26/09/2025
Lễ Huý Kỵ Lần Thứ 30 Cố Hoà Thượng thượng Thiện hạ Phú Viện Chủ Tổ Đình Giác Viên
Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Phú (1905-1995)
1. Hành trạng của Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Phú nguyên Thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nguyên Quyền Viện trưởng Viện Hoằng đạo Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam
1.1. Thân thế và quá trình xuất gia tu học
Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Phú, thế danh là Trần Văn Vang, sinh năm 1905 tại xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Thân phụ là cụ Trần Văn Tuân, thân mẫu là cụ Huỳnh Thị Nghị. Ngài là con trưởng trong gia đình có 4 anh, chị, em. Trong đó có hai em đều xuất gia là Hòa thượng Thích Thiện Hòa trụ trì chùa Tứ Phước và Hòa thượng Thích Huệ Sanh trụ trì Tổ đình Thạnh Hòa, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Hòa thượng vốn được sinh ra trong một gia đình gia giáo, trung nông, phúc hậu, nhiều đời kính tin Tam bảo nên chí xuất trần sớm được gieo trồng từ thuở nhỏ. Năm 1912, sau khi thân sinh qua đời, Hòa thượng cùng 2 người em được sư thúc là Tổ Thích Thiện Thới lúc đó trụ trì Tổ đình Thạnh Hòa, huyện Cần giuộc, tỉnh Long An nhận về nuôi dưỡng. Năm 1920, Hòa thượng được sư thúc dẫn đến Tổ đình Giác Lâm xuất gia với Tổ Thích Thạnh Đạo húy Hồng Hưng – một bậc danh tăng lúc bấy giờ để tu học. Hòa thượng được bổn sư ban pháp hiệu Thiện Phú, pháp húy Nhật Xuân, nối dòng Lâm Tế Gia Phổ đời 41. Kể từ đó, Đường giải thoát lâng lâng nhẹ gót, vượt trần gian siêu thoát luân hồi, bỏ ngoài ngàn dặm lòng tham dục, để lẽ huyền vi còn mãi trong tâm. Sau khi xuất gia, Hòa thượng được bổn sư cho theo học với cậc danh tăng lúc bấy giờ như Tổ Từ Phong (Chùa Giác Hải), Tổ Như Chơn…..Với sự thông minh sẵn có, lòng khát ngưỡng Đại thừa, ngày đêm tinh tấn tấn tu học, phụng trì chánh giới nên năm 1925, Hòa thượng được Bổn sư cho đăng đàn thọ giới tại Tổ đình Giác Lâm, chính thức dự vào hàng cập đệ, ngôi Tam Bảo tam tôn kế vị, giới thân huệ mạng trang nghiêm, xứng đáng là sứ giả Như Lai, thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sinh.
1.2. Sự nghiệp hoằng pháp
Năm 1930, Hòa thượng được Bổn sư cử làm thư ký và phụ trách tài chính cho Tổ đình Giác Lâm và Tổ đình Giác Viên. Năm Kỷ Sửu (1949), Bổn sư viên tịch, thể theo di chúc, Hòa thượng được suy cử Phó trưởng tử và nhận nhiệm vụ Phó trụ trì Tổ đình Giác Lâm. Năm 1952, khi Giáo hội Lục hòa Tăng được thành lập, Hòa thượng được chư tôn thiền đức công cử Phó Tăng giám Trung ương Giáo hội Lục Hòa Tăng kiêm Tăng giám Thành hội Sài Gòn. Năm 1953, Hòa thượng cùng chư tôn Hòa thượng Thích Thiện Tòng (Chùa Trường Thạnh, quận 1), Hòa thượng Thích Thành Đạo (Chùa Phật Ấn, quận 1), Hoà thượng Thích Minh Đức (Chùa Thiên Tôn, quận 5), Hòa thượng Thích Thiện Thuận (Chùa Giác Lâm, quận Tân Bình), Hòa thượng Thích Bửu Ý (Chùa Long Thạnh, quận Bình Tân), Hòa thượng Thích Bích Lâm (Chùa Nghĩa Phương, Nha Trang) thành lập Trường Phật học viện Lục Hòa đặt tại Tổ đình Giác Viên nhằm mục đích đào tạo Tăng tài cho Giáo hội. Hòa thượng trực tiếp làm Giáo thọ.
Năm 1969, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam ra đời, Hòa thượng được suy cử làm Phó Viện trưởng Viện Hoằng Đạo kiêm phụ trách Ngoại vụ. Tháng 9 năm 1969, Hòa thượng được công cử làm Trưởng đoàn GHPGCT Việt Nam sang thăm Phật giáo Nhật Bản, Hàn Quốc, Đại Loan nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị, trao đổi văn hóa và đạo tạo Tăng Ni du học. Năm 1971, Hòa thượng Thích Minh Đức Viện trưởng Viện trưởng Viện Hoằng Đạo viên tịch, Ngài được suy cử làm Quyền viện trưởng. Năm 1973, Hòa thượng Thích Thiện Thuận Viện trưởng Viện Hoằng Đạo viên tịch, Hòa thượng tiếp tục được suy cử làm Quyền Viện trưởng. Năm 1975, Ban Liên lạc yêu nước Phật giáo TP Hồ Chí Minh được thành lập Hòa thượng được suy cử làm Uỷ viên Đoàn chủ tịch.
Từ năm 1976 - 1980, Hòa thượng đã giành nhiều thời gian công sức để sao lục các bản kinh bằng Hán ngữ và khoa ứng phú làm tài liệu lưu truyền cho hậu thế và ngày nay vẫn còn được lưu trữ tại Tổ đình Giác Viên.
Năm 1981, Hòa thượng là Đại biểu tham dự Đại hội thống nhất Phật giáo toàn quốc tại thủ đô Hà Nội. Tại Đại hội, Hòa thượng được suy tôn làm Thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Năm 1982, Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, Ban Đại diện Phật giáo Q.11 cũng ra đời, Hòa thượng được cung thỉnh làm Chứng minh Ban Trị sự Thành hội, Chứng minh Ban Đại diện Phật giáo quận 11.
Với giới đức trang nghiêm, thanh tịnh, mô phạm chốn tòng lâm phạm vũ, nên vào năm 1956, Hòa thượng được cung thỉnh làm Giáo thọ Trường hương Tổ đình Giác Viên. Năm 1964, Hòa thượng được cung thỉnh làm Yết ma Đại giới Đàn Chùa Bửu Quang, Quảng Ngãi. Năm 1971, Hòa thượng khai mở và làm Hóa chủ Trường hương và Đại giới đàn tại Chùa Giác Lâm. Năm 1973, Hòa thượng làm Chủ hương Trường hương tại Chùa Sùng Đức, Quận 11. Năm 1994 và năm 1995, Hòa thượng được cung thỉnh làm Chứng minh Trường hạ tại Tổ đình Giác Viên.
Với sứ mệnh “trụ Pháp Vương gia, trì Như Lai tạng”, Hòa thượng đã cùng Sư huynh Hòa thượng Thích Thiện Thuận duy trì và trang nghiêm ngôi Tam Bảo Tổ đình Giác Lâm được ổn định, không ngừng phát triển trong lòng dân tộc. Năm 1968, bom đạn tàn phá, một số bộ phận của Tổ đình Giác Viên bị hư hại. Sơn môn pháp phái đã cử Hòa thượng về Trụ trì Tổ đình Giác Viên. Trong ý nghĩa trang nghiêm ngôi Tam Bảo là trang nghiêm Tịnh độ tại nhân gian, Hòa thượng đã tiến hành đại trùng tu Tây lang và Nhà trụ Tổ đình một cách khang trang nhưng vẫn giữ được nét truyền thừa cổ xưa của dân tộc, trở thành một di tích lịch sử văn hóa của Thành phố Hồ Chí Minh và của cả nước. Năm 1994, Ngài chính thức bàn giao chức vụ trụ trì cho Ban trưởng tử , Hòa thượng Thích Huệ Viên thay mặt cho Ban truyền tử nhận lãnh trụ trì, Hòa thượng được suy tôn là Viện chủ Tổ đình Giác Viên.
1.3. Qúa trình dấn thân phụng sự dân tộc
Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Phú là một bậc cao tăng thạc đức, trọn đời sống cho lý tưởng phụng sự đạo pháp và dân tộc. Bằng tinh thần yêu nước nồng nàn, Hòa thượng đã tích cực tham gia các phong trào chống đế quốc thực dân. Năm 1945, Hòa thượng bị Thực dân Pháp bắt cầm tù 03 tháng vì bị tình nghi là hoạt động kinh tài cho Cách mạng. Sau khi ra tù, Hòa thượng về tịnh dưỡng tại Tổ đình Thạnh Hòa, Long An để tránh sự theo dõi của Thực dân Pháp.
Với phương châm “phục vụ chúng sanh là thiết thực cúng dường chư Phật”, Hòa thượng đã tích cực tham gia nhiều hoạt động từ thiện xã hội trên địa bàn cũng như những nơi nào chúng sanh cần. Năm 1987, Hòa thượng đã cho thành lập Phòng chuẩn trị đông y tại Chùa Giác Viên để khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho đồng bào nghèo…. Năm 1995, trước khi viên tịch chỉ 15 ngày, Hòa thượng còn chỉ dạy các đệ tử xuất 10 triệu đồng để làm chẩn tế chẩn bần cho đồng bào nghèo tại phường 3 quận 11 vào ngày lễ vu lan.
Với cống hiến cho sự nghiệp Đạo pháp và dân tộc qua nhiều thời kỳ, Hòa thượng đã được Đảng, nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý, Trung ương Giáo hội, Thành hội Phật giáo tặng nhiều Bằng Tuyên dương công đức.
Hơn 80 năm tu học, hành đạo, hoằng pháp lợi sinh, Hòa thượng đã trở thành một bậc mô phạm mẫu mực, thạch trụ tăng già, là tấm gương sáng cho các thế hệ Tăng, Ni, Phật tử noi theo. Thế rồi, theo thời gian, thân tứ đại của Hòa thượng cũng mỏi mòn theo năm tháng, theo định luật vô thường, Hòa thượng đã an nhiên thu thần, thị tịch vào lúc 9 giờ ngày 30 tháng 8 năm 1995 (nhằm ngày 5 tháng 8 năm Ất Hợi) tại Tổ đình Giác Viên.
Thời gian có trôi qua, không gian có thay đổi, nhưng công đức và đạo nghiệp của Hòa thượng vẫn còn sống mãi trong tâm trí của Tăng Ni, Phật tử, nhất là Tăng Ni, Phật tử TP.Hồ Chí Minh và trang sử muôn màu của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.
2. Vai trò của Hòa thượng Thích Thiện Phú trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam
2.1. Hòa thượng Thích Thiện Phú là người trực tiếp tham gia soạn thảo Hiến chương của Giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam.
Bản Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam (Lục hòa Tăng và Lục Hòa Phật tử) được chấp thuận do Đại hội đồng thường niên Trung ương ngày 9/11/1968 tại Văn phòng Viện Tăng thống và đã được điều chỉnh lại tại Kỳ Đại hội thường niên vào ngày 15 – 16 tháng 2 năm Nhâm Tý, nhằm ngày 29 – 30/2/1972 tại Chùa Trường Thạnh. Hiến chương là một văn kiện có tính quyết định đến sự phát triển và trường tồn của một tổ chức. Điều này được thể hiện ngay trong Lời mở đầu của Hiến chương, Chư tôn thiền đức đã nhận định: “Điều thiết yếu cho một tổ chức, có tính cách duy trì nền Phật giáo cổ truyền là một bản Hiến chương. Có khả năng phù hợp với nhu cầu của đa số, Tăng Ni, Phật tử, đồng thời đảm bảo sự trường tồn của giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam…”. Hòa thượng Thích Thiện Phú đã cùng với Hòa thượng Thích Huệ Thành, Hòa thượng Thích Minh Đức, Hòa thượng Thích Minh Thành, Hòa thượng Thích Bửu Ý trực tiếp chắp bút, soạn thảo bản Hiến Chương quan trọng này. Qua đó, thể hiện vai trò của Hòa thượng Thích Thiện Phú trong việc đặt nền móng cho Tổ chức Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam.
Với 12 Chương, 30 Điều, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của một tổ chức Phật giáo yêu nước “Phụng sự Phật pháp, duy trì hữu hiệu nền Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, chấp hành nghiêm chỉnh quy chế tòng lâm của Tổ tổ tương truyền và đem lý tưởng đạo đức thuần túy để cốn hiến vào sự nghiệp xây dựng một nền hạnh phúc Chân – Thiện – Mỹ; phục vụ nhân loại và dân tộc Việt Nam; đó là lập trường và đường lối duy nhất của Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, với chủ trương hòa hợp, lấy tình đoàn kết, tương thân, tương trợ, đối nội cũng như đối ngoại, để phát huy tinh thần đạo đức cổ truyền”. Qua tư tưởng này, phần nào thể hiện được tinh thần yêu nước thương dân của Hòa thượng Thích Thiện Phú mà Ngài đã thực hiện hạnh nguyện của mình trong suốt 80 năm tu học và hành đạo.
2.2. Hòa thượng Thích Thiện Phú với vai trò lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam.
Năm 1969, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam chính thức được thành lập với hai viện điều hành là Viện Tăng thống và Viện Hoằng đạo. Hòa thượng Thích Thiện Phú được suy cử là Phó Viện trưởng Viện Hoằng Đạo đặc trách Ngoại vụ. Phát huy những kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình đảm nhiệm cương vị Phó Tăng giám Giáo hội Lục Hòa Tăng Việt Nam (năm 1952), Hòa thượng cùng chư tôn thiền đức lãnh đạo GHPGCT Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của tổ chức kể từ khi thành lập cho đến năm 1981. Điều này, được thể hiện thông qua sự phát triển mạnh mẽ của Giáo hội Phật giáo Cổ truyền tại 37 tỉnh, thành hội và 81 quận, huyện hội với trên 2000 ngôi chùa, tự, viện thuộc hệ phái; với khoảng trên 10.750 Tăng, Ni, 20.500 đạo chúng và trên 285.000 tín đồ Phật tử. Hơn nữa, với truyền thống “Lục hòa” và “Phật giáo biện tâm”, Hòa thượng đã đem đến cho cộng đồng Tăng, Ni, tín đồ Phật giáo một đời sống nội tâm phong phú, thể hiện tinh thần yêu nước cao độ, làm chất liệu đoàn kết trong tổ chức giáo hội, trong cộng đồng Phật tử, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong công cuộc phụng sự đạo pháp và phụng sự dân tộc của GHPGCT. Hòa thượng đã hoạt động không ngừng nghỉ, kết nối Phật giáo các địa phương và vùng miền, mang lại một kết quả viên mãn, tạo nên một sự đoàn kết hòa hợp trong Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam.
Trong hoạt động đối ngoại, Hòa thượng có một vai trò đặc biệt quan trọng, là cầu nối giữa GHPGCT Việt Nam với các tổ chức Phật giáo tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Hòa thượng đã dẫn đầu các Đoàn công tác của Giáo hội đến thăm các Tổ chức Phật giáo quốc tế nhằm trao đổi các chương trình Phật sự, giao lưu văn hóa và đào tạo Tăng tài.
2.3. Hòa thượng Thích Thiện Phú với vai trò vận động thống nhất Phật giáo năm 1981
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, hai miền Nam Bắc sum họp một nhà, tình hình Phật giáo trong nước dần dần ổn định trở lại. Trên phạm vi cả nước, có nhiều tổ chức Phật giáo đang hoạt động như Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy, Giáo hội Khất sỹ Việt Nam, Thiên Thai giáo Quán Tông….Để Phật giáo có được sự ổn định và phát triển bền vững, góp phần hiệu quả vào công cuộc tái thiết đất nước thì việc thống nhất các tổ chức Phật giáo là yêu cầu cấp bách đặt ra lúc bấy giờ.
Trước yêu cầu này, tháng 8 năm 1975, Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh được thành lập. Trong đó, thành viên nòng cốt của Ban liên lạc Phật giáo yêu nước là các bậc tôn túc của Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam như Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Hòa thượng Thích Thiện Hào, Hòa thượng Thích Bửu Ý, Hòa thượng Thích Hồng Năng (Chùa Pháp Minh, quận 😎 …..và Hòa thượng Thích Thiện Phú với vai trò là Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Hòa thượng luôn tận tụy, trách nhiệm, nỗ lực trong hoạt động tuyên truyền cho toàn thể Tăng, Ni, Phật tử để mọi người nhận thức được những giá trị và lợi ích thiết thực của việc thống nhất Phật giáo nước nhà, không chỉ mang lại những lợi ích to lớn cho Đạo pháp mà còn góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ mới. Tại Đại hội thành lập GHPGVN tại Thủ đô Hà Nội năm 1981, Hòa thượng là thành viên Đoàn Đại biểu ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh tham dự Đại hội. Hòa thượng đã được toàn thể Đại hội suy tôn làm Thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Sự kiện này, góp phần khẳng định sự tín nhiệm, kính trọng về Đạo hạnh, nhân cách và sự ghi nhận những cống hiến to lớn của Hòa thượng đối với Đạo pháp và dân tộc của Tăng, Ni, Phật tử nói chung.