Tổ đình Giác Viên

Tổ đình Giác Viên ⛩️ Tổ đình Giác Viên, 161/35/20 đường Lạc Long Quân, Phường Bình Thới (Quận 11 cũ) - TP.Hồ Chí Minh

🌸 LỊCH SỬ HÌNH THÀNHVÀ Ý NGHĨA LỄ NHIỄU THÁP – TẢO THÁPTẠI CHÙA GIÁC VIÊN 🌸Chùa Giác Viên gắn liền mật thiết với lịch sử...
22/01/2026

🌸 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
VÀ Ý NGHĨA LỄ NHIỄU THÁP – TẢO THÁP
TẠI CHÙA GIÁC VIÊN 🌸

Chùa Giác Viên gắn liền mật thiết với lịch sử hình thành, trùng tu và truyền thừa của Tổ đình Giác Lâm, là một minh chứng sinh động cho tinh thần hộ trì Tam Bảo, kế thừa pháp mạch của chư vị Tổ sư thiền phái Lâm Tế Chánh Tông tại vùng đất Gia Định xưa. Sự hiện hữu và phát triển của chùa Giác Viên không tách rời dòng lịch sử Phật giáo Nam Bộ, mà trái lại, luôn song hành cùng Tổ đình Giác Lâm trong công cuộc hoằng dương chánh pháp và đào tạo Tăng tài.

Vào cuối thế kỷ XVIII, trong công cuộc đại trùng tu chùa Giác Lâm,
Thiền sư Tiên Giác Hải Tịnh (thuộc phái Lâm Tế, đời thứ 36)
đã mượn bến Hố Đất, thuộc khuôn viên chùa Quan Âm Các (tiền thân của chùa Giác Viên ngày nay),
làm nơi tập kết gỗ quý từ rừng sâu đưa về bằng đường thủy.
Đây là vị trí thuận lợi, nằm gần các tuyến sông rạch,
giúp việc vận chuyển vật liệu xây dựng quy mô lớn
phục vụ công trình trùng kiến chùa Giác Lâm được hanh thông và hiệu quả.

Sau khi công cuộc đại trùng tu chùa Giác Lâm hoàn mãn,
số gỗ quý dư còn lại đã không bị lãng phí,
mà được chư Tổ sử dụng để xây dựng một ngôi già lam mới
ngay trên chính bến Hố Đất này.
Từ đó, Quan Âm Các được mở rộng, tôn tạo,
và chính thức đổi danh xưng thành chùa Giác Viên.
Ngôi chùa ra đời không chỉ là kết quả của duyên lành vật chất,
mà còn là sự tiếp nối tự nhiên của tâm nguyện hoằng pháp,
trở thành một đạo tràng quan trọng,
song hành cùng Tổ đình Giác Lâm trong việc giữ gìn và lan tỏa ánh sáng Phật pháp.

Trải qua dòng lịch sử truyền thừa liên tục và bền chặt,
chùa Giác Viên đã được chư vị Tổ sư kế tục trụ trì,
giữ gìn thanh quy thiền môn,
chấn chỉnh đạo phong và phát triển đạo tràng:
• Thiền sư Tiên Giác Hải Tịnh – phái Lâm Tế, đời thứ 36
• Tổ Hoàng Ân Minh Khiêm – đời thứ 37
• Tổ Chơn Không Như Nhu – đời thứ 38
• Tổ Như Phòng Hoàng Nghĩa – đời thứ 39
• Tổ Hồng Từ Huệ Nhơn – đời thứ 40
• Tổ Nhựt Xuân Thiện Phú – đời thứ 41
• Tổ Nhựt Trước Huệ Viên – đồng đời thứ 41

Trong dòng truyền thừa ấy,
công đức của Tổ Như Phòng Hoàng Nghĩa được hàng hậu học đặc biệt tôn kính.
Ngài là bậc đã kế thừa trọn vẹn cơ nghiệp Tổ đình,
gìn giữ đạo mạch trong giai đoạn nhiều biến động,
chấn chỉnh thanh quy, chăm lo đời sống tu học của Tăng chúng,
làm cho chùa Giác Viên trở thành một đạo tràng trang nghiêm, bền vững,
là chốn tu học và nương tựa tâm linh cho nhiều thế hệ Tăng Ni và Phật tử.

Song song với lịch sử chùa Giác Viên,
không thể không nhắc đến Đức Tổ Tông Viên Quang
(1758–1827), húy Tổ Tông,
thuộc đời pháp thứ 36 của tông Lâm Tế Chánh Tông,
vị đại lão Hòa thượng trụ trì chùa Giác Lâm,
người có công lao đặc biệt to lớn trong việc xây dựng và phát triển
chùa Giác Lâm thành một Phật học xá quy mô bậc nhất Nam Bộ thời bấy giờ.

Dưới sự lãnh đạo của Ngài,
chùa Giác Lâm không chỉ được đại trùng tu bằng gỗ quý, kiến trúc bền chắc,
mà còn trở thành trung tâm đào tạo Tăng tài,
nuôi dưỡng tăng chúng, giảng dạy kinh luận liên tục
suốt hơn hai mươi năm,
làm rạng ngời Phật pháp nơi vùng đất Gia Định – Đồng Nai.
Đạo hạnh và trí tuệ của Ngài
đã tạo ảnh hưởng sâu rộng không chỉ trong giới thiền môn
mà còn trong giới trí thức và quan lại đương thời.

Mối thâm giao đạo – đời giữa Đức Tổ Viên Quang
và An Toàn Hầu Trịnh Hoài Đức
là một dấu son đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Nam Bộ.
Những bài thơ, câu đối bất hủ mà Trịnh Hoài Đức để lại
đã tôn vinh đạo hạnh và trí tuệ của Ngài,
khẳng định chân lý:

“Tuy thân hoại mà danh không mất,
vì đạo nghiệp và công đức vẫn lưu truyền muôn đời.”

Trên nền tảng lịch sử và truyền thừa ấy,
Lễ Nhiễu Tháp – Tảo Tháp tại Tổ đình Giác Lâm và chùa Giác Viên
được chư Tổ ấn định và duy trì như một thông lệ thiêng liêng hằng năm.
Cụ thể, ngày mùng 3 tháng Chạp cử hành Lễ Tảo Tháp
tại Tổ đình Giác Lâm,
và ngày mùng 4 tháng Chạp tiếp tục cử hành Lễ Tảo Tháp
tại chùa Giác Viên.
Việc ấn định hai ngày lễ liên tiếp này
không chỉ thuận duyên cho chư Tôn đức và hàng hậu học
cùng vân tập tham dự,
mà còn thể hiện sự liên kết lịch sử – pháp mạch – đạo tình
giữa hai ngôi Tổ đình lớn của Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh.

Lễ Nhiễu Tháp – Tảo Tháp vì thế
không chỉ là nghi thức tưởng niệm mang tính hình thức,
mà chính là tảo tâm – tịnh nghiệp,
để hàng hậu học quay về nguồn cội,
ghi nhớ ân đức khai sơn – trùng tu – truyền thừa của chư vị Tổ sư,
từ đó phát nguyện tiếp nối chí nguyện
hoằng pháp lợi sanh, giữ gìn tông phong, làm rạng ngời Phật pháp
cho hôm nay và muôn đời sau.

🙏 Nam mô Lịch Đại Tổ Sư Bồ Tát Ma Ha Tát.

22/01/2026
31/10/2025

🌸 Chùa Giác Viên – Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia

Giữa lòng thành phố Sài Gòn nhộn nhịp, Chùa Giác Viên vẫn lặng lẽ toạ mình bên những hàng cây xanh, giữ vẹn nét cổ kính của một ngôi tự viện đã trải qua hơn hai thế kỷ. Nơi đây không chỉ là chốn nương tựa tâm linh của bao thế hệ Phật tử, mà còn là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, mang giá trị đặc sắc về lịch sử, mỹ thuật và văn hoá Phật giáo Nam Bộ.

Được hình thành vào cuối thế kỷ XVIII, chùa Giác Viên là một trong những ngôi chùa cổ nhất Sài Gòn, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển Phật giáo vùng Gia Định xưa. Trải qua nhiều lần trùng tu, chùa vẫn gìn giữ nguyên nét mộc mạc của kiến trúc truyền thống: mái ngói rêu phong, cột kèo chạm trổ tinh xảo, cùng những hoành phi câu đối mang đậm dấu ấn nghệ thuật dân gian Nam Bộ.

Bước chân vào chùa, du khách cảm nhận ngay bầu không khí thanh tịnh, tiếng chuông chùa ngân vang hòa cùng mùi hương trầm thoảng nhẹ. Mỗi gian điện, mỗi pho tượng, mỗi đường nét điêu khắc đều ẩn chứa tinh thần từ bi, trí tuệ và hồn dân tộc Việt. Chùa Giác Viên không chỉ là nơi hành hương lễ Phật, mà còn là không gian gìn giữ ký ức văn hoá Sài Gòn xưa, nơi bao thế hệ tìm về chiêm bái, an trú tâm hồn và nuôi dưỡng niềm tin nơi cửa Phật.

Lễ Huý Kỵ Lần Thứ 30 Cố Hoà Thượng thượng Thiện hạ Phú Viện Chủ Tổ Đình Giác Viên Đại lão Hòa thượng Thích Thiệ...
26/09/2025

Lễ Huý Kỵ Lần Thứ 30 Cố Hoà Thượng thượng Thiện hạ Phú Viện Chủ Tổ Đình Giác Viên

Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Phú (1905-1995)
1. Hành trạng của Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Phú nguyên Thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nguyên Quyền Viện trưởng Viện Hoằng đạo Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam
1.1. Thân thế và quá trình xuất gia tu học
Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Phú, thế danh là Trần Văn Vang, sinh năm 1905 tại xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Thân phụ là cụ Trần Văn Tuân, thân mẫu là cụ Huỳnh Thị Nghị. Ngài là con trưởng trong gia đình có 4 anh, chị, em. Trong đó có hai em đều xuất gia là Hòa thượng Thích Thiện Hòa trụ trì chùa Tứ Phước và Hòa thượng Thích Huệ Sanh trụ trì Tổ đình Thạnh Hòa, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Hòa thượng vốn được sinh ra trong một gia đình gia giáo, trung nông, phúc hậu, nhiều đời kính tin Tam bảo nên chí xuất trần sớm được gieo trồng từ thuở nhỏ. Năm 1912, sau khi thân sinh qua đời, Hòa thượng cùng 2 người em được sư thúc là Tổ Thích Thiện Thới lúc đó trụ trì Tổ đình Thạnh Hòa, huyện Cần giuộc, tỉnh Long An nhận về nuôi dưỡng. Năm 1920, Hòa thượng được sư thúc dẫn đến Tổ đình Giác Lâm xuất gia với Tổ Thích Thạnh Đạo húy Hồng Hưng – một bậc danh tăng lúc bấy giờ để tu học. Hòa thượng được bổn sư ban pháp hiệu Thiện Phú, pháp húy Nhật Xuân, nối dòng Lâm Tế Gia Phổ đời 41. Kể từ đó, Đường giải thoát lâng lâng nhẹ gót, vượt trần gian siêu thoát luân hồi, bỏ ngoài ngàn dặm lòng tham dục, để lẽ huyền vi còn mãi trong tâm. Sau khi xuất gia, Hòa thượng được bổn sư cho theo học với cậc danh tăng lúc bấy giờ như Tổ Từ Phong (Chùa Giác Hải), Tổ Như Chơn…..Với sự thông minh sẵn có, lòng khát ngưỡng Đại thừa, ngày đêm tinh tấn tấn tu học, phụng trì chánh giới nên năm 1925, Hòa thượng được Bổn sư cho đăng đàn thọ giới tại Tổ đình Giác Lâm, chính thức dự vào hàng cập đệ, ngôi Tam Bảo tam tôn kế vị, giới thân huệ mạng trang nghiêm, xứng đáng là sứ giả Như Lai, thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sinh.
1.2. Sự nghiệp hoằng pháp
Năm 1930, Hòa thượng được Bổn sư cử làm thư ký và phụ trách tài chính cho Tổ đình Giác Lâm và Tổ đình Giác Viên. Năm Kỷ Sửu (1949), Bổn sư viên tịch, thể theo di chúc, Hòa thượng được suy cử Phó trưởng tử và nhận nhiệm vụ Phó trụ trì Tổ đình Giác Lâm. Năm 1952, khi Giáo hội Lục hòa Tăng được thành lập, Hòa thượng được chư tôn thiền đức công cử Phó Tăng giám Trung ương Giáo hội Lục Hòa Tăng kiêm Tăng giám Thành hội Sài Gòn. Năm 1953, Hòa thượng cùng chư tôn Hòa thượng Thích Thiện Tòng (Chùa Trường Thạnh, quận 1), Hòa thượng Thích Thành Đạo (Chùa Phật Ấn, quận 1), Hoà thượng Thích Minh Đức (Chùa Thiên Tôn, quận 5), Hòa thượng Thích Thiện Thuận (Chùa Giác Lâm, quận Tân Bình), Hòa thượng Thích Bửu Ý (Chùa Long Thạnh, quận Bình Tân), Hòa thượng Thích Bích Lâm (Chùa Nghĩa Phương, Nha Trang) thành lập Trường Phật học viện Lục Hòa đặt tại Tổ đình Giác Viên nhằm mục đích đào tạo Tăng tài cho Giáo hội. Hòa thượng trực tiếp làm Giáo thọ.
Năm 1969, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam ra đời, Hòa thượng được suy cử làm Phó Viện trưởng Viện Hoằng Đạo kiêm phụ trách Ngoại vụ. Tháng 9 năm 1969, Hòa thượng được công cử làm Trưởng đoàn GHPGCT Việt Nam sang thăm Phật giáo Nhật Bản, Hàn Quốc, Đại Loan nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị, trao đổi văn hóa và đạo tạo Tăng Ni du học. Năm 1971, Hòa thượng Thích Minh Đức Viện trưởng Viện trưởng Viện Hoằng Đạo viên tịch, Ngài được suy cử làm Quyền viện trưởng. Năm 1973, Hòa thượng Thích Thiện Thuận Viện trưởng Viện Hoằng Đạo viên tịch, Hòa thượng tiếp tục được suy cử làm Quyền Viện trưởng. Năm 1975, Ban Liên lạc yêu nước Phật giáo TP Hồ Chí Minh được thành lập Hòa thượng được suy cử làm Uỷ viên Đoàn chủ tịch.
Từ năm 1976 - 1980, Hòa thượng đã giành nhiều thời gian công sức để sao lục các bản kinh bằng Hán ngữ và khoa ứng phú làm tài liệu lưu truyền cho hậu thế và ngày nay vẫn còn được lưu trữ tại Tổ đình Giác Viên.
Năm 1981, Hòa thượng là Đại biểu tham dự Đại hội thống nhất Phật giáo toàn quốc tại thủ đô Hà Nội. Tại Đại hội, Hòa thượng được suy tôn làm Thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Năm 1982, Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, Ban Đại diện Phật giáo Q.11 cũng ra đời, Hòa thượng được cung thỉnh làm Chứng minh Ban Trị sự Thành hội, Chứng minh Ban Đại diện Phật giáo quận 11.
Với giới đức trang nghiêm, thanh tịnh, mô phạm chốn tòng lâm phạm vũ, nên vào năm 1956, Hòa thượng được cung thỉnh làm Giáo thọ Trường hương Tổ đình Giác Viên. Năm 1964, Hòa thượng được cung thỉnh làm Yết ma Đại giới Đàn Chùa Bửu Quang, Quảng Ngãi. Năm 1971, Hòa thượng khai mở và làm Hóa chủ Trường hương và Đại giới đàn tại Chùa Giác Lâm. Năm 1973, Hòa thượng làm Chủ hương Trường hương tại Chùa Sùng Đức, Quận 11. Năm 1994 và năm 1995, Hòa thượng được cung thỉnh làm Chứng minh Trường hạ tại Tổ đình Giác Viên.
Với sứ mệnh “trụ Pháp Vương gia, trì Như Lai tạng”, Hòa thượng đã cùng Sư huynh Hòa thượng Thích Thiện Thuận duy trì và trang nghiêm ngôi Tam Bảo Tổ đình Giác Lâm được ổn định, không ngừng phát triển trong lòng dân tộc. Năm 1968, bom đạn tàn phá, một số bộ phận của Tổ đình Giác Viên bị hư hại. Sơn môn pháp phái đã cử Hòa thượng về Trụ trì Tổ đình Giác Viên. Trong ý nghĩa trang nghiêm ngôi Tam Bảo là trang nghiêm Tịnh độ tại nhân gian, Hòa thượng đã tiến hành đại trùng tu Tây lang và Nhà trụ Tổ đình một cách khang trang nhưng vẫn giữ được nét truyền thừa cổ xưa của dân tộc, trở thành một di tích lịch sử văn hóa của Thành phố Hồ Chí Minh và của cả nước. Năm 1994, Ngài chính thức bàn giao chức vụ trụ trì cho Ban trưởng tử , Hòa thượng Thích Huệ Viên thay mặt cho Ban truyền tử nhận lãnh trụ trì, Hòa thượng được suy tôn là Viện chủ Tổ đình Giác Viên.
1.3. Qúa trình dấn thân phụng sự dân tộc
Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Phú là một bậc cao tăng thạc đức, trọn đời sống cho lý tưởng phụng sự đạo pháp và dân tộc. Bằng tinh thần yêu nước nồng nàn, Hòa thượng đã tích cực tham gia các phong trào chống đế quốc thực dân. Năm 1945, Hòa thượng bị Thực dân Pháp bắt cầm tù 03 tháng vì bị tình nghi là hoạt động kinh tài cho Cách mạng. Sau khi ra tù, Hòa thượng về tịnh dưỡng tại Tổ đình Thạnh Hòa, Long An để tránh sự theo dõi của Thực dân Pháp.
Với phương châm “phục vụ chúng sanh là thiết thực cúng dường chư Phật”, Hòa thượng đã tích cực tham gia nhiều hoạt động từ thiện xã hội trên địa bàn cũng như những nơi nào chúng sanh cần. Năm 1987, Hòa thượng đã cho thành lập Phòng chuẩn trị đông y tại Chùa Giác Viên để khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho đồng bào nghèo…. Năm 1995, trước khi viên tịch chỉ 15 ngày, Hòa thượng còn chỉ dạy các đệ tử xuất 10 triệu đồng để làm chẩn tế chẩn bần cho đồng bào nghèo tại phường 3 quận 11 vào ngày lễ vu lan.
Với cống hiến cho sự nghiệp Đạo pháp và dân tộc qua nhiều thời kỳ, Hòa thượng đã được Đảng, nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý, Trung ương Giáo hội, Thành hội Phật giáo tặng nhiều Bằng Tuyên dương công đức.
Hơn 80 năm tu học, hành đạo, hoằng pháp lợi sinh, Hòa thượng đã trở thành một bậc mô phạm mẫu mực, thạch trụ tăng già, là tấm gương sáng cho các thế hệ Tăng, Ni, Phật tử noi theo. Thế rồi, theo thời gian, thân tứ đại của Hòa thượng cũng mỏi mòn theo năm tháng, theo định luật vô thường, Hòa thượng đã an nhiên thu thần, thị tịch vào lúc 9 giờ ngày 30 tháng 8 năm 1995 (nhằm ngày 5 tháng 8 năm Ất Hợi) tại Tổ đình Giác Viên.
Thời gian có trôi qua, không gian có thay đổi, nhưng công đức và đạo nghiệp của Hòa thượng vẫn còn sống mãi trong tâm trí của Tăng Ni, Phật tử, nhất là Tăng Ni, Phật tử TP.Hồ Chí Minh và trang sử muôn màu của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.
2. Vai trò của Hòa thượng Thích Thiện Phú trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam
2.1. Hòa thượng Thích Thiện Phú là người trực tiếp tham gia soạn thảo Hiến chương của Giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam.
Bản Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam (Lục hòa Tăng và Lục Hòa Phật tử) được chấp thuận do Đại hội đồng thường niên Trung ương ngày 9/11/1968 tại Văn phòng Viện Tăng thống và đã được điều chỉnh lại tại Kỳ Đại hội thường niên vào ngày 15 – 16 tháng 2 năm Nhâm Tý, nhằm ngày 29 – 30/2/1972 tại Chùa Trường Thạnh. Hiến chương là một văn kiện có tính quyết định đến sự phát triển và trường tồn của một tổ chức. Điều này được thể hiện ngay trong Lời mở đầu của Hiến chương, Chư tôn thiền đức đã nhận định: “Điều thiết yếu cho một tổ chức, có tính cách duy trì nền Phật giáo cổ truyền là một bản Hiến chương. Có khả năng phù hợp với nhu cầu của đa số, Tăng Ni, Phật tử, đồng thời đảm bảo sự trường tồn của giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam…”. Hòa thượng Thích Thiện Phú đã cùng với Hòa thượng Thích Huệ Thành, Hòa thượng Thích Minh Đức, Hòa thượng Thích Minh Thành, Hòa thượng Thích Bửu Ý trực tiếp chắp bút, soạn thảo bản Hiến Chương quan trọng này. Qua đó, thể hiện vai trò của Hòa thượng Thích Thiện Phú trong việc đặt nền móng cho Tổ chức Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam.
Với 12 Chương, 30 Điều, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của một tổ chức Phật giáo yêu nước “Phụng sự Phật pháp, duy trì hữu hiệu nền Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, chấp hành nghiêm chỉnh quy chế tòng lâm của Tổ tổ tương truyền và đem lý tưởng đạo đức thuần túy để cốn hiến vào sự nghiệp xây dựng một nền hạnh phúc Chân – Thiện – Mỹ; phục vụ nhân loại và dân tộc Việt Nam; đó là lập trường và đường lối duy nhất của Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, với chủ trương hòa hợp, lấy tình đoàn kết, tương thân, tương trợ, đối nội cũng như đối ngoại, để phát huy tinh thần đạo đức cổ truyền”. Qua tư tưởng này, phần nào thể hiện được tinh thần yêu nước thương dân của Hòa thượng Thích Thiện Phú mà Ngài đã thực hiện hạnh nguyện của mình trong suốt 80 năm tu học và hành đạo.
2.2. Hòa thượng Thích Thiện Phú với vai trò lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam.
Năm 1969, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam chính thức được thành lập với hai viện điều hành là Viện Tăng thống và Viện Hoằng đạo. Hòa thượng Thích Thiện Phú được suy cử là Phó Viện trưởng Viện Hoằng Đạo đặc trách Ngoại vụ. Phát huy những kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình đảm nhiệm cương vị Phó Tăng giám Giáo hội Lục Hòa Tăng Việt Nam (năm 1952), Hòa thượng cùng chư tôn thiền đức lãnh đạo GHPGCT Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của tổ chức kể từ khi thành lập cho đến năm 1981. Điều này, được thể hiện thông qua sự phát triển mạnh mẽ của Giáo hội Phật giáo Cổ truyền tại 37 tỉnh, thành hội và 81 quận, huyện hội với trên 2000 ngôi chùa, tự, viện thuộc hệ phái; với khoảng trên 10.750 Tăng, Ni, 20.500 đạo chúng và trên 285.000 tín đồ Phật tử. Hơn nữa, với truyền thống “Lục hòa” và “Phật giáo biện tâm”, Hòa thượng đã đem đến cho cộng đồng Tăng, Ni, tín đồ Phật giáo một đời sống nội tâm phong phú, thể hiện tinh thần yêu nước cao độ, làm chất liệu đoàn kết trong tổ chức giáo hội, trong cộng đồng Phật tử, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong công cuộc phụng sự đạo pháp và phụng sự dân tộc của GHPGCT. Hòa thượng đã hoạt động không ngừng nghỉ, kết nối Phật giáo các địa phương và vùng miền, mang lại một kết quả viên mãn, tạo nên một sự đoàn kết hòa hợp trong Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam.
Trong hoạt động đối ngoại, Hòa thượng có một vai trò đặc biệt quan trọng, là cầu nối giữa GHPGCT Việt Nam với các tổ chức Phật giáo tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Hòa thượng đã dẫn đầu các Đoàn công tác của Giáo hội đến thăm các Tổ chức Phật giáo quốc tế nhằm trao đổi các chương trình Phật sự, giao lưu văn hóa và đào tạo Tăng tài.
2.3. Hòa thượng Thích Thiện Phú với vai trò vận động thống nhất Phật giáo năm 1981
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, hai miền Nam Bắc sum họp một nhà, tình hình Phật giáo trong nước dần dần ổn định trở lại. Trên phạm vi cả nước, có nhiều tổ chức Phật giáo đang hoạt động như Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy, Giáo hội Khất sỹ Việt Nam, Thiên Thai giáo Quán Tông….Để Phật giáo có được sự ổn định và phát triển bền vững, góp phần hiệu quả vào công cuộc tái thiết đất nước thì việc thống nhất các tổ chức Phật giáo là yêu cầu cấp bách đặt ra lúc bấy giờ.
Trước yêu cầu này, tháng 8 năm 1975, Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh được thành lập. Trong đó, thành viên nòng cốt của Ban liên lạc Phật giáo yêu nước là các bậc tôn túc của Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam như Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Hòa thượng Thích Thiện Hào, Hòa thượng Thích Bửu Ý, Hòa thượng Thích Hồng Năng (Chùa Pháp Minh, quận 😎 …..và Hòa thượng Thích Thiện Phú với vai trò là Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Hòa thượng luôn tận tụy, trách nhiệm, nỗ lực trong hoạt động tuyên truyền cho toàn thể Tăng, Ni, Phật tử để mọi người nhận thức được những giá trị và lợi ích thiết thực của việc thống nhất Phật giáo nước nhà, không chỉ mang lại những lợi ích to lớn cho Đạo pháp mà còn góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ mới. Tại Đại hội thành lập GHPGVN tại Thủ đô Hà Nội năm 1981, Hòa thượng là thành viên Đoàn Đại biểu ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh tham dự Đại hội. Hòa thượng đã được toàn thể Đại hội suy tôn làm Thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Sự kiện này, góp phần khẳng định sự tín nhiệm, kính trọng về Đạo hạnh, nhân cách và sự ghi nhận những cống hiến to lớn của Hòa thượng đối với Đạo pháp và dân tộc của Tăng, Ni, Phật tử nói chung.

⸻THIỆP MỜI DỰ LỄ HUÝ KỴ LẦN THỨ 10CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH HUỆ VIÊNViện Chủ Tổ Đình Giác Viên⸻“Đèn thiền soi nẻo vô sanh,Dấu ...
27/05/2025



THIỆP MỜI DỰ LỄ HUÝ KỴ LẦN THỨ 10
CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH HUỆ VIÊN
Viện Chủ Tổ Đình Giác Viên



“Đèn thiền soi nẻo vô sanh,
Dấu chân Thầy bước, mây lành theo sau.
Một đời hoằng hoá thâm sâu,
Tịch nhiên viên tịch, đạo mầu lưu hương.”

Kính bạch Chư Tôn Đức Tăng Ni,
Kính thưa quý thiện hữu tri thức, quý Phật tử gần xa,

Trong niềm tưởng niệm sâu sắc và lòng biết ơn vô hạn đối với bậc chân tu khả kính – Cố Hòa Thượng Thích Huệ Viên, nguyên Viện chủ Tổ Đình Giác Viên, người đã dành trọn đời mình cho đạo pháp và sự hưng long của ngôi Tổ đình, chúng con thành kính tổ chức:

Lễ Huý Kỵ lần thứ 10 của Cố Hòa Thượng Thích Huệ Viên
Thời gian: Ngày mùng 1 và mùng 2 tháng 5 năm Ất Tỵ (Âm lịch)
Địa điểm: Tổ Đình Giác Viên – (địa chỉ:161/35/20 lạc Long quân phường 3 quận 11 TP HCM )

Trong suốt hành trình tu tập và hành đạo, Hòa thượng là ngọn hải đăng soi sáng cho Tăng chúng, là bóng cây che mát cho hàng đệ tử và Phật tử quy ngưỡng. Ngài đã viên tịch, nhưng “thân tứ đại tuy không còn, mà đạo phong vẫn còn lan toả khắp nơi.”

“Hạnh nguyện từ bi luôn toả sáng,
Tiếng chuông chùa mãi vọng ngàn sau.
Người đi, đạo pháp còn sâu,
Đệ huynh nương bóng, dãi dầu bước chân.”

Nhân ngày kỵ nhật thiêng liêng này, chúng con thành tâm kính mời Chư Tôn Đức Tăng Ni quang lâm chứng minh và hộ niệm; kính mời quý Phật tử, thiện hữu tri thức về tham dự, cùng hiệp lực cầu nguyện cho Giác linh Hòa thượng cao đăng Phật quốc, đồng thời tạo duyên lành cho đạo tràng được trang nghiêm, thanh tịnh, phước duyên viên mãn.

Sự hiện diện của quý vị là niềm vinh hạnh lớn lao cho toàn thể môn đồ pháp quyến và là biểu hiện tình đạo sâu sắc trong tinh thần “tôn sư trọng đạo” của người con Phật.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát

Thành tâm kính mời,

Tổ Đình Giác Viên
Ban Tổ Chức Lễ Huý Kỵ
bật

Kính thưa quý nam nữ Phật tử gần xa,ngày mai mùng 2 tháng 5, đạo tràng Chùa Giác Viên long trọng tổ chức Lễ Húy Kỵ lần t...
27/05/2025

Kính thưa quý nam nữ Phật tử gần xa,

ngày mai mùng 2 tháng 5, đạo tràng Chùa Giác Viên long trọng tổ chức Lễ Húy Kỵ lần thứ 10 của Cố Hòa Thượng Thích Huệ Viên – bậc tôn sư khả kính, người đã dày công hoằng dương chánh pháp và dìu dắt hàng hậu học trên bước đường tu học giải thoát.

Ban Tổ chức trân trọng kính mời quý thiện nam tín nữ, quý Phật tử gần xa cùng trở về tham dự, nhất tâm dâng nén tâm hương tưởng niệm và cầu nguyện giác linh Hòa Thượng cao đăng Phật quốc.

Thời gian: 10h Ngày 02 tháng 5 năm Ất tỵ
Địa điểm: Chùa Giác Viên Quận 11
Sự hiện diện của quý vị là niềm kính mộ sâu sắc đối với bậc Ân Sư, đồng thời góp phần làm cho buổi lễ thêm phần trang nghiêm và ý nghĩa.

Nam Mô A Di Đà Phật

Trân trọng kính mời,
TM. Đạo Tràng Chùa Giác Viên
bật

Những Bộ Bao Lam Cổ Kính Đẹp Nhất Đại Già Lam Tổ Đình Giác Viên -Nghệ thuật trang trí bao lam tại chùa Giác Viên - Khi n...
15/01/2025

Những Bộ Bao Lam Cổ Kính Đẹp Nhất Đại Già Lam Tổ Đình Giác Viên
-Nghệ thuật trang trí bao lam tại chùa Giác Viên
- Khi nghiên cứu nghệ thuật trang trí bao lam tại chùa Giác Viên ở Thành Phố Hồ Chí Minh, tác giả Nguyễn Thị Thu Tâm, Trường đại học Sài Gòn cho rằng, các bao lam chạm khắc ở chùa Giác Viên là một công trình nghệ thuật tiêu biểu, mang dấu ấn dân tộc rõ nét, khá điển hình về mĩ thuật ở vùng đất phương Nam.
Chùa Giác Viên được xây dựng trong thời gian trùng tu chùa Giác Lâm vào khoảng năm 1798, tiền thân chùa là một am nhỏ thường gọi là “Quan Âm Các”, đây là nơi tập kết gỗ (theo đường thủy) để xây dựng chùa Giác Lâm. Chùa Giác Viên hướng ra rạch Ông Buông, cho đến nay chỉ còn lại một ít dấu tích của con rạch đó. Năm Canh Tuất đời Tự Đức (1850), Quan Âm Các được trùng tu nâng cấp và đổi tên thành chùa Giác Viên, từ đó, qua nhiều lần trùng tu, Giác Viên có quy mô như hiện nay.

Trong chùa Giác Viên, ngoài 153 tượng gỗ, đồng, đá và gốm… còn có rất nhiều bao lam chạm khắc tinh xảo, có giá trị về văn hóa, lịch sử và nghệ thuật. Theo thống kê của Bảo tàng Cách mạng TPHCM, chùa Giác Viên có gần 60 bao lam trang trí độc đáo. Với số lượng bao lam mang giá trị nghệ thuật như vậy, tại TPHCM, hầu như không có chùa nào vượt qua chùa Giác Viên.

Nhưng theo thống kê mới nhất của nhóm nghiên cứu vào ngày 20/10/ 2016, tổng số bao lam hiện có tại chùa Giác Viên chỉ còn 55 cái, bên cạnh đó một ít bao lam bị hư hỏng do thời gian, bị ảnh hưởng khi một phần gian thờ bị sập đang được tu bổ. Trong số 55 bao lam trang trí còn lại, có 17 bao lam về đề tài Phật giáo và 38 bao lam thể hiện cây cỏ muông thú đặc trưng của Nam Bộ. Tại chính điện có 9 bao lam, Hậu Tổ có 5 bao lam, khu giảng kinh Phật có 23 bao lam, Tây lang có 9 bao lam (trong đó có 2 bao lam không chạm thủng), Đông lang có 9 bao lam.

Toàn bộ bao lam tại chùa Giác Viên đều do nhóm thợ Cầu Ông Thìn và nhóm thợ Đinh Văn Dực (thường gọi là nghệ nhân Sáu Dực) tạo tác kéo dài suốt mấy chục năm mới hoàn tất.

Về nội dung của gần 60 bao lam này, ta có thể thấy các đồ án đều mang đề tài điển tích Phật giáo, truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian hay miêu tả cảnh vật thiên nhiên bản địa. Bao lam nói về đề tài Phật giáo chủ yếu chạm khắc rồng, phụng, La hán cưỡi thú, bát bửu… Trong đề tài này, bao lam Thập bát La Hán thượng kì thú được nhắc tới như một tác phẩm nghệ thuật chạm khắc có giá trị nghệ thuật cao, gồm hai bộ, bộ thứ nhất có 2 bao lam đặt ở chính điện, giữa 2 bao lam này là bao lam Bá điểu, bộ bao lam thứ hai đặt ở Nhà Trai (nơi giảng kinh Phật). Bộ bao lam ở chính điện đã được các nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, Đỗ Duy Ngọc miêu tả, giải mã biểu tượng, kĩ thuật tạo tác… trong cuốn Địa chí văn hóa TPHCM.

Bao lam Thập bát La Hán thượng kì thú độc đáo ở kĩ thuật chạm lộng và khối tròn, ở cách diễn tả 18 vị La Hán ngồi ở tư thế chân co, chân duỗi và cưỡi thú. Mỗi vị lại cưỡi một con thú khác nhau và trên tay mỗi vị cầm một vật tượng trưng tính cách như chùy, cành, khoen, chập chõa, thanh gỗ như thẻ bài, bình hoa, ... Trang phục các vị theo quy chuẩn giống nhau nhưng do cách tạo hình điêu luyện của nghệ nhân đã làm cho tác phẩm trở nên không đơn điệu.

Xen kẽ các vị La Hán là tùng, bách và cây cối tạo thành một bố cục chặt chẽ, với cách diễn tả gần như thật, không cách điệu. Đặc biệt, bao lam Thập bát La Hán tại chính điện đã thoát ra khỏi khuôn phép của quy chuẩn mẫu mực xưa. Thường các vị La Hán cưỡi các con linh vật, nhưng ở bao lam này lại cưỡi các con vật được coi là rất bình thường như heo, dê, trâu, bò… thể hiện một cách nghĩ phóng khoáng và hài hước trong tâm hồn người Việt ở vùng đất mới. Trong đề tài dân gian, Bao lam “Bá điểu” được nhắc tới trong cuốn Địa chí văn hóa TPHCM là bao lam được nghệ nhân sử dụng kĩ thuật chạm lộng thể hiện 94 con chim các loài từ loài cao quý đến loài bình thường, đây cũng là bao lam thể hiện số chim nhiều nhất ở Nam Bộ. Ở bao lam Bá điểu, nghệ nhân kết hợp những giống chim đặc trưng của miền Nam như le le, bói cá… vào tác phẩm. Với số chim, cây cối nhiều nhưng bao lam không gây cảm giác nặng nề mà vẫn nhẹ nhàng, luôn dẫn mắt người xem đi từ bất ngờ này qua sự ngỡ ngàng khác. Các chi tiết thể hiện đặc điểm của từng loài chim, cách thể hiện trau chuốt, tỉ mỉ nhưng không khô cứng, nặng nề. Đây là một tác phẩm thoát ra ngoài sự ràng buộc khuôn khổ định sẵn của trang trí chùa thời nhà Nguyễn. Tác phẩm này được cấp riêng một bằng xác nhận kỉ lục Việt Nam số 462/KLVN/2007, thời điểm xác lập: 30/11/2007, với kỉ lục “Chùa Giác Viên, ngôi chùa có bao lam bách điểu lớn nhất Việt Nam”.

Hệ thống bao lam tại chùa Giác Viên với “Những bao lam có giá trị nghệ thuật cao là: bao lam Thập bát La Hán, bao lam Bá điểu, bao lam hình sen chài, bao lam Ngư tiều canh độc ở Đông lang, bao lam khỉ bắt chim ở Tây lang”, phong phú về thể loại, về nội dung và nhiều tác phẩm mang rõ phong cách thuần Việt. Có thể nói, đây là hệ thống bao lam có giá trị cao về mặt nghệ thuật, là vốn quý về mĩ thuật cổ.

Ngoài các bao lam “Thập bát La Hán thượng kì thú”, “Bá điểu” cùng những bao lam khác mang các đồ án điển tích có tính truyền thống, ở chùa Giác Viên còn có những bao lam có các đồ án cách tân, khác lạ, thể hiện tín ngưỡng, văn hóa dân gian vùng miền. Nổi bật là các bao lam dùng nhiều hình tượng trái Mãng cầu xiêm và Khổ qua. Việc xem xét hai tác phẩm này về nghệ thuật, về nội dung và giải mã thông điệp mà nghệ nhân xưa muốn chuyển tải qua tác phẩm mĩ thuật là rất cần thiết đối với người nghiên cứu nghệ thuật. Ở Đông lang (hành lang Đông) có một bao lam chạm lộng, trên bao lam có tổng cộng 26 trái mãng cầu đăng đối, mỗi bên 13 trái lớn nhỏ được sắp xếp thành từng cặp hai, ba trái, liên kết với nhau bằng họa tiết cành cây lớn nhỏ và lá mãng cầu, xen lẫn mười con cò bố trí riêng biệt thành cặp đối xứng nhau mỗi bên 5 con, con đậu, con tung cánh chuẩn bị bay, con đang bay. Phía dưới bao lam mỗi bên có hai tảng đá. Ở thân cây mọc từ tảng đá trên, tảng đá dưới có một vị ngư phủ đang trong tư thế cúi, nón đeo sau lưng, đầu quấn khăn, phía sau tảng đá là giỏ cá, nhân vật được trang trí nút thắt vải ngang bụng, quần xắn lên gần ngang đầu gối, một tay nắm hờ đưa ra sau, còn tay kia đưa ra phía trước với hai ngón tay chỉ thẳng trong khi các ngón khác nắm lại như cử chỉ làm phép cho một chú cò đang vươn hai cánh lên, đầu gục xuống đất. Ở trung tâm bao lam là hình hoa cúc lớn cách điệu, dưới cùng là hình hoa văn trang trí kiểu bệ đỡ có chạm lá cách điệu.

Với phong cách thể hiện vừa cách điệu vừa tả thực, phần thể hiện nội dung chính mang tính tả thực, trong khi đó các họa tiết trung tâm phía trên và phần kết của hai bên cánh gà bao lam được cách điệu theo phong cách truyền thống. Toàn bộ bố cục chuyển động uốn lượn lên trên và từ hai bên chạy tụ vào giữa trung tâm của bao lam. Các khoảng trổ thủng được nghệ nhân bố trí khéo léo, lớn nhỏ khác nhau. Các mảng trang trí cũng có sự thay đổi về hình dáng, thân cây bố trí hợp lí nhằm mục đích liên kết các mảng trang trí và khoảng trống chạm thủng. Việc sắp xếp khoảng trống phía trên nhiều, phía dưới ít, tạo cảm giác chắc chắn và dẫn mắt người xem từ dưới lên, càng lên cao cảm giác càng nhẹ nhàng, bay bổng. Các họa tiết chạm khắc khá chi tiết, tỉ mỉ như các cánh, mắt, mỏ và vẩy ở chân con cò được thể hiện rõ. Không những vậy, các thân, cành, lá còn rõ cả chi tiết gân lá, mắt, mấu của thân cây.

Trên trái mãng cầu, nghệ nhân thể hiện các g*i, cuống và thân hình cong theo các hướng khác nhau và rất được chú ý về mặt mĩ thuật. Các trái mãng cầu cũng thay đổi về kích thước lớn, nhỏ khác nhau, trái chìm sâu vào trong, trái lồi hẳn ra ngoài tạo một không gian mở trong trang trí. Với tất cả các thủ pháp nghệ thuật như trên đã nêu, nghệ nhân muốn tập trung thể hiện rõ ý nghĩa mình muốn biểu đạt, thể hiện một hình ảnh sống động về cuộc sống vùng đồng quê. Sự cách tân thể hiện trong việc sử dụng hình tượng trái mãng cầu để diễn tả những trái cây thân quen trong cuộc sống hàng ngày, gắn bó với đời thường, khác xa các loại trái cây trong điển tích các đồ án truyền thống như lựu, đào...

Ý nghĩa của trái mãng cầu xuất hiện trong mâm ngũ quả ngày tết của người dân Nam Bộ cũng mang ý nghĩa như những điều mà nghệ nhân muốn chuyển tải trong bao lam đặc biệt này. Họa tiết vị ngư phủ với con cò gợi cho người xem hình ảnh rất đời thường, dân dã, đồng thời thể hiện sự gắn kết giữa con người với thiên nhiên.

Sau gian chính điện, sát cửa sau của khu nhà Trai (khu giảng kinh Phật) là một bao lam dài 3,5m, cao 2,5m và bản rộng 0,25m. Mỗi bên bao lam trang trí 13 trái khổ qua, tổng cộng cả bao lam là 26 trái. Các trái được sắp xếp khi thì đơn lẻ, khi thành cặp hai trái, ba trái, xen kẽ là cây trúc và cành trúc. Càng lên trên các đốt trúc lại càng ngắn lại.

Trên cành trúc, bên những trái khổ qua, lá trúc, lá khổ qua là những con chim. Mỗi bên 9 con, tổng cộng 18 con có dáng dấp sinh động, con đậu, con thì bay hoặc xòe cánh. Phần trung tâm được trang trí hai trái khổ qua được sắp xếp đăng đối trên nền chùm lá, tạo thành một đồ án đẹp tại trung tâm của bao lam.

Nghệ nhân sắp xếp các cụm lá trúc, lá cây khổ qua xen kẽ tạo nên bố cục hòa quyện, các nét chạm khắc tinh xảo, có những cành trúc nhỏ chạm lộng chừng 1cm và nhỏ như cọng tăm. Các chi tiết nhỏ ở con chim cũng được chú ý từ lông cánh đến lông đuôi. Các con chim đứng thành cặp, có cả những chú chim nhỏ bên cạnh chim bố chim mẹ được thể hiện trong trang thái bình yên của một gia đình, các chi tiết nhỏ như lông, mắt, mỏ, chân chim được diễn tả chi tiết, sắc sảo.

Hầu hết trái khổ qua được chạm nổi rồi ghép vào tấm chính, ta như nhìn rõ từng mấu lồi sần sùi trên thân trái, hình trái đa dạng gần với trái khổ qua thật. Các cây trúc thanh thoát, nhỏ nhắn, các mắt được chạm rõ ràng, lá trúc tạo thành từng chùm hay đơn lẻ đều được chú ý tới từng chi tiết. Các dây leo quấn quanh cây trúc tinh tế, mềm mại, sinh động.

Phong cách nghệ thuật rất riêng biệt trong cách sắp xếp bố cục các mảng chạm khắc lá, cành, chim thay đổi liên tục không lặp lại, đồng thời các khoảng trống cũng không giống nhau về hình, về diện tích, các mảng thoáng dần ở phần trên. Dù chú ý từng chi tiết nhỏ như vậy song không làm phá vỡ bố cục chung, vừa vững vàng, chặt chẽ vừa thanh thoát, không gây cảm giác nặng nề hay dày đặc trong toàn bộ bao lam. Bố cục tạo cảm giác chuyển động từ dưới và từ hai phía lên, gặp nhau ở giữa rồi b**g ra, như một sự mãn nguyện, thăng hoa. Nghệ nhân đã thể hiện được ý đồ của nội tâm là mong muốn một cuộc sống yên bình, hạnh phúc.

Theo quy luật tự nhiên, các đốt trúc dưới gốc thường ngắn hơn các đốt trúc ở trên ngọn, nhưng ở đây, nghệ nhân cố tình tạo các đốt ở trên ngọn ngắn sát nhau để thể hiện rằng càng lên cao thân càng chắc khỏe. Việc dùng hình tượng tre trúc vốn tượng trưng cho bậc quân tử trí nhân bên cạnh những trái cây thật dân dã Nam Bộ như khổ qua, nhằm ca ngợi tinh thần khí phách của người dân khai hoang mở cõi.

Theo sự nhìn nhận của nhóm nghiên cứu, bao lam này có phong cách và nội dung thuần Việt, cách diễn tả phóng khoáng, hiện thực, không bị ảnh hưởng bởi bất cứ một phong cách nào trong cách thể hiện, mang đặc thù của cư dân Việt trên vùng đất Nam Bộ.

Tóm lại, các bao lam chạm khắc của chùa Giác Viên ngoài giá trị về mặt tạo hình trong đường nét chạm khắc trang trí, còn thấy sự phát triển của đồ án trang trí, sự thoát li các đồ án điển tích truyền thống, tiếp nhận các đồ án mang tính dân dã, đời thường, thể hiện lối sống phóng khoáng, hào sảng đặc trưng. Các tác phẩm phản ánh những mong ước của người dân mà nghệ nhân Nam Bộ gửi gắm trong nội dung được chuyển tải qua nghệ thuật chạm khắc. Đằng sau ý nghĩa ẩn sâu ấy, hai tác phẩm nghệ thuật này dường như còn mang một ý nghĩa về tôn giáo sâu sắc. Bao lam trái mãng cầu và khổ qua đã thể hiện đậm nét dân gian thuần Việt của vùng đất phương Nam so với các bao lam khác trong chùa Giác Viên và các chùa khác tại TPHCM.

Address

247 Lạc Long Quân
Ho Chi Minh City
700000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tổ đình Giác Viên posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Tổ đình Giác Viên:

Share