Hoà Thượng, Thiền sư Thích Thanh Từ

Hoà Thượng, Thiền sư Thích Thanh Từ Nếu có gì sai xót, kính mong quý Thầy,Cô và Phật tử hoan hỷ bỏ qua. 🙏🏻🙏🏻🙏🏻 Thân phụ của Hòa Thượng húy Trần Văn Mão , thân mẫu húy Nguyễn Thị Đủ .

Page do Phật tử với lòng tôn kính Sư Ông Thích Thanh Từ -Viện chủ Thiền phái Trúc Lâm lập lên để lan truyền Phật Pháp chánh tông và những bài Pháp thoại của Hoà Thượng. *** Page " Hoà thượng , Thiền sư THÍCH THANH TỪ " do Phật tử lòng tôn kính giáo Pháp Phật Pháp chánh tông của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni để lại dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi , giải thoát hoàn toàn . Qua sự hướ

ng dẫn những bài pháp thoại của sư ông Thanh Từ hòa thượng viện chủ Trúc Lâm thiền phái .
*** Tổng hợp từ nguồn : thientongvietnam.net , thuongchieu.net , thientruclam.info

*** Hòa thượng thiền sư thượng Thanh hạ Từ là cao tăng của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại , nhà hoằng pháp lớn , dịch giả và tác gia nổi tiếng về Phật học , Ngài có công dịch giải nhiều nhất về thiền tông , Ngài phục hưng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử . Thiền Sư Thích Thanh Từ húy là Trần Hữu Phước , sau đổi thành Trần Thanh Từ , sanh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Tý , 1924 tại Ấp Tích Khánh , Xã Thuận Mỹ , Huyện Trà Ôn , Tỉnh Vĩnh Long . Sau khi trải nghiệm ba tháng làm công quả tại Chùa Phật Quang , xứ Bang Chang , Trà Ôn , vào ngày 15 tháng 7 năm Kỷ Sửu , 1949 , Cao tăng Thích Thiện Hoa đã thế phát xuất gia cho thiền sư . CHÂN KHÔNG
" Chân không thể bất biến ,
Huyễn hữu thường đổi thay . Khói mây bọt bóng nước ,
Tan hợp cuộc vần xoay . Linh lung trăng rọi biển ,
Xanh biếc núi im lìm . Ngút ngàn mặt bể cá ,
Thăm thẳm bầu trời xanh .
Đường phố xe qua lại ,
Sông biển tàu tới lui . Dòng đời duyên biến đổi ,
Bệ đá đạo nhân ngồi . Các Thiền viện sau đây chính thức được Hòa thượng thành lập , làm nơi giáo hóa và hướng dẫn tu hành : Thiền viện Chân Không , núi Tượng Kỳ - Vũng Tàu , thành lập vào tháng 04 năm 1971 ; dời về Thường Chiều năm 1986 , được phép tái thiết năm 1995 . Thiền viện Thường Chiếu , Long Thành - Đồng Nai , thành lập tháng 08 năm 1974 . Thiền viện Viên Chiếu , Long Thành - Đồng Nai , thành lập tháng 04 năm 1975 . Thiền viện Huệ Chiếu , Bà Rịa - Vũng Tàu , thành lập tháng 04 năm 1979 . Thiền viện Linh Chiểu , Long Thành - Đồng Nai , thành lập tháng 02 năm 1980 . Thiền viện Phổ Chiếu , Bà Rịa - Vũng Tàu , thành tựu tháng 06 năm 1980 . Thiền viện Tịch Chiếu , Long Hải , thành lập tháng 07 năm 1987 . Thiền viện Liễu Đức , Long Thành - Đồng Nai . Thiền viện Trúc Lâm , Đà Lạt - Lâm Đồng , thành lập tháng 04 năm 1993 . Chùa Lân - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử , 2002 . Thiền viện Tuệ Quang , Linh Trung , Thủ Đức , thành phố Hồ Chí Minh . Thiền viện Hương Hải , Long Thành - Đồng Nai . Thiền viện Đạo Huệ , Long Thành - Đồng Nai . Thiền viện Tuệ Thông , Long Thành - Đồng Nai . Thiền viện Đại Đăng , Bonsall , California , Hoa Kỳ , thành lập năm 2001 . Thiền viện Quang Chiếu , Forthworth , Texas , Hoa Kỳ , thành lập năm 2000 . Thiền viện Bồ Đề , Boston , Hoa Kỳ , thành lập năm 2002 . Thiền viện Diệu Nhân , Sacramento , Hoa Kỳ , thành lập năm 2002 . Thiền tr Ngọc Chiếu Garden Grove California , Hoa Kỳ Thiền tự Vô Ưu , San Jose , California , Hoa Kỳ . Thiền tự Đạo Viên , Québec , Gia Nã Đại , thành lập năm 2002 . Thiền tự Thường Lạc - Pháp . Thiền tự Pháp Loa - Úc . Thiền tự Hiện Quang - Úc . Thiền tự Hỷ Xả - Úc . Thiền viện Tiêu Dao - Úc . Thiền tự Tuệ Căn - Úc .

_(())_. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni _(())_

MỘNG

Gá thân mộng ,
Dạo cảnh mộng ,
Mộng tan rồi ,
Cười vỡ mộng,
Ghi lời mộng,
Nhắn khách mộng,
Biết được mộng,
Tỉnh cơn mộng.

TRÍ BÁT NHÃ VÀ LÒNG TỪ BI CỦA NGƯỜI HỌC PHẬT  Có người nói thế này: Phật dạy các pháp hư giả tạm bợ như kinh Kim Cang nó...
01/05/2026

TRÍ BÁT NHÃ VÀ LÒNG TỪ BI CỦA NGƯỜI HỌC PHẬT

Có người nói thế này: Phật dạy các pháp hư giả tạm bợ như kinh Kim Cang nói: “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh”. Nếu mọi thứ đều tạm bợ huyễn hóa hết thì không cần làm gì nữa, cuộc đời cứ thả trôi thì xã hội sẽ ra sao? Đây là nghi vấn của nhiều người hiện nay. Thật ra người tu Phật phải có đủ hai mặt: một là trí tuệ tức trí Bát-nhã, hai là từ bi.

Chúng ta quán sát thấy rõ tánh các pháp là Không, do duyên hợp tạm có, thấy tường tận như vậy là chúng ta có trí tuệ Bát-nhã. Nhưng giả sử cạnh ta có người đói khổ, chúng ta cũng bỏ mặc chỉ ngồi cười thôi, không làm gì hết, như vậy trở thành khô khan tiêu cực. Cho nên phải phát tâm từ bi. Phật dạy có trí tuệ mà không có từ bi là càn tuệ tức trí tuệ khô. Vì vậy trí tuệ phải có từ bi thì trí tuệ ấy mới tươi nhuần. Còn từ bi mà thiếu trí tuệ thì gọi là từ bi mù, nên chúng ta tu Phật phải có đủ từ bi và trí tuệ.

Bởi vì có trí tuệ rồi chẳng lẽ ngồi không, ai khổ mặc họ không cần biết đến? Như vậy là ích kỷ, không có lợi ích gì cả. Cho nên người tu phải phát tâm từ bi, chúng sanh tuy hư giả nhưng lại không biết hư giả. Vì vậy họ khổ, chúng ta phải thương, phải cứu họ, làm cho họ hết khổ. Như vậy nhờ trí tuệ phá kiến chấp sai lầm, phá ngu muội tăm tối. Nhờ lòng từ bi thương người mê lầm, ta chỉ cho họ thấy được lẽ thật, không còn chấp, không còn đau khổ nữa. Đó mới gọi là làm tròn bổn phận người tu.

Vì vậy trí tuệ và từ bi phải nhịp nhàng theo nhau. Người tu Phật dù bậc thượng hay bậc hạ cũng phải đồng thời huân tập hai phương diện đó. Phải có đầy đủ trí tuệ tức trí Bát-nhã và từ bi để độ chúng sanh. Không vị Phật nào chỉ có trí tuệ mà thiếu từ bi. Hiểu như vậy chúng ta mới sẵn sàng lăn vào cuộc đời để cứu khổ, để đánh thức những người mê muội. Không nên nói thân giả, cảnh giả, khổ cũng không thật, có gì đâu mà lo! Thiên hạ đói cũng là chuyện giả thôi có chi phải bận lòng, rồi ngồi đó không làm gì hết.

Nên trong kinh Phật dạy phước và tuệ, cả hai phải song hành như nhau, giống con chim có hai cánh. Chim muốn bay được phải đủ đôi cánh, nếu chích đi một cánh thì chim bay không được. Người tu cũng vậy, phải có trí tuệ để thấy tường tận lẽ thật của cuộc đời và có lòng từ bi để san sớt, chia sẻ những nỗi khổ của chúng sanh. Đó mới là người tu Phật chân chánh.

Mong tất cả quí vị nghe suy ngẫm và ứng dụng giáo pháp Phật dạy vào đời sống tu tập của mình. Nếu ứng dụng được sẽ thấy giá trị cao siêu của Phật pháp, bằng ngược lại chỉ hiểu suông, không thực hành gì cả thì không bao giờ thấy được sự mầu nhiệm của đạo Phật. Và như vậy chúng ta không xứng đáng gọi là đệ tử của đức Phật. Tất cả hãy ghi nhớ và cố gắng nỗ lực thực hành để có niềm vui chân thật ngay trong hiện đời.

Trích " CHỮ KHÔNG TRONG BÀI KINH BÁT-NHÃ"
Hòa Thượng Thiền Sư Thích Thanh Từ

HẠNH BỐ THÍChúng ta nguyện tu hạnh bố thí mà cả năm không ai đến xin mình đồng xu nào hết thì có gọi tu hạnh bố thí được...
27/04/2026

HẠNH BỐ THÍ

Chúng ta nguyện tu hạnh bố thí mà cả năm không ai đến xin mình đồng xu nào hết thì có gọi tu hạnh bố thí được không? Nếu nguyện tu hạnh bố thí thì được người đến xin, chúng ta nên mừng vì có đủ duyên để làm tròn hạnh nguyện của mình. Bố thí là buông xả của mình ra giúp cho người. Xả được lòng tham thì xóa hết tâm tham lam của mình. Nên giúp cho người thì ta phải mang ơn người, vì nhờ người mà ta xóa được lòng tham của chính mình.
Thế nên chư Tăng, Ni cũng như quý Phật tử khi cho ai vật gì, người đó không vái chào, không cám ơn, chúng ta có trách họ không? Phải hiểu rằng chúng ta tu hạnh bố thí thì người đến xin là người giúp mình thực hành hạnh bố thí, phá trừ thói xấu tham lam, thêm một bước tiến trên đường tu, nên người xin là người mình phải mang ơn. Có thế mới thật là tâm đạo đức, biết hành hạnh bố thí. Nếu nói tu hạnh bố thí mà nay người này xin, mai người kia xin, mốt người nọ xin, mình phát cáu lên thì hạnh bố thí vừa mới mở cửa đã bị đóng lại rồi. Chúng ta muốn tròn hạnh nguyện bố thí thì gặp mọi người đến xin đều mừng vui cho hết.
Trong kinh Đại Bát Nhã kể các vị Bồ-tát tu hạnh bố thí, khi có người đến xin mà các Ngài không có gì cho liền tủi khóc. Như vậy mới gọi là lòng từ bi bố thí. Còn chúng ta nếu hứa cho ai mười ngàn, người ta tới mà chúng ta hết tiền, không có mười ngàn liền nổi quạu lên. Như vậy có lòng từ bi không? Tất cả chúng ta tu phải có cái nhìn đúng với lẽ thật. Nếu tu hạnh bố thí là vì khởi lòng từ bi để dẹp trừ lòng tham lam, thì khi có người tới xin chúng ta phải thấy xót xa, giúp được hay không được cũng thương họ chớ không giận, không buồn. Như vậy mới là người tu chân chính.

Trích " NHỮNG TRỞ NGẠI LÀ CHƯỚNG DUYÊN HAY THẮNG DUYÊN?"
HT. Thiền Sư Thích Thanh Từ

CỐT LÕI CỦA ĐẠO PHẬTChủ yếu đạo Phật là chỉ dạy chúng sanh giải thoát mọi khổ đau. Song lâu đài giải thoát phải xây dựng...
25/04/2026

CỐT LÕI CỦA ĐẠO PHẬT

Chủ yếu đạo Phật là chỉ dạy chúng sanh giải thoát mọi khổ đau. Song lâu đài giải thoát phải xây dựng trên một nền tảng giác ngộ. Trước phải giác ngộ nhiên hậu mới giải thoát, như nói “biết đúng mới làm đúng”. Giác ngộ Giải thoát theo liền bên nhau không thể tách rời được. Cầu Giải thoát mà trước không Giác ngộ là sự mong cầu viển vông thiếu thực tế. Như người mắc bệnh ghiền á phiện muốn bỏ, mà không ý thức tai hại do ghiền á phiện gây ra, chạy cầu thầy bùa, thầy pháp xin bùa phép uống để khỏi ghiền, là xa vời không thực tế. Muốn bỏ bệnh ghiền á phiện, chính người ấy phải nhận thức rõ ràng tai hại của bệnh ghiền, đồng thời lập chí cương quyết bỏ á phiện, dù bị cơn ghiền hành hạ thế mấy, liều chết hẳn không tái phạm. Có thế, người ấy khả dĩ thành công việc bỏ ghiền á phiện. Mọi khổ đau trong đời sống con người đều do hành động xấu xa của con người chuốc lấy. Muốn giải thoát mọi đau khổ, con người phải Giác ngộ, cương quyết đập tan mọi nguyên nhân sanh ra đau khổ. Nhân đau khổ đã nát thì quả khổ đau đâu còn. Vì thế, Giác ngộ Giải thoát là “Cốt Lõi Ðạo Phật”.

GIÁC NGỘ ÐAU KHỔ

Thuở còn làm Thái tử, sau khi chứng kiến sự sanh già bệnh chết của con người, ngài Tất-đạt-đa quyết tâm xuất gia tầm đạo. Sau khi đã đạt đạo, ngài thấy rõ trong mọi đau khổ chỉ luân hồi sanh tử là cái khổ to lớn dai dẳng hơn cả. Cho nên, ngót bốn mươi chín năm Ngài thuyết pháp cốt chỉ rõ con đường Giải thoát Sanh tử Luân hồi cho chúng sanh. Ðồng thời Ngài cũng phương tiện vạch bày phương pháp giảm thiểu đau khổ cho những chúng sanh chưa đủ khả năng thoát khỏi luân hồi.

GIÁC NGỘ LÝ NGHIỆP DẪN

Chúng sanh si mê tạo nghiệp, sức nghiệp lôi kéo chúng sanh đi vào luân hồi sanh tử. Do nghiệp dẫn dắt chúng sanh mãi trèo lên tuột xuống trong sáu nẻo luân hồi. Có khi chúng ta vui cười ở cõi trời, có khi la hét ở cõi a-tu-la, có lúc nửa cười, nửa mếu ở cõi người, lại có khi kêu la thảm thiết ở địa ngục, có lúc thất thểu đói khát ở ngạ quỉ, có khi ngu si sống theo bản năng ở súc sanh. Ðang lúc bị nghiệp dẫn, chúng ta cũng có gặp những cảnh vui, song cái vui ấy chỉ trá hình của đau khổ. Vì là cái vui mỏng manh tạm bợ, rốt cuộc đều tan biến theo thời gian. Nghiệp là hành động tạo tác của con người hoặc nói khác, nghiệp là động lực thúc đẩy lôi kéo chúng sanh đến nơi thọ quả. Cụ thể hơn, nghiệp là sức bảo tồn mạng sống hiện tại của con người.

Do hành động tạo tác nhiều lần, thành thói quen, có sức mạnh lôi cuốn con người đi theo thói quen là nghiệp. Ban đầu ta làm chủ tạo nghiệp, nghiệp thành, làm chủ chi phối lại chúng ta. Như người khi mới tập uống rượu và sau khi đã ghiền rượu. Nghiệp dẫn dắt chúng ta lang thang trong sáu nẻo luân hồi đều do cái sở tập của mình mà nên. Sự sống là động, ngừng mọi hoạt động trong thân thì chết. Như mũi tên rời dây cung bay bổng trong không là do sức đẩy, sức đẩy mãn thì mũi tên phải rơi. Sự sống của thân chúng ta đều do sức nghiệp, nhờ gió nghiệp thu hút tứ đại bên ngoài vào thân, cũng do gió nghiệp tống tứ đại phế thải trong thân ra ngoài, gió nghiệp dừng thì thân này phải hoại. Có bài tụng:

Ðem vào nhờ gió nghiệp
Tống ra cũng gió đưa
Sự hô hấp tuần hoàn
Tất cả đều do gió.
Một phen gió nghiệp dừng
Thân này như khúc gỗ.

Thế nên, sự tồn tại của thân hiện nay và sự tiếp nối của thân mai sau đều do nghiệp. Còn nghiệp là còn sự sống và tiếp nối sự sống. Nghiệp chủ động trong vòng sanh tử của chúng sanh.

Nghiệp có nhiều thứ, nói đơn giản chỉ có hai thứ thuộc ba lớp khác nhau: thiện nghiệp, ác nghiệp, tích lũy nghiệp, cận tử nghiệp, định nghiệp, bất định nghiệp. Những hành động lành tạo thành thói quen là thiện nghiệp, sẽ dẫn dắt sanh trong các cõi lành. Những hành động dữ tạo thành thói quen là ác nghiệp, sẽ lôi cuốn vào các cõi dữ. Trong lục đạo luân hồi, tùy nghiệp lành cao thấp sẽ sanh trong ba đường lành: người, a-tu-la, trời. Nghiệp dữ tùy nặng nhẹ sẽ sanh trong ba đường dữ: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Vì thế, lành dữ đều do nghiệp, nghiệp lại chính là hành động hằng ngày của chúng ta. Muốn tương lai vui hay khổ đều do ta quyết định. Chính chúng ta là người làm chủ vận mạng của chúng ta, không ai khác có thể đem vui khổ lại cho chúng ta, kể cả đức Phật. Chúng ta là người định đoạt số phận của mình ngay trong hiện tại và vị lai.
Hằng ngày chúng ta gây tạo nghiệp lành hay dữ tích lũy thành sức mạnh, dẫn dắt chúng ta đến chỗ tương ứng thọ sanh, gọi là tích lũy nghiệp. Thuở Phật tại thế, Thích-ma-ha-nam đến bạch Phật: Hằng ngày con giữ năm giới tu thập thiện… nếu đi đường gặp cọp dữ, voi dữ hại, khi ấy chết con sẽ sanh về đâu? Ðức Phật đáp: Như cây to đang nghiêng hẳn về một chiều, bị người cưa sẽ ngã về đâu? Ðây là hiệu năng của tích lũy nghiệp. Chúng ta sắp chết mà nghiệp thiện, ác chưa nghiêng hẳn bên nào, khi ấy tâm niệm thiện dấy mạnh, hoặc tâm niệm ác dấy mạnh liền theo đó thọ sanh, là cận tử nghiệp. Người ta thường quan trọng giờ phút lâm chung là vì thế.

Trợ niệm bằng cách nhắc lại giáo pháp mà người sắp chết đã nghe, cho họ dễ tỉnh giác, hoặc tụng kinh niệm Phật theo sở thích hằng ngày của họ, khiến thêm sức mạnh để họ đi theo con đường đã chọn. Thân miệng ý cộng tác tạo nghiệp lành hay nghiệp dữ, kết quả tất yếu phải thọ báo lành hay dữ là định nghiệp. Thân miệng riêng lẻ tạo nghiệp lành hay dữ, kết quả có thể thay đổi được là bất định nghiệp. Ví như có người ý thù ghét, miệng chửi, tay đánh một đối phương, sau đó họ ăn năn đến xin lỗi, đối phương dù có tâm lượng rộng rãi đến đâu thử hỏi có tha thứ dễ dàng chăng? Ngược lại, có người vô tình hoặc lầm lẫn chửi hay đánh kẻ khác, sau đó anh biết lỗi đến xin lỗi, chắc chắn nạn nhân kia tha thứ chẳng khó.

GIÁC NGỘ TU NGHIỆP THIỆN

Biết thân miệng ý là chỗ xuất phát nghiệp, người phát tâm qui y Tam Bảo, trước tiên phải giữ năm giới. Trong năm giới không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm là ba điều thiện của thân; không nói dối, không uống rượu là hai điều thiện của miệng. Chỉ tu năm điều thiện này là đủ cung cách một người tốt trong xã hội hiện tại, và sẽ làm người tốt ở vị lai. Giữ trọn năm giới là đóng cửa ba đường ác (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh), không bao giờ ta bước chân đến ba chỗ này. Thế nên, Phật chế năm giới là phương tiện giảm thiểu đau khổ cho con người trong hiện tại và vị lai.

Nếu giữ trọn mười điều thiện sẽ được sanh lên cõi trời, là con đường lành cao nhất trong sáu đường. Giữ mười điều thiện là tu đủ ba nghiệp: nơi thân không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm; nơi miệng không nói dối, không nói hai lưỡi (nói lật lọng), không nói hung dữ, không nói thêu dệt; nơi ý bớt tham, bớt sân, không tà kiến. Tà kiến là nhận định lệch lạc không đúng lẽ thật, gốc từ si mê mà ra. Phật dạy: “Thấy đúng nhân quả là chánh kiến, thấy sai nhân quả là tà kiến.” Ba nghiệp biết tu thiện là tạo nguồn an lạc hiện tại và mai sau.

Ngược lại, ba nghiệp tạo đầy đủ mười điều ác là nhân của địa ngục. Ð?a ngục là đường khổ nhất trong sáu đường luân hồi. Ðâu đợi xuống địa ngục mới khổ, ngay trong cuộc sống hiện tại này, nếu người làm đủ mười điều ác, sẽ thấy một đời hoàn toàn đau khổ. Chúng ta thử nhìn người ưa sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, tham lam, sân hận, tà kiến có lúc nào họ được yên ổn đâu. Dù họ ở địa vị thế nào trong xã hội, bản thân và tâm hồn họ vẫn đen tối và đau khổ dài dài.

Phật dạy người Phật tử tu thập thiện cốt để đầy đủ phước đức, đời sau sanh ra sẽ được thỏa mãn mọi nhu cầu trong cõi dục giới này. Song đây chưa phải là lối tu giải thoát, đau khổ cứu kính, cần tiến lên những bậc trên nữa mới hoàn toàn giải thoát đau khổ. Tuy nhiên, trên đường tu, trước giữ năm giới, kế tu thập thiện là cơ bản là hai nấc thang đầu trên cây thang giải thoát. Thiếu nó, người tu sẽ chới với không thể tiến lên được.

GIÁC NGỘ DỨT NGHIỆP

Sanh tử gốc do nghiệp dẫn, muốn hết sanh tử phải hết nghiệp. Nghiệp phát xuất từ thân miệng ý, song chủ động là ý. Ý có nghĩ lành dữ, thân miệng mới tạo nghiệp lành dữ. Ý lặng rồi thì thân miệng đâu còn cơ sở tạo nghiệp. Như chiếc xe lăn bánh chạy trên đường, gốc từ cháy xăng nổ máy, muốn xe dừng thì phải hãm xăng tắt máy. Cái chủ động đã dừng, các bộ phận bị động cũng dừng. Người tu quyết giải thoát luân hồi, sanh tử phải chận đứng ý nghiệp. Khi nào ý nghiệp vắng bặt rồi, chắc chắn mình thoát ly sanh tử. Phương tiện dừng ý nghiệp: Phật dạy có nhiều lối, gọi là những pháp môn tu. Pháp môn tu thiền, pháp môn tu tịnh độ… Mỗi pháp môn đều nhằm đập chết con khỉ ý thức. Tu thiền phải được định, niệm phật phải nhất tâm. Ðã định thì ý thức đâu còn hoạt động, nhất tâm thì con khỉ ý đã chết lịm rồi. Vì thế tu thiền đến diệt tận định thì nhập Niết-bàn (vô sanh), niệm Phật đến nhất tâm bất loạn thì thấy Phật A-di-đà đến đón về cực lạc. Nhập Niết-bàn thì không còn sanh tử, về cực lạc thì hết luân hồi trong lục đạo. Ðược về Cực lạc (vui tột) hay nhập Niết-bàn (vô sanh) mới thật là giải thoát khổ đau hoàn toàn miên viễn. Ðây là chỗ đức Phật Thích-ca nhằm hướng dẫn chúng sanh đạt đến.

Muốn niệm Phật được nhất tâm phải tin chắc về sự, hoặc nhận thực về lý. Tin chắc về sự, là tin có cõi cực lạc, có đức Phật A-di-đà tiếp dẫn, tin mình niệm Phật sẽ được vãng sanh. Nhận thực về lý, là nhận rõ tâm tịnh thì độ tịnh. Phật A-di-đà là tánh giác của mình, phương pháp niệm Phật là một cách lóng lặng cho tâm mình thanh tịnh, có câu “Tự tánh Di-đà, duy tâm Tịnh Ðộ”. Ðã đủ lòng tin hay nhận thực ấy rồi, hành giả bắt đầu thực hành bằng niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà. Miệng niệm lỗ tai lắng nghe, phải nghe rõ ràng từng tiếng niệm của mình, dù niệm thầm cũng vậy. Niệm có chuỗi cũng tốt, không chuỗi cũng được. Cốt yếu cột tâm trong sáu chữ Di-đà, không cho tâm phóng chạy ra ngoài. Ban đầu niệm Phật có thời khóa hay có số chuỗi, sau quen rồi trong bốn oai nghi, trong mọi hoạt động đều nhớ niệm Phật.

Chỉ ngoài giờ ngủ ra, tất cả giờ đều là giờ niệm Phật. Người niệm Phật tin về sự, sau thời niệm Phật đều phát nguyện hồi hướng sanh về cực lạc. Cõi cực lạc là mục tiêu qui hướng tuyệt đối của người này. Ðức Phật di-đà sẽ đến đón họ trước giờ lâm chung, khẳng định như vậy. Người niệm Phật nhận thực về lý, hướng thẳng về tâm thanh tịnh của mình. Như nói “Trì Thành Nguyệt Hiện”, hồ nước đào xong, nước hồ lóng trong thì mặt trăng hiện. Nước hồ trong là tâm thanh tịnh, bóng trăng hiện là tánh giác hiện bày. Tánh giác là Phật Di-đà, tâm thanh tịnh là cực lạc. Tin về sự là hướng ra ngoài, nhận thực về lý là nhắm thẳng tâm mình. Tuy sự lý trong ngoài có khác, song trên phương diện thực hành chủ yếu được nhất tâm. Nhất tâm là mục đích duy nhất của phương pháp niệm Phật. Dù tin sự hay hiểu lý mà niệm Phật không nhất tâm thì cũng chẳng đến đâu.

Muốn tu thiền được định tùy trình độ sai khác cũng có nhiều lối tu khác nhau. Tổng quát có hai lối, thiền tiệm thứ và thiền đốn ngộ.

THIỀN TIỆM THỨ

Thiền tiệm thứ là lối tu thiền theo thứ lớp tuần tự tiến lên, có đề mục, có phương pháp, ứng dụng tu pháp này xong, tiến lên pháp khác, có sở chứng sở đắc từ thấp đến cao. Như lối tu quán tứ niệm xứ, minh sát tuệ (Xem sách Thiền Nguyên Thủy). Hoặc tu lối Lục diệu pháp môn. Ðây là sáu cửa mầu nhiệm tiến vào thiền.

Ban đầu là Sổ tức, là lối đếm hơi thở. Hít hơi vào cùng, đếm một, thở ra sạch đếm hai. Hoặc cả hai hơi vô hơi ra đếm một, chú tâm vào hơi thở vô và ra đến đâu đều biết, nhớ số từ một đến mười không cho lộn. Ðến mười đếm lại một, nếu giữa chừng quên số cũng đếm trở lại một. Cột tâm theo hơi thở và số, vừa dấy nghĩ liền kéo lại với số và hơi thở. Chú ý đừng cố đem hơi xuống rún sanh mệt. Hơi vừa dài vừa nhẹ là tốt. Ðến bao giờ ngồi thiền cả giờ mà chỉ nhớ số và hơi thở là thành công.

Sang Tùy tức là theo hơi thở. Ðến đây bỏ không đếm số chỉ duyên theo hơi thở ra vào, chú tâm theo hơi thở vô đến đâu biết rõ đến đó, ra đến đâu theo đến đấy. Tâm cột với hơi thở, vừa có nghĩ khác kéo lại hơi thở. Theo sát hơi thở không phút giây lơi lỏng, cho đến khi chỉ còn biết hơi thở ra vào không nghĩ gì khác là xong phần tùy tức.

Tu Chỉ: Dừng tâm ở mũi xem hơi thở ra vào, như người gác cổng nhận diện từng người khách ra vào không sai sót. Trụ tâm ở mũi lâu sanh hôn trầm liền khởi quán.

Tu Quán: Quán hơi thở ra vào là tướng vô thường mỏng manh tạm bợ. Mạng sống lại nương hơi thở mà còn thì mạng sống cũng mong manh tạm bợ. Quả thật mạng sống chỉ trong khoảng hơi thở ra vào, thở ra mà không hít vào là chết, có gì là chắc chắn lâu dài. Thấy được lẽ thật này là thấy Ðạo. Hoặc quán hơi thở vào do phổi phồng lên, hơi thở ra do phổi xẹp xuống. Khi phổi phồng lên, thì mũi hít không khí vào, phổi xẹp xuống thì đẩy không khí ra. Bên ngoài có không khí, bên trong có phổi, hợp với tâm lý tác động thành sự thở. Sự thở không tự có, đủ duyên mới có, đã do duyên thì hơi thở không thật. Sự thở đã không thật, mạng sống lại nương theo hơi thở mà có thì mạng sống cũng không thật. Quán rõ thấy mạng sống như huyễn hóa là thành công.

Tu Hoàn: Quán nhiều sanh động, nên xoay lại tìm xem tâm năng quán này ở đâu? Tìm đáo để, không thấy nó thì năng sở tự yên lặng.

Tu Tịnh: chỗ năng sở yên lặng này là tâm thanh tịnh. Giờ ngồi thiền xả hết vọng niệm chỉ còn một tâm thanh tịnh là tu tịnh. Tâm thanh tịnh bền bỉ lâu dài là xong xuôi phần tu Lục diệu pháp môn (cần đọc quyển Lục Diệu Pháp Môn của Trí Khải Ðại Sư).

THIỀN ÐỐN NGỘ

Thiền đốn ngộ là lối tu trực ngộ bản tâm, gọi là kiến tánh khởi tu. Không có đề mục, không có phương pháp, không có sở chứng sở đắc, chỉ mê là chúng sanh, ngộ là Phật nên nói “Kiến tánh thành Phật”. Lối tu này không tu mà tu, không chứng mà chứng. Bởi vì khi hành giả trực nhận bản tâm, biết rõ nơi mình có cái không sanh không diệt, mà từ thuở nào mãi chạy theo cái tâm sanh diệt tạo nghiệp luân hồi. Ngang đây biết rõ bộ mặt sanh diệt của nó, không chạy theo nữa, khi nó dấy lên không cho nối tiếp, không khởi thì lặng yên đừng dấy niệm. Tổ Lâm Tế nói: “Ðã khởi chớ tiếp nối, chưa khởi chẳng cần dấy khởi, còn hơn ông hành cước mười năm.” Cổ Ðức cũng nói: “Chớ sợ niệm khởi chỉ sợ giác chậm.” Thiền sư Vô Nghiệp suốt đời chỉ dùng một câu “chớ vọng tưởng” trả lời tất cả câu hỏi của thiền khách.

Có người bảo lối tu này là “Tảo niệm” (quét sạch niệm), song khi ngồi thiền quét, lúc tiếp duyên, xúc cảnh thâu lại. Cứ quét rồi thâu đến bao giờ mới hết niệm? Ðúng thế, nếu người tu chỉ biết quét khi ngồi thiền, lúc ra ngoài thì thâu lại, thật là gian nan cho lối tu này. Song ở đây không phải vậy, khi ngồi thiền không theo niệm, lúc ra ngoài thấy các pháp đều duyên hợp hư dối như huyễn hóa không có một pháp đáng lưu tâm, thì làm gì có thâu, ví như người đi chợ, cô ta dạo qua các cửa hàng chen chúc với bao nhiêu người qua lại trên đường phố, nhưng không có vật gì và người nào đáng cho cô để ý. Về đến nhà, người nhà hỏi: đi chợ có thấy gì không? Cô đáp: không. Có phải thật không thấy gì chăng? Hẳn không phải thế, chỉ không có gì quan trọng đáng cô chú ý nên nói không thấy gì. Khi tiếp duyên xúc cảnh, hành giả thấy rõ các pháp như huyễn hóa, tự nhiên không có gì đáng để thâu. Bên trong có bao nhiêu vọng tưởng dấy lên đều không tiếp tục, lâu ngày tự hết.

Lại có người bảo “không theo niệm” nhẹ nhàng quá, nếu người tọa thiền bị hôn trầm nặng nề làm sao đuổi được? Nếu khi hôn trầm nặng nề, hành giả chấn chỉnh thân, mở mắt sáng mà không hết, nên khởi niệm tìm xem hôn trầm này xuất phát từ chỗ nào? Tức là đặt câu hỏi: “Hôn trầm xuất phát từ chỗ nào?” Theo dõi lùng tìm nó thì hôn trầm sẽ tan. Khi gặp tán loạn mãnh liệt cũng thế. Hành giả nên đặt câu hỏi: “Vọng tưởng này xuất phát từ chỗ nào?” Tìm kiếm nó một lúc sẽ hết. Khi hôn trầm tan, vọng tưởng lặng liền trở lại lối tu “không theo niệm” như trước.

Lối tu này cụ thể hóa bằng mười bức họa “Chăn Trâu Thiền Tông”. Mã Tổ hỏi Thiền sư Thạch Củng: Ông làm gì đây? Sư đáp: Con chăn trâu. Mã Tổ hỏi: Chăn như thế nào? Sư đáp: Mỗi khi nó chạy vào ruộng lúa thì lôi mũi kéo lại. Mã Tổ bảo: Thế là ông chăn giỏi, chỉ chăn giữ không cho trâu xâm phạm mạ của người là biết chăn trâu. Con trâu là tâm, chạy loạn vào lúa mạ là vọng khởi theo sáu trần, dừng lại không theo là lôi mũi kéo về. Cứ thế mãi, giờ ngồi thiền chăn, giờ làm công tác chăn, giờ dạo chơi, tiếp khách cũng chăn… không lơi lỏng. Thế nên nói, hái rau, chặt củi, nấu cơm, đều là thiền. Chăn cho đến khi trâu không còn, người chăn cũng mất, đây là hoàn toàn an định. Thiền sư Lương Giới tìm đến am tranh Hòa thượng Ẩn Sơn hỏi: Hòa thượng ở đây làm gì? Ẩn Sơn đáp: Tôi thấy hai con trâu báng lộn nhau, chạy ùm xuống sông, đến nay không có tin tức. Sư đắp y đảnh lễ. Ðây là mục thứ tám trong mười mục chăn trâu nhà thiền, trâu và chăn đều vắng bặt chỉ còn một vòng tròn trắng. Ðến đây ý nghiệp yên lặng không còn lôi kéo vào luân hồi sanh tử nữa. Nếu hàng Nhị thừa đến đây là nhập Niết-bàn, vì đã dứt sạch nghiệp sanh tử.

GIÁC NGỘ PHÁP THÂN

Dứt sạch nghiệp mới gọi là hết sanh tử, chưa phải thành Phật. Về các kinh A-hàm đến đây là chứng Niết-bàn (Vô Sanh) của A-la-hán. Kinh Pháp Hoa Phật bảo là Hóa thành không phải Bảo sở, về Thiền tông gọi đây là đất Vô sanh, là Tử thủy (nước chết) là đầu sào trăm trượng, cần phải vượt qua mới được. Căn cứ vào mười mục chăn trâu nhà Thiền, chỗ này mới là mục thứ tám chăn và trâu đều mất. Phải tiến lên mục thứ chín là lá rụng về cội, nước chảy về nguồn mới được, mục này gọi là nhập Phật giới hay nhập Pháp thân. Cần vượt lên mục thứ mười là buông lỏng tay vào chợ hay nhập ma giới, mới vuông tròn công đức thành Phật. Dứt sạch nghiệp mới thoát khỏi đau khổ trong sanh tử cho chính mình, song chưa đạt Pháp thân, chưa viên mãn công đức cứu khổ chúng sanh, cần phải hòa quang đồng trần làm lợi ích tất cả chúng sanh mới vẹn tròn công đức thành Phật.

THẦM NGỘ LÀ ÐỦ LÒNG TIN

Có người nghĩ, hành giả chưa trực ngộ bản tâm tu thiền đốn ngộ được chăng? Trực ngộ bản tâm là chủ yếu của người tu thiền đốn ngộ. Song có người chưa ngộ mà đủ lòng tin, tu vẫn được. Xem kinh, đọc luận, hỏi đạo, nghe giảng… thầm nhận mình có bản tâm bất sanh bất diệt, khẳng định không nghi ngờ, người này tu thiền đốn ngộ được. Thiền sư Pháp Thường đến hỏi Mã Tổ: Thế nào là Phật? Mã Tổ đáp: Tức tâm là Phật. Sư thầm nhận, đến núi Ðại Mai cất am tu. Sau Mã Tổ nghe, sai vị Tăng đến thăm dò. Tăng đến hỏi Sư: Hòa thượng gặp Mã Tổ, được cái gì về ở núi này? Sư đáp: Mã Tổ nói với tôi: tức tâm là Phật, tôi bèn đến ở núi này. Tăng thưa: Gần đây Mã Tổ lại nói “Phi tâm phi Phật.” Sư bảo: Ông già mê hoặc người, chưa có ngày xong, mặc ông phi tâm phi Phật, tôi chỉ biết tức tâm là Phật. Vị Tăng trở về thuật lại Mã Tổ. Mã Tổ nói với đại chúng: Ðại chúng, trái mai đã chín. Ðây là tin nhận mình có bản tâm chân thật một cách chắc chắn là tu thiền đốn ngộ hay chăn trâu được.

Hoặc giả nhận rõ vọng tưởng hư dối như sương như khói, không theo, không bị nó dẫn, đến khi nó tan biến hoàn toàn, chân tâm hiển lộ. Ngài Huệ Khả sau khi được Tổ Ðạt-ma nhận làm môn đồ, Ngài hỏi Tổ: Tâm con chưa an, xin Thầy dạy con phương pháp an tâm? Tổ Ðạt-ma nhìn thẳng vào mặt bảo: Ðem tâm ra ta an cho. Ngài sửng sốt lặng tìm liền đáp: Con tìm tâm không được. Tổ Ðạt-ma bảo: Ta đã an tâm cho ông. Ngài Huệ Khả liền biết lối vào. Bình nhật chúng ta thấy tâm tưởng lăng xăng, khi nhìn lại thì mất bóng bặt dạng. Thế là nó hư dối không thật. Biết rõ nó hư dối thì nó không còn khả năng lôi cuốn dẫn dắt chúng ta nữa.

Không chạy theo không bị dẫn, chẳng an là gì? An tâm là nhìn thẳng bộ mặt hư dối của nó, nó tự tan biến, còn gì nữa mà động. Thời gian sau, ngài Huệ Khả thưa Tổ Ðạt-ma: Nay con bặt hết các duyên. Tổ Ðạt-ma bảo: Coi chừng rơi vào đoạn diệt. Ngài Huệ Khả thưa: Không rơi. Tổ Ðạt-ma hỏi: Thế nào không rơi? Ngài Huệ Khả thưa: Rõ ràng thường biết, nói không thể đến. Tổ Ðạt-ma nói: Ðây là chỗ truyền của chư Phật, chớ có hoài nghi. Thế là, từ nhận biết tâm bất an là hư dối, ngài Huệ Khả chăn nó đến lúc không còn tâm dạng là: “bặt hết các duyên” chỉ còn lại cái: “rõ ràng thường biết” là chỗ chư Phật truyền nhau.

Có nhiều người học đạo đã thầm nhận mình có cái chân thật sẵn đủ, hoặc biết rõ vọng tâm hư dối, mà vẫn chưa đủ lòng tin để tiến tu, họ cứ đòi phải ngộ mới tu được. Quả thật họ đang đuổi theo cái ảo ảnh của danh từ ngộ. Ðâu biết rằng tin chắc không nghi là đã thầm ngộ.

KẾT THÚC

Trên tiến trình tu tập từ phàm phu đến Phật quả thật là thăm thẳm gian truân. Song vì ý thức được sự đau khổ trong kiếp mê lầm, sự đọa đầy trong vòng lục đạo, chúng ta phải nỗ lực tiến tu. Nhờ thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ, chúng ta mới thấy đường để tháo gỡ những gút mắc của muôn ngàn sợi dây nghiệp báo. Gỡ sạch những vòng dây nghiệp báo rồi, chúng ta được thảnh thơi, tự tại. Song, thân bằng quyến thuộc ta, đồng bào, đồng loại ta, đang bị chúng bủa vây bao phủ, đành lòng nào chúng ta lại ngó lơ. Thế là, vén áo xăn quần, chúng ta lao mình vào cõi trần ai để dìu dắt nhân loại thoát khỏi vòng khổ ải. Ðây là hình ảnh Thiền sư vai mang chiếc đãy, tay cầm bầu rượu, kết bè họp bạn với đám người đầu đường xó chợ. Ðem ánh sáng hòa lẫn với bụi bặm, quả là “đầu tro mặt đất” lang thang. Có thế mới tròn bản nguyện đại bi, mới đủ công đức giải thoát chúng sanh ra khỏi sông mê bể khổ. Cứu mình, độ người được viên mãn, đều đặt gọn trên nền tảng giác ngộ giải thoát của đạo Phật.

Trích "BƯỚC ĐẦU HỌC PHẬT"
Hoà Thượng Thiền Sư Thích Thanh Từ

18/04/2026

KINH HOA NGHIÊM TRÍCH GIẢNG.
( Sư Ông Trúc Lâm Tôn Sư )
Phẩm Hiền Thủ. ( Phần tiếp theo...! )

Lại phóng quang minh tên Huệ Đăng
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến biết chúng sanh tánh không tịch
Tất cả các pháp vô sở hữu.
Diễn thuyết các pháp không, vô chủ
Như huyễn, như diệm, trăng dưới nước
Cũng như giấc mơ, cùng bóng tượng
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Huệ Đăng, ai chạm tới hào quang này đều biết được chúng sanh tánh không tịch, biết tất cả pháp vô sở hữu. Tại sao được hào quang này? Do diễn thuyết các pháp không, vô chủ, như huyễn như diệm, như trăng đáy nước, như giấc mơ, như bóng tượng.

Phóng quang minh tên Pháp Tự Tại
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến được vô tận đà-la-ni
Tổng trì tất cả các Phật pháp,
Cung kính cúng dường người trì pháp
Cung cấp hầu hạ chư thánh hiền
Đem chánh pháp thí cho chúng sanh
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Pháp Tự Tại, ai chạm tới hào quang này thì được vô tận đà-la-ni. Tại sao được hào quang này? Do cung kính cúng dường người trì pháp, cung cấp hầu hạ những vị thánh hiền, đem chánh pháp bố thí cho chúng sanh.

Lại phóng quang minh tên Năng Xả
Quang này giác ngộ kẻ xan tham
Khiến biết tài vật là vô thường
Thường thích bố thí lòng không nhiễm.
Lòng keo kiết khó điều, được điều
Biết của như mộng, như mây nổi
Thêm lớn tâm bố thí thanh tịnh
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Năng Xả, ai chạm tới hào quang này thì biết tài vật là vô thường, phát tâm bố thí lòng không nhiễm. Do tu nhân gì được hào quang này? Do lòng không keo kiệt, không bỏn sẻn, biết của thế gian như mộng, như mây nổi, luôn luôn phát tâm bố thí thanh tịnh.

Lại phóng quang minh tên Trừ Nhiệt
Quang này giác ngộ kẻ phạm giới
Khiến họ thọ trì giới thanh tịnh
Phát tâm nguyện chứng đạo vô sư.
Khuyên dắt chúng sanh thọ trì giới
Mười nghiệp đạo lành đều thanh tịnh
Lại khiến phát hướng Bồ-đề tâm
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Trừ Nhiệt, ai chạm tới hào quang này thì dù phạm giới đều được trì giới thanh tịnh, phát tâm nguyện chứng đạo vô sư. Tại sao được hào quang này? Do khuyên người thọ trì giới và tu Thập thiện thanh tịnh, khiến họ phát tâm Bồ-đề.

Lại phóng quang minh tên Nhẫn Nghiêm
Quang này giác ngộ kẻ sân hận
Khiến họ lìa sân, trừ ngã mạn
Thường thích pháp nhu hòa nhẫn nhục.
Chúng sanh bạo ác khó nhẫn được
Vì Bồ-đề nên tâm chẳng động
Thường thích ca ngợi đức nhẫn nhục
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Nhẫn Nghiêm, tức là lấy nhẫn nhục làm trang nghiêm, ai hay sân giận chạm vào hào quang này thì được lìa sân và bớt tâm ngã mạn, lại thích tu pháp nhu hòa nhẫn nhục. Tại sao được hào quang này? Do khi chúng ta tu gặp người có thói hung dữ mà mình nhẫn được, vì tâm Bồ-đề không thối chuyển, ca ngợi đức nhẫn nhục nên thành tựu quang minh này.

Lại phóng quang minh tên Dũng Mãnh
Quang này giác ngộ kẻ giải đãi
Khiến họ thường đối với Tam bảo
Cung kính cúng dường không nhàm mỏi.
Nếu họ thường đối với Tam bảo
Cung kính cúng dường không nhàm mỏi
Thời hay vượt khỏi cảnh tứ ma
Mau thành bậc Bồ-đề vô thượng.
Khuyến hóa chúng sanh khiến tinh tấn
Thường siêng cúng dường ngôi Tam bảo
Lúc pháp sắp diệt chuyên ủng hộ
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Dũng Mãnh, ai chạm tới hào quang này thì người giải đãi trở nên siêng năng cúng dường Tam bảo không nhàm chán. Nếu cúng dường Tam bảo không nhàm chán thì vượt khỏi tứ ma, tức là ma phiền não, ma ngũ ấm, ma trời, ma chết, được chứng quả vô thượng Bồ-đề. Tại sao? Vì khéo giáo hóa chúng sanh, khiến họ tinh tấn tụng kinh ngồi thiền, cúng dường Tam bảo, khi pháp của Phật sắp diệt thì ủng hộ duy trì không cho suy yếu, do đó được quang minh này.

Lại phóng quang minh tên Tịch Tịnh
Quang này giác ngộ kẻ loạn tâm
Khiến họ xa lìa tham, sân, si
Tâm chẳng dao động được chánh định,
Xa lìa tất cả ác trí thức
Luận đàm vô nghĩa, hạnh tạp nhiễm
Khen ngợi thiền định, hạnh tịch tịnh
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Tịch Tịnh, hay giác ngộ người loạn tâm. Ai tham sân si nhiều chạm tới hào quang này thì tâm bớt dao động, dần dần được chánh định. Tại sao được hào quang này? Do xa lìa ác tri thức, xa lìa luận đàm vô nghĩa, hạnh tạp nhiễm, luôn luôn khen ngợi thiền định, hạnh tịch tĩnh nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Huệ Nghiêm
Quang này giác ngộ kẻ ngu mê
Khiến họ chứng lý, hiểu duyên khởi
Lục căn, trí tuệ đều thông đạt,
Nếu hay chứng lý, hiểu duyên khởi
Lục căn, trí tuệ đều thông đạt
Thời được pháp tam-muội Nhật Đăng
Trí tuệ sáng tỏ thành Phật quả,
Của ngoài, trong thân đều hay xả
Vì đạo Bồ-đề cầu chánh pháp
Nghe xong, chuyên cần vì chúng nói
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Huệ Nghiêm, là lấy trí tuệ trang nghiêm. Người ngu si chạm tới hào quang này thì hiểu lý duyên khởi, được trí tuệ thông đạt. Khi trí tuệ thông đạt thời được phát tam-muội Nhật Đăng, trí tuệ sáng tỏ thành Phật quả. Do nhân gì mà được hào quang này? Do bố thí của cải trong và ngoài thân, vì đạo Bồ-đề cầu chánh pháp, nghe xong lại chuyên cần vì người khác nói, nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Phật Huệ
Quang này giác ngộ các hàm thức
Khiến thấy vô lượng vô biên Phật
Đều ngự trên bảo tọa liên hoa.
Khen Phật oai đức và giải thoát
Ngợi Phật tự tại vô hạn lượng
Hiển thị Phật lực và thần thông
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Phật Huệ, ai chạm tới hào quang này thì được giác ngộ, thấy được vô lượng vô biên đức Phật ngự trên tòa sen. Sở dĩ được hào quang này là do khen ngợi oai đức chư Phật, khen ngợi pháp giải thoát của Phật, khen ngợi Phật tự tại vô hạn lượng, hiển bày cho người biết sức thần thông diệu dụng của Phật.

Lại phóng quang minh tên Vô Úy
Quang này chiếu đến kẻ sợ hãi
Quỷ mị bắt giữ, những độc hại
Tất cả đều khiến mau trừ diệt,
Hay ban vô úy cho chúng sanh
Gặp kẻ não hại đều khuyên ngăn
Chẩn tế kẻ cô cùng ách nạn
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Vô Úy tức hào quang không sợ hãi. Người được hào quang này chiếu đến thì bao nhiêu hãi đều tiêu trừ. Tại sao được hào quang này? Do ban cho chúng sanh sự vô úy, gặp những kẻ hung hăng muốn não hại người thì khuyên ngăn, gặp những kẻ cô bần thì giúp đỡ cho họ qua tai nạn, nên được hào ách nạn quang này.

Lại phóng quang minh tên An Ổn
Quang này chiếu đến người tật bệnh
Khiến trừ tất cả sự khổ đau
Đều được sự vui trong chánh định,
Ban cho thuốc hay cứu các bệnh
Diệu bảo sống lâu, hương thoa thân
Tô, dầu, sữa, mật làm thức ăn
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên An Ổn, người tật bệnh chạm tới thì tiêu trừ tất cả khổ đau, dần dần được chánh định. Tại sao được hào quang này? Do bố thí thuốc hay cứu các bệnh, diệu bảo sống lâu, hương thoa thân, cho tô dầu sữa mật làm thức ăn, nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Kiến Phật
Quang này giác ngộ người sắp chết
Khiến tùy nhớ tưởng, thấy Như Lai
Mạng chung được sanh cõi nước Phật,
Thấy kẻ lâm chung khuyên niệm Phật
Lại chỉ tượng Phật bảo nhìn ngắm
Khiến đối với Phật rất kính ngưỡng
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Kiến Phật, người sắp lâm chung chạm tới hào quang liền nhớ tưởng Như Lai, được sanh cõi Phật. Tại sao có hào quang này? Do thấy người sắp lâm chung, khuyên nhớ niệm danh hiệu Phật, nhớ tưởng công hạnh Phật, hoặc chỉ hình tượng Phật cho họ ngắm nhìn, khiến họ đối với Phật rất kính ngưỡng, nên được quang minh này.

Lại phóng quang minh tên Nhạc Pháp
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến nơi chánh pháp luôn mến thích
Lóng nghe, diễn thuyết và biên chép,
Lúc pháp sắp diệt hay diễn thuyết
Khiến người cầu pháp ý thỏa mãn
Mến thích chánh pháp siêng tu tập
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Nhạc Pháp, người chạm tới hào quang này luôn luôn mến thích chánh pháp, ưa nghe kinh, biên chép kinh. Khi giáo pháp sắp diệt thì hay diễn thuyết, khiến người nghe được thỏa mãn, mến thích chánh pháp, siêng tu tập nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Diệu Âm
Quang này khai ngộ chư Bồ-tát
Hay khiến các tiếng trong ba cõi
Người đều nghe là tiếng của Phật,
Dùng âm thanh lớn ca ngợi Phật
Bố thí chuông, linh các âm nhạc
Khiến khắp thế gian nghe tiếng Phật
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Diệu Âm tức là hào quang tiếng nhiệm mầu. Hào quang này khai ngộ các Bồ-tát, tất cả âm thanh trong ba cõi đều nghe là tiếng của Phật. Tu hạnh gì mà được hào quang này? Do dùng âm thanh ca ngợi Phật. Vì vậy khi tụng kinh chúng ta phát âm cho trong trẻo rõ ràng. Bố thí chuông, linh, các thứ âm nhạc, khiến khắp thế gian nghe tiếng Phật nên được hào quang này.

Phóng quang minh tên Thí Cam Lộ
Quang này khai ngộ tất cả chúng
Khiến bỏ tất cả hạnh phóng dật
Tu hành đầy đủ các công đức,
Nói pháp hữu vi chẳng an ổn
Vô lượng khổ não đều đầy khắp
Hằng thích ca ngợi vui tịch diệt
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Thí Cam Lộ, ai chạm tới hào quang này đều được khai ngộ, dứt bỏ phóng dật và buông lung, tu hành đầy đủ các công đức. Tại sao được hào quang này? Do dạy người biết các pháp hữu vi sanh già bệnh chết không an ổn, có vô lượng khổ não, thường dạy người ưa thích pháp tịch diệt, nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Tối Thắng
Quang này khai ngộ tất cả chúng
Khiến ở chỗ Phật khắp lóng nghe
Giới, định, trí tuệ pháp tăng thượng,
Thường thích ca ngợi tất cả Phật
Thắng giới, thắng định, thắng trí tuệ
Đó là vì cầu đạo vô thượng
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Tối Thắng, ai chạm tới hào quang này thì liền khai ngộ, thích nghe pháp Phật, giới định tuệ tăng trưởng. Tại sao được hào quang này? Vì cầu đạo vô thượng nên thích ca ngợi pháp của Phật, ca ngợi thắng giới, thắng định, thắng trí tuệ, do đó được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Bảo Nghiêm
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến được bảo tạng vô cùng tận
Dùng đây cúng dường chư Như Lai,
Đem các loại bảo châu thượng diệu
Dâng lên chư Phật và tháp Phật
Cũng khiến ban cho kẻ nghèo thiếu
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Bảo Nghiêm, tức là hào quang của báu trang nghiêm. Ai chạm tới hào quang này thì được kho báu vô tận, dùng đây cúng dường chư Như Lai. Tại sao được hào quang này? Do đem của báu thượng diệu cúng dường chư Phật và tháp Phật, rồi lại bố thí cho kẻ nghèo thiếu nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Hương Nghiêm
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến người nghe pháp lòng vui đẹp
Quyết định sẽ thành công đức Phật,
Hương tốt quý giá dùng thoa đất
Cúng dường tất cả đấng Tối Tôn
Cũng dùng xây tháp và tượng Phật
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Hương Nghiêm tức là hào quang dùng mùi thơm để trang nghiêm. Người nào chạm hào quang này thì vui thích nghe pháp, quyết định thành tựu công đức Phật. Tu nhân gì được hào quang như vậy? Do dùng các thứ hương tốt quý giá rải trên đất, cúng dường tất cả đức Phật, cũng dùng xây tháp và tạo tượng Phật, nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh Tạp Trang Nghiêm

Bảo tràng, phan lọng số vô lượng
Thắp hương, rải hoa, tấu âm nhạc
Thành ấp trong ngoài đều khắp cả,
Đem những kỹ nhạc vi diệu ấy
Cùng những hương, hoa, phan, lọng đẹp
Các thứ trang nghiêm cúng dường Phật
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Tạp Trang Nghiêm, hay khiến người đem vô số lọng báu, thắp hương rải hoa, tấu âm nhạc để cúng dường Phật. Sở dĩ có hào quang này là do đem kỹ nhạc vi diệu cùng hương hoa phan lọng, các thứ trang nghiêm cúng dường Phật.

Lại phóng quang minh tên Nghiêm Khiết
Khiến mặt đại địa đều bằng phẳng
Trang nghiêm tháp Phật và chỗ ấy
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Nghiêm Khiết, tức hào quang sạch sẽ trang nghiêm, khiến cho mặt đất đều bằng phẳng. Do công phu trang nghiêm tháp của Phật và làm đẹp chung quanh nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Đại Vân
Hay khởi mây thơm hay nước thơm
Nước thơm rưới tháp và đình viện
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Đại Vân, thường khởi mây thơm rưới nước thơm khắp các đình viện. Sở dĩ được hào quang này là do rưới nước thơm khắp nơi trong chùa.

Lại phóng quang minh tên Nghiêm Cụ
Khiến người thiếu áo được thượng phục
Vật tốt nghiêm thân đem bố thí
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Nghiêm Cụ, tức hào quang y phục trang nghiêm, khiến người thiếu áo chạm tới hào quang này thì được áo tốt. Tại sao được hào quang này? Do thường bố thí vật tốt nghiêm thân.

Lại phóng quang minh tên Thượng Vị
Hay khiến kẻ đói được mỹ thực
Các thứ ăn ngon đem bố thí
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Thượng Vị, người đói gặp hào quang này thì được thức ăn ngon. Do khi tu thường bố thí thức ăn ngon nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Đại Tài
Khiến kẻ nghèo cùng được của báu
Đem vật vô tận cúng Tam bảo
Do đây được thành quang minh này.

Co hào quang tên Đại Tài, tức của cải nhiều, người nghèo cùng chạm đến hào quang này thì được của báu. Tu nhân gì được hào quang này? Do đem tài vật nhiều vô tận cúng dường Tam bảo.

Lại phóng quang minh tên Nhãn Thanh Tịnh
Hay khiến kẻ mù được ngó thấy
Đem đèn cúng Phật và tháp Phật
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Nhãn Thanh Tịnh, người mù chạm vào hào quang này thì liền được sáng mắt. Do dùng đèn cúng dường Phật và tháp Phật nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Nhĩ Thanh Tịnh
Hay khiến kẻ điếc được nghe rõ
Trổi nhạc cúng Phật và tháp Phật
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Nhĩ Thanh Tịnh, người điếc chạm hào quang liền được nghe rõ. Do dùng âm nhạc cúng dường Phật và tháp Phật nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Tỹ Thanh Tịnh
Xưa chưa nghe hương, đều được nghe
Đem hương cúng Phật và tháp Phật
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Tỹ Thanh Tịnh, người chưa nghe mùi hương gặp hào quang này liền nghe được mùi hương. Do đem hương thơm cúng dường Phật và tháp Phật nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Thiệt Thanh Tịnh
Hay dùng tiếng tốt ca ngợi Phật
Trừ hẳn lời nói thô và ác
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Thiệt Thanh Tịnh, tức là lưỡi thanh tịnh. Sở dĩ được hào quang này là do dùng tiếng tốt ca ngợi Phật, dứt hẳn lời nói thô ác nên được quang minh này.

Lại phóng quang minh tên Thân Thanh Tịnh
Kẻ năm căn thiếu khiến hoàn cụ
Đem thân lễ Phật và tháp Phật
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Thân Thanh Tịnh, người các căn không đầy đủ chạm hào quang này thì được đầy đủ. Sở dĩ được hào quang này là do đem thân lễ Phật và tháp Phật.

Lại phóng quang minh tên Ý Thanh Tịnh
Khiến kẻ quên lãng được chánh niệm
Tu hành tam-muội đều tự tại
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Ý Thanh Tịnh, người thất niệm chạm đến hào quang liền được chánh niệm. Sở dĩ được hào quang này là do công phu tu thiền định được tự tại.

Lại phóng quang minh tên Sắc Thanh Tịnh
Khiến thấy Phật sắc bất tư nghì
Đem những diệu sắc trang nghiêm tháp
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Sắc Thanh Tịnh, người chạm đến liền thấy sắc Phật bất tư nghì. Tại sao được hào quang đó? Do đem những diệu sắc trang nghiêm tháp Phật nên được hào quang này.
Lại phóng quang minh tên Thanh Thanh Tịnh
Khiến biết thanh tánh vốn không tịch
Quán thanh duyên khởi, như tiếng vang
Do đây được thành quang minh ấy.

Có hào quang tên Thanh Thanh Tịnh, khiến người chạm đến biết tánh âm thanh vốn rỗng lặng. Do tu quản lý duyên khởi của âm thanh, biết tiếng không thật như vang, như hưởng, hằng quán như vậy nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Hương Thanh Tịnh
Khiến vật hội nhơ đều thơm sạch
Nước thơm rửa tháp, cây bồ-đề
Do đây được thành quang minh ấy.

Có hào quang tên Hương Thanh Tịnh, khiến những gì nhơ nhớp chạm đến thảy đều thơm sạch. Do lấy nước thơm rưới tháp Phật và tưới cây bồ-đề nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Vị Thanh Tịnh
Hay trừ tất cả độc trong vị
Hằng cúng Phật, Tăng cùng cha mẹ
Do đây được thành quang minh này.

Có hào quang tên Vị Thanh Tịnh, những chất độc trong vị thức ăn chạm tới quang minh này đều biến thành ngon, thành tốt. Do thường cúng Phật, chúng tăng và cha mẹ nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Xúc Thanh Tịnh
Hay khiến thô nhám đều dịu mềm
Đao, mâu, kiếm, kích trên rơi xuống
Đều khiến biến làm tràng hoa đẹp.
Bởi xưa từng ở giữa đường sá
Thoa hương, rải hoa, trải y phục
Rước đưa chư Phật đi trên đó
Vì thế nay được quang minh này.

Có hào quang tên Xúc Thanh Tịnh, những gì thô nhám chạm vào hào quang này đều trở thành mềm dịu. Đao, mâu, kiếm, kích trên hư không rơi xuống khiến biến thành tràng hoa đẹp. Do khi xưa Bồ-tát đem hương hoa và y phục trải trên đường để Phật đi lên đó nên được hào quang này.

Lại phóng quang minh tên Pháp Thanh Tịnh
Hay khiến tất cả những chân lông
Đều diễn diệu pháp bất tư nghì
Ai nghe pháp này đều vui hiểu
Nhân duyên sanh ra, vốn vô sanh
Pháp thân của Phật, chẳng phải thân
Pháp tánh thường trụ như hư không
Do thuyết nghĩa trên được quang ấy.

Có hào quang tên Pháp Thanh Tịnh, được hào quang này rồi thì tất cả lỗ chân lông đều thuyết diệu pháp khiến người nghe thích thú. Thuyết diệu pháp là thuyết pháp gì? Là nói các pháp do nhân duyên sanh, duyên sanh vốn vô sanh, nói pháp thân Phật không phải thân phàm phu, pháp tánh thường trụ rộng lớn như hư không. Do diễn thuyết những nghĩa trên nên được hào quang này.

Những môn quang minh như đã thuật
Hằng hà sa số vô hạn lượng
Đều từ chân lông Đại tiên phóng
Mỗi quang công dụng đều sai biệt.
Như một chân lông phóng quang minh
Vô lượng vô số như hằng sa
Tất cả chân lông đều như vậy
Đây là Đại tiên tam-muội lực.

Những hào quang nhiều như cát sông Hằng kể trên đều từ chân lông bậc Đại tiên tức là của Phật, Bồ-tát phóng ra. Một chân lông phóng ra vô số hào quang, tất cả chân lông đều như vậy. Đây là sức tam-muội của chư Phật, Bồ-tát thành tựu như thế.

Như bản hạnh xưa được quang minh
Tùy ai túc duyên đồng tu hành
Nay phóng quang minh nên như vậy
Đây là Đại tiên trí tự tại.

Như bản hạnh tức hạnh ngày xưa được hào quang đó, nghĩa là tùy người có duyên lành đồng tu hành với các ngài, liền được chạm tới hào quang đó. Đây là do trí tuệ tự tại của Phật.

Thuở xưa đồng tu nơi phước nghiệp
Và người mến thích hay tùy hỷ
Thấy kia thật hành cũng vui theo
Nay nơi quang này đều được thấy.

Thuở xưa khi các ngài mới phát tâm tu, nếu có người cùng tu phước nghiệp và phát tâm mến thích tùy hỷ vui theo thì ngày nay các ngài thành Phật, thành Bồ-tát, phóng quang cho người đó gặp thấy.

Nếu ai tự tu các phước nghiệp
Cúng dường chư Phật vô lượng số
Nơi công đức Phật thường nguyện cầu
Được quang minh này làm giác ngộ.
Như kẻ sanh manh chẳng thấy trời
Chẳng phải mặt trời không mọc lên
Những người mắt tỏ đều thấy rõ
Riêng theo phận mình làm công việc.
Quang minh Bồ-tát cũng như vậy
Người có trí tuệ đều thấy cả
Phàm phu tà tín, kẻ mê si
Nơi quang minh này không thấy được.

Nếu người tự tu phước nghiệp, cúng dường vô số chư Phật, đối với công đức của Phật thường nguyện cầu. Đây là do hào quang Bồ-tát chạm đến khiến họ được giác ngộ. Những người không được duyên lành đó, giống như kẻ mù thuở nhỏ không thấy mặt trời. Cũng vậy, người không có duyên với Bồ-tát, không tùy hỷ ủng hộ các ngài tu thì dù các ngài phóng quang cũng không thấy. Những người mắt tỏ đều thấy rõ, riêng theo phận mình làm công việc, người sáng mắt thấy ánh sáng của mặt trời, tính giờ khắc để làm công việc. Đó là dụ cho những người có duyên lành với Bồ-tát thấy hào quang chiếu đến rồi phát tâm. Quang minh Bồ-tát cũng như vậy, người có trí tuệ đều thấy cả, chỉ có những phàm phu tà tín, mê si thì không thấy.

Ma-ni cung điện và xe kiệu
Báu đẹp hương thơm dùng thoa sáng
Người có phước đức tự nhiên đủ
Người không phước đức chẳng ở được.
Bồ-tát quang minh cũng như vậy
Người có trí sâu đều chiếu đến
Tà tín, hiểu kém, kẻ phàm ngu
Chẳng thể thấy được quang minh ấy.

Có những cung điện bằng ma-ni, đầy đủ báu đẹp hương thơm sáng rỡ, người có phước thì đương nhiên được ở trong đó, người không có phước chẳng ở được. Quang minh Bồ-tát cũng như vậy, người nào có trí sâu thì thấy hào quang của Bồ-tát chiếu đến, còn những người tà tín, hiểu kém, phàm ngu thì chẳng thấy được quang minh kia.

Nếu ai nghe quang này sai biệt
Hay sanh lòng tin sâu thanh tịnh
Dứt hẳn tất cả các lưới nghi
Mau thành tràng công đức vô thượng.

Người nghe quang minh của Bồ-tát có nhiều thứ sai biệt, sanh lòng tin sâu thanh tịnh thì được dứt hết các lưới nghi, mau thành tựu tràng công đức vô thượng.

Có thắng tam-muội hay xuất hiện
Quyến thuộc trang nghiêm đều tự tại
Tất cả mười phương các quốc độ
Phật tử chúng hội không sánh kịp.
Có diệu liên hoa, quang trang nghiêm
Lượng bằng tam thiên đại thiên giới
Thân ngài đoan tọa khắp liên hoa
Đây là tam-muội thần thông lực.

Đây nói sức chánh định thần thông của Bồ-tát. Khi Bồ-tát nhập chánh định thần thông này thì xuất hiện quyến thuộc trang nghiêm tự tại, chúng hội của cõi nước trong mười phương không sánh bằng. Từ chánh định này cũng xuất hiện hoa sen đẹp đẽ trang nghiêm lớn bằng cả Tam thiên Đại thiên thế giới, Bồ-tát ngồi trên hoa sen này.

Lại có mười cõi vi trần số
Liên hoa xinh đẹp bao vòng quanh
Chúng Phật tử ngồi trên hoa đó
Trụ nơi tam-muội oai thần lực.
Đời trước thành tựu nhân duyên lành
Tu hành đầy đủ Phật công đức
Những chúng sanh này quanh Bồ-tát
Cùng nhau chắp tay nhìn không chán,
Như mặt nguyệt giữa các tinh tú
Bồ-tát trong chúng cũng như thế
Công hạnh Bồ-tát pháp như vậy
Vào nơi tam-muội oai thần lực.
Như sự thị hiện ở một phương
Các chúng Phật tử cùng vây quanh
Trong tất cả phương đều như vậy
Trụ nơi tam-muội oai thần lực.

Trên nói thần lực của Bồ-tát hiện một hoa sen lớn, đây nói có nhiều hoa sen như số vi trần bao quanh hoa sen lớn. Chúng Phật tử ngồi trên đó đều là quyến thuộc trụ nơi thần lực tam-muội của Bồ-tát. Bồ-tát ngồi trên hoa sen lớn đẹp đẽ, chúng quyến thuộc ngồi trên hoa sen nhỏ vây quanh nhìn không chán. Bồ-tát khi thành tựu được công đức này thì tất cả chánh định đều hiện thần lực theo sở thích của mình. Thị hiện ở một phương có chúng Phật tử vây quanh, tất cả phương cũng thị hiện như vậy. Đây là do đời trước tu hành, những người có duyên với Bồ-tát được gặp nhau.

Có thắng tam-muội tên phương võng
Trụ đây Bồ-tát rộng khai thị
Trong tất cả phương khắp hiện thân
Hoặc hiện nhập định hoặc xuất định.
Hoặc ở phương Đông nhập chánh định
Rồi ở phương Tây mà xuất chánh định
Hoặc ở phương Tây nhập chánh định
Rồi ở phương Đông mà xuất định.
Hoặc ở phương khác nhập chánh định
Rồi ở phương khác mà xuất định,
Nhập xuất như vậy khắp mười phương
Đây gọi Bồ-tát tam-muội lực.

Có chánh định tên Phương Võng, tức là chánh định như cái lưới trùm hết. Bồ-tát nhập định ở phương Đông xuất ở phương Tây, nhập ở phương Tây xuất ở phương Đông... Đây là sức chánh định của Bồ-tát nhập xuất qua lại mười phương tự tại.

Cùng tận phương Đông các quốc độ
Chư Phật Như Lai vô lượng số
Đều hiện trước Phật thân cận cả
Trụ nơi tam-muội tịch bất động.
Nhưng nơi phương Tây các thế giới
Chỗ của tất cả chư Phật ngự
Đều hiện từ nơi tam-muội xuất
Sắm sửa vô lượng đồ cúng dường.
Cùng tận phương Tây các quốc độ
Chư Phật Như Lai vô lượng số
Đều hiện trước Phật thân cận cả
Trụ nơi tam-muội tịch bất động.
Những nơi phương Đông các thế giới
Chỗ của tất cả chư Phật ngự
Đều hiện từ nơi tam-muội xuất
Sắm sửa vô lượng đồ cúng dường.
Như vậy mười phương các thế giới
Bồ-tát vào khắp không bỏ sót
Hoặc nhập tam-muội tịch bất động
Hoặc hiện cung kính cúng dường Phật.

Đoạn này nói Bồ-tát ở nơi một phương thế giới có Phật, hoặc nhập định hoặc hiện thân cúng dường Phật, thì nơi mười phương thế giới cũng có Bồ-tát nhập định hoặc hiện thân cúng dường Phật, không bỏ sót một thế giới nào.

Ở trong nhãn căn nhập chánh định
Nơi trong sắc trần từ định xuất
Thị hiện sắc tánh bất tư nghì
Tất cả trời người chẳng biết được.
Ở trong sắc trần nhập chánh định
Nơi nhãn xuất định, tâm chẳng loạn
Thuyết nhãn, vô sanh và vô khởi
Tánh không, tịch diệt và vô tác.

Đây nói Bồ-tát nhập định trong sáu căn sáu trần. Nhập trong con mắt thì xuất ở sắc trần, nhập trong sắc trần thì xuất ở con mắt... Thuyết nhãn, vô sanh và vô khởi; tánh không, tịch diệt và vô tác , ý nói sáu căn sáu trần tự tánh không tịch, tức là không có tự tánh, rỗng lặng. Nơi này không chướng ngại nơi kia, căn không chướng ngại trần, ngược lại trần cũng không chướng ngại căn.

Ở trong nhĩ căn nhập chánh định
Nơi trong thanh trần từ định xuất
Phân biệt tất cả tiếng ngữ ngôn
Chư thiên, thế nhân chẳng biết được.
Ở trong thanh trần nhập chánh định
Nơi nhĩ xuất định, tâm chẳng loạn
Thuyết nhĩ, vô sanh và vô khởi
Tánh không, tịch diệt và vô tác.
Ở trong tỹ căn nhập chánh định
Nơi trong hương trần từ định xuất
Khắp được tất cả thượng diệu hương
Chư thiên, thế nhân chẳng biết được.
Ở trong hương trần nhập chánh định
Nơi tỹ, xuất định tâm chẳng loạn
Thuyết tỹ vô sanh và vô khởi
Tánh không, tịch diệt và vô tác.
Ở trong thiệt căn nhập chánh định
Nơi trong vị trần từ định xuất
Khắp được tất cả những thượng vị
Chư thiên, thế nhân chẳng biết được.
Ở trong vị trần nhập chánh định
Trong thiệt xuất định, tâm chẳng loạn
Nói thật vô sanh và vô khởi
Tánh không, tịch diệt và vô tác.
Ở trong thân căn nhập chánh định
Nơi trong xúc trần từ định xuất
Khéo hay phân biệt tất cả xúc
Chư thiên, thế nhân chẳng biết được.
Ở trong xúc trần nhập chánh định
Trong thân xuất định, tâm chẳng loạn
Thuyết thân vô sanh và vô khởi
Tánh không, tịch diệt và vô tác.
Ở trong ý căn nhập chánh định
Nơi trong pháp trần từ định xuất
Phân biệt tất cả các pháp tướng
Chư thiên, thế nhân chẳng biết được.
Ở trong pháp trần nhập chánh định
Nơi ý xuất định, tâm chẳng loạn
Thuyết ý vô sanh và vô khởi
Tánh không, tịch diệt và vô tác.

Đối với sáu căn và sáu trần, Bồ-tát tự tại không chướng ngại, không dính mắc. Tâm Bồ-tát giác ngộ, biết tất cả pháp không có tự tánh, không có thật thể, tự thể của chúng rỗng rang lặng lẽ. Biết rõ như vậy nên Bồ-tát nhập định xuất định tự tại, căn trần không ngại nhau, tùy nhập nơi này xuất nơi kia.

Trong thân đồng tử nhập chánh định

Trong thân tráng niên từ định xuất

Trong thân tráng niên nhập chánh định

Trong thân lão niên từ định xuất.

Trong thân lão niên nhập chánh định

Trong thân thiện nữ từ định xuất,

Trong thân thiện nữ nhập chánh định

Trong thân thiện nam từ định xuất.

Trong thân thiện nam nhập chánh định

Thân Tỳ-kheo-ni từ định xuất

Thân Tỳ-kheo-ni nhập chánh định

Trong thân Tỳ-kheo từ định xuất.

Trong thân Tỳ-kheo nhập chánh định

Thân học vô học từ định xuất,

Thân học vô học nhập chánh định

Thân Bích-chi Phật từ định xuất.

Thân Bích-chi Phật nhập chánh định

Hiện thân Như Lai từ định xuất,

Nơi thân Như Lai nhập chánh định

Trong thân chư thiên từ định xuất.

Trong thân chư thiên nhập chánh định

Trong thân đại long từ định xuất,

Trong thân đại long nhập chánh định

Trong thân dạ-xoa từ định xuất.

Trong thân dạ-xoa nhập chánh định

Trong thân quỷ thần từ định xuất,

Trong thân quỷ thần nhập chánh định

Trong một chân lông từ định xuất.

Đây nói về sức tự tại giữa thân này và thân khác. Sáu căn sáu trần là tướng duyên hợp không có tự thể rỗng lặng. Bởi rỗng lặng nên không chướng ngại nhau. Thân mình thân người, thân nam thân nữ, thân trẻ con thân người lớn... tất cả đều duyên hợp nên không chướng ngại. Bồ-tát quán sát thân bằng con mắt trí tuệ, thấy tất cả thân tướng đều do tứ đại hợp thành. Tứ đại này không chướng với tứ đại khác, nước không chướng với nước... Vì thế nơi thân này nhập chánh định, nơi thân khác xuất định không chướng ngại.

Trong một chân lông nhập chánh định

Tất cả chân lông từ định xuất,

Tất cả chân lông nhập chánh định

Trên đầu một lông từ định xuất.

Trên đầu một lông nhập chánh định

Trong một vi trần từ định xuất,

Trong một vi trần nhập chánh định

Tất cả vi trần từ định xuất.

Trong tất cả trần nhập chánh định

Trong đất kim cang từ định xuất,

Trong đất kim cang nhập chánh định

Trên cây ma-ni từ định xuất.

Trên cây ma-ni nhập chánh định

Trong quang minh Phật từ định xuất,

Trong quang minh Phật nhập chánh định.

Ở trong sông biển từ định xuất.

Trên là nói thân nhập xuất tự tại, đây là nói nhập định trong một lỗ chân lông, xuất định từ nhiều lỗ chân lông, hoặc trong một vi trần nhập định, thì xuất định tất cả vi trần... Những vật nhỏ tí ti như đầu sợi trong lông, một hạt bụi có phải là duyên hợp không? Đã là duyên hợp thì dù nhỏ như vi trần hay lớn như đại địa đều không có thật thể, là tánh không rỗng lặng nên chúng không chướng ngại nhau.

Ở trong sông biển nhập chánh định

Ở trong lửa lớn từ định xuất,

Ở trong lửa lớn nhập chánh định

Nơi gió xuất định tâm chẳng loạn.

Ở trong phong đại nhập chánh định

Ở trong địa đại từ định xuất,

Ở trong địa đại nhập chánh định

Nơi Thiên cung điện từ định xuất.

Nơi Thiên cung điện nhập chánh định

Hư không xuất định tâm chẳng loạn,

Đây gọi bậc vô lượng công đức

Tam-muội tự tại khó nghĩ bàn.

Mười phương tất cả chư Như Lai

Trong vô lượng kiếp nói chẳng hết.

Đây nói về nhập xuất tự tại trong chỗ to lớn như sông biển lửa gió, đại địa hư không... Tứ đại nhỏ như hạt bụi không chướng ngại, lớn như quả đất cũng không chướng ngại nhau, vì lớn nhỏ đều là tướng duyên hợp, không có thật thể. Dù nhập xuất vào ra tất cả nơi mà tâm không tán loạn. Sức tam-muội tự tại không thể nghĩ bàn, mười phương chư Phật không thể nói hết.

Tất cả Như Lai đều cùng nói

Chúng sanh nghiệp báo khó nghĩ bàn.

Chư long biến hóa, Phật tự tại

Bồ-tát thần lực cũng khó nghĩ.

Muốn dùng ví dụ để hiển bày

Trọn không có dụ để dụ được

Nhưng những người trí tuệ thông đạt

Nhân thí dụ để hiểu nghĩa đó.

Hàng Thanh văn trụ bát giải thoát

Những sự biến hiện đều tự tại

Có thể một thân hiện nhiều thân

Lại hợp nhiều thân thành một thân.

Ở giữa không gian nhập hỏa định

Đi, đứng, nằm, ngồi giữa hư không

Trên thân phun nước dưới tuôn lửa

Trên thân tuôn lửa dưới tuôn nước.

Như thế đều nơi trong một niệm

Các môn tự tại vô lượng biên

Thanh văn chẳng đủ đại từ bi

Chẳng vì chúng sanh cầu Phật đạo.

Còn hiện được thần thông vô lượng

Huống là Phật Bồ-tát đại lực!

Hàng Thanh văn khi chứng được lục thông, các ngài dùng thần túc thông biến hóa ở trên hư không, nhập hỏa định đi đứng nằm ngồi giữa hư không, hoặc trên thân phun nước, dưới thân phun lửa... tất cả việc bất khả tư nghì đều hiện ra được. Hàng Thanh văn tu hành mới phát nguyện tu giải thoát bản thân và chúng sanh trong giới hạn nào đó thôi, chưa đầy đủ lòng đại bi, chưa cầu thành Phật mà còn được thần thông như vậy, huống nữa hàng Bồ-tát từ khi phát tâm tu cầu chứng đạo độ sanh cho đến khi thành Phật, công đức rất nhiều, vì thế có thần lực vô biên như vậy.

Như mặt nhật, nguyệt trên hư không

Bóng tượng cùng khắp cả mười phương

Trong nước ao hồ, đầm, chậu, chén

Sông ngòi, biển lớn đều hiện cả.

Bồ-tát sắc tượng cũng như vậy

Hiện khắp mười phương bất tư nghì;

Đều do tam-muội sức tự tại

Chỉ có Như Lai là chứng biết.

Bồ-tát hiện thân khắp mười phương như mặt trời mặt trăng ở giữa hư không là một, dưới nhân gian bao nhiêu sông rạch, ao hồ, chậu chén chứa nước… đều có bóng mặt trời, mặt trăng hiện trong đó. Mặt trời, mặt trăng là những vật thường mà có khả năng hiện khắp hết, huống nữa là Bồ-tát sức tam-muội bất tư nghì.

Như trong nước trong, bóng vũ khí

Các loại sai khác không xen tạp

Kiếm kích, cung tên, loại rất nhiều

Mão giáp xe cộ chẳng phải một.

Tùy kia bao nhiêu tướng sai khác

Nước trong hiện rõ tất cả bóng

Nhưng nước vốn tự không phân biệt

Bồ-tát tam-muội cũng như vậy.

Như có một hồ nước trong veo, bên trên để các thứ binh khí cung tên, giáo mác... bóng những thứ đó có rọi xuống hồ không? Nhìn xuống nước chúng ta thấy đủ các bóng rõ ràng. Vì nước hồ trong, yên lặng, nên mọi hình bóng đều hiện đủ. Bồ-tát cũng vậy, trong chánh định tâm yên lặng nên hiện đủ các thứ mà không phân biệt.

Trong biển có thần tên Thiện Âm

Tiếng thần, thuận hết loài trong biển

Bao nhiêu ngôn ngữ đều hiện rõ

Khiến tất cả chúng đều vui đẹp.

Hải thần có đủ tham, sân, si

Mà còn khéo hiểu tất cả tiếng

Huống là tổng trì tự tại lực

Mà chẳng khiến được chúng vui mừng!

Ở đây dẫn tích trong biển có một vị thần tên Thiện Âm, thông suốt tất cả thứ tiếng của các loài trong biển. Một vị thần đủ tham, sân, si mà còn biết được tất cả thứ tiếng, huống nữa là vị Bồ-tát tâm thanh tịnh, tu hành đến chỗ viên mãn công đức, được tổng trì tự tại, lại không khiến tất cả chúng vui mừng sao?

Có một phụ nữ tên Biện Tài

Cha mẹ cầu trời mà sanh nàng

Có ai lìa ác, thích chân thật

Vào trong thân nàng sanh diệu biện.

Nàng ấy có tham dục, sân, si

Còn cho người theo có biện tài,

Huống là Bồ-tát đủ trí tuệ

Mà chẳng cho chúng được lợi ích!

Có người phụ nữ tên Biện Tài do cha mẹ cầu trời mà sanh, ai gần với bà liền được biện tài. Một người còn đủ tham, sân, si mà còn có khả năng làm cho mọi người được biệt tài, huống nữa là Bồ-tát đầy đủ trí tuệ, ai gần Bồ-tát mà không được lợi ích?

Như nhà ảo thuật biết ảo pháp

Hiện được nhiều loại cùng nhiều vật

Giây lát hiện làm ngày tháng năm

Thành ấp giàu có rất an vui.

Thuật gia có đủ tham sân si

Còn biến hóa được vui thế gian

Huống là thiền định, sức giải thoát

Mà chẳng khiến được chúng vui mừng!

Nhà ảo thuật đại tài hiện đủ các thứ, hoặc hiện ra hình ảnh thành quách, chợ búa, hoạt động từ năm này sang năm khác. Nhà ảo thuật đủ tham, sân, si mà còn làm cho thế gian những chuyện lạ vui, huống nữa Bồ-tát ở trong thiền định giải thoát mà không làm cho chúng sanh được mãn nguyện sao?

Lúc trời cùng Tu-la chiến đấu

Tu-la thua trận đồng chạy trốn

Vũ khí, xe cộ và quân lữ

Đồng thời trốn mất không kiếm được.

Tu-la có đủ tham sân si

Còn hay biến hóa bất tư nghì

Huống bậc thần thông vô úy lực

Biến hiện tự tại đâu lường được!

Đây kể chuyện a-tu-la cùng trời chiến đấu, binh khí xe cộ đầy đủ, nhưng khi a-tu-la thua trận chạy trốn biến mất hết, không ai thấy nữa. A-tu-la có đủ tham sân si còn biến hóa như vậy, huống nữa là bậc thần thông vô úy lực thì chuyện biến hiện làm sao lường nổi?

Thích-đề-hoàn nhân có tượng vương

Lúc nó biết Thiên đế muốn đi

Tự hóa đủ ba mươi hai đầu

Mỗi đầu đều đủ sáu ngà trắng.

Trên mỗi ngà đều có bảy ao

Mỗi ao đầy nước thơm, trong sạch

Trong mỗi ao nước thơm trong ấy

Có bảy hoa sen rất xinh đẹp.

Trên mỗi hoa sen xinh đẹp ấy

Đều có bảy ngọc nữ cõi trời

Giỏi nghề đờn ca trổi âm nhạc

Cùng với Thiên đế đồng vui chơi,

Voi ấy hoặc lại bỏ bản hình

Tự hóa thân nó như chư thiên

Oai nghi đi đứng như trời thật

Nó có sức thần biến như vậy.

Tượng vương có đủ tham sân si

Còn hiện thần thông được như vậy

Huống bậc đầy đủ trí phương tiện

Mà nơi tam-muội chẳng tự tại.

Có con voi của trời Đế-thích, khi Đế-thích muốn dạo chơi nó liền tự hóa ba mươi hai đầu. Mỗi đầu có sáu ngà trắng, mỗi ngà trắng có bảy ao nước, mỗi ao nước có hoa thơm trong sạch, trong mỗi ao nước có bảy hoa sen xinh đẹp. Trên mỗi hoa sen có bảy ngọc nữ giỏi đàn ca, trổi nhạc cho Đế-thích vui chơi. Hoặc voi đó tự biến thành chư thiên, oai nghi đầy đủ. Voi là súc sanh mà còn biến hóa như vậy, huống nữa Bồ-tát đầy đủ trí phương tiện mà không được sức tam-muội tự tại sao?

Như a-tu-la biến thân hình

Chân đạp đáy biển kim cang tế

Nước biển tột sâu ngập nửa thân

Đầu cao ngang đỉnh núi Tu-di.

Tu-la có đủ tham sân si

Còn hiện được thần thông to lớn

Huống bậc phục ma Chiếu Thế Đăng

Mà không tự tại oai thần lực!

Thần a-tu-la có khả năng biến thân hình to lớn, chân đứng dưới đáy biển mà nước chỉ ngập đến nửa thân, đầu thì ngang núi Tu-di. A-tu-la có tham sân si mà còn biến hóa được như vậy, huống là bậc hàng ma Chiếu Thế Đăng, là bậc Bồ-tát như ngọn đèn soi sáng thế gian mà không có oai thần sao?

Trời cùng tu-la lúc đánh nhau

Thiên đế thần lực bất tư nghì

Tùy theo số chúng của tu-la

Hiện thân bằng số để cùng đấu.

Các a-tu-la tự nghĩ rằng:

Thích-đề-hoàn-nhân đến đánh ta

Tất sẽ bắt ta trói tay chân

Do đây chúng nó đều lo lắng.

Đế-thích hiện thân có ngàn mắt

Tay cầm kim cang tuôn lửa ngọn

Mặc giáp cầm gậy rất oai nghiêm

Tu-la trông thấy đều sợ chạy.

Thiên đế chỉ do chút phước đức

Còn dẹp phá được oán địch lớn

Huống bậc đại bi cứu tất cả

Đủ công đức lại chẳng tự tại!

Trời Đế-thích đánh với a-tu-la, a-tu-la có bao nhiêu binh tướng thì trời Đế thích hiện ra bấy nhiêu, rồi hiện tay cầm gậy kim cang tuôn lửa khiến a-tu-la hoảng sợ bỏ chạy. Đế-thích chỉ có chút phước đức mà còn được như vậy, huống nữa là bậc đầy đủ công đức như Bồ-tát không được tự tại sao!

Trong trời Đao-lợi có thiên cổ

Từ nghiệp báo trời mà cảm ra

Lúc biết chư thiên ham phóng dật

Trên không tự nhiên vang tiếng này:

“Tất cả ngũ dục đều vô thường

Như bọt nước kia, tánh hư giả

Các cõi như mơ, như ánh nắng

Như trăng trong nước như mây nổi,

Phóng dật là oán, là khổ não

Là đường sanh tử, chẳng mát mẻ

Nếu ai ham say việc phóng dật

Lọt vào miệng cá lớn sanh tử.

Những cội gốc khổ của thế gian

Tất cả thánh nhân đều nhàm sợ,

Ngũ dục hoại diệt các công đức

Các ngài phải thích pháp chân thật.”

Tam thập tam thiên nghe tiếng trống

Cùng dắt nhau lên Thiện Pháp đường,

Thiên đế vì họ giảng diệu pháp

Đều khiến thuận đạo, trừ tham ái.

Tiếng trống vô hình không thấy được

Còn hay lợi ích chúng chư thiên

Huống bậc Đại Từ hiện sắc thân

Mà chẳng tế độ loài hàm thức!

Cõi trời Đao-lợi có cái trống, khi chư thiên phóng dật thì tự nhiên vang ra tiếng nhắc nhở: “Tất cả ngũ dục đều vô thường, đều như bọt nước không bền chắc, như giấc mơ, ánh nắng, trăng trong nước, mây nổi... Buông lung phóng dật là khổ não, là đường sanh tử không mát mẻ.” Tiếng trống vô hình mà còn làm lợi ích cho chư thiên như vậy, huống nữa là bậc đại từ hiện sắc thân như Bồ-tát không tế độ được chúng sanh sao!

Trời cùng tu-la lúc đánh nhau

Chư thiên phước đức thù thắng lực

Thiên cổ vang tiếng bảo chư thiên:

“Các ngài chẳng nên có kinh sợ!”

Chư thiên được nghe tiếng trống này

Đều hết lo sợ thêm thế lực

Lúc đó tu-la lòng sợ khiếp

Bao nhiêu binh tướng kéo chạy lui.

Cam lộ diệu định như thiên cổ

Hằng vang tiếng hàng ma, tịch tịnh

Đại bi xót thương cứu tất cả

Khiến khắp chúng sanh dứt não phiền.

Khi chư thiên đánh nhau với a-tu-la thì cái trống trời liền phát ra tiếng khuyến khích các ngài đừng có sợ, chư thiên nghe tiếng hăng hái đánh a-tu-la chạy lui. Tiếng trống có khả năng thúc giục chư thiên mạnh mẽ, huống nữa lòng từ bi của chư Phật, Bồ-tát mà không dứt được phiền não cho chúng sanh sao?

Thiên đế ứng khắp các thiên nữ

Chín mươi hai na-do-tha thân

Khiến chư thiên nữ đều tự bảo

Thiên vương chỉ cùng ta riêng vui.

Như khắp ứng với chư thiên nữ

Trong Thiện Pháp đường cũng như vậy

Hay trong một niệm hiện thần thông

Đều đến trước mặt mà thuyết pháp.

Thiên đế có đủ tham sân si

Hay khiến quyến thuộc đều hoan hỷ

Huống bậc phương tiện đại thần thông

Mà chẳng khiến được chúng vui đẹp!

Trời Đế-thích có rất đông thiên nữ, khi muốn vui chơi với thiên nữ thì biến vô số thân, bao nhiêu thiên nữ thì có bấy nhiêu thân ngài. Trong Thiện Pháp đường có bao nhiêu chư thiên, Đế-thích cũng ứng hiện bấy nhiêu thân đến trước mặt thuyết pháp. Trời Đế thích có đủ tham, sân, si mà còn biến hóa cho mọi người vui thích, huống nữa là chư Phật, Bồ-tát có đại phương tiện, đại thần thông không làm cho chúng sanh vui đẹp sao?

Tha Hóa Tự Tại đại Thiên vương

Ở trong cõi Dục được tự tại

Dùng hoặc nghiệp khổ làm rọ lưới

Cột trói tất cả hạng phàm phu.

Thiên vương kia có tham sân si

Với chúng sanh còn được tự tại

Huống bậc đủ cả mười trí lực

Mà chẳng khiến được chúng đồng hành

Trời Tha Hóa Tự Tại đối chúng sanh ở cõi Dục giới, có đủ phương tiện làm cho chúng sanh vui say, tạo những nghiệp sai lầm. Trời Tự Tại có tham sân si mà còn tự tại với chúng sanh, huống nữa Bồ-tát đầy đủ mười trí lực không làm cho những người đồng hành được lợi ích sao?

Tam thiên thế giới Đại Phạm vương

Tất cả chỗ ở của Phạm thiên

Đều hay hiện thân ngồi ở trước

Diễn thông tiếng phạm âm vi diệu.

Đại Phạm vương kia ở thế gian

Thiền định, thần thông còn như ý

Huống đấng xuất thế gian vô thượng

Mà thiền giải thoát chẳng tự tại!

Trời Đại Phạm ở tại chỗ của mình mà hay hiện thân trước chúng Phạm thiên diễn nói pháp vi diệu. Những người tu thiền, được quả từ Sơ thiền đến Tứ thiền hay tu quán từ bi hỷ xả thành tựu thì được sanh về cõi Phạm thiên. Những người tu về thế gian thiền mà còn được tự tại như vậy, huống nữa là Bồ-tát tu xuất thế gian thiền vô thượng mà chẳng được giải thoát tự tại sao?

Ma-hê-thủ-la trí tự tại

Đại hải long vương lúc làm mưa

Có thể phân biệt đếm từng giọt

Ở trong một niệm biết rõ ràng.

Bậc vô lượng kiếp siêng tu học

Được trí giác Bồ-đề vô thượng

Há lại chẳng được trong một niệm

Biết khắp tất cả tâm chúng sanh!

Trời Ma-hê-thủ-la được trí tự tại rộng lớn, trong một trận mưa có thể đếm được từng giọt, huống nữa Bồ-tát là bậc trí giác Bồ-đề vô thượng mà không biết tất cả tâm chúng sanh sao?

Chúng sanh nghiệp báo bất tư nghì

Dùng sức đại phong, khởi thế gian

Biển rộng, núi to, Thiên cung điện

Các báu, quang minh, muôn vật loại.

Cũng hay nổi mây cùng mưa lớn

Cũng hay làm tan những vân khí

Cũng hay thành thục loài ngũ cốc

Cũng hay an lạc các chúng sanh.

Đại phong chẳng học ba-la-mật

Cũng chẳng học Phật các công đức

Còn làm thành việc bất tư nghì

Huống bậc đầy đủ những hạnh nguyện.

Do nghiệp bất tư nghì của chúng sanh khiến một trận gió lớn thổi lên thành thế gian, thành biển núi, cung điện, ánh sáng, đủ tất cả vật... trận gió lớn đó không học sáu pháp ba-la-mật, cũng không học các công đức của Phật, mà còn biến hóa đủ vật cho tất cả chúng sanh. huống nữa những người học Phật có đầy đủ công đức, mà không làm cho hạnh nguyện của mình được tự tại sao?

Nam tử nữ nhân các thứ tiếng

Âm thanh của tất cả chim muông

Tiếng biển gào, sông chảy, sấm nổ

Đều hay vừa đẹp ý chúng sanh.

Huống bậc biết tiếng, tánh như vang

Đến được biện tài diệu vô ngại

Ứng khắp chúng sanh mà thuyết pháp

Mà chẳng khiến được chúng sanh mừng!

Đây nói tiếng người nam, người nữ, tiếng chim hót, sóng biển gào... những âm thanh đó còn làm đẹp ý chúng sanh, huống nữa người tu biết mọi thứ âm vang đều không thật, được biện tài vô ngại mà không khiến chúng sanh vui mừng sao?

Biển có pháp hy kỳ đặc biệt

Bình đẳng ấn tượng tất cả cảnh

Bảo vật thế gian và muôn dòng

Dung nạp tất cả không chống đối.

Vô tận thiền định, bậc giải thoát

Là bình đẳng ấn cũng như vậy

Phước đức, trí tuệ các diệu hạnh

Khắp tu tất cả không nhàm đủ.

Biển có tính kỳ đặc hy hữu là ấn bình đẳng, tất cả cảnh tượng thế gian đều in hình ảnh xuống biển, bao nhiêu vật báu, bao nhiêu dòng nước đều dồn đổ về chứa trong biển. Biển không biết tu mà còn được như vậy, huống nữa những bậc tu hành thiền định, giải thoát vô tận mà không có ấn bình đẳng và các diệu hạnh phước đức trí tuệ, khiến chúng sanh tu tất cả không nhàm đủ sao?

Đại hải Long vương lúc du hý

Nơi nơi chốn chốn được tự tại

Nổi mây trùm khắp cả bốn châu

Mây đó đủ những màu trang nghiêm.

Đệ lục Tha Hóa Tự Tại thiên

Nơi đó màu mây như chân kim,

Mây trời Hóa Lạc màu xích châu,

Mây trời Đâu-suất màu sương tuyết.

Mây trời Dạ-ma màu lưu ly,

Mây trời Đao-lợi màu mã não,

Trời Tứ Thiên vương màu pha lê,

Trên mặt Đại Hải màu kim cang.

Cõi Khẩn-na-la màu diệu hương,

Chỗ ở chư Long màu liên hoa,

Chỗ ở Dạ-xoa màu bạch nga,

Trong A-tu-la màu sơn thạch.

Châu Uất-đơn-việt màu vàng lửa,

Trong Diêm-phù-đề màu thanh bảo,

Hai châu kia màu tạp trang nghiêm,

Tùy chúng sở thích mà ứng đó.

Và lại Tha Hóa Tự Tại thiên

Trong mây chớp sáng như nhật quang,

Trên trời Hóa Lạc như nguyệt quang,

Trên Đâu-suất thiên vàng diêm-phù.

Trên Dạ-ma thiên màu kha tuyết,

Trời Đao-lợi sáng màu lửa vàng,

Trên Tứ Thiên vương màu các báu,

Trong Đại Hải kia màu xích châu.

Chỗ Khẩn-na-la màu lưu ly,

Chỗ Long vương ở màu bảo tạng,

Chỗ Dạ-xoa ở màu pha lê,

Trong A-tu-la màu mã não.

Châu Uất-đơn-việt màu hỏa châu,

Trong Diêm-phù-đề màu đế thanh,

Nơi hai châu kia tạp trang nghiêm

Như màu của mây chớp cũng vậy.

Tha Hóa sấm nổ như phạm âm,

Hóa Lạc thiên như tiếng đại cổ,

Đâu-suất thiên như tiếng xướng ca,

Dạ-ma thiên như tiếng thiên nữ.

Nơi trên trời Tam Thập Tam kia

Như âm thanh của khẩn-na-la,

Nơi cõi Tứ Thiên vương hộ thế

Như tiếng của thần càn-thát-bà.

Trong biển như tiếng hai núi chạm,

Trong Khẩn-na-la tiếng tiêu địch,

Trong thành Long vương tiếng tần-già,

Chỗ Dạ-xoa ở tiếng long nữ.

Nơi A-tu-la tiếng trống trời,

Ở trong nhân loại tiếng hải triều

Tha Hóa Tự Tại mưa diệu hương

Các thứ tạp hoa dùng trang nghiêm.

Hóa Lạc thiên mưa hoa đa-la

Mạn-đà-la hoa và rưới hương,

Trên Đâu-suất thiên mưa ma-ni,

Đầy đủ các thứ bảo trang nghiêm.

Bảo châu trong tóc như nguyệt quang

Y phục thượng diệu màu chân kim,

Trời Dạ-ma mưa tràng phan lọng

Tràng hoa, hương thoa đồ nghiêm sức.

Y thượng diệu màu xích chân châu

Và cùng các thứ kỹ nhạc tốt,

Đao-lợi thiên mưa châu như ý

Hương kiên hắc trầm thủy, chiên-đàn,

Uất-kim, kê-la, đa-ma thủy

Hoa đẹp nước thơm xen nhau rưới,

Trong thành Trí Vương mưa thức ngon

Đủ sắc, hương, vị thêm sức khỏe.

Cũng mưa vô lượng các diệu bảo

Tất cả đều do long vương làm

Và lại nơi trong đại hải kia

Mưa tuôn chẳng dứt như trục xe.

Lại mưa vô tận tạng đại bảo

Cũng mưa các thứ đồ trang nghiêm

Xứ Khẩn-na-la mưa anh lạc

Y phục màu liên hoa và bảo.

Hương mạt-lợi và bà-sư-ca

Các thứ âm nhạc đều đầy đủ,

Trong thành chư long mưa xích châu,

Thành Dạ-xoa mưa ma-ni quang.

Trong A-tu-la mưa dao gậy

Dẹp trừ tất cả những oán địch,

Châu Uất-đơn-việt mưa anh lạc

Cũng mưa vô lượng hoa thượng diệu.

Phất-bà, Cù-da hai châu kia

Đều mưa các món đồ trang nghiêm,

Diêm-phù-đề mưa nước trong sạch

Thấm nhuần mọi nơi thường phải thời.

Nuôi lớn cây hoa quả và thuốc

Thành thục tất cả những lúa mạ

Như vậy vô lượng diệu trang nghiêm

Các thứ mây chớp và sấm mưa.

Long vương tự tại đều làm được

Mà thân chẳng động, chẳng phân biệt

Long vương ở trong biển thế gian

Còn hay hiện được sức nan tư.

Huống bậc vào biển pháp công đức

Mà chẳng hiện được đại thần biến!

Long vương ở thế gian còn hiện được những thần biến như thế, huống là chư Phật, Bồ-tát đã nhập được biển công đức, lại không có những thần biến bất tư nghì!

Môn giải thoát của chư Bồ-tát

Tất cả ví dụ không lệ được

Nay tôi tạm dùng các ví dụ

Lược nói Bồ-tát tự tại lực.

Trí tuệ đệ nhất, tuệ quảng đại,

Trí tuệ chân thật, tuệ vô biên,

Thắng tuệ và cùng tuệ thù thắng,

Pháp môn như vậy nay đã nói.

Pháp này hy hữu rất kỳ đặc

Nếu người nghe xong lãnh thọ được

Hay tin, hay thọ, hay khen nói

Việc làm như vậy rất là khó.

Tất cả phàm phu ở thế gian

Người tin pháp này rất là khó

Nếu ai siêng tu phước thanh tịnh

Do nhân lành xưa mới tin được.

Thần lực, trí tuệ lực của chư Phật, Bồ-tát rất kỳ đặc rất hy hữu, không thể thí dụ hết được, chỉ dùng những thí dụ nhỏ cho chúng ta tạm hiểu. Nếu nghe được mà hiểu, đó là do công đức tu hành nhiều đời. Hàng phàm phu nghe các pháp này rất khó tin hiểu.

Quần sanh trong tất cả thế giới thừa

Ít ai muốn cầu Thanh văn thừa

Người cầu Độc giác lại càng ít

Người hướng Đại thừa rất khó gặp.

Người hướng Đại thừa còn là dễ

Tin được pháp này lại khó hơn

Huống lại trì tụng vì người nói

Đúng pháp tu hành hiểu chân thật.

Hoặc người đem Đại thiên thế giới

Đầu đội một kiếp thân chẳng động

Việc người này làm chưa là khó

Người tin pháp này mới là khó.

Hoặc người tay bưng mười quốc độ

Đứng giữa không gian trọn mười kiếp

Việc người này làm chưa là khó

Tin được pháp này mới là khó.

Nơi mười cõi vi trần số chúng

Cho vật sở thích trọn một kiếp

Phước đức người này chưa là thắng

Người tin pháp này mới tối thắng.

Nơi mười cõi vi trần số Phật

Đều kính cúng thờ trọn một kiếp

Nếu tụng trì được phẩm kinh này

Phước này tối thắng hơn người trước.

Lúc Hiền Thủ Bồ-tát nói kệ này rồi, thập phương thế giới chấn động sáu cách, cung ma ẩn khuất, ác đạo thôi dứt. Thập phương chư Phật đều hiện ra trước đồng đưa tay hữu xoa đảnh ngài và đồng tiếng khen: “Lành thay! Ông khéo nói pháp này. Chúng ta tất cả đều tùy hỷ.”

Kết thúc phẩm này, Bồ-tát Hiền Thủ khen ngợi công đức người tin và trì tụng pháp này, tiến tu đến thành Phật quả. Từ khi phát tâm tu cho đến thành Phật công đức thế nào? Do sức tự tại của chư Phật, Bồ-tát không thể nghĩ bàn, khi diễn tả chúng ta nghe tin được thì công đức không thể bì nổi. Tại sao? Bởi vì dù chúng ta cúng dường vô số chư Phật, đó chỉ là phước hữu vi, còn phát tâm tu đến thành Phật là công đức vô vi.

( Trích trong "Kinh Hoa Nghiêm" - Sư Ông Trúc Lâm Tôn Sư giảng giải )

Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hoà Thượng, Thiền sư Thích Thanh Từ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share