứ Thái Hà Giáo hạt Hà Nội Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam

Bà Margaret Occhiena, mẹ của Thánh Gioan Bosco qua đời ngày 25 tháng 11 năm 1856, thọ 68 tuổi. Án phong thánh của ngài đ...
16/02/2020

Bà Margaret Occhiena, mẹ của Thánh Gioan Bosco qua đời ngày 25 tháng 11 năm 1856, thọ 68 tuổi. Án phong thánh của ngài được mở ra năm 1995 và được Đức Benêđicto^ XVI phong “bậc đáng kinh”’ năm 2006. Qua việc giáo dục ba người con trai và qua việc giúp đỡ không điều kiện các việc của con mình, bà trở thành “Mẹ Margaret” của tất cả những người con được Thánh Gioan Bosco nuôi dạy, bà đã trở thành gương mẫu của giáo dục và của lòng dịu dàng.

Mẹ của Thánh Gioan-Bosco sắp được phong thánh?, Thông Tin, Tin Tức Công Giáo – Dành cho người Công Giáo, các Kitô hữu, và những ai mong muốn tìm hiểu Đức Tin Công Giáo một cách sâu sắc hơn – Để yêu mến Chúa Kitô và Mẹ Hội Thánh hơn.

VÀO NGÀY VALENTINE (14/02)Nhiều cặp đôi mong chờ những buổi tối lãng mạn, trong khi nhiều người khác lại để cho ngày lễ ...
14/02/2020

VÀO NGÀY VALENTINE (14/02)
Nhiều cặp đôi mong chờ những buổi tối lãng mạn, trong khi nhiều người khác lại để cho ngày lễ này trôi qua mà không bận tâm nhiều. Tuy nhiên, đối với những người đang tan nát cõi lòng, ngày Valentine có thể sẽ rất đỗi khó khăn; cả thế giới dường như đang chìm đắm trong tình yêu, còn họ thì cô quạnh buồn khóc vì mất đi một mối quan hệ đã từng mang lại rất nhiều niềm vui. Nếu bạn đang bị giày vò bởi một trái tim tan vỡ trong ngày Valentine này, những vị thánh dưới đây hiểu rõ những gì bạn đang gặp phải - và sẽ rất vui mừng chuyển cầu cho bạn.
Chân phước María Guggiari Echeverría (1925-1959) là con cả trong một gia đình có bảy người con ở Paraguay. Khi còn là một thiếu nữ, ngài đã lập một lời khấn tư giữ đức khiết tịnh. Lời khấn đó đã bị thử thách ở độ tuổi 20 khi ngài phải lòng một sinh viên Y khoa. María đã nghĩ rằng có thể mình đang được mời gọi đi đến hôn nhân cùng với Josephite, nhưng cuối cùng anh ta nhận ra bản thân có ơn gọi làm linh mục. Ngài ủng hộ anh ta với ơn gọi ấy, đặc biệt là giúp anh ta che giấu kh mọi cử chỉ. Mọi suy nghĩ của anh ấy đều đậm chất Kitô hữu, mọi việc anh ấy làm đều rất trung thực và hoàn hảo!” Sau khi chồng qua đời, Conchita tiếp tục sống cuộc đời bình thường của một người mẹ trong một đại gia đình thiếu vắng người chồng, những trải nghiệm nội tâm sâu sắc được được ngài ghi lại trong các cuốn nhật ký thiêng liêng.
Chân phước Pier Giorgio Frassati (1901-1925) được biết đến như là một thanh niên rất đỗi bình thường. Ngài leo núi và hút tẩu thuốc, hay bày trò chơi khăm - và cũng đã từng phải lòng con gái nhà người ta. Ở tuổi 22, Pier Giorgio quen với một người phụ nữ lớn hơn ngài vài tuổi, Laura Hidalgo; là một người không bao giờ làm bất cứ việc gì nửa vời, nên khi ngài phải lòng cô ấy, ngài liền cảm thấy khó khăn. Nhưng Pier Giorgio không bao giờ nói với Laura về tình cảm của mình. Có vẻ như ngài cảm thấy cha mẹ mình sẽ không chấp nhận cô; có lẽ quan trọng hơn là, cuộc hôn nhân của cha mẹ ngài đã tan vỡ và ngài không tin rằng mình có thể xây dựng một cuộc hôn nhân lành mạnh vào thời điểm khó khăn đó. Sau khi quyết tâm thực hiện sự hy sinh này, Pier Giorgio đã viết cho một người bạn, “Tôi đã yêu với một tình yêu thuần khiết và hôm nay khi từ bỏ nó, tôi mong cô ấy được hạnh phúc. Mong bạn hãy cầu xin Chúa ban cho tôi sức mạnh của một Kitô hữu để mang lấy nó một cách thanh thản.” Trái tim tan vỡ của Giorgio chẳng bao giờ lành lại. Ngài chỉ sống bảy tháng sau khi viết bức thư trên, và khi ngài vui mừng trong Thiên Chúa cũng như trong cuộc đời mình, trái tim ngài tiếp tục đau đớn vì người phụ nữ ngài yêu mà không bao giờ có thể có được.
Chân phước John Joseph Lataste (1832-1869) cảm thấy có ơn gọi làm linh mục từ khi còn rất trẻ nhưng lại khá ngỗ nghịch ở trường trung học và đã bỏ việc cầu nguyện, ngừng tìm kiếm ý Chúa. Có nhiều lúc, ngài thậm chí còn không chắc chắn liệu ngài còn là một Kitô hữu nữa hay không, dù rằng cuối cùng ngài đã vượt qua sự nghi ngờ của của bản thân. Tuy nhiên, chức linh mục không còn được nghĩ đến nữa, và cô nàng Cecile thì lại rất xinh đẹp. Lataste yêu say đắm và sớm cầu hôn nàng, nhưng sự phản đối của gia đình ngài đã ngăn chặn cuộc hôn nhân. Rối trí, Lataste khẩn cầu Đức Mẹ làm cho ý Chúa được thể hiện rõ với ngài. Ngài đau đớn chờ đợi trong hai năm - cho đến khi cái chết bất ngờ ập xuống cho người ngài yêu. Đây là câu trả lời cho ngài, mặc dù đây không phải là hướng đi nhẹ nhàng mà ngài đã hy vọng. Lataste khóc thương trong hai năm, sau đó gia nhập dòng Đaminh, nơi ngài đã làm việc không mệt mỏi để phục vụ các tù nhân và cuối cùng đã sáng lập một dòng tu cho các cựu tù nhân: Hội dòng chị em Đa Minh Bêtania.
Thánh Elizabeth nước Hungary (1207-1231) đã yêu sâu đậm người chồng của mình, là điều thật bất thường vào thời ấy khi ngài là một người nữ quý tộc. Nhưng chồng ngài (đôi khi được gọi là Louis đấng thánh) là một trong số ít những người đàn ông xứng đáng với người vợ như vậy, và hai người rất hạnh phúc cho đến khi Louis qua đời ở tuổi 26. Khi Elizabeth (lúc đó chỉ mới 20 tuổi) được tin chồng mình qua đời, cô đã khóc, “Thế giới với tất cả niềm vui của nó giờ đã chết đối với tôi!” Trong sáu tháng, Elizabeth đã không thể nguôi ngoai, nhưng cuối cùng ngài đã có thể tìm thấy sự chữa lành và tiếp tục công việc từ thiện của mình trong vài năm trước khi ngài qua đời ở tuổi 24.

Meg Hunter-Kilmer (Aleteia.org)
Anna Lệ Thuý chuyển ngữ
Nguồn: WGPSG

Nếu bạn đang bị giày vò bởi một trái tim tan vỡ trong ngày Valentine này, những vị thánh dưới đây hiểu rõ những gì bạn đang gặp phải - và sẽ rất vui mừng chuyển cầu cho bạn.

THÁNH TỬ ĐẠO VALENTINE ♥Thánh Valentine thành Rome là một giám mục trong Đế chế La Mã đã phụng sự cho các Kitô hữu, nhữn...
14/02/2020

THÁNH TỬ ĐẠO VALENTINE ♥
Thánh Valentine thành Rome là một giám mục trong Đế chế La Mã đã phụng sự cho các Kitô hữu, những người bị bắt bớ ở đó. Ông đã tử đạo và được chôn cất tại một nghĩa trang Kitô giáo trên đường Via Flaminia gần cầu Ponte Milvio ở phía bắc Rome, vào ngày 14 tháng 02, được coi là ngày Lễ Thánh Valentinô kể từ năm 496 sau Công nguyên. Một phần di hài của Thánh Valentinô được lưu giữ trong Nhà thờ và Hầm mộ San Valentino ở Rome, nơi "vẫn là một địa điểm hành hương quan trọng trong suốt thời Trung cổ cho đến khi thánh tích của Thánh Valentine được chuyển đến nhà thờ Santa Prassede trong thời giáo hoàng Nicholas IV". Hộp sọ của Thánh Valentine được trưng bày trong Vương cung thánh đường Santa Maria ở Cosmedin, Rome; các di tích khác đã được đưa đến Nhà thờ dòng Cát Minh Whitefriar ở Dublin, Ireland, nơi chúng vẫn còn cho đến ngày nay; ngôi nhà thờ cúng này tiếp tục là một nơi hành hương phổ biến, đặc biệt là vào Ngày Thánh Valentine, cho những người tìm kiếm tình yêu. Đối với Thánh Valentine của Rome, cùng với Thánh Valentine của Terni, "tóm tắt về hoạt động của hai vị thánh có ở gần như mọi nhà thờ và tu viện của châu Âu", theo Giáo sư Jack B. Oruch của Đại học Kansas.
Ông sinh năm 226 và tử đạo ngày 14 tháng 2 năm 269, vì ông sinh tại Terni, nên cũng có ý kiến cho rằng ông và Thánh Valentinô thành Terni có thể cùng là một người.
(Nguồn: Wikipedia)

Trước khi bị xử tử vì làm trái lệnh vua Claudius II, Thánh Valentine đã viết thư tình gửi người yêu và ký tên là 'Valentine của em'.

DI CHÚC CỦA ÐỨC CỐ GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ IIPrepared for Internet by Radio Veritas Asia, Philippines Di Chúc của Ðức Cố...
07/02/2020

DI CHÚC CỦA ÐỨC CỐ GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II
Prepared for Internet by Radio Veritas Asia, Philippines

Di Chúc của Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
(Radio Veritas Asia 8/04/2005) - Di chúc của Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được viết bằng tiếng BaLan và đã được Tòa Thánh công bố trong ấn bản bằng tiếng BaLan, tiếng Ý và tiếng Anh.
Hôm thứ Năm, mùng 7 tháng 4 năm 2005, sau khi đã được Các Vị Hồng Y mở đọc trong phiên họp chung vào sáng thứ Tư, mùng 6 tháng 4 năm 2005. Di chúc gồm nhiều đoạn, được viết nhiều lúc khác nhau, trong khoảng thời gian từ năm 1979 --- năm ÐTC viết đoạn đầu tiên --- cho đến năm 2000, --- năm ÐTC Gioan Phaolô II viết đoạn cuối cùng Di Chúc của ngài.
Và khung cảnh thiêng liêng để Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết Di Chúc, là những ngày Cấm Phòng Năm. Dựa theo những ngày tháng được ghi ở đầu mỗi đoạn di chúc, chúng ta thấy ÐTC Gioan Phaolô II đã bắt đầu viết Di Chúc lần thứ nhất vào ngày mùng 6 tháng III năm 1979, lần thứ hai trong khoảng thời gian từ ngày 24 tháng 2 đến ngày 1 tháng 3 năm 1980, lần thứ ba là vào ngày 5 tháng 3 năm 1982, lần thứ tư là vào ngày 1 tháng 3 năm 1985, và lần thứ năm là từ ngày 12 đến 18 tháng 3 năm 2000, cũng trong dịp Cấm Phòng Năm.

Kính mời quý vị và các bạn theo dõi bản dịch tiếng Việt nguyên văn Di Chúc của ÐTC Gioan Phaolô II:

Di chúc ngày 6 tháng 3 năm 1979 (và những đoạn viết tiếp theo sau đó)
Totus tuus ego sum
Trọn cả con thuộc về Mẹ.
Nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi rất thánh. Amen.

"Chúng con hãy tỉnh thức, vì chúng con không biết ngày nào Chúa chúng con sẽ đến! (x. Mt 24,42) --- những lời nầy nhắc tôi nhớ đến lời Chúa gọi cuối cùng, sẽ xảy ra vào lúc Chúa muốn. Tôi muốn theo Ngài và tôi ao ước rằng tất cả những gì kết thành đời sống tôi trên trần gian nầy đều giúp tôi chuẩn bị cho giây phút Chúa gọi nầy. Tôi không biết lúc nào sẽ xảy đến, nhưng cũng như tôi đặt tất cả mọi sự, thì tôi cũng đặt giây phút nầy trong tay của Mẹ của Chúa tôi: totus tuus, trọn cả con thuộc về Mẹ. Trong đôi tay hiền mẫu của Mẹ, tôi đặt tất cả mọi sự và tất cả những ai có liên hệ đến đời sống và ơn gọi của tôi. Trong đôi tay Mẹ, tôi phó thác nhất là Giáo Hội và Quốc Gia BaLan của tôi và toàn thể nhân loại. Tôi cám ơn tất cả mọi người. Tôi xin tất cả mọi người tha thứ cho tôi. Tôi xin mọi người cầu nguyện cho tôi, ngõ hầu lòng Nhân Từ của Thiên Chúa được tỏ ra to lớn hơn sự yếu đuối và bất xứng của tôi.
Trong những ngày Cấm Phòng, tôi đã đọc lại chúc thư của Ðức Thánh Cha Phaolô VI. Việc làm nầy đã thôi thúc tôi viết ra bản di chúc nầy.
Tôi không để lại bất cứ sở hữu nào để cần được phân phối. Về những vật dụng thường ngày giúp tôi, tôi yêu cầu phân phát tùy ý thuận tiện. Những ghi chú cá nhân cần phải được đốt bỏ đi. Tôi yêu cầu Don Stanislao đặc trách việc nầy; và tôi cám ơn cha Stanislao vì sự cộng tác và giúp đỡ trong nhiều năm qua và đầy lòng thông cảm. Tất cả những lời cám ơn khác, tôi mang chúng trong tâm hồn trước nhan Thiên Chúa, bởi vì thật khó mà diễn tả chúng ra.
Liên quan đến việc An Táng, tôi nhắc lại cũng những quy định đã được Ðức Thánh Cha Phaolô VI đề ra (đến đây có lời phụ ghi bên lề như sau: chôn vào trong lòng đất, chớ không chôn trong ngôi mộ nổi, 13.3.92).
Lòng nhân từ và ân sũng nơi Chúa luôn tràn đầy
Apud Dominum misericordia et copiosa apud Eum redemptio."
Gioan Phaolô II, giáo hoàng.
Roma 6.III.1979
Sau khi tôi qua đời, xin hãy dâng Thánh Lễ và cầu nguyện cho tôi.
5.III. 1990.

Những Lời sau đây không có ghi ngày tháng:
Tôi nói lên niềm tin tưởng sâu xa nhất rằng, mặc cho tất cả những sự yếu đuối của tôi, Thiên Chúa sẽ ban cho tôi mọi ơn cần thiết để đương đầu đúng theo Thánh Ý ngài bất cứ trách vụ nào, bất cứ thử thách và đau khổ nào mà Ngài muốn đòi hỏi nơi người tôi tớ của Ngài, trong suốt đời sống. Tôi cũng tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ không bao giờ để cho tôi phản bội những đòi buộc của tôi nơi Ngai Tòa Phêrô nầy, bằng thái độ nào đó của tôi: lời nói, việc làm và những thiếu sót.

24.II - 1.III.1980
Trong những ngày cấm phòng nầy tôi đã suy nghĩ về sự thật Chức Tư Tế của Chúa Kitô trong viễn tượng của cuộc Chuyển Tiếp mà đối với mỗi người chúng ta là giây phút mình qua đời. Ðối với mỗi người chúng ta, Sự Phục Sinh của Chúa Kitô là dấu chỉ hùng hồn (--- có thêm vào phía trên: quyết định) --- cho cuộc ra đi khỏi đời nầy, để sinh vào đời sau, vào thế giới tương lai.
Tôi đã đọc bản di chúc tôi đã viết năm vừa qua, cũng trong dịp Cấm Phòng, tôi đã so sánh nó với di chúc của vị Tiền Nhiệm cao cả và là người Cha của Tôi là Ðức Phaolô VI, với chứng từ cao cả về cái chết của người Kitô và là của một vị giáo hoàng --- và tôi đã canh tân lại trong tôi ý thức về những điều được nhắc đến trong bản di chúc của ngày 6 tháng III năm 1979 cũng đã do tôi soạn ra (một cách có thể nói là tạm thời).
Ngày hôm nay, tôi muốn thêm vào đó chỉ điều nầy thôi, là mỗi người cần phải đặt trước mắt cái chết. Mỗi người cần phải sẵn sàng trình diện mình trước nhan Chúa và Quan Tòa, vừa đồng thời là Ðấng Cứu Chuộc và là người Cha. Tôi đây cũng vậy, tôi luôn luôn nghĩ đến điều nầy, vừa phó thác giây phút quyết định đó cho Mẹ của Chúa Kitô và Mẹ của Giáo Hội, cho người Mẹ của niềm hy vọng tôi.
Thời gian trong đó chúng ta sống, là thời gian khó khăn và bất an một cách không thể tả được. Ðời sống của Giáo Hội cũng đã trở thành khó khăn và căng thẳng, một thử thách đặc biệt của thời đại nầy --- cho các tín hữu cũng như cho các chủ chăn. Tại vài quốc gia, (chẳng hạn như tại quốc gia mà tôi đã được đọc trong thời gian cấm phòng) Giáo Hội ở trong giai đoạn bị bách hại đến độ không thua gì những bách hại của những thế kỷ đầu, mà còn vượt hơn những bách hại đó, xét vì cường độ của sự độc ác và lòng thù hận. Sanguis martyrum, semen christianorum, Máu của những vị tử đạo là hạt giống trổ sinh những người kitô. Và hơn thế nữa, biết bao nguời bị mất tích cách vô tội, cả trong Ðất Nước nầy trong đó chúng ta sinh sống...
Một lần nữa tôi muốn phó thác hoàn toàn cho ân sũng của Chúa. Chính ngài sẽ định khi nào và cách nào tôi phải kết thúc đời tôi trên trần gian và kết thúc thừa tác vụ mục vụ của tôi. Sống cũng như chết, totus tuus, trọn cả con thuộc về Mẹ, trọn cả con nhờ qua Ðấng Vô Nhiễm. Ngay từ bây giờ, qua việc chấp nhận cái chết, tôi hy vọng rằng Chúa Kitô ban cho tôi ân sũng cho cuộc Ra Ði cuối cùng, tức là cuộc Vượt Qua của tôi. Tôi hy vọng Chúa làm cho cái chết của tôi trở nên hữu ích cho cộng cuộc quan trọng hơn mà tôi cố gắng phục vụ cho: đó là ơn cứu rỗi cho con người, sự bảo vệ gia đình nhân loại bao gồm tất cả mọi quốc gia và mọi dân tộc (trong đó tôi nghĩ đặc biệt đến quê hương trần gian của tôi), hữu ích cho những ai đã được trao phó cho tôi cách đặc biệt, hữu ích cho công cuộc của Giáo Hội, hữu ích cho vinh quang của chính Thiên Chúa.
Tôi không muốn thêm gì vào tất cả những điều tôi đã viết cách đây một năm; tôi chỉ muốn nói lên sự sẵn sàng và đồng thời lòng tin tưởng phó thác, mà những ngày cấm phòng nầy một lần nữa chuẩn bị tôi.
Gioan Phaolô II.

Ngày 5 tháng III năm 1982:
Totus tuus ego sum
Trọn cả con thuộc về Mẹ.
Trong thời gian cấm phòng của năm nay, tôi đã đọc nhiều lần bản Di chúc của ngày 6 tháng III năm 1979. Cho dù tôi xem bản Di chúc nầy như là tạm thời (chưa vĩnh viễn), tôi vẫn để như vậy. Tôi không thay đổi gì cả, và cũng không thêm gì, trong những gì liên quan đến những điều được nói lên trong đó.
Cuộc mưu sát ngày 13 tháng V năm 1981 một cách nào đó đã xác nhận tính cách xác thực của những lời đã được viết ra trong thời gian cấm phòng của năm 1980 (từ ngày 24 tháng II cho đến mùng 1 tháng III).
Tôi càng cảm nghiệm sâu xa rằng tôi hoàn toàn phó thác mình trong Tay Thiên Chúa, và tôi luôn luôn sẵn sàng để Chúa sử dụng tôi tùy ý ngài, vừa tín thác vào Ngài trong Mẹ Vô Nhiễm (Totus Tuus, Trọn cả con thuộc về Mẹ).
Gioan Phaolô II.

Ngày 5 tháng III năm 1982
Liên quan đến câu cuối cùng của bản di chúc ngày 6 tháng III năm 1979
(Về nơi chốn / tức nơi an táng, hồng y đoàn và những người đồng hương của tôi quyết định. tôi xin giải thích rõ ràng điều tôi nghĩ trong đầu: đó là vị Tổng Giám Mục Cracovia hoặc Ủy Ban Thường Trực của Hội Ðồng Giám Mục BaLan. tôi yêu cầu Hồng Y Ðoàn hãy thi hành theo mức có thể những yêu cầu của những gì đã được kể ra ở trên.

Ngày 1 tháng III năm 1985 (trong Tuần Cấm Phòng)
Một lần nữa --- liên quan đến cụm từ "Hồng Y Ðoàn và Những Người Ðồng Hương": Hồng Y Ðoàn không bị bắt buộc phải "tham khảo" những người Ðồng Hương tôi về vấn đề nầy; tuy nhiên Hồng Y Ðoàn có thể tham khảo, nếu vì lý do nào đó Hồng Y Ðoàn cảm thấy làm như vậy là đúng.
Gioan Phaolô II

Cấm Phòng Năm Thánh 2000 (từ 12 đến 18 tháng III)
(đưa vào Di Chúc)
1. Vào ngày 16 tháng 10 năm 1978, khi Mật Viện Hồng Y chọn lên Gioan Phaolô II, thì vị giáo chủ của BaLan, Ðức Hồng Y Stefan Wyszynski đã nói với tôi như sau: "Bổn phận của Vị Tân Giáo Hoàng sẽ là dẫn đưa Giáo Hội vào trong ngàn năm thứ ba". Tôi không biết tôi có lặp lại đúng câu nói của ngài hay không, nhưng ít ra đó là ý nghĩa của điều tôi đã nghe được lúc đó. Ðó là điều được nói lên bởi Vị đã bước vào lịch sử như là Vị Giáo Chủ của Thiên Niên Kỷ. Một Vị Giáo Chủ vĩ đại. Tôi là chứng nhân cho sứ mạng của ngài, cho sự tín thác hoàn toàn của ngài. Tôi làm chứng cho những cuộc Tranh đấu của ngài. Cho chiến thắng của ngài. "Chiến Thắng, khi nó đến, sẽ là chiến thắng nhờ qua Mẹ Maria" --- Vị Giáo Chủ của Thiên niên kỷ đã thường lặp đi lặp lại những lời nầy của vị tiền nhiệm ngài là Ðức Hồng Y August Hlond.
Như thế, một cách nào đó, tôi được chuẩn bị cho trách vụ mà ngày 16 tháng 10 năm 1978 đã mở ra trước mặt tôi. Trong giây phút tôi viết ra những lời nầy, Năm Thánh 2000 đã là thực tại đang diễn ra. Ðêm 24 tháng 12 năm 1999, Cửa của Ðại Năm Thánh tại Ðền Thờ Thánh Phêrô đã được mở ra, tiếp đó là Cửa Năm Thánh tại Ðền Thờ Thánh Gioan Lateranô, rồi tại Ðền Thờ Ðức Bà Cả, vào ngày đầu Năm mới, và ngày 19 tháng Giêng, Cửa Năm Thánh tại Ðền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành được mở ra. Tôi nhớ thật rõ Biến cố cuối cùng nầy, do bởi tính cách đại kết của nó.
2. Trong mức độ Năm Thánh 2000 được khai triển, ngày qua ngày, thế kỷ 20 được đóng lại phía sau chúng ta, và thế kỷ thứ 21 được mở ra. Theo những ý định của Chúa Quan Phòng, tôi đã được sống trong thế kỷ khó khăn đang đi vào quá khứ, và giờ đây trong năm mà tuổi đời của tôi đạt đến 80 ("octogesima adveviens"), thì cần phải tự vấn xem đây có phải là lúc để lặp lại với Ông Simêon lời thưa "Nunc dimittis" (Lạy Chúa, xin hãy để cho tôi tớ Chúa ra đi bình an!)
Ngày 13 tháng 5 năm 1981, ngày mưu sát Ðức Giáo Hoàng trong buổi tiếp kiến chung tại quảng trường Thánh Phêrô, Thiên Chúa Quan Phòng đã cứu tôi khỏi chết như một phép lạ. Ðấng là Chúa duy nhất của sự sống và sự chết, chính Ngài đã kéo dài thêm đời sống tôi; một cách nào đó, Ngài đã cho tôi một cuộc sống thứ hai. Kể từ giây phút đó, đời tôi thuộc về Ngài nhiều hơn nữa. Tôi hy vọng rằng Ngài sẽ giúp tôi nhận ra cho đến khi nào tôi phải tiếp tục việc phục vụ mà Ngài đã gọi tôi thực hiện vào ngày 16 tháng 10 năm 1978. Tôi xin Ngài hãy gọi tôi về với Ngài, khi nào ngài muốn. "Sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa... chúng ta là sở hữu của Chúa." (x. Roma 14,8). Tôi cũng hy vọng rằng bao lâu Thiên Chúa để cho tôi thi hành việc phục vụ của Phêrô trong giáo hội, thì bấy lâu Thiên Chúa nhân từ sẽ ban cho tôi những sức mạnh cần thiết cho công việc phục vụ nầy.
3. Như mọi năm, trong những ngày cấm phòng, tôi đều đọc Di Chúc tôi đã viết ra ngày 6 tháng III năm 1979. Tôi tiếp tục giữ y nguyên những quyết định trong di chúc đó. Ðiều mà bây giờ được thêm vào, và cả trong những lần cấm phòng tiếp theo, là suy tư của tôi về tình trạng chung khó khăn và căng thẳng đã ghi dấu thập niên 80. Nhưng từ mùa thu năm 1989, tình trạng nầy đã thay đổi. Thập niên cuối cùng của thế kỷ XX không còn có những căng thẳng trước đó nữa; điều nầy không có nghĩa là nó không mang đến những vấn đề và những khó khăn mới. Một cách đặc biệt, xin chúc tụng Thiên Chúa Quan Phòng vì thời kỳ được gọi là "thời chiến tranh lạnh" đã kết thúc mà không có cuộc xung đột nguyên tử dữ dằn, một nguy hiểm đã đè nặng trên thế giới trong thời gian trước đó.
4. Ðứng nơi ngưỡng cửa của ngàn năm thứ ba "in medio Ecclesiae" (giữa lòng Giáo Hội), một lần nữa tôi muốn nói lên lòng biết ơn đối với Chúa Thánh Thần vì hồng ân cao cả Công Ðồng Vaticanô II; cùng với toàn thể giáo hội --- và nhất là với toàn thể hàng giám mục --- tôi cảm thấy mình mang ơn Công Ðồng nầy. Tôi xác tín rằng trong thời gian dài lâu nữa các thế hệ đến sau sẽ còn múc lấy những sự phong phú mà Công Ðồng của thế kỷ XX đã phân phát tràn đầy cho chúng ta. Như là vị giám mục đã tham dự vào biến cố Công Ðồng từ ngày đầu tiên cho đến ngày cuối cùng, tôi muốn trao phó phần gia tài to lớn nầy cho tất cả những ai đang và sẽ được mời gọi thực hiện phần gia tài nầy trong tương lai. Về phần mình, tôi cám ơn vị Chủ Chăn đời đời vì đã cho phép tôi phục vụ cho công cuộc hết sức cao cả nầy trong suốt những năm của triều giáo hoàng của tôi.
"In medio Ecclesiae, giữa lòng giáo hội"... từ những năm đầu tiên tôi phục vụ như một giám mục chính nhờ Công Ðồng mà tôi đã được cảm nghiệm sự hiệp thông huynh đệ của hàng giám mục. Như là linh mục của tổng giáo phận Cracovia, tôi đã cảm nghiệm được thế nào là sự hiệp thông huynh đệ của linh mục đoàn --- Công Ðồng đã mở ra một chiều kích mới của kinh nghiệm nầy.
5. Có biết bao người tôi phải kể danh tánh ra nơi đây! Có lẽ Thiên Chúa đã gọi đa số các vị nầy về với Ngài rồi! --- phần những ai còn sống trên trần gian nầy, những lời của Di Chúc nầy nhắc nhớ đến họ, tất cả và khắp mọi nơi, bất luận họ đang sinh sống nơi đâu.
Trong vòng hơn 20 năm thi hành công việc phục vụ của Phêrô "in medio Ecclesiae" giữa lòng giáo hội, tôi đã cảm nghiệm được sự cộng tác thân thiện và hết sức phong phú kết quả của biết bao vị Hồng Y, Tổng giám mục, và Giám mục, của biết bao Linh mục và biết bao người tận hiến --- những nam nữ tu sĩ --- và cuối cùng của biết bao anh chị em giáo dân, trong Giáo triều, trong Văn Phòng Tổng Ðại Diện của giáo phận Roma, và cả bên ngoài những môi trường vừa nói.
Làm sao mà không ôm trọn trong ký ức đầy biết ơn tất cả các hàng giám mục trong thế giới, mà tôi đã được tiếp xúc trong chuỗi những cuộc viếng thăm Tòa Thánh "ad limina Apostolorum"! Làm sao không nhớ đến biết bao anh em kitô, không công giáo! Và vị Giáo Trưởng Do Thái tại Roma và đông số những vị đại diện của các tôn giáo không kitô! Và biết bao vị đại diện cho thế giới văn hóa, khoa học, chính trị, và thế giới các phương tiện truyền thông xã hội!
6. Ðến gần mức cuối cùng của cuộc đời tôi trên trần gian, tôi nhớ về lúc khởi đầu, nhớ đến Cha Mẹ tôi, nhớ đến anh đến chị tôi (người chị mà tôi không biết, bởi vì người chị nầy đã chết trước khi tôi được sinh ra), nhớ đến giáo xứ Wadovice, nơi tôi đã được Rửa Tội, đến thành phố tôi yêu mến, nhớ những người bạn cùng tuổi, những bạn học nam nữ của trường tiểu học, trung học và đại học, cho đến thời BaLan bị chiếm đóng, khi tôi phải làm việc như người lao động, và sau đó tại giáo xứ Niegowi... nhớ đến giáo xứ San Floriano tại Cracovia, đến việc mục vụ nơi giới trí thức, đến môi trường sinh sống... tất cả mọi môi trường sinh sống... ở Cracovia và ở Roma... nhớ đến những người đã được Chúa trao phó cho tôi một cách đặc biệt.
Với tất cả mọi người, tôi muốn nói điều duy nhất nầy: "Xin Thiên Chúa thưởng công".
In manus tuas , Domine, commendo spiritum meum", "Trong tay ngài, lạy Chúa, con xin phó thác hồn con".
A.D.
Ngày 17 tháng III năm 2000
(bản dịch Việt ngữ của Ðặng Thế Dũng)

Address

Ho Chi Minh City
727010

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trung tâm Caravario cộng tác viên Salêdiêng Don Bosco Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Trung tâm Caravario cộng tác viên Salêdiêng Don Bosco Việt Nam:

Share