Hoà Thượng, Thiền sư Thích Thanh Từ

Hoà Thượng, Thiền sư Thích Thanh Từ Nếu có gì sai xót, kính mong quý Thầy,Cô và Phật tử hoan hỷ bỏ qua. 🙏🏻🙏🏻🙏🏻 Thân phụ của Hòa Thượng húy Trần Văn Mão , thân mẫu húy Nguyễn Thị Đủ .

Page do Phật tử với lòng tôn kính Sư Ông Thích Thanh Từ -Viện chủ Thiền phái Trúc Lâm lập lên để lan truyền Phật Pháp chánh tông và những bài Pháp thoại của Hoà Thượng. *** Page " Hoà thượng , Thiền sư THÍCH THANH TỪ " do Phật tử lòng tôn kính giáo Pháp Phật Pháp chánh tông của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni để lại dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi , giải thoát hoàn toàn . Qua sự hướng dẫn những bài pháp thoại của sư ông Thanh Từ hòa thượng viện chủ Trúc Lâm thiền phái .
*** Tổng hợp từ nguồn : thientongvietnam.net , thuongchieu.net , thientruclam.info

*** Hòa thượng thiền sư thượng Thanh hạ Từ là cao tăng của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại , nhà hoằng pháp lớn , dịch giả và tác gia nổi tiếng về Phật học , Ngài có công dịch giải nhiều nhất về thiền tông , Ngài phục hưng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử . Thiền Sư Thích Thanh Từ húy là Trần Hữu Phước , sau đổi thành Trần Thanh Từ , sanh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Tý , 1924 tại Ấp Tích Khánh , Xã Thuận Mỹ , Huyện Trà Ôn , Tỉnh Vĩnh Long . Sau khi trải nghiệm ba tháng làm công quả tại Chùa Phật Quang , xứ Bang Chang , Trà Ôn , vào ngày 15 tháng 7 năm Kỷ Sửu , 1949 , Cao tăng Thích Thiện Hoa đã thế phát xuất gia cho thiền sư . CHÂN KHÔNG
" Chân không thể bất biến ,
Huyễn hữu thường đổi thay . Khói mây bọt bóng nước ,
Tan hợp cuộc vần xoay . Linh lung trăng rọi biển ,
Xanh biếc núi im lìm . Ngút ngàn mặt bể cá ,
Thăm thẳm bầu trời xanh .
Đường phố xe qua lại ,
Sông biển tàu tới lui . Dòng đời duyên biến đổi ,
Bệ đá đạo nhân ngồi . Các Thiền viện sau đây chính thức được Hòa thượng thành lập , làm nơi giáo hóa và hướng dẫn tu hành : Thiền viện Chân Không , núi Tượng Kỳ - Vũng Tàu , thành lập vào tháng 04 năm 1971 ; dời về Thường Chiều năm 1986 , được phép tái thiết năm 1995 . Thiền viện Thường Chiếu , Long Thành - Đồng Nai , thành lập tháng 08 năm 1974 . Thiền viện Viên Chiếu , Long Thành - Đồng Nai , thành lập tháng 04 năm 1975 . Thiền viện Huệ Chiếu , Bà Rịa - Vũng Tàu , thành lập tháng 04 năm 1979 . Thiền viện Linh Chiểu , Long Thành - Đồng Nai , thành lập tháng 02 năm 1980 . Thiền viện Phổ Chiếu , Bà Rịa - Vũng Tàu , thành tựu tháng 06 năm 1980 . Thiền viện Tịch Chiếu , Long Hải , thành lập tháng 07 năm 1987 . Thiền viện Liễu Đức , Long Thành - Đồng Nai . Thiền viện Trúc Lâm , Đà Lạt - Lâm Đồng , thành lập tháng 04 năm 1993 . Chùa Lân - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử , 2002 . Thiền viện Tuệ Quang , Linh Trung , Thủ Đức , thành phố Hồ Chí Minh . Thiền viện Hương Hải , Long Thành - Đồng Nai . Thiền viện Đạo Huệ , Long Thành - Đồng Nai . Thiền viện Tuệ Thông , Long Thành - Đồng Nai . Thiền viện Đại Đăng , Bonsall , California , Hoa Kỳ , thành lập năm 2001 . Thiền viện Quang Chiếu , Forthworth , Texas , Hoa Kỳ , thành lập năm 2000 . Thiền viện Bồ Đề , Boston , Hoa Kỳ , thành lập năm 2002 . Thiền viện Diệu Nhân , Sacramento , Hoa Kỳ , thành lập năm 2002 . Thiền tr Ngọc Chiếu Garden Grove California , Hoa Kỳ Thiền tự Vô Ưu , San Jose , California , Hoa Kỳ . Thiền tự Đạo Viên , Québec , Gia Nã Đại , thành lập năm 2002 . Thiền tự Thường Lạc - Pháp . Thiền tự Pháp Loa - Úc . Thiền tự Hiện Quang - Úc . Thiền tự Hỷ Xả - Úc . Thiền viện Tiêu Dao - Úc . Thiền tự Tuệ Căn - Úc .

_(())_. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

MỘNG

Gá thân mộng ,
Dạo cảnh mộng ,
Mộng tan rồi ,
Cười vỡ mộng,
Ghi lời mộng,
Nhắn khách mộng,
Biết được mộng,
Tỉnh cơn mộng.

XẢ  BỎ  NHỮNG  CỐ  CHẤP RIÊNG  TƯ .Hòa Thượng , Thiền Sư Thích Thanh Từ.Trong kinh Phật dạy, người khi sắp bỏ thân này q...
15/09/2026

XẢ BỎ NHỮNG CỐ CHẤP RIÊNG TƯ .

Hòa Thượng , Thiền Sư Thích Thanh Từ.

Trong kinh Phật dạy, người khi sắp bỏ thân này qua đời khác thì nghiệp thương và nghiệp ghét sẽ đi theo.

Bởi vì thương ai thì ta nhớ người đó, ghét ai cũng nhớ kẻ đó.

Như chúng ta ngồi ôn lại trong lòng, thì nhớ những người mình thương và những người mình ghét nhiều nhất phải không?

Ghét không mất, thương cũng không mất.

Vì vậy càng chứa sâu thì khi nhắm mắt các nghiệp đó dẫn mình đi đến chỗ thương hoặc chỗ ghét.

Do đó khi chúng ta thọ thân sau, nếu ôm ấp nghiệp ghét nhiều quá thì đến những gia đình gặp toàn chuyện buồn phiền, hờn giận, không vui.

Có bao giờ chúng ta muốn gặp những người mình ghét không?

Không muốn.
Ai cũng muốn gặp người mình thương.

Nhưng trong lòng thù oán nhiều quá thì nó sẽ dẫn mình gặp lại những người thù oán.

Nên hiện tại khổ mà vị lai cũng khổ luôn.
Điều này rất thiết yếu.

Chúng ta phải khéo đừng nuôi dưỡng oán thù trong lòng, nên buông bỏ hết.

Cái gì qua rồi không chứa chấp nữa.
Hơn thua, phải quấy, chuyện đó không có gì quan trọng.

Quan trọng ở chỗ làm sao cuộc sống mình bình an, thanh thản, tươi vui.

Đó mới là điều đáng lưu tâm.

Chúng ta sống muốn hạnh phúc, muốn được an lạc thì nên giữ hay nên xả?

Nên xả.

Vì vậy tôi nói tu muốn cho hết khổ thì phải xả, đừng chứa chấp.

Đó là điều thứ hai.

Điều thứ ba, chúng ta đừng cố chấp ý kiến mình là đúng, ý kiến người khác là sai.

Bởi vì ở thế gian này không có gì là đúng cố định mà cũng không có gì là sai cố định.

Chúng ta mở miệng nói với ai cũng “Tôi nghĩ thế này là đúng”.

Nếu nói tôi nghĩ như vậy là đúng, người thứ hai nói tôi nghĩ thế khác mới đúng, thì hai cái đúng nó đụng nhau.

Mình đúng theo cái nghĩ của mình, người khác đúng theo cái nghĩ của họ.

Ai cũng đúng hết thì cãi lộn hay huề?

Thế gian không ai chịu thua ai, mình đúng thì người khác sai, mà người khác đúng thì mình sai.

Cho nên khi người ta nghĩ khác với mình, mà họ cho rằng họ đúng thì mình bực lên liền, và người kia cũng nổi tức vậy.

Hai cái nổi tức sẽ đi đến khẩu chiến.
Khẩu chiến không xong thì tới thân chiến.

Quí vị thấy những người cãi nhau, đánh nhau khi được hỏi:
“Tại sao quí vị đánh nhau?”
Họ nói:
“Tôi nói cái này đúng mà nó cứ cãi hoài.”
Có khi nào hai người cãi lộn mà chúng ta hỏi “tại sao”, họ nói “tại tôi sai” đâu.
Nhất định là đúng. Hai cái đúng không giống nhau thì nhất định cãi lộn, cãi lộn không xong thì tới đánh lộn.
Như vậy thì khổ hay vui? Không bao giờ vui được. Những điều này xảy ra rất nhiều.

Gia đình vợ chồng, mỗi người thấy một lối, ai cũng cho là đúng thì gia đình đó cãi lộn hoài.
Trong xã hội, nhóm này thấy thế này là đúng, nhóm kia thấy thế khác là đúng thì cũng gây ra cuộc đấu chiến.

Cả trên thế gian đều như vậy.

Nếu cố chấp cái nghĩ của mình đúng, cái nghĩ của người khác sai là gốc của đấu tranh, của tiêu diệt nhau.

Cho nên chúng ta đừng có cố chấp.

Cái đúng này là đúng của tôi, cái đúng kia là đúng của anh.

Mỗi người giữ phần của mình, cãi nhau làm chi.

Vậy là yên.

Xả hết cố chấp, đừng bắt người khác phải nghĩ, phải thấy như mình mới đúng.

Đó là điểm đặc biệt của đạo Phật.

Trong đạo Phật có câu:

“Phật hóa hữu duyên nhân”, đức Phật giáo hóa người có duyên với Ngài mà thôi.

Ai có duyên thì đến với Phật, chớ Phật không nói đạo Phật là đúng, đạo khác là sai.

Theo đạo nào cũng tốt. Mình thích đạo Phật vì đạo Phật thích hợp với tâm tư nguyện vọng của mình nên mình theo, người khác không thích thì thôi.

Chúng ta không nên nói theo đạo Phật chết được về Cực lạc, còn theo đạo khác chết nhất định đọa địa ngục.
Không nên như vậy.

Trong kinh Phật nhất là các bộ A-hàm, Phật thường nói: “Người tu theo đạo Phật làm lành, tu Thập thiện được phước sanh cõi trời.

Người không tu theo đạo Phật mà làm mười điều lành cũng được sanh cõi trời.”

Không phải cõi trời chỉ dành cho người tu theo đạo Phật.

Bởi vậy người không tu theo đạo Phật mà làm lành, làm tốt họ vẫn có phước.

Mình tu theo đạo Phật mà mình làm xấu làm ác thì mình cũng bị tội như thường.

Chúng ta mới thấy rằng chủ trương của đức Phật rất rõ ràng, rất thấu đáo.

Phật không bắt ai phải theo mình dù biết rằng làm như vậy là tốt, là có lợi.

Nếu người ta không thích thì thôi, không ép buộc.

Chúng ta học Phật phải tập tâm cởi mở, xả bỏ những cố chấp riêng tư, dù chấp tôn giáo mình cũng là bệnh nữa.

Những gì chúng ta thấy đều do Phật dạy, mình biết mình tu.

Ai thấy hợp thì tu theo, còn thấy không hợp thì thôi, ta chỉ cười chớ đừng giận.

Đạo mình kính trọng mà nghe ai nói ngược lại, mình nổi sùng lên thì chưa gọi là hiểu đạo.

Không cố chấp thì cuộc đời an vui, hạnh phúc, sống với mọi người rất hòa nhã.

Hòa Thượng , Thiền Sư Thích Thanh Từ.

Trích trong : MỘT CHỮ XẢ.
( Nguồn An Lạc ).

ÂM:- Thiện nam tử, nhất thiết chúng sanh chủng chủng huyễn hóa, giai sanh Như Lai Viên giác Diệu tâm, do như không hoa, ...
13/09/2026

ÂM:
- Thiện nam tử, nhất thiết chúng sanh chủng chủng huyễn hóa, giai sanh Như Lai Viên giác Diệu tâm, do như không hoa, tùng không nhi hữu, huyễn hoa tuy diệt, không tánh bất hoại. Chúng sanh huyễn tâm hoàn y huyễn diệt, chư huyễn tận diệt giác tâm bất động, y huyễn thuyết giác, diệc danh vi huyễn, nhược thuyết hữu giác do vị ly huyễn thuyết vô giác giả, diệc phục như thị. Thị cố huyễn diệt, danh vi bất động.
DỊCH:
- Này Thiện nam, tất cả chúng sanh và mọi vật huyễn hóa đều sanh từ Viên giác Diệu tâm Như Lai. Ví như hoa đốm trong hư không, từ hư không mà có, hoa đốm tuy diệt mà tánh hư không không hoại. Tâm huyễn của chúng sanh lại y nơi pháp huyễn mà diệt. Pháp huyễn tâm huyễn diệt hết thì Tánh giác bất động. Y pháp huyễn mà nói giác cũng gọi là huyễn nữa. Nếu nói “có giác” vẫn chưa lìa huyễn, còn nói “không giác” cũng lại như thế. Cho nên pháp huyễn (có và không) diệt hết gọi là bất động.
GIẢNG:
Phật lặp lại ý trước cho chúng ta khỏi phân vân. Ngài nói tất cả chúng sanh và cảnh vật huyễn hóa (tâm huyễn cảnh giới huyễn) đều sanh từ nơi Diệu tâm Viên giác Như Lai chớ không ở đâu. Ngài ví thân tâm cảnh giới như hoa đốm trong hư không, từ hư không mà có, tuy hoa đốm diệt mà hư không không hoại. Cũng thế thân tâm cảnh vật huyễn hóa tuy mất mà Tánh giác diệu tâm không mất. Nghe qua chúng ta thấy hình như Viên giác lưu xuất ra các huyễn, vậy là nó lưu xuất ra vô minh phải không? Tức là có một cái giác để sanh vô minh. Chỗ này không rõ dễ hiểu lầm. Cũng như có phải hư không sanh hoa đốm không? Vì mắt nhặm thấy hoa đốm, chớ không phải hư không sanh hoa đốm. Cũng như vậy Tánh giác không sanh vô minh mà tại mê Tánh giác nên vô minh dấy lên. Bởi Tánh giác không sanh vô minh nên khi vô minh hết mà Tánh giác vẫn còn. Như vậy, Tánh giác là nhân địa mà chúng ta tu hành. Ngài xác định: Tâm huyễn của chúng sanh lại y nơi pháp huyễn mà diệt. Pháp huyễn tâm huyễn diệt hết thì tánh Viên giác bất động.
Tôi lấy ví dụ ngồi thiền để giảng đoạn này cho quí vị hiểu. Khi chúng ta ngồi thiền thấy vọng tưởng dấy lên là giả dối. Khi lặng xuống thì tâm hằng giác tròn đầy lặng lẽ chớ đâu có mất. Nếu tâm hằng giác mà mất thì lúc đó chúng ta đâu có biết vọng tưởng lặng. Ngài chỉ cho chúng ta thấy rõ khi tâm huyễn diệt rồi thì tâm hằng giác bất động hiện tiền. Nếu y huyễn mà nói giác cũng gọi là huyễn nữa. Ví dụ như vọng tưởng dấy lên chúng ta khởi “biết vọng tưởng”; “vọng tưởng” là huyễn, nhưng “cái biết vọng tưởng” cũng huyễn luôn. Nếu nói “có giác” vẫn chưa lìa huyễn, còn nói “không giác” cũng lại như thế, cho nên pháp huyễn diệt gọi là bất động. Tôi nhắc lại: Khi chúng ta ngồi thiền, vọng tưởng dấy lên, chúng ta “biết nó là huyễn”, “cái biết huyễn” đó hơn “cái huyễn” một phần rồi, nhưng chúng ta chấp “cái biết huyễn” đó là thật thì chúng ta cũng còn kẹt trong huyễn nữa. Như vậy, “vọng tưởng” lặng thì “cái biết vọng tưởng” cũng phải buông luôn, buông hết thì tâm như như bất động. Tâm bất động đó mới là thật, chớ còn dấy niệm quán cũng chưa được.
( Trích Kinh Viên Giác - Giảng giải Sư Ông Trúc Lâm Thượng Thanh Hạ Từ )

Nguồn: Thiền Trúc Lâm

CHÁNH VĂN : Đại trượng phu bỉnh huệ kiếm,Bát-nhã phong hề kim cương diệm.Phi đản năng thôi ngoại đạo tâm,Tảo tằng lạc kh...
10/09/2026

CHÁNH VĂN :
Đại trượng phu bỉnh huệ kiếm,
Bát-nhã phong hề kim cương diệm.
Phi đản năng thôi ngoại đạo tâm,
Tảo tằng lạc khước thiên ma đãm.
GIẢNG :
Đại trượng phu bỉnh huệ kiếm, tức người đại trượng phu cầm cây kiếm trí tuệ. Đại trượng phu là chỉ cho Bồ-tát. Bồ-tát cầm cây kiếm trí tuệ là cây kiếm giác ngộ
Bát-nhã phong hề kim cương diệm, phong là mũi nhọn, tức là cây kiếm bén, cây kiếm nhọn bát nhã cùng với ngọn lữa kim cương. Kinh Kim Cương hay Kim Cang là bộ kinh để dẹp phá hết những cái chấp mê lầm của chúng ta. Kinh Kim Cương thì dài, tôi chỉ cần nói một đoạn trong bài tụng. Trong kinh nói rằng nếu ai không được nhớ hết, nhớ nhiều thì trì một câu kệ cũng là có phước vô lượng vô biên, như bài kệ:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Tất cả pháp hữu vi. Hữu vi tức pháp có sanh có diệt.
Giống như giấc mộng, giống như ảo thuật.
Như điện chớp như sương mù chớ không có thật.
Thấy như vậy đó là thấy đúng với trí tuệ bát-nhã trí tuệ kim cương.
Như vậy thì chúng ta nếu thấy đúng như vậy tất cả pháp hữu vi đều như mộng huyễn, như bọt như bóng..v.v… thì chúng ta có đắm mê nó không? Bởi không đắm mê nên chúng ta thắng, chúng ta vượt qua hết. Giống như cây kiếm bén gặp những sợi dây trói buộc chúng ta chặt đứt hết. Giống như ngọn lữa mạnh nó cháy thì tất cả những cây cối hay g*i góc gì nó cũng tiêu diệt hết. Như vậy trí tuệ bát-nhã ngọn lữa kim cương phá dẹp tất cả cái mê lầm, cái sai quấy mà lâu nay chúng ta chấp chứa để cho nó tan biến đi.
Bây giờ, quí vị chỉ cần một việc làm mà hết sức là dễ tu, lúc nào cũng xét thấy thân mình là giả dối, khẳng định nó là giả dối. Bao nhiêu đó thôi thì quí vị có tu được cái gì? Nếu thân giả dối thì người ta chửi mình cười, thân tôi còn giả huống nữa là chửi, khỏi cần tu nhẫn nhục. Chớ bây giờ nói tôi ráng tu hạnh nhẫn nhục, giờ nghe người ta chửi ráng nhịn đè nén. Nhịn được một lần hai lần rồi tuyên bố tôi nhịn hai lần rồi nhe, lần thứ ba là tôi nổ à, bởi vì đè quá rồi chịu không nổ thì b**g. Bây giờ biết thân này giả thì lời chửi có nghĩa lý gì đâu, khỏi cần nhịn gì hết trơn.
Vậy từ biết thân giả thì chúng ta tu được hạnh nhẫn nhục. Từ biết thân giả rồi thì mình có tham danh tham lợi không? Thân còn giả thì danh lợi có nghĩa lý gì, thì tự nhiên tâm tham hết, sân hết. Biết thân giả thì còn si mê không? Cũng hết si mê luôn. Chỉ biết thân giả thì tham, sân, si theo đó nó hết.
Còn mình nhẫn mà thấy thân thật, cho nên nhẫn vừa phải thôi, mức độ nào thôi, quá nữa là không chịu nổi. Như vậy thì dùng trí tuệ bát-nhã mà soi thấu thân này, mà biết rõ thân này đúng như thật rồi thì tu hết sức là dễ dàng. Còn thấy thân này thật tu hết sức khó. Nhất là những người cao mạn cho thân là đẹp, thân là quí thì thôi tu khó vô cùng, động tới một chút là chịu không nổi rồi. Vì vậy trong nhà Phật dạy tu phải có trí tuệ bát-nhã. Quí vị nhớ mỗi tối chúng ta tụng kinh A Di Đà hay thần chú Lăng Nghiêm đều có bài kinh Bát Nhã đi theo. Đó là để thấy rằng, trí tuệ bát-nhã phá dẹp năm uẩn này thì tu mới tới nơi tới chốn; còn không phá dẹp được năm uẩn thì tu có công, có phước vậy thôi, chớ không tới nơi tới chốn được, mà tu rất là khổ sở, rất là khó khăn. Nếu có được trí bát-nhã thấy đúng như thật rồi thì tu rất là dễ dàng.
Như vậy thì quí vị mới biết cái gốc của sự tu, có nhiều khi chúng ta tu mà không biết gốc. Có người nói tụng kinh Bát Nhã để bổ túc vì tụng nảy giờ lanh quá rồi thiếu, thiếu chữ thiếu lời, nên kêu bằng bổ khuyết Tâm kinh đó. Tâm kinh đó là kinh bổ khuyết bù lại những cái thiếu của mình, như vậy là hiểu lầm lớn vô cùng. Bởi vì dù tu một hạnh nào, một pháp môn nào cũng phải có trí tuệ thấy rõ thân này không thật. Khi thấy rõ thân không thật thì tất cả pháp tu đều thành công. Nếu thấy thân này thật thì pháp tu nào cũng không thành công hết, vì đeo cái ngã trong quá thì thành công sao được. Đeo ngã to là đeo cái mê lầm, còn mê lầm thì tu làm sao được. Cho nên tu là phải giác ngộ, giác ngộ ít hoặc giác ngộ nhiều thôi.
Tất cả quí vị ngồi tại đây đều là Phật tử hết phải không? Rồi quí vị xuất gia là giòng gì? Giòng họ Thích. Giòng họ Thích là họ ai? Giòng họ Phật tức giòng họ của đấng giác ngộ, mà mình được con cháu trong giòng họ đó thì mình có giác ngộ không? Có. Còn Phật tử là cái gì? Phật tử là con Phật. Phật là giác mà con Phật có giác không? Có. Như vậy trong đạo Phật lấy giác ngộ làm tiêu chuẩn để hướng dẫn mọi người. Lâu nay chúng ta tu theo đạo Phật mà lại mê tín tôi chịu hết nổi. Đi đường giác mà lại mê thì hỏi làm sao được, nó ngược hẳn.
Tu Phật thì phải giác mà mình lại mê thì nghĩ làm sao? Vậy đó mà Phật tử lâu lâu có ông đồng ông bống nào lên nói hay hay thì chạy lại hỏi thăm coi năm nay làm ăn khá không, tuổi tôi tu được hay không. Rồi những gả nào đó nói gạt soi cơ, coi căn cũng chạy hỏi căn tôi tu được không. Mình quyết tâm tu thì được, mình bỏ cái mê thành cái giác thì tu chớ có gì đâu, mà càng đi sâu trong đó càng mê thêm. Phật tử là người con của bậc giác ngộ, thì mình không được giác trăm phần trăm, Phật trăm phần trăm là tròn là viên mãn, mình ít nhất cũng bao nhiêu? Một phần trăm cũng tốt rồi, chớ còn mình trụi luôn không có phần nào hết thì không phải là con Phật.
Còn chư tăng chư ni mình làm sao? Mình là con cháu trong nhà họ Thích, con cháu bậc giác ngộ. Người ta nói con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, mà không biết mình giống được cái gì? Chắc giống được cái đầu, giống được chiếc áo, còn phần giác ngộ không giống gì hết thì như vậy có buồn không.
Bởi vậy nên tu Phật quí vị phải biết rõ lấy giác ngộ làm tiêu chuẩn. Vậy mà những người tu Phật không hiểu đạo, không thấy được đường tu, không biết bổn phận của mình rồi bày ra xin xăm, bói quẻ thấy làm vậy cũng có tiền khỏi xin đệ tử. Nhưng làm như vậy riết rồi mình đã mê mà còn làm cho người ta mê thêm nữa, đó là dạy người ta mê. Dạy người ta mê thì đúng là người xuất gia chưa? Xuất gia là mình tự giác, giác tha. Phật có định nghĩa rõ ràng quá, người tu là phải tự giác giác tha, rồi giác hạnh viên mãn mới thành Phật. Như vậy ai tu muốn thành Phật thì cũng phải đi con đường tự giác giác tha hết. Bây giờ mình không chịu giác, rồi còn dạy người ta mê thêm nữa, thì như vậy quí vị đi đường nào? Đi đường mê mà nói là con Phật được không? Như vậy là lạm dụng nói gạt người ta. Cho nên người tu phải chân thành, phải thấu suốt cái ý nghĩa của mình.
Thật ra, nói thẳng chúng ta được làm người là một việc dễ hay khó? Phật nói những cái khó nè: được làm người là khó, gặp Phật pháp khó, sáu căn đầy đủ khó. Ba cái khó này mà quí vị được đầy đủ hết, được hết mà không chịu cố gắng tu rồi mai mốt trở lại không biết có đầy đủ ba điều kiện này không? Nếu không đủ ba điều kiện này thì không biết tuột xuống tới đâu. Đời này tuột một phần, đời sau tuột xuống một phần, đời sau tuột tuột riết đi tới chỗ tối tăm nhất là địa ngục.
Chúng ta được vinh hạnh, được phước đức nên làm thân người là một phước đức lớn. Được thân người mà lại được nghe Phật pháp là đạo giác ngộ. Tại sao nói rằng Phật pháp khó nghe? Vì thiên hạ sống trong cái mê cho thân này là thật, mà Phật cho thân là giả thì dễ nghe không? Người ta nói thật mà Phật lại nói giả thì đó là khó nghe. Khó nghe mà mình nghe, mình thắm, mình hiểu được thì chuyện đó cũng rất là khó. Rồi được sanh làm người mà nhiều sáu căn nó thiếu: thiếu cặp mắt, thiếu lỗ tai hay thiếu cái gì đó, thì chúng ta cũng khó tu.
Bây giờ đủ hết ba điều kiện tốt: được thân người, được gặp Phật pháp, sáu căn liền lặng thì không tu còn đợi chừng nào! Nghĩ chừng nào được? Quí vị có hẹn không nhất là người xuất gia? Được thân người, được làm con cháu giòng họ Thích nữa, mà không chịu gắng tu thì tôi không biết quí vị muốn đòi cái gì nữa tôi không hiểu. Chẳng lẽ mình được làm người, được học Phật pháp, được đi trên con đường giác ngộ, lại nói không tôi lùi lại đi con đường tối cho vui, chịu không? Vô lý quá. Cho nên chúng ta phúc đức nhiều, duyên lành lớn mới được như vậy, thì phải cố gắng, phải tận lực mà tu hành chớ không nên lôi thôi.
Đó là tôi nói đoạn:
Đại trượng phu bỉnh huệ kiếm,
Bát-nhã phong hề kim cương diệm.
Tức chúng ta là người đại trượng phu, đây là nói người xuất gia. Xuất gia là bậc đại trượng chớ không phải thường. Tại sao dám nói đại trượng phu? Vì trượng phu ở ngoài là cầm quân đánh giặc được phong chức này chức nọ. Còn mình đi tu đây là buông hết tất cả, gan vậy đó. Ở ngoài người ta được làm lớn chừng nào người ta trang sức đẹp chừng ấy. Còn mình tu lâu chừng nào càng xấu chừng ấy, đầu cạo hết, thân thể mặc áo, ăn uống rất sơ sài, mà can đảm làm chuyện đó là đại trượng phu, thì mình phải cầm cây kiếm trí tuệ là kiếm giác ngộ. Kiếm giác ngộ đó là mũi nhọn của bát-nhã, của trí tuệ, là ngọn lữa lớn của trí kim cương, phải làm sao tiêu diệt hết những cái mê lầm của thế gian.
Phi đản năng thôi ngoại đạo tâm,
Tảo tằng lạc khước thiên ma đãm.
Không những mình hay dẹp hết tâm ngoại đạo, mà đã sớm từng làm cho thiên ma rụng tim hay vở mật. Như vậy người đại trượng là người tu, người xuất gia, mình phải làm sao dẹp hết cái tâm của ngoại đạo, làm sao mình phải ra sức hay biểu hiện cho loài thiên ma phải vở mật. Đó mới gọi là đại trượng phu, chớ không phải đại trượng phu là làm tôi tớ cho thiên ma. Mình làm tôi tới thiên ma là học trò nó, chớ không phải là đại trượng phu.
Vì vậy mà mong tất cả chư tăng, chư ni, Phật tử chúng ta phải biết rõ bổn phận của mình. Nhất là người xuất gia đừng nên đi lệch con đường Phật dạy. Nếu lệch con đường Phật dạy là chúng ta lạc về đạo tà. Vì vậy nên ráng tu. Càng thấm nhuần kinh Bát Nhã, càng thấu triệt kinh Kim Cang thì chúng ta sáng thêm trí tuệ của mình, nhờ đó mà chúng ta dẹp được những tâm ngoại đạo, dẹp được những lòng điên đảo của thiên ma để cho mọi người được an vui, sống trong cuộc đời tuy là tạm bợ mà đầy lòng thương, tất cả giúp đở, ủng hộ, dìu dắt nhau đi trên con đường giác ngộ. Đó là mục tiêu, là chủ trương Phật đã dạy con cháu phải làm theo.
( Trích Chứng Đạo Ca của Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác - Giảng giải Sư Ông Tông Chủ Thiền Phái Trúc Lâm Thượng Thanh Hạ Từ )

Nguồn: Thiền Trúc Lâm

CHÁNH VĂN : Xả vọng tâm, thủ chân lý,Thủ xả chi tâm, thành xảo ngụy.Học nhân bất liễu dụng tu hành,Chân thành nhận tặc t...
09/09/2026

CHÁNH VĂN :
Xả vọng tâm, thủ chân lý,
Thủ xả chi tâm, thành xảo ngụy.
Học nhân bất liễu dụng tu hành,
Chân thành nhận tặc tương vi tử.
GIẢNG :
Có những vị mới tu nói rằng cái tâm hư vọng là tâm dối, tâm điên đảo tạo nghiệp. Vậy rồi thôi bỏ hết vọng tâm đó để cho mình được cái chân lý, được chân lý là được chân tâm. Bỏ vọng tâm để được chân tâm. Như vậy thì bỏ bên này để được bên kia. Bỏ là xả, được là thủ; cả tâm thủ xả đó cũng thành ra xảo ngụy nữa. Xảo ngụy tức là giả dối không thật. Người tu thấy rõ tâm hư dối nó không thật, cho nên mình không lệ thuộc nó. Khi không lệ thuộc hư dối thì tự nó hiện cái chân thật hiện tiền, không có bỏ cái này mà giữ cái kia gì hết. Cái thật là nó hiện tiền, hiện tiền là tâm mình, còn khởi cái giữ tâm mình thì nó là hai cái: cái giữ và cái tâm; mà hai cái thì không phải là mình rồi.
Như vậy cho nên cái vọng mình biết nó rồi, tự nó mất. Vọng mất mà cái biết này là chân, mình giữ hoài cái biết này thì như vậy cái biết vọng là một, cái giữ cái biết nữa là hai, vậy cũng xảo ngụy chớ chưa phải thật. Cho nên vọng, biết vọng không theo thôi đủ rồi, hết vọng thì tự nó chân, chớ không có bỏ cái này giữ cái kia. Bỏ cái này giữ cái kia cũng là bệnh, cũng là hai bên.
Vì vậy mà ở đây ngài nói:
Xả vọng tâm, thủ chân lý,
Thủ xả chi tâm, thành xảo ngụy.
Tức là bỏ vọng tâm mà giữ chân lý, thì tâm giữ và bỏ đó cũng thành tâm xảo ngụy.
Học nhân bất liễu dụng tu hành,
Chân thành nhận tặc tương vi tử.
Người học đạo không rõ dùng cái đó mà tu hành, cho nên trở thành nhận giặc làm con.
Chỗ này tôi nói rộng một chút cho quí vị hiểu. Đây là chúng ta nói về cách tu niệm Phật. Chúng ta dùng câu niệm Nam mô A Di Đà Phật để trừ hết vọng tưởng. Mình cứ niệm phải câu đó cho tới tất cả vọng tưởng đều lặng hết thì câu niệm Phật đó nó còn hoài được không? Ở đây câu niệm Phật cốt để trừ hết những niệm lăng xăng, niệm lăng xăng hết rồi thì câu niệm Phật cũng phải lặng. Cho nên trong thí dụ ở bên Tịnh Độ có nói, chân chúng ta đạp g*i, muốn lấy g*i đó ra thì phải mượn g*i khác mình lể. Mượn g*i khác mình lể g*i cũ ra rồi thì g*i khác cũng quăng luôn. Nếu g*i cũ ra rồi, mà g*i mới mình cũng để nguyên trong chân thì hết đau không? Không. Đó, cho nên câu niệm Phật là phương tiện để trừ muôn niệm, khi muôn niệm hết rồi thì câu niệm Phật cũng phải buông.
Vì vậy trong nhà Phật thường thí dụ. Như con mắt mình đang trong, đang sáng. Bây giờ có người nói để lấy một chút mạt vàng hay mạt ngọc gì đó để vô con mắt cho nó tốt hơn, rồi bỏ vô mắt mình thì sao? Cái đó là của quí mà bỏ vô mắt thì nó có sáng hơn không, hay là nó bệnh? Vì vậy cho nên cái chỗ chân thật đó nó không còn các niệm nào, cho nên nói niệm Phật tới vô niệm đó. Từ một câu niệm Phật để đánh tạt hết các niệm khác rồi, cuối cùng câu niệm Phật đó từ từ chúng ta cũng phải buông. Buông câu Phật niệm rồi đó gọi là vô niệm. Niệm tới vô niệm gọi đó là nhất tâm. Như vậy thì niệm Phật là phải đi tới chỗ niệm mà vô niệm, nếu còn niệm thì đó là nhất niệm chớ không phải nhất tâm. Còn nhất niệm thì còn động, còn động là còn sanh diệt. Cho nên đi tới chỗ vô sanh thì phải là vô niệm.
Người tu thiền cũng vậy thôi, mình tu ngồi yên. Thí dụ người theo hơi thở thì mượn hơi thở. Tới chừng tâm nó yên rồi thì hơi thở mình cũng bỏ luôn. Người tu thiền có khi dùng phương tiện quán thân bất định hay gì đó, thì khi tâm mình nó yên rồi thì cũng bỏ luôn, thì mới đi tới chỗ hoàn toàn an định, mà an định rồi mới giải thoát sanh tử, mới gọi là nhập Niết bàn. Chớ còn chưa được an định thì chưa được Niết bàn.
Cho nên hiểu thấu đáo được con đường tu Phật dạy, vì tinh thần, trình độ của người học Phật khác nhau nên Phật phải có nhiều pháp môn, để tùy theo trình độ. Thí dụ ai thích mình sau chết thì sau được sanh chỗ nào cho vui thì Phật nói niệm Phật đi chết được về Cực Lạc. Mà niệm chừng nào nhất tâm bất loạn nhắm mắt mới được Phật đón. Còn ai tự thấy có khả năng quán chiếu được mình thì dùng phương pháp Thiền, ai muốn linh thiêng Phật bảo trì chú đi. Thí dụ trì câu “Án ma ni bát di hồng” có biết gì đâu, cứ đọc mãi câu chú đó linh lắm mình tin như vậy, rồi tới ngày nào đó định được tâm thì câu chú cũng lặng luôn.
Như vậy phương tiện thì có nhiều, nhưng cứu kính thì không hai. Hiểu như vậy thì ai tu cái nào cũng tốt, mà phải tu đến nơi, chớ đừng tu lơ mơ rồi cải lộn với nhau vô ích. Đó là chỗ hiểu thấu đáo, hành thấu đáo. Bây giờ người tu đi chưa tới cửa, đứng ngoài cải lộn nhau, cái nhà đó có cái gì cái gì, vô ích quá.
Cho nên có nhiều người đặt câu hỏi với tôi, nói chúng tôi niệm Phật sau chết về Cực Lạc, còn thầy tu thiền chết rồi đi đâu? Quí vị nghĩ trả lời làm sao? Chết rồi cái mơ mơ, không biết đi đâu nữa. Nhưng đâu có ngờ Phật nói chỗ cuối cùng là hết sanh tử, giải thoát sanh tử mà. Nếu còn sanh là còn tử. Vì vậy mà muốn đi tới chỗ hết sanh tử thì phải hết niệm, hết vọng tưởng. Vọng tưởng hết, niệm hết rồi thì không tạo nghiệp, chừng đó nhắm mắt thì nhập Niết bàn vô sanh. Chớ hỏi đi đâu nữa là hỏi chuyện đi trong sanh tử. Đó là chỗ mà người học Phật chưa tới rồi cứ ngờ, rồi hỏi qua hỏi lại. Vì vậy mà tôi nói rộng cho quí vị biết sự tu nó là như vậy. Không phải như người ta hiểu tưởng tượng bằng cách mình sanh chỗ kia vui, chỗ nọ buồn không phải. Chỉ là người tu mà còn sanh trong lục đạo mới có vui buồn, nếu đi tới chỗ cứu kính thì không có cái vui buồn đó nữa.
( Trích Chứng Đạo Ca của Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác - Giảng giải Sư Ông Tông Chủ Thiền Phái Trúc Lâm Thượng Thanh Hạ Từ )

Nguồn: St

QUY SƠN CẢNH SÁCH - DỊCH & GIẢNG GIẢI.( Sư Ông Trúc Lâm Tôn sư )1. Phần 1 :“Qui Sơn” là ngọn núi Qui, nơi Thiền Sư Linh ...
08/09/2026

QUY SƠN CẢNH SÁCH - DỊCH & GIẢNG GIẢI.
( Sư Ông Trúc Lâm Tôn sư )

1. Phần 1 :

“Qui Sơn” là ngọn núi Qui, nơi Thiền Sư Linh Hựu giáo hóa bốn chúng. “Cảnh Sách” . Cảnh là đánh thức những người đang mê chưa ngộ. Người tu chúng ta tuy đã phát tâm xuất gia học đạo, song còn mê say trong dục lạc, thường quên lãng việc tu hành. Nên Ngài dùng phương tiện đánh thức chúng ta nhớ lại bổn phận và trách nhiệm của người xuất gia để nổ lực tiến tu, đó là cảnh. Sách nghĩa là roi da.

Thường người cỡi ngựa muốn cho ngựa chạy nhanh, dùng roi da tróc tróc cho nó chạy. Cũng vậy, muốn sách tấn thúc đẩy người ta cũng phải dùng lời để răn nhắc cho tiến. Tông chỉ của bộ luận này, chủ yếu của Tổ là đánh thức người tu chúng ta nổ lực tiến tới chổ cứu cánh của người xuất gia.

Chánh Văn:

“Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miển hình lụy. Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành. Tuy nãi tứ đại phù trì, thường tương vi bội. Vô thường lão bịnh bất dữ nhân kỳ. Triêu tồn tịch vong, sát na dị thế. Thí như xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức vô; ngạn thọ, tỉnh đằng, khởi năng trường cửu. Niệm niệm tấn tốc, nhất sát na gian, chuyển tức tức thị lai sanh. Hà nãi yến nhiên không quá?”.

Dịch:

Bởi do nghiệp trói buộc mà có thân, tức chưa khỏi khổ lụy về thân. Bẩm thụ tinh cha huyết mẹ, tạm mượn các duyên hợp thành. Tuy nhờ tứ đại giử gìn, nhưng chúng thường trái nghịch.Vô thường, già, bịnh chẳng hẹn cùng người. Sáng còn tối mất, chỉ trong khoảng sát na đã qua đời khác. Ví như sương mùa xuân, mốc sáng sớm, phút chốc liền tan. Cây bên bờ vực, dây trong miệng giếng há được lâu bền. Niệm niệm qua nhanh, chỉ trong khoảng sát na, chuyển hơi thở đã là đời sau, sao lại an nhiên để ngày tháng trôi suông vô ích?.

Giảng:

“Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miển hình lụy”. Do nghiệp trói buộc lôi cuốn nên chúng ta phải thọ nhận thân này. Sau khi thọ nhận thân này rồi thì sao? “Vị miển hình lụy”, tức chưa khỏi được cái khổ lụy về thân. Ngài nói có sự trùng hợp với Lão Tử: “Ngô hữu đại hoạn vị ngô hữu thân”, vì ta có thân nên có họa lớn. Lão Tử thấy do có thân nên có họa, song chưa nói đến nguyên do nào mà có thân.Tổ Qui Sơn nhìn theo con mắt của nhà tu Phật. Ngài thấy thân chúng ta sở dĩ có đây không phải ngẩu nhiên mà có, mà là do nghiệp chướng buộc lôi kéo chúng ta ra đây thì không thể nào tránh khỏi đau khổ.

Đó là Ngài chỉ rõ nguyên nhân của sự đau khổ khi mang thân này. Nhưng tại sao nghiệp lôi mình được và sao mình dại dột để cho nghiệp lôi? Vấn đề này tôi sẽ dẫn vài thí dụ nhỏ để quý vị thấy. Đây là chúng ta tìm tột cùng cái nguyên nhân thuở trước, khi chúng ta chưa có thân này, do cái gì thúc đẩy lôi cuốn chúng ta có thân? “Cái thúc đẩy lôi cuốn” trong nhà Phật gọi là “nghiệp”. Nhưng nó lôi cuốn bằng cách nào? Kinh Phật nói, con người có ba nghiệp là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Thân, miệng, ý tạo tác thành nghiệp rồi, thì nghiệp thúc đẩy lôi cuốn chúng ta phải thọ thân sau và tùy theo nghiệp thiện hay ác mà dẫn chúng ta đến chỗ tốt hay xấu. Vậy nghiệp là gì ?

Nghiệp là động tác của thân, miệng, ý; động tác ấy lập đi lập lại nhiều lần thành thói quen, và khi đã thành thói quen, thì nó có sức mạnh chi phối, dắt dẫn con người theo nó. Với mắt phàm tục thì không thấy biết nghiệp, nhưng đối với bậc thánh giả thì thấy có bạch nghiệp và hắc nghiệp. Nên khi nhìn người, bậc thánh giả biết người ấy có chủng nghiệp lành hay dữ. Do trước kia tạo nghiệp lành hay dữ, khi sanh thân hoặc khổ hoặc vui; đó là nói theo tương đối thế gian. Còn nói theo đây thì dù cho thân sang hèn nghèo giàu gì cũng đều khổ hết, đó là tinh thần khổ đế của đạo Phật.

Như vậy, do tạo nghiệp mà phải thọ thân sau, nên quí vị không lấy làm lạ, khi nghe các vị tu hành đắc đạo nói quá khứ, vị lai của một người nào đó, là do mắt huệ của các Ngài thấy được thiện nghiệp hay ác nghiệp của vị đó, và cũng không làm lạ đối với những nhà tướng số, căn cứ trên phước tướng nhiều ít mà đoán đúng hậu vận của con người. Thế nên nhiều người cho rằng mình có sẵn số mạng như thế nên thầy coi trúng. Nhưng trúng với ai và trật với ai ?

Chỉ trúng với những người dung thường, khi sanh ra họ cứ theo nghiệp cũ mà sống, không biết chuyển đổi nghiệp. Nhưng đối với những người hơi phi thường thì số mạng có đổi; chẳng hạn như những người xuất gia. Tử vi của mọi người chung chung là lớn lên lập gia đình có con cái, có chức phận v.v… Nhưng với người khoảng 15 tuổi xuất gia thì không có gia đình, không có con, không có chức phận, như vậy là đã cải số rồi.

Nếu cho số mạng là cái định sẵn mà mọi người phải y theo đó để sống, không thể chuyển đổi thì quá lầm lẫn. Nghiệp có thể chuyển được, chuyển từ nghiệp dữ thành nghiệp lành và ngược lại. Thế nên có lắm người trước thì say mê trong dục lạc, sau bừng tỉnh xa lìa dục lạc trở thành người cao thượng, và cũng có người tốt, gặp duyên bạn bè hư đốn quyến rủ chạy theo làm điều xấu ác. Nói đến nghiệp là nói đến động tác của thân, khẩu, ý và động tác ấy có thể chuyển đổi từ xấu trở thành tốt và từ tốt trở thành xấu.

Nay nên biết nghiệp chi phối lôi kéo con người như thế nào? Thí dụ một người có thói quen mở radio nghe nhạc, vào mỗi tối lúc 8 giờ, đêm nào cũng thế, thành thói quen. Bỗng một hôm radio hư không nghe được nhạc, người ấy cảm thấy buồn buồn, ngay lúc đó nhà hàng xóm mở radio, thói quen thúc đẩy người ấy tìm tới để nghe nhạc. Thói quen (nghiệp) không có hình tướng nhưng có sức mạnh thúc đẩy, chi phối con người làm theo nó. Đó là thói quen của tai. Bây giờ là thói quen của miệng, có người khi nghe nhạc thì miệng huýt sáo ca hát, tay chân nhịp theo điệu nhạc. Một hôm đến chỗ trang nghiêm. Lý đáng phải ngồi nghiêm chỉnh, nhưng ngồi một hồi cảm thấy buồn bèn nhịp đùi huýt sáo, vì đã thành thói quen rồi.

Còn có những thói quen tệ hơn nữa là hút thuốc, ăn trầu, uống rượu, hút á phiện v.v… Vậy động lực nào bắt con người hút thuốc, ăn trầu, uống rượu? Có phải tại thói quen chăng? Thói quen trở thành tập nhiễm và có sức mạnh thôi thúc khiến con người làm theo nó. Nhà Phật gọi đó là nghiệp, chính nghiệp mình tạo rồi trói buộc và mình đi thọ sanh mà mình không hay biết, tưởng lý do này lý do kia bắt mình sinh ra đời, bắt mình chịu khổ. Tất cả chỉ là cái duyên bên ngoài, mà động lực chính là nghiệp lành hay nghiệp dữ khiến cho mình khổ hay vui.

Điều mà mọi người phải ghi nhớ là thân không tạo nghiệp ác mà tạo nghiệp thiện, miệng không nói lời hung dữ mà nói lời lành, ý không nghĩ ác mà nghĩ thiện; cứ như thế mà chuyển nghiệp thì mình làm chủ được mình không bị nghiệp sai sử. Và chúng ta có đủ can đảm, đủ sức mạnh xây dựng, sắp đặt cho cuộc sống ngày mai của chính mình và chịu đựng những gì xảy đến, mà không than trách ai cả.

Nếu không hiểu như thế cứ để cho dòng định mệnh lôi cuốn tới đâu thì tới. Người hiểu rõ nghiệp và biết tu thì phải gắng mà chuyển nghiệp, người tu là những con thuyền vững lái, gió mặc gió, nước mặc nước, chúng ta cứ nhắm đích mà tiến, chớ để gió dập nước cuốn. Nói đến nghiệp là nói đến sức mạnh tự chủ, không phải là thái độ yếu đuối phó mặc cho số mệnh, để rồi việc không xong, hỏng thì đổ thừa cho nghiệp.

Đây, Tổ Qui Sơn chỉ cho chúng ta thấy cái nhân có thân này là do nghiệp, hoặc nghiệp lành nghiệp dữ; nếu thọ thân trong cảnh tốt được sung sướng an vui là do tạo nghiệp thiện, còn thọ thân trong cảnh xấu chịu khổ đau là do tạo nghiệp ác. Biết được khổ vui là do nghiệp mình tạo, để gan dạ chịu, không than oán khi gặp khổ, và cố gắng chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện, nếu ta còn luân hồi. Hoặc gan dạ cắt dứt mọi trói buộc của nghiệp để được tự tại trong tam giới, đó là tu.

Ngược lại biết rõ nghiệp, mà vẫn đầu hàng, phó mặc cho nó chi phối lôi trì, là không biết tu vậy. Còn taọ nghiệp là phải thọ thân, mà có thân thì khổ, vì thân này vô thường hoại diệt, dù là vua chúa hay ăn mày cũng không thoát khỏi vô thường, nên gọi là hình lụy. Có thân là có đủ các nỗi khổ nào là sanh, già, bịnh, chết, thương yêu xa lìa, thù oán gặp gỡ… Chỉ khi nào cắt dứt nghiệp thì không thọ thân và dứt luân hồi sanh tử. Không thọ thân không có nghĩa trở thành hư không, mà lúc ấy muốn độ ai thì tùy nguyện đến cứu giúp họ. Khi làm xong việc rồi đi một cách tự tại, chớ không bị nghiệp chi phối ép ngặt.

“Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành”. Chúng ta do nghiệp mà có thân. Vậy có thân bằng cách nào? Do sự luyến ái giữa cha mẹ, mà tinh cha huyết mẹ hợp lại thành bào thai, rồi do nghiệp thúc đẩy thần thức gá vào bào thai. Bào thai ấy nhờ tứ đại bên ngoài bồi bổ từ từ qua sự hô hấp ăn uống của mẹ, lớn dần thành hình tướng, đầy đủ các bộ phận. Và sau khi ra khỏi lòng mẹ, lại cũng nhờ tứ đại bên ngoài bồi bổ nuôi dưỡng lớn lên.

“Tuy nãi tứ đại phù trì, thường tương vi bội”. Tuy rằng thân này do tứ đại phụ giúp để nó được tồn tại. Nhưng trong khi gìn giữ nó vẫn thường trái nhau. Vì đất không ưa gió, nước không ưa lửa, lửa gặp nước lửa tắt, đất gặp gió đất rung rinh. Nếu bốn đại mất quân bình thì thân không an. Khi gió thạnh thì thân đau nhức, khi đất thạnh thì hơi không thông, khi nước nhiều lửa ít thì thân ốm gầy… Con người tuy có nhiều bịnh, song chỉ do bốn đại bất hòa mà ra. Muốn cho thân an ổn phải điều hòa bốn đại, nếu thấy đại nào mạnh thì hạn chế, đại nào yếu thì bồi bổ thêm, khéo điều hòa thì nó tồn tại, không khéo điều hòa thì nó tan rã.

Trong sự chung hợp đó luôn có sự chống trái nhau, không bao giờ an ổn, chẳng khác nào kẻ nuôi giặc trong nhà. Đã nuôi giặc trong nhà thì dù chúng ta có khôn ngoan thế mấy, cũng không tránh khỏi chuyện nổi loạn. Vì vậy mà từ xưa đến nay có nhiều người Ấn Độ tập Yoga, và ở Trung Hoa thì vận khí công luyện đơn, để giữ cho thân này sống lâu. Tuy mọi người cố duy trì mạng sống lâu dài, nhưng chẳng mấy ai được như ý. Nếu khéo giữ lắm chỉ được vài trăm năm rồi cũng mất. Biết là giặc trong nhà mà muốn giữ nó còn mãi mãi, thì đó là quan niệm sai lầm. Chúng ta chẳng khác nào kẻ đi biển bị chìm thuyền, vớ được gốc cây mục, nương theo nó để vào bờ. Nếu nghĩ rằng nhờ gốc cây này mà mình khỏi chết chìm, rồi ôm gốc cây giữ nó mãi, đó là quan niệm sai lầm.

Đạo Phật không có quan niệm đặt nặng thọ mạng dài ngắn, mà chỉ biết ngày nay có thân, phải biết lợi dụng nó tiến tu cầu giải thoát. Chỉ cần nương nó để tới bờ an ổn, khi tới bờ rồi nó trở thành vô nghĩa. Chúng ta phải hiểu rõ đạo Phật lấy giác ngộ làm chính, chớ không phải giữ thân sống lâu làm chính. Còn những pháp tu ngoại đạo thì đặt nặng sự duy trì thọ mạng lâu dài, nên ai cũng thích, nhưng đâu ngờ ái thân là gốc của luân hồi.

Thế nên đạo Phật không bao giờ đề cập đến sống lâu, mà cốt làm sao cho giác ngộ, nghĩa là phải dứt ái, vì gốc của ái là chấp ngã. Nên trong khi tu nếu bị bệnh, nhờ cái bịnh đó thấy thân này sắp hư hoại, không còn luyến ái nó, sẽ được thoát khỏi luân hồi. Đó là chủ yếu của sự tu hành. Vì thế, mở đầu Tổ Qui Sơn chỉ cho chúng ta thấy có thân là có khổ, vì nó là cái bại hoại.

“Vô thường lão bịnh bất dữ nhân kỳ”.Vô thường ở đây chỉ cho già bịnh chết. Cái già, cái bịnh, cái chết nó chẳng hẹn với người. Chẳng hạn như tôi đây lo tu, lo làm Phật sự nhìn lại thì đầu đã bạc, răng đã rụng! Hòa Thượng Giám Đốc cũng đã từng nói: Tôi còn hai việc phải làm là sửa sang lại Đại Tòng Lâm và xây dựng cơ sở phiên dịch, thế mà tuổi tác không cho phép tôi làm. Ngài muốn làm lắm, song thấy vô thường sắp đến không còn làm kịp, vô thường chẳng hẹn với ai cả.

Hiện tại tôi hứa hướng dẫn quí vị tu học ba năm, nhưng biết đâu nửa chừng bị ngã bịnh, hoặc cái chết nó đến. Đã biết rõ vô thường không hẹn, thế nên hôm nay làm được việc gì hãy làm, chớ hẹn ngày mai. Đừng nghĩ tôi mới hai mươi tuổi vội gì tu, tôi có thể sống tám mươi tuổi kia mà, chừng già tu cũng chẳng muộn. Nhưng có ngờ đâu mới ba mươi tuổi lăn đùng ra chết, chết rồi làm sao tu? Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương Phật nói điều này rất rõ ràng. Phật hỏi một vị Tỳ Kheo:

- Mạng người sống được bao lâu?

Tỳ Kheo trả lời:

- Mạng người sống được vài hôm.

Phật nói:

- Ông chưa rõ đạo.

Phật hỏi vị khác, vị ấy trả lời:

- Mạng người sống chừng bữa ăn.

Phật cũng nói:

- Ông chưa thấy đạo.

Phật lại hỏi vị khác nữa, vị ấy trả lời:

- Mạng người chỉ trong hơi thở

Phật nói:

- Ông đã thấy đạo.

Chúng ta thở ta hít vô được thì còn sống, nếu thở ra mà không hít vô thì chết ngay. Đó là một lẽ thật, tất cả mọi người đều chết như vậy. Trong nửa chừng bữa ăn, nếu thở ra mà không hít vô cũng ngã ra chết, thì đâu trọn bữa ăn. Thường chúng ta nghĩ cuộc sống là chặng đường dài bảy tám mươi năm, nếu ngắn nhất là đôi ba ngày hoặc chừng bữa ăn. Nhưng dưới mắt Phật, mạng sống chỉ trong hơi thở. Thế nên còn thở ra hít vô được, thì chúng ta ráng tu, kẻo ngày nào đó thở ra mà không hít vô, thì tu không kịp. Nếu cứ lo tính chuyện trăm năm là kẻ si mê không thấy đạo, đức Phật đã chỉ cho chúng ta một lẽ thật.

Thấy được lẽ thật là tỉnh giác, không thấy lẽ thật là si mê. Mạng người đã không lâu bền tại sao chúng ta lại hẹn? Nên nhớ rằng vô thường không hẹn với mình, thì mình cũng không có quyền hẹn với ai hết. Ngày nào còn sống là ngày đó phải hạ thủ công phu để tự lợi, lợi tha cho đầy đủ. Chớ nói ba năm nữa hãy bắt đầu làm việc này việc nọ đó là si mê. Chúng ta phải luôn luôn giác ngộ lẽ này.

“Triêu tồn tịch vong, sát na dị thế. Thí như xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức vô; ngạn thọ, tỉnh đằng khởi năng trường cửu”. Ngài diễn tả cảnh vô thường sớm còn chiều mất, chỉ trong khoảng sát na, đã qua đời khác giống như sương mùa xuân buổi sáng long lanh trên ngọn cỏ, nhưng nắng vừa lên là đã tan rồi. Sự sống của chúng ta chẳng khác chi sương đọng trên đầu cành, mới long lanh đó liền khô mất. Ví như cây dựa vực thẳm; có những cây đứng sát bờ sông sâu, chỉ một cơn gió là lật nhào xuống nước, chẳng có chút gì bảo đảm. Mạng sống lại giống như dây bò qua giếng.

Trong kinh, Phật dụ có một người phạm tội, bị vua xử voi giày. Khi voi rượt, người ấy cắm đầu chạy, đến một cái giếng liền nhảy xuống vì sợ voi đạp. Giếng sâu người ấy thấy sợi dây mọc qua thành giếng, liền nắm dây tuột xuống, giữa chừng, lại gặp ba con rồng phun lửa lên hừng hực, đành bám chặt sợi dây ở lưng chừng. Người ấy tính dựa vào thành giếng để có điểm tựa bảo đảm, song nhìn thấy có bốn con rắn độc lè lưỡi. Bấy giờ kẻ tử tội chỉ đeo sợi dây lơ lửng, lên xuống qua lại đều chẳng được. Oái oăm thay có hai con chuột một trắng một đen thay nhau gặm sợi dây, sắp đứt.

Mạng sống của người tử tội thật mong manh làm sao! Thế mà, trong khi bối rối, người ấy ngửa mặt lên bỗng có năm giọt mật rơi vào miệng, vị ngọt của mật làm cho người ấy thích thú quên hết nỗi nguy nan khổ sở mà mình đang đối diện. Thử hỏi người ấy mê đến bực nào? Phật dùng ví dụ này để diễn tả sự say mê của chúng sanh. Voi rượt kẻ tử tội, dụ cho hành khổ và hoại khổ, tức là vô thường đang bức bách con người đi đến cái chết. Sợi dây bên giếng, dụ cho mạng sống con người quá mỏng manh. Ba con rồng phun lửa, dụ cho ba độc tham, sân, si đang thiêu đốt con người.

Bốn con rắn độc, dụ cho bốn đại, đất, nước, gió, lửa không hòa hợp rã tan bất cứ lúc nào. Hai con chuột đang gặm mòn sợi dây, dụ cho ngày và đêm; mỗi giây phút trôi qua là sinh mạng mòn dần…Năm giọt mật dụ cho ngũ dục lạc là tài, sắc, danh, thực, thùy, mà người đời đang say đắm, quên đi cái khổ vô thường to lớn đang bức bách con người. Chư Phật và Bồ Tát mười phương nhìn thấy chúng sanh say mê ngũ dục, không nhớ vô thường đang bức bách hoành hành, các Ngài khởi lòng từ bi phương tiện tế độ. Trong kinh Pháp Hoa dụ chúng sanh say mê ngũ dục, như những trẻ con đang ở trong nhà lửa cháy hừng hực, mà cứ mãi mê vui đùa không chịu ra. Ông cha muốn cứu các con khỏi nạn lửa, bèn dụ bằng các món đồ chơi đẹp lạ, các con vì ham đồ chơi, mới chịu ra khỏi nhà lửa.

Ở thế gian này có ai nhận thấy mình đang say mê, hay vẫn cứ vỗ ngực xưng ta là người tri thức khôn ngoan? Đang si mê mà chẳng biết mình si mê mới thật là đại si mê. Nếu si mê mà biết mình đang si mê, thì khả dĩ lóe được chút ít trí tuệ. Mạng sống của con người mong manh chẳng khác chi sương đầu ngọn cỏ, cây đứng bên vực sâu, dây bò qua thành giếng, chẳng có chi lâu bền mà tự đắc vui sướng trong cảnh đó. Kẻ nào tự đắc và hài lòng trong cảnh ấy là kẻ đại si mê, không mảy may thức tỉnh. Thế nên Tổ đánh thức cái mê lầm ngàn đời của chúng ta.

“Niệm niệm tấn tốc, nhất sát na gian, chuyển tức tức thị lai sanh. Hà nãi yến nhiên không quá”. Mỗi niệm mỗi niệm qua nhanh, chỉ trong thời gian ngắn nhất là một sát na (một niệm), nếu chuyển hơi thở là qua đời sau rồi. Thở ra mà không hít vào thì thân hiện tại này không còn hoạt động nữa; gió (hơi thở) làm cho cơ thể hoạt động, gió ngừng, hoạt động cũng theo gió mà đứng, tim không đập, máu ngừng chảy, thế là qua một đời. Vậy mà người đời cứ ngồi yên để cho ngày tháng trôi qua. Tổ sách tấn chúng ta: biết rõ cuộc đời là vô thường, mạng sống chỉ trong hơi thở, phải nổ lực tiến tu, chẳng lẽ ngồi chơi nhàn nhã cho qua ngày tháng, chẳng là ngu dại lắm ư!

Tóm lại, Tổ chỉ cho chúng ta thấy rõ nguyên nhân đưa đẩy con người sanh ra đời, là do nghiệp dẫn, nên không thể tránh khỏi sự đau khổ về nỗi vô thường hư hoại của thân. Sở dĩ con người có ra và tồn tại là nhờ các duyên chung hợp, bốn đại hỗ tương. Nhưng bốn đại vẫn chống đối nhau khiến thân này tiêu mòn dần…chỉ trong khoảng sát na, một hơi thở ra không hít vào là đã qua đời khác. Vậy thì: “Đâu thể an nhiên để ngày tháng qua suông vô ích”. Lời trách cứ này của Tổ, chẳng khác nào ngọn roi quất mạnh, khiến chúng ta thức tỉnh mà cố gắng tu.

( Trích Trong "Quy Sơn Cảnh Sách" - Sư Ông Trúc Lâm Tôn Sư Dịch & Giảng Giải )

Phật Tử Thiền Phái Trúc Lâm

Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hoà Thượng, Thiền sư Thích Thanh Từ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share